Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the month “Tháng Chín, 2011”

Phê bình “THẦN HỌC KY-TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH Á CHÂU” CỦA MỤC SƯ CHOAN SENG SONG (TỐNG TUYỀN THỊNH) – Thích Nhật Từ

   Phê bình
 

 “THẦN HỌC KY-TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH Á CHÂU”

CỦA MỤC SƯ CHOAN SENG SONG (TỐNG TUYỀN THỊNH)
 

Thích Nhật Từ

 

 

 

MỤC LỤC
*********

 

 

Lời Ngỏ

 

I. Dukka, Chân Lý Về Sự Khổ

 

II. Thuật Ngữ và Lời Lẽ

1.  Nibbana – Chân lý về sự chấm dứt Dukka

2.  Tác giả Tín Tâm Minh là ai?

3.  Bốn lần gập gỡ

 

III. Phật Giáo Phải Chăng Là Giáo Lý Tổng Hợp?

1.  Giáo lý của Đức Phật không thể là một bộ phận tích hợp của kinh nghiệm tâm linh Ấn Độ

2.  Phật Giáo Trung Quốc không thể là bộ phận tích hợp của giáo huấn đạo Lão

 

IV. Phật Giáo Du Nhập Trung Quốc Thế Nào?

1.  Sự đồng hóa bất chấp thực tế

2.  Hán Minh Đế và Kinh Tứ Thập Nhị Chương, chứng tích Phật Giáo du nhập Trung Quốc

3.  Tại sao đạo Phật thịnh hành ở Trung Quốc mà không phải là đạo Thiên Chúa?

 

V. Nghiệp Và Cách Chặt Tan Xiềng Xích Này

1.  Từ một tất định luận

2.  Cho đến ý đồ của sự rên xiết: quyền năng cứu chuộc của Thiên Chúa!

3.  Còn Chân lý về Nghiệp của Phật Giáo như thế nào?

3.1.    Định nghĩa khái quát

3.2.    Nghiệp được cải hoán bởi chính con người

3.3.    Chặt tan xiềng xích nghiệp chướng bằng sự tu tập Chánh Pháp của bản thân không phải là ơn cứu rỗi của Thiên Chúa

 

Viết tắt và tài liệu tham khảo

 

* * *  

 

 

    LỜI NGỎ

 

   Tập sách nhỏ nầy là bài thuyết trình của Đại Đức Thích Nhật Từ tại hai ngày hội thảo “Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Châu Á” của Mục Sư Tống Tuyền Thịnh do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Hồ Chí Minh tổ chức với sự tham dự của các nhà nghiên cứu, Viện Khoa Học Xã Hội Tp. Hồ Chí Minh, quý Đại Đức trẻ của Phật Giáo, Quý Linh Mục, Mục Sư trong và ngoài nước, quý đại chủng sinh Đại Chủng Viện Thánh Giuse Tp. Hồ Chí Minh và quý giáo dân trí thức của Thiên Chúa Giáo tại Tp. Hồ Chí Minh.

  

“Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Á Châu “, một tuyển tập gồm các bài viết của mục sư Choan Seng Song, người Đài Loan, tại các Hội nghị Thần học khác nhau, được một số anh em trong Ủy Ban Đoàn Kết Công giáo Tp. HCM tuyển dịch và ấn hành vào tháng 8-1991. Nội dung tập sách này có nhiều vấn đề cần bàn bạc, trao đổi và nhất là cần phải xác định lại giá trị Phật Giáo đã bị cái nhìn thiên kiến áp đặt của tác giả bóp méo. Ông có tham vọng rất lớn là “tìm cách giải phóng thần học khỏi ách nô lệ của phương Tây và dùng ngay chất liệu của Châu Á để suy tư thần học” (lời giới thiệu). Để đạt được tham vọng này, ông cố nắn ra “một chương trình cứu độ của Thiên Chúa ngang qua các thực tại văn hóa, tôn giáo, lịch sử… của các dân tộc Châu Á” (Sđd), điều mà trong chân lý và trên thực tế chỉ là những ảo tưởng nhọc công, không thể có được. Vấn đề này, đứng về góc độ Kitô Giáo, người Kitô hữu có lẽ mừng thầm nhưng đứng từ bình diện liêm khiết trí thức và tôn trọng các giá trị tôn giáo ngoài Thiên Chúa Giáo là điều vô cùng cấm kỵ không thể chấp nhận được. Phật Giáo, một nền triết thuyết lớn của Châu Á, từ hơn 20 thế kỷ qua, nghĩa là trước đạo Thiên Chúa ra đời, vốn đã là một giá trị văn hóa vĩ đại, cống hiến và khai mở tuệ giác cho toàn dân Châu Á này những sự thật về con đường đạo đức, giác ngộ, giải thoát; một triết lý nhân bản vốn từng lên án cái gọi là khả năng thụ tạo của Thiên Chúa, đặt con người vào vị trí trung tâm trong công cuộc thiện hóa hoàn toàn con người chính nó và con người xã hội, bài trừ sứ điệp cứu chuộc của thần linh nói chung, Thiên Chúa nói riêng. Ấy vậy mà cũng vẫn có người luống công áp đặt nó như những giá trị thừa sai của Thiên Chúa.

 

   Mục Sư Choan Seng Song đã vấp phải những sai lầm rất cơ bản và thiếu khoa học. Ông không nhận ra được Phật Giáo, một triết thuyết đã chứng minh được “Thiên Chúa Toàn Năng” là không thật, với tín ngưỡng của ông xem Thiên Chúa là tình thương, là hy vọng, là ánh sáng cứu chuộc một cách phi nhân quả. Từ ngọn nguồn cũng như trong suốt chiều dài phát triển, Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo không thể song hành với nhau trong tôn chỉ, giáo nghĩa, không thể giao thoa nhau trong mục đích cứu cánh. Nói theo Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo trói buộc con người trong niềm tin cứu chuộc, mà vốn con người có thể giải phóng chính mình toàn triệt. Và qua Phật Giáo, con người tìm lại chính mình, nhận ra mình hội đủ chính nhân Phật Tính, năng lực tuệ giác viên mãn và bình đẳng, rồi mạnh dạn hướng về nó bằng quá trình trau giồi, tu tập chánh pháp với tất cả sự sáng suốt có được.

 

   Tuyển tập “Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Châu Á” có một chương mang tựa đề “Phật Giáo du nhập vào Trung Quốc” mà vừa nghe qua người đọc có thể hiểu lầm là một bài khảo cứu lịch sử Phật Giáo Trung Quốc thuần túy. Nhưng thật ra, với phương pháp ” đồng hóa tùy tiện và bất chấp” của tác giả, nó đã trở thành một bài chính trị tôn giáo bằng cách bóp méo các giá trị Phật Giáo (giá trị thật đã khai tử Thiên Chúa khỏi những giá trị giả định) để mà tô hồng Thiên Chúa Giáo. Trong công cụ và phương pháp truyền bá đạo, đành rằng người truyền đạo Thiên Chúa có quyền vận dụng phương tiện nhưng không thể chấp nhận sự tùy tiện đồng hóa Phật Giáo như ngôn sứ thừa sai cho Thiên Chúa theo kiểu của Mục Sư Choan Seng Song.

 

   Tại Việt Nam ta, hiện tượng các linh mục Công Giáo đề cao tôn giáo của họ bằng cách tô đen giáo lý Phật Giáo là chuyện cũng khá phổ biến. Từ một Nguyễn Văn Trung với luận án Tiến sĩ triết học, Alexandre de Rhodes với Phép Giảng Tám Ngày, đến Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Hiến Minh với quyển Đạo Đức Học … đã bằng cách này cách nọ cố ý gây ngộ nhận cho người đọc phải hiểu Phật Giáo với một nhãn quan đầy màu sắc của ác kiến chấp mê. Và nay, tuyển tập “Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Châu Á” của Mục Sư Choan Seng Song do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo dịch và ấn hành cũng không ngoài sự chủ định ấy. Và còn hơn thế nữa, muốn biến Phật Giáo thành một bộ phận dọn đường cho Thiên Chúa, điều mà người có trí đứng từ mọi góc độ tiếp cận đều không thể chấp nhận và bỏ qua. Là người Phật tử, dù tu sĩ hay tại gia, chúng ta phải có trách nhiệm ý thức, sớm xua tan màn âm mưu đen tối này.

 

   Quyết định cho ấn hành bài phê bình này, những người chủ trương, một nhóm tu sĩ Phật Giáo, chỉ muốn kêu gọi sự liêm khiết trí thức và đức thận trọng khiêm cung tối thiểu của những người làm văn hóa tôn giáo, khi muốn phát biểu điều gì về Phật Giáo – một triết thuyết đã ăn sâu vào tâm khảm dân tộc, hòa tan vào máu huyết, biến thành tuệ minh cho nhận thức con người – phải phát biểu một cách khoa học, nghiêm túc. Chỉ với tinh thần khoa học và nghiêm túc như vậy, văn hóa thành tựu được sứ mệnh của nó và chân lý sẽ tự hiển hiện.

 

   Mọi ý đồ, thủ đoạn nhằm xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo trước sau cũng sẽ bị ánh sáng tuệ giác này làm cho tan rã.

 

  Thành phố Hồ Chí Minh, 1-10-1991 – Thích Tâm Tịnh

 

 

 

Phê Bình

 

“Thần Học Ky-tô Giáo theo Cung Cách Châu Á”

Của

Mục Sư Choan Seng Song (Tống Tuyền Thịnh)

 

Thích Nhật Từ

 

 

I. Dukkha, chân lý về sự khổ

 

   “Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Châu Á” của Mục Sư Choan Seng Song do Ủy ban Đoàn kết Công giáo TPHCM dịch và ấn hành, là một tuyển tập gồm 6 bài. Bài thứ sáu là phần đề cập đến “Phật Giáo Du Nhập vào Trung Quốc.” Trong bài này, tác giả dành hơn 50 trang (151-206) lần lượt trình bày các vấn đề như: Nguyên nhân xuất gia và truyền bá chánh pháp của đức Phật (151-153), Khổ: dấu ấn của kiếp người (153-166), Giấc mơ của Minh Đế (166-174), Kitô giáo tại Trung Hoa (171-175), Đạo Phật tại Trung Hoa (175-177), Đạo Phật thích nghi với văn hóa (178-183), Cách nghi: phương pháp nối dài (183-188), và Chặt tan xiềng xích nghiệp chướng (188-206). Trong 8 tiêu đề của bài thứ sáu này, phương pháp luận của tác giả, trước tiên là nêu lên giá trị Phật giáo, sau đó tiến hành đồng hóa những giá trị này như là mặc khải của Thiên Chúa. Mục đích và ý đồ của ông khi viết về đề tài này hiển nhiên không phải với tư cách của một nhà nghiên cứu tìm hiểu Phật giáo, mà qua đó mở đường cho Thần học đặt chân lên mảnh đất Phật giáo Châu Á này, nơi mà Công giáo chiếm không tới 3% dân số, bằng một luận điệu thiếu bình thường. Ước vọng muốn mở rộng Thiên Chúa giáo sang Châu Á là quyền tự do tôn giáo của mỗi người, cần được tôn trọng. Nhưng điều mà chúng ta cần mạnh dạn lên tiếng là phương pháp luận của ông là phương pháp bôi đen Phật giáo để tô hồng Thiên Chúa giáo của mình, điều mà ai cũng phải không hài lòng khi đọc tới. Cũng cần nói thêm ở đây là nội dung ông viết về Phật giáo rất sai lầm và lạc dẫn. Người đọc, nhất là tín đồ Kitô giáo sẽ có định kiến xấu về Phật giáo ngay. Trong bài viết này, tôi sẽ lần lượt nêu lên các sai lầm đó.

 

   Đề cập đến khổ đế, chân lý về sự khổ, tác giả viết .”.. đây là khổ đế: sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ, dính bén lạc thú là khổ, đoạn trừ lạc thú cũng khổ, dục vọng không thành cũng khổ” (tr. 152). Ở đây, chúng ta thấy hai phạm trù “dính bén lạc thú là khổ và đoạn trừ lạc thú là khổ “ hoàn toàn xa lạ với phạm trù 8 khổ trong chân lý về sự cứu khổ của Phật giáo. Bát khổ là: sanh, lão, bệnh, tử, dục vọng không thành, yêu nhau phải xa lìa, ghét nhau phải hội ngộ và ngũ thủ uẩn là khổ. Nhưng chính từ hai phạm trù khổ xa lạ này mở hướng cho tác giả đến những quy kết bệnh hoạn như: “Cả một thế giới Phật giáo hình thành do một người đã cảm nghiệm và thấu hiểu nhân sinh trên phương diện đau khổ” (tr. 153) để người đọc phải hiểu Phật giáo là bi quan, yếm thế, không có lối thoát. Điều này làm cho chúng ta liên tưởng đến nhận định tương tự của Nghiêm Xuân Hồng:

 

   Mọi cuộc sống chúng sinh đều là phiền não khổ ải. Điểm nhận xét này là cơ sở xuất phát nền giáo lý Phật. Trong khi các kinh Vedas, Upanisads thường ca ngợi vẻ huy hoàng của cuộc sống, thì Đức Thích Ca Mâu Ni lại nhận định rằng cuộc đời là bể khổ. Có lẽ không một tôn giáo nào trên thế giới lại có một luận điệu tha thiết thâm trầm như đạo Phật để tố cáo nỗi khổ ải của thế gian. Phật thường nói: “Nước mắt chúng sanh chứa đầy bốn biển” … sắc thái bi quan yếm thế [sic] này là điểm độc đáo của nhà Phật, khiến đạo Phật khác biệt với truyền thống Bà-la-môn. (Biện Chứng Giải Thoát trong Tư Tưởng Ấn Độ, 115).

 

   Mục Sư Choan Seng Song còn áp đặt “Đau khổ là một kinh nghiệm tôn giáo” (tr. 156) để đi đến sự quy kết nó vào quỹ đạo năng độ của Thiên Chúa: “Trong cơn đau khổ, người ta mới hiểu được mình một cách trực giác, nhìn đời với cặp mắt vừa thất vọng vừa hy vọng và đi tìm ơn cứu độ từ Thiên Chúa” (tr. 156) hay “Nó mặc khải Thiên Chúa cho con người và đem họ lại gần với Chúa hơn” (tr. 156) hay bi đát hơn “Đau khổ còn làm cho con người trơ trụi trước Thiên Chúa lân mẫn” (tr. 157) để rồi sau đó ông kết luận: “Trong đau khổ người bình thường phát hiện bản thân, phát hiện được thế giới quanh mình và nhất là tìm thấy Chúa” (tr. 159). Dụng ý của tác giả đã quá rõ rệt! Ông viết một cách lệch lạc về chân lý về sự cứu khổ trong Phật giáo để rồi lạc dẫn người đọc trở về với ơn cứu độ của Thiên chúa, điều chỉ là ước vọng mà không bao giờ trở thành hiện thực. Bằng nghệ thuật lập luận vi tế, ông khéo xuyên tạc nội dung Khổ đế của Phật giáo để đề cao ơn cứu chuộc của Chúa: “Còn gì có tính dụ ngôn về phận mỏng manh của đời người hơn là sanh, lão, bệnh? Chứng kiến những thực tại cuộc đời như thế, người ta dễ trở nên khiêm tốn hơn, dễ muốn kêu cứu xin bình an” (tr. 157). Và đoạn dưới đây, ý đồ của ông được bộc lộ rõ nét hơn: “Sống trong đau khổ, đời như bể khổ đấy là điểm xuất phát khi người ta tìm Thiên chúa. Đấy cũng là nơi bắt đầu của Thần học Kitô giáo” (tr. 159). Trong khi đó “khái niệm cũng như chân lý về sự khổ là gì” không hề có trong các văn bản Kinh Thánh. Ở một đoạn khác, ông viết một cách thâm trầm tha thiết về khổ nhưng thật thì không phản ánh với nó với một tri giác vượt lên nó, để buộc tội Đức Phật từ chủ thuyết chân lý về sự khổ mà gây phiền muộn cho con người:

 

   “Xác thịt và đau khổ, xác thịt trong đau khổ, xác thịt là đau khổ. Đấy là chỗ khởi sự của thuyết pháp. Đức Phật đã trực diện với xác thân ấy và dạy chúng sanh cách thoát khổ. Đạo người dạy là đạo cứu độ. Cứu ở đây không phải là cứu khỏi đời sống, mà là cứu thoát khỏi cảnh khổ não đời người ta phải chịu, gieo phiền nhiễm cho thế gian.” (tr. 161).

 

   Nhưng ông nào có biết rằng Dukkha được Đức Phật khai thị không chỉ đơn thuần ở tính chất phổ biến của khổ là đau khổ, mà còn có nhiều ý nghĩa khác như không thường còn, không bản ngã, hư ngụy và đối kháng nhau. Chỉ vin lấy nghĩa Dukkha là khổ để bóp méo giáo lý Đức Phật, đề cao Thiên chúa giáo thì chẳng có ý nghĩa gì. Mặc dù Dukkha mà con người phải ghi nhận như một quy luật tất yếu, nhưng Đức Phật không chấp nhận rằng Dukkha là một hiện tượng tất yếu không thể tránh được. Đề cập nó như một quy luật để thông qua đó người ta vượt lên trên nó bằng nghị lực và trí sáng suốt chánh kiến của mình. Ta hãy nghe một đoạn Kinh Đức Phật dạy:

 

   “Với vị Phật tử, này các Tỳ-kheo, khi bị già và già đến, khi bị chết và chết đến (các phạm trù còn lại tương tự) vị ấy suy tư với chính trí như sau: “Không phải một mình ta bị già và già đến, bị chết và chết đến … phàm tất cả loài hữu tình có đến có đi, có diệt có sanh, tất cả đều phải như vậy. Quán sát như thế, vị Phật tử không sầu, không bi, không đập ngực, than vãn, đi đến bất tỉnh.” (Tăng Chi II, 61).

 

   Hay khi tuệ tri được bản chất quy luật của nó, con người sẽ vượt khỏi mũi tên sầu muộn thường tình:

 

   “Hiểu được sanh, lão, bệnh, tử là quy luật – đây gọi là vị Phật tử chân chánh – đã nhổ mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu vô học bị bắn trúng, tự mình làm ưu não mình. Không ưu não sầu bệnh, vị Phật tử hoàn toàn tịch tĩnh.” (Tăng Chi II, 62).

 

   Ta còn biết, theo cái nhìn Thần học của tác giả, khổ đế chỉ là “trò đùa đành hanh của Thiên Chúa” và do vậy, ai muốn vượt lên nó là thách thức vơí sự phán xét cay cú của Thiên Chúa:

 

   “Không khéo những nỗi thống khổ ấy lại là trò đùa đành hanh của Thiên Chúa trên người, những ai quyết tâm thực hiện giấc mơ không tưởng mong tìm cho được tự do, công bình và thịnh vượng” (tr. 155-156).

 

   Trở về với cái nhìn siêu tuyệt của Phật giáo, nếu như “sanh lão bệnh tử, tự cổ thường nhiên, dục xuất ly giả, giải phược thiêm triền” (Ni sư Diệu Nhân; tạm dịch là: “từ xưa đến nay, sanh già bệnh chết là một quy luật. Người muốn thóat khỏi [quy luật đó] càng tháo mở càng bị trói buộc thêm”) thì nguyên nhân gây ra những đau khổ chính là thái độ chấp mắc bản ngã mà thuật ngữ Phật giáo gọi là năm thủ uẩn là khổ. (Tương Ưng II, 3,17,80,88; Tương Ưng III, 38,189). Bản thân năm uẩn tự nó không là một thực tại đau khổ nếu nó không bị cái nhìn chấp thủ sai lạc áp đặt. Ấy thế mà tác giả đã chụp mũ Phật giáo bằng một câu nói chẳng ăn chung gì đến đạo Phật: “Nói tóm lại, đối với dân Châu Á, tồn tại là đau khổ” (tr. 154).

 

   Không chỉ dừng lại ở đó, bằng cách thêm bớt tùy tiện, từ một đoạn kệ trong phần trùng tụng phẩm Phổ Môn, tác giả đã hỗn hợp thành đoạn văn mang dáng dấp giọng điệu Kinh thánh:

 

Chúng sanh bị biết bao là khổ:

Nghiền nát, phiền nhiễu, dày vò.

Thế gian khổ não ấy, Bồ-tát Quan Thế Âm cứu được.

Người là đấng hoàn hảo sức thiêng,

Và tinh thông khôn ngoan khéo léo.

Muôn cõi vũ trụ không nơi nào người không hiển hiện.

Người diệt hết mọi ác tướng: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Người cho thoát dần sanh, lão, bệnh, tử.

Đức Quán Thế Âm thanh tịnh và thánh thiện;

Là người cậy trông chắc chắn.

Trong cảnh khổ, phiền, tử, họa, người đầy tràn viên thành công quả,

Mắt từ bi thấu suốt mọi nơi.

Người là vô biên phúc hải!

Ta hãy quỳ bái đảnh lễ Người. (tr. 162).

 

   Hỗn hợp thêm bớt vậy để làm chi? Thiết nghĩ chỉ cần đọc thoáng qua đoạn dưới đây chúng ta sẽ rõ:

 

   “Chẳng lẽ nơi mấy vần kinh trên, ta không nghe thấy được giọng nói từ tâm của Thiên Chúa ngỏ lời với loài người đang đau khổ? Chẳng lẽ nó không làm ta nghĩ đến lòng toàn ái của Thiên Chúa hiện diện trong thế gian tràn ngập tiếng kêu la của bao người đau đớn khổ cực? Trả lời là ‘không’ thì cũng khó nghe bởi vì ở đây ta đụng phải mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Mà quả quyết là ‘có’ thì cũng không kém” (tr. 163).

 

   Từ tiền đề xem Thiên Chúa là đấng toàn năng cứu rỗi, ông tiến tới khẳng định áp đặt hơn sự đa năng của Thiên Chúa cứu độ qua nhiều biểu tượng ngôn ngữ, tôn giáo khác nhau. Nghiã là Phật giáo chỉ là giá trị ngôn sứ của Thiên Chúa. Quả thực là sai lầm:

 

   Nhưng có một điều kể là hoàn toàn rõ ràng: Thiên Chúa thừa sức nghe, hiểu và đáp ứng lại những lời kêu van của nhân loại thốt lên bằng những thứ ngôn ngữ, những niềm hy vọng và thất vọng được diễn đạt qua các biểu tượng văn hóa và tôn giáo khác nhau (tr. 163).

 

   Ông mạnh dạn đặt câu hỏi về vấn đề này “Có phải những biểu tượng này khác hẳn với ngôn ngữ và biểu tượng Kitô giáo của chúng ta?” (tr.163). Rồi ông tự trả lời “nếu thấy chúng mà lạ mắt thì có nghĩa là chúng ta có lẽ chưa hiểu rõ câu nói thâm thúy của Thánh Phaolô: ‘Tất cả tạo thành cùng nhau rên xiết, cùng nhau ở cử cho đến bây giờ (Rm 8, 22)’ ” (tr. 163).

 

   Như vậy rõ ràng là ông trình bày về Khổ đế một cách phiến diện và đầy tính gượng ép với ý đồ nhằm đồng hóa Phật giáo làm một bộ phận biểu tượng khác của Thiên Chúa giáo. Mục đích của ý đồ nầy là để truyền đạt tin mừng của Thiên Chúa – điều mà người Phật giáo nghe qua phải bật cười! Thật ra theo nhân quả, làm sao ai có thể cứu rỗi được ai khi người ấy tạo đầy ác nhân rồi kêu cứu? Không ai cứu rỗi được ai. Không ai làm cho ai hết đau khổ theo nghĩa măkhải. Đau khổ chính do con người gieo nhân, và do vậy con người phải gặt hái quả báo xấu xa của nó:

 

“Điều ác mình tự làm,

Tự mình sanh, mình tạo,

Nghiền nát kẻ ngu si,

Như kim cương, ngọc báu” (PC, 161)

 

Hay:

 

“Người ngu làm điều ác,

Không ý thức việc làm.

Do tự nghiệp người ngu,

Bị nung nấu như lửa” (PC, 136)

 

   Thế là chúng ta không thể nào chấp nhận quyền năng Thiên Chúa. Bởi vì Đức Phật đã chứng minh được rằng:

 

Tự mình, điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô,

Tự mình ác không làm,

Tự mình làm thanh tịnh.

Thanh tịnh hay nhiễm ô,

Đều do tự nghiệp mình,

Không ai thanh tịnh ai.

Không ai nhiễm ô ai (PC, 165).

 

 

II. Thuật ngữ và lời lẽ

 

   Dù muốn dù không, chúng ta cũng cần phải nói về một số thuật ngữ cũng như lời lẽ viết về Phật giáo của Mục Sư Choan Seng Song.

 

1. Nibbàna – Chân lý về sự chấm dứt của Dukkha

 

   Nếu như Dukkha là chân lý về sự khổ đau có thể dập tắt được do những hành vi thiện ích của con người, chứ không phải do Thượng Đế, thì Nibbàna là chân lý về sự Dukkha đã tịch diệt hoàn toàn, là Niết-bàn. Niết-bàn, thuật ngữ Nam phạn là Nibbàna, thuật ngữ Bắc phạn là Nirvàna. Nibbàna gồm hai phần: Ni và Vana. Ni là hình thức phủ định, vô hay không. Vana có nghĩa là “dệt” hay ái dục. Nibbàna là sự tịch diệt ái dục, trạng thái tâm thức đã trong suốt như pha lê, không còn mảy may tâm lý rỉ rọt (lậu), phiền muộn. Ái dục được xem là chất dính nối kết sự vận hành sanh tử. Nó là vùng từ trường của những nhiễm đắm, chấp trước, đam mê, theo đó chúng sanh triền miên khổ ải. Con đường chặt đứt sợi dây đau khổ này, tách con người khỏi vùng hệ lụy, trở nên tỉnh thức tột độ không gì hơn là tu tập Bát Chánh đạo để thể hội Niết-bàn.

 

   Đứng trước cái đau khổ đang hoành hành, nếu như người Kitô giáo đặt đức tin với niềm hy vọng vào tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa, điều không thể đạt được, thì trái lại người Phật tử nhìn thẳng vào mặt mũi của chúng, vạch mặt chỉ tên các nguyên nhân đau khổ để trau dồi chánh pháp, hướng mình đến giải thoát. Niết-bàn chỉ được thể nghiệm tu tập bởi chính con người, thông qua đó hành giả tự cứu độ. Sự van xin, cầu khẩn một tha lực, theo họ là một quyền uy mầu nhiệm nào đó, là thiếu sáng suốt và không thể nào có thể đạt được. Chúng ta hãy nghe Đức Phật dạy:

 

   “Này các Tỳ-kheo, tuổi thọ, dung sắc, danh thơm, cõi trời và sự an lạc dù có khả lạc, khả hỷ, khả ý đến đâu, Ta tuyên bố rằng 5 pháp trên không thể do cầu xin, không thể do ước vọng mà có được. Này các Tỳ-kheo, những ai muốn có tuổi thọ, dung sắc, danh thơm, cõi trời và sự an lạc, không thể do cầu xin hay tán thán Phạm Thiên [Thiên Chúa] để làm nhân đem lại được. Muốn thể đạt những mong cầu này thì phải thực hành chánh nhân, những con đường dẫn đến chúng” (Tăng Chi II, 53).

 

   Ở một đoạn kinh khác, Đức Phật còn nhấn mạnh rằng tính chất đau khổ là những pháp làm nhiễm ô tâm và con đường Niết-bàn được thực hiện bằng nhiều cách, thông qua chánh pháp tối diệu của Ngài:

 

   “Những ai đã được, đang được và sẽ thoát ra khỏi thế giới đau khổ là những vị ấy sau khi đoạn tận năm triền cái [tham lam, sân hận, trạo hối, hôn trầm-thùy miên và hoài nghi] – những pháp làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ; với tâm khéo an trú bốn niệm xứ; khéo tu tập bảy giác chi; hay phát triển tám chánh đạo … Ta tuyên bố rằng vị ấy đã được giải thoát, Niết-bàn.” (Tăng Chi II, 478-480).

 

   Niết-bàn trong Phật giáo có nhiều giá trị ý nghĩa, có công năng chuyển hóa con người một cách hoàn thiện đến thế, vậy mà Mục Sư Choan Seng Song đã cố tình hạ thấp với những giòng chữ lập lờ, thiển cận: “Đức Phật đã cống hiến suốt đời giúp đỡ thế nhân đạt tới Niết-bàn – tới tình trạng phục hồi những hoàn cảnh lành mạnh của cuộc sống bấy giờ và lúc này” (tr. 162).

 

  Bởi lẽ những nhóm chữ “hoàn cảnh lành mạnh của cuộc sống” chưa phản ánh đúng được bản chất thâm sâu của Niết-bàn, nó hạn cuộc Niết-bàn ở tính từ “lành mạnh” thay vì dập tắt ngọn lửa khổ đau, hay chặt đứt xiềng xích phiền não, hoặc phục hồi tính giác viên mãn. Có thể nhận xét, phương pháp luận của ông là đồng hóa hai cái gì vốn khác nhau, xa lạ nhau và không thể đồng dạng tính với nhau thành một, để mà thực hiện mưu đồ đánh cắp những giá trị siêu tuyệt của Phật giáo, phục vụ công cuộc áp đặt cho Thiên Chúa giáo. Ta hãy xem, ông viết rất trắng trợn:

 

   Niết-bàn theo lời Phật dạy thì không phải là Thiên Chúa. Đó là chuyện đương nhiên rồi. Song sự phục hồi sức khỏe, tác lập sự hài hòa và hòa bình ở đây và bây giờ cho cuộc đời thiên nan vạn khổ này (Niết-bàn chính yếu là việc ấy) chẳng phải là đường lối Thiên Chúa đã chọn để mang ơn cứu độ đến với quần chúng Á châu mà theo quan niệm của họ thì sống là khổ đau? (tr. 164).

 

   Để đồng hóa Niết-bàn của Phật giáo là một cái gì đó trong Thiên Chúa giáo, ông đi bằng con đường “bất chấp sự khác biệt” để chứng tỏ cho tín đồ Kitô giáo nhận thức quyền năng mầu nhiệm của Thiên Chúa – điều rất lờ mờ trong những suy niệm ảo tưởng mà họ không hề chứng minh được, cảm nghiệm được, sự hiện hữu đó duới bất kỳ hình thức nào. Lập luận của ông là một lập luận đánh lừa, phỉnh dối:

 

   “Nếu dựa lý luận của thần học Kitô truyền thống, tức nếu xét về mặt thần học thì giả định rằng Đường, sự thật, sự sống của Chúa Giêsu được phản ánh trong Đường, Đạo, Sự thật và Sự sống của Đức Phật thì quả là sai lầm. Song có lẽ không sai, nếu đứng trên quan điểm thần học, nghĩa là nhìn từ phía Thiên Chúa, đấng sáng tạo và cứu độ toàn thể vũ trụ thụ tạo nơi từng thành phần một, khi đề xuất rằng cái tinh thần đã khơi dậy lòng từ bi của Đức Phật đối với nhân loại khổ đau cũng chính là Tinh Thần Thần Khí đã mở mắt tín đồ Kitô giáo cho họ tin nhận Đức Giêsu Kitô là lời trở nên xác phàm.” (tr. 165).

 

   Từ đây vết xe đồng hóa của ông trở nên đã để lộ nguyên hình của nó. Ông không còn dấu giếm ý đồ nữa, phơi bày bộc trực hơn. Chính những điều này đã chứng tỏ ông cũng như nhiều tín đồ Kitô giáo khác chưa hiểu gì là Niết-bàn, cái hoàn toàn không có trong Kitô giáo từ ngôn từ, lời lẽ cho đến ý nghĩa, và như vậy tức họ cũng không hiểu gì về giáo lý của Thiên Chúa, cái không thể sánh ví ngang hàng với Phật giáo:

 

   “Chúng ta quay về sự im lặng uyên nguyên. Nhập trọn vào sự tịch nhiên bất động này, trở nên đồng nhất với nó – đó chính là giác ngộ. Đạt giác ngộ là được Niết-bàn, được tình yêu thương đem chúng ta bình an và viên mãn.” (tr. 182).

 

   Trong khi đó, Niết-bàn trong Phật giáo không phải là tình yêu thương, tình khát ái, mạng lưới bẩy nhốt của sinh tử triền miên. Niết-bàn là sự vứt bỏ tình yêu thương dưới mọi góc độ. Vì tình yêu thương mang tính nhiễm đắm, vị kỷ, chọn lựa, đối đãi. Yêu thương chính là ái, ái dục. Mà ái dục chính là đau khổ:

 

Người bị ái buộc ràng,

Vùng vẫy và hoảng sợ,

Như thỏ bị sa lưới.

Chúng sanh ái trói buộc,

Chịu khổ đau dài dài (PC, 342)

 

   Hay rõ ràng hơn qua hình ảnh của nhện sa lưới:

 

Người đắm say ái dục,

Tự lao mình xuống dòng,

Như nhện sa lưới dệt.

Người trí cắt trừ nó,

Bỏ mọi dục không màng (PC, 347)

 

   Vậy Niết-bàn phải là “sự đoạn tận mọi ngọn ngành ái dục, chấp thủ, phiền não” (ĐBNB I, 146, 147, 149; ĐBNB II, 120, 180; Tương Ưng II, 17, 99, 130; Tăng Chi II, 78, 89); là sự dập tắt hoàn toàn tham dục, sân nhuế, si mê (Tương Ưng IV, 256, 360; Tương Ưng V, 7; Đại Bảo Tích III, 311, 313); là sự bất sanh, bất diệt (ĐBNB I, 112, 150; ĐBNB. II. 117, 120); là tu chứng thể nghiệm ly khai mọi khái niệm, ý niệm phạm trù nhị biên (ĐBNB II, 2, 80, 193).

 

2. Tác giả của tác phẩm Tín Tâm Minh là ai?

 

   Đề cập đến sự thích nghi văn hóa của Phật giáo Trung quốc, Mục Sư Choan Seng Song có trích dẫn hai khổ cuối trong Thiền kệ Tín Tâm Minh mà ông đã nhầm lẫn tác giả: Ông bảo tác giả là Thiền sư Đạo Tín. Nhưng thật ra là Thiền Sư Tăng Xán, Tổ thứ ba của Thiền tông Trung quốc, thầy của Thiền sư Đạo Tín. Thiền sư Tăng Xán (? – 602) sinh phương nào chẳng rõ, đắc pháp với Thiền Sư Huệ Khả, Nhị Tổ Thiền tông Trung quốc. Đời Châu, Võ Đế ác tâm ra lệnh tiêu diệt Phật pháp (561), Thiền sư ẩn tu ở núi Tư Không, huyện Thái Hồ và thường thay đổi chỗ ở nên suốt 10 năm mà không ai biết tông tích. Đời Tùy, năm Khai Hoàng thứ 13 (601), Thiền sư trao y pháp cho Tứ Tổ Đạo Tín, Thiền sư thị tịch nhằm 15 – 10 năm Đại Nghiệp thứ 2 (602), được Vua Đường Huyền Tôn phong thụy là Giám Trí Thiền Sư, hiệu Giác Tịch. Thiền kệ của Ngài gồm 146 câu, mỗi câu bốn chữ, tất cả là 584 chữ. Bài kệ tóm thâu tinh túy của triết thuyết Thiền, vô cùng thâm thúy, dạy cách trở về tu tập thực chứng nội tâm, vượt xa chủ thuyết của Lão Tử, chứ không như Mục Sư Choan Seng Song bảo là “hòa nhập với giáo huấn đạo Lão” (tr. 181).

 

3. Bốn lần gặp gỡ

 

   Vì  không có bản nguyên tác để đối chiếu, ở đây chúng  tôi

chỉ đánh giá trên bản dịch tiếng Việt. Để diễn tả bốn lần dạo bốn cửa thành của Đức Phật khi còn là Thái tử, bản dịch tiếng Việt ghi là “Bốn lần gặp gỡ” làm chúng ta liên tưởng đến hình ảnh hai chủ thể nhận thức gặp nhau, dù tình cờ hay hẹn ước, mặt giáp mặt. Trong khi đó, bốn lần dạo ngoạn ấy, chủ thể nhận thức là Thái tử và bốn hình ảnh: già, bệnh, chết và vị tu sĩ đang trong tư thế là đối tượng bị nhận thức. Do đó, ta chỉ có thể gọi bốn lần ấy là “bốn lần mục kích” của Thái tử mà thôi. Trong đoạn nầy, bản dịch Việt ngữ còn ghi là “Thái tử Thích Ca Mâu Ni” (tr. 157) nghe cũng không ổn tí nào.

 

   Như chúng ta đều biết, tên của Thái tử là Tất-đạt-đa, Siddhàrtha, họ là Cồ-đàm, Gautama. Còn tên gọi Sakyamuni, Thích-ca-mâu-ni là tên hiệu mà người ta gọi Ngài sau khi thành Phật. Sakya là tên nước của Ngài, một nước phì nhiêu nhưng không lớn lắm. Còn Muni có nghiã là vị ẩn sĩ hay tu sĩ sống đời ẩn dật. Điều khác biệt là nếu như Muni theo quan niệm tiền Phật giáo là người ẩn dật lặng im thì theo Đức Phật, Muni là vị ẩn sĩ trạch pháp, như kệ Pháp cú dưới đây minh thị:

 

Im lặng như ngu si,

Đâu được gọi ẩn sĩ (Muni),

Như người nắm cán cân,

Muni trọn điều lành (PC, 268)

 

   Muni phải là vị tu sĩ quán triệt được các điều ác, tinh tấn đoạn trừ và nhận chân được bản chất thời gian và cuộc sống:

 

Từ bỏ các ác pháp,

Mới thật là muni.

Ai thật hiểu hai đời,

Mới đáng gọi muni (PC, 269)

 

   Như vậy thuật ngữ Sakyamuni phải được hiểu là “vị ẩn sĩ nước Thích Ca” (theo nghĩa muni vừa trình bày). Đấng Như Lai Thế Tôn, cái danh hiệu sau này, chứ không phải khi còn là Thái tử nước Sakya. Cho nên nhóm chữ “Thái tử Thích Ca Mâu Ni” là không chuẩn xác, không thích hợp với ngữ cảnh.

 

   Mặt khác, bốn lần mục kích khi dạo bốn cửa thành ấy, Thái tử không phải chỉ xúc động trước hiện thực đau khổ như già, bệnh, chết; mà hình ảnh tương phản với hiện thực đau khổ này chính là đạo phong thanh thoát của vị tu sĩ, đánh sâu vào tâm thức Ngài con đường thoát khổ cho mình và muôn loại. Và con đường đó đã được Ngài thực hiện thành công viên mãn, truyền dạy lại cho nhân loại cho đến ngày hôm nay và mãi mãi về sau. Như vậy sách viết “bốn dịp gặp cảnh khổ của con người đã gây chấn động thực sự lòng Đức Cồ Đàm” vừa sai lầm vừa thiếu sót.

 

   Ngoài ra ở trang 176, tác giả dùng động từ “len lỏi” để diễn tả về sự truyền đạo và phát triển mạnh mẽ của Phật giáo ở Trung quốc, thật là không hợp lý, nếu không nói là thiên kiến, ác kiến. Bởi vì, ai cũng dư biết được rằng Phật giáo đi vào lòng người, lòng dân tộc Châu Á bằng một hình thức và thái độ công khai trong hòa bình và tuệ giác, chứ không phải thập thò lén lút, mưu tính.

 

 

III. Phật giáo phải chăng là giáo lý tổng hợp?

 

   Khi đề cập đến giáo nghĩa Phật giáo, Mục Sư Choan Seng Song có hai nhận xét. Nhận xét thứ nhất, ông cho rằng “giáo lý của Đức Phật là một bộ phận tích hợp của kinh nghiệm tâm linh Ấn độ” (tr. 165). Nhận xét thứ hai, ông cho rằng “Phật giáo Trung Quốc về một số mặt hoàn toàn hòa nhập với giáo huấn đạo Lão” (tr. 180,187). Nêu hai nhận xét này, rốt cùng ông đánh đồng Phật giáo với Thiên Chúa giáo. Để nhận chân tính thực hư của vấn đề, tôi xin trình bày như sau:

 

1. Giáo lý của Đức Phật không thể là tích hợp của kinh nghiệm tâm linh Ấn Độ.

 

   Không phải đến hôm nay, Mục Sư Choan Seng Song mới nhận xét kỳ quặc là  “giáo lý của Đức Phật là một bộ phận tích hợp của tâm linh Ấn độ” như vậy, mà trước đây, Nguyễn Văn Trung với luận án Tiến sĩ về Phật giáo ở Đại học Kitô giáo Louvain cũng đã nhận xét lôi thôi “giáo lý Phật giáo chỉ là Bà-la-môn giáo” (tr. 131). Thật ra, dù đạo Phật khai sinh ở mảnh đất Ấn độ, xứ sở của gần 100 tôn giáo thờ phượng Phạm Thiên và đa thần nhưng đạo Phật vốn không hề kế thừa hay tích hợp giáo nghĩa của các tôn giáo này. Bởi lẽ nếu các tôn giáo nầy tôn thờ một đấng Toàn năng duy nhất là Phạm Thiên hay Thiên Chúa hoặc tôn thờ các thần linh, thì trái lại Phật giáo đánh đổ hoàn toàn thần tính và quỹ đạo cứu rỗi áp đặt lên nó. Và nếu các tôn giáo này xem thần linh, Thiên Chúa là quan trọng thì ở Phật giáo sự tối thắng là con người. Trong mọi trường hợp và từ mọi góc độ nhận thức, Phật giáo chủ trương ngược lại hoàn toàn với các tiền học thuyết, đề cao giá trị nhân bản và vị trí trung tâm của con người, thông qua đó khai mở con đường giác ngộ để mọi người cùng đi, đẩy lùi thần linh trong ảo giác vốn sẵn. Do đó, không thể nói rằng Phật giáo là một bộ phận tích hợp của tâm linh Ấn Độ. Chúng ta hãy nghe lời Đức Phật dạy:

 

   “Khi Như lai xuất hiện ở đời, bậc Đẳng Chánh Giác, trí đức đầy đủ, bậc Đạo Sư của chư Thiên và Loài người, Như lai sẽ thuyết pháp: đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt và đây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Đây là thọ… đây là tưởng … đây là hành … đây là thức … , đây là … thức tập khởi, thức đoạn diệt, con đường đưa đến thức đoạn diệt.”

 

   “Này các Tỳ-kheo, các Chư Thiên và Phạm Thiên Chủ sau khi nghe Như lai thuyết pháp, phần lớn chúng trở thành sợ hãi khiếp đảm, vì bắt đầu nhận chân rằng: “Chúng ta là vô thường, chúng ta là không hằng hữu, chúng ta không hằng sống, chúng ta bị thâu nhiếp trong thân này, điều mà lâu nay chúng ta vẫn tưởng là mình thường còn, hằng hữu, hằng sống. Như vậy này các Tỳ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư thiên” (Tương Ưng III, 103-104).

 

   Đức Phật đã cho thấy sự khác biệt vĩ đại giữa học thuyết của Ngài và học thuyết Bà-la-môn và các học thuyết tín ngưỡng thần linh khác ở chỗ Ngài chỉ rõ sự vận hành, vô thường của thế giới và con người kể cả thần linh, Thiên chúa, điều mà theo học thuyết của họ là thường hằng, bất biến. Đức Phật không kế thừa tiền học thuyết. Ngài khẳng khái đánh vào tim óc, tín ngưỡng thần linh của họ, giúp họ nhận thức rõ thực tướng của tất cả sự vật hiện tượng: Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã. Trong Kinh Tăng Chi và Kinh Đại-bát- niết-bàn, Đức Phật còn cho thấy sự khác biệt lớn, theo đó Phật giáo vượt lên trên hệ thống nhận thức, tư tưởng của các tiền tôn giáo về phương diện nhân sinh và thế giới:

 

   “Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn và ngoại đạo có ba kiến chấp nguy hại như sau:

 

- Phàm tất cả cảm giác mà con người lãnh thọ hoặc hạnh phúc hoặc đau khổ, hoặc không hạnh phúc cũng không đau khổ, tất cả đều do nghiệp quá khứ (Túc mạng luận).

 

- Phàm tất cả cảm giác mà con người lãnh thọ hoặc hạnh phúc hoặc đau khổ, hoặc không hạnh phúc cũng không đau khổ, tất cả đều do không nhân không duyên (Ngẫu nhiên luận)

 

- Phàm tất cả cảm giác mà con người lãnh thọ hoặc hạnh phúc hoặc đau khổ, hoặc không hạnh phúc cũng không đau khổ, tất cả đều do đấng tạo hóa (Thần ý luận)

  Này các Tỳ-kheo, ta nói với chúng như sau: Như vậy thời theo các tôn giả, do “nghiệp quá khứ” do “ngẫu nhiên vô cớ” và do “đấng tạo hóa” mà con người sẽ trở thành sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi (nói chia rẽ), nói lời phù phiếm; do những nguyên nhân trên mà con người trở thành tham lam, sân hận, si mê và tà kiến.

 

   Này các Tỳ-kheo với những ai dựa vào “đấng tạo hóa,” dựa vào “nghiệp quá khứ,” dựa vào “tự nhiên, ngẫu nhiên” cho là lý do chân thật thì nên biết rằng họ là người tà kiến và nguy hại hơn nữa là họ sẽ không có ước muốn, không có tinh thần “đây là việc phải làm, đây là việc không nên làm . . .” và họ sẽ sống thất niệm, buông lung tội ác với tâm không hộ trì.

 

   Này các Tỳ-kheo đó là ba chủ trương của ngoại đạo, họ vẫn chấp chặt, bảo thủ quan điểm sai lầm ấy.” (Tăng Chi I, 195-197. ĐBNB II, 534-543).

 

   Trong kinh Tương Ưng, sau khi khai thị tuệ giác và con đường hướng đến tuệ giác cho các Tỳ-kheo, đức Phật đã long trọng tuyên bố nền giáo lý siêu tuyệt, vốn được khám phá bởi sự tự nỗ lực giác ngộ của Ngài, là một nền giáo lý tỉnh thức toàn bích. Nền giáo lý nầy hoàn toàn khác hẳn (không chỉ ở sự tự khám phá mà còn ở nội dung ý nghĩa độc đáo duy nhất của nó) với các tôn giáo trước đó, nhất là Bà-la-môn giáo, tôn giáo tự nguyên thủy đã tôn thờ Thiên Chúa. Lời tuyên bố này là một chứng minh hùng hồn cho sự khác biệt với tôn giáo thần linh, xô lệch giá trị thần linh bất thật. Nó thật sự trở thành con đường cho những ai muốn tự mình giác ngộ trọn vẹn như Ngài: Như Lai, này các Tỳ-kheo, là bậc Chánh Đẳng Giác làm khởi lên con đường trước kia chưa khởi, là bậc đem lại con đường trước kia chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường trước kia chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, các Tỳ-kheo, các vị hãy là những người sống theo đạo, tiếp tục thành tựu đạo (Tương Ưng III. 79-80).

 

   Chính từ những điểm khác nhau cơ bản giữa Phật giáo và các tôn giáo tiền Phật giáo cũng như các tôn giáo khác, đức Phật đã tuyên ngôn rằng Phạm thiên hay Thiên chúa không thể sánh ví với Ngài, về phương diện nhận thức và cả phương diện tu tập giác ngộ:

 

   “Ta là bậc Chánh Giác, Bậc Y Vương vô thượng. Phạm Thiên không thể sánh, Ta nhiếp phục các ma” (Trung Bộ II, 480).

 

   Trong bài Kinh Yama, Đức Phật cũng còn cho chúng ta biết giáo lý giác ngộ của Ngài là được khai sáng bởi Ngài. Ngài không tích hợp tư tưởng của ai, không kế thừa ai. Vì nền giáo lý ấy tự nó vươn lên tất cả, đẩy lùi tất cả:

 

   “Này các Tỳ-kheo, những gì ta tuyên thuyết không phải nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, những điều ta tuyên thuyết chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta thẩm thấu cùng tột mà thôi”. (Tăng Chi I, 158).

 

   Ở bài Kinh Verajà, vị Bà-la-môn này bằng phương pháp luận áp đặt, ông đã quy kết Đức Phật là người chủ trương, nào là không hành động, nào là đoạn diệt, nào là yếm thế, nào là hư vô, nào là khổ hạnh. Nhưng với trí tuệ và sự tu chứng, Đức Phật đã cho vị này thấy rõ được những quy kết của ông là sai lạc, vô ích, vì chân lý tự nó chói sáng. Kế đến, Đức Phật dạy rằng đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Ngài đạt được không phải là hệ quả của một cái gì cả, ngoài tinh tấn chánh niệm, định tĩnh, nhất tâm. Chính sự tu tập này, Đức Phật trở thành bậc Vô Thượng, bậc đệ nhất Thế Tôn:

 

   “Này Verajà, khi ta, vì chúng sanh bị vô minh chi phối, như sanh ra từ trứng, bị bao trùm đã phá vỡ vô minh, một mình chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở thế gian này. Này Bà-La-môn, thật sự Ta là vị đệ nhất tối thắng ở đời. Ta tinh tấn không biếng nhác. Ta trú niệm không thất niệm, thân tâm khinh an, định tĩnh, nhất tâm” (Tăng Chi III, 32-33).

 

   Có thể nói, điểm tương đồng duy nhất nếu có chăng giữa Phật giáo với các tôn giáo Ấn Độ nói riêng và các tôn giáo khác nói chung là sự gặp nhau trên từ ngữ, còn nội dung chứa đựng trong nó thì hoàn toàn khác biệt, không thể song hành với nhau, như Đức Phật đã từng dạy:

 

   “Này Kassapa (triết gia lõa thể chủ trương khổ hạnh cực đoan), có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về giới luật, tán thán về giới luật, nói về giới luật tôn kính, cao thượng nhất. Nhưng Ta nhận thấy không một ai bằng được giới luật của ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy, Ta hơn trên tất cả về giới luật, tức là Tăng thượng giới.” (Trường Bộ II, 174. Nên xem kỹ từ trang 160).

 

   Cũng chính vì thế mà ở Kinh Phạm Võng, Đức Phật đã dạy:

 

   “Này các Tỳ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng vi diệu, không thể nhận hiểu bởi lý luận suông … Những pháp ấy Như Lai đã chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết” (Trường Bộ I, 12).

 

   Qua những dẫn chứng sơ bộ trên (nếu có dịp chúng ta sẽ trưng dẫn thêm và phân tích kỹ thêm) chúng ta đã thấy được chân lý của Đức Phật là chân lý của sự giác ngộ tột độ, con đường giải phóng bản ngã, giải phóng thần linh, cởi ách chấp mê (chấp ngã, chấp pháp), dẹp bỏ mọi kiến thủ (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ). Chân lý ấy, con đường ấy là chân lý, là con đường tỉnh thức viên mãn. Nó chính do Đức Phật khám phá, thể chứng được và thông qua con đường ấy, chân lý ấy đã biết bao lớp người thực hiện thành công sự giác ngộ giải thoát. Chính vì vậy Đức Phật là bậc Vô Sư:

 

   “Ta hàng phục tất cả.  Ta rõ biết tất cả. Không vướng nhiễm pháp nào, Ta từ bỏ tất cả. Ái diệt, tự giải thoát. Đã tự mình thắng trí, Ta gọi ai thầy Ta? ” (PC, 353).

 

2. Phật giáo Trung Quốc không thể là bộ phận tích hợp của giáo huấn đạo Lão.

 

   Như đã trình bày nhận xét thứ hai của Mục Sư Choan Seng Song cho rằng Phật giáo Trung Quốc là một bộ phận tích hợp của giáo huấn đạo Lão. Nhưng đó là một nhận xét thiếu tính thuyết phục và sai lầm. Trước nhất, ta hãy nghe ông mượn lời người khác để phản ánh nhận xét của mình qua câu sau đây: “Người ta cũng hay nhấn mạnh rằng đạo Phật rũ bỏ được tính chất ngoại lai đi là nhờ mượn bộ áo đạo Lão mà khoác lên người mình” (tr. 180).

 

   Sau đó ông trưng dẫn hai câu nói quen thuộc trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử là “Đạo khả đạo, phi thường Đạo, Danh khả danh, phi thường Danh,” mà theo ông, nó hoàn toàn đồng nhất với hai khổ cuối cùng của bài Thiền kệ Tín Tâm Minh của Tổ Tăng Xán là “Nhất tức nhất thiết, Nhất thiết tức nhất. Đản năng như thị. Hà lự bất tất. Tín tâm bất nhị. Bất nhị tín tâm. Ngôn ngữ đạo đoạn. Phi cổ lai câm.” Ông chỉ dựa trên sự giống nhau về hình thức rồi tiến hành quy nạp, đồng hóa hai nội dung vốn khác biệt với nhau thành một. Vin lấy chỉ mỗi bốn chữ “Ngôn ngữ đạo đoạn,” để kết luận Phật giáo Trung Quốc hòa nhập học thuyết của đạo Lão qua hai câu nói về Đạo và Danh vừa nêu thì quả thật là hời hợt. Thực ra tôn chỉ sâu thẳm “ngôn ngữ đạo đoạn” của Thiền tông Trung Quốc có nguồn gốc từ các Kinh điển Bắc truyền Phật giáo lẫn Nam truyền Phật giáo, nghĩa là xuất phát từ Đức Phật như: “Pháp của Như Lai thậm thâm vi diệu khó lãnh hội, dứt bặt ngôn ngữ, tất cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác không thể đến được” (Pháp Hoa, 59) hay:

 

Các pháp tướng tịch diệt,

Không thể dùng lời bày;

Bèn dùng sức phương tiện,

Vì năm Tỳ-kheo nói (Pháp Hoa , 87)

 

Và ở Kinh Nikàya, Đức Phật nói như sau:

 

   “Này các Tỳ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, vi diệu, khó thấy khó chứng, không thể nhận hiểu bởi lý luận suông … Những pháp ấy, Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết.” (Trường Bộ I, 12).

 

   Tôn chỉ này còn được thể hiện xuyên suốt nhất quán qua hình ảnh và sự hành đạo của 28 Vị Tổ Thiền tông Ấn Độ. Nó được kết tụ tuyệt vời và điển hình nhất ở Thiền Sư Mã Minh, Tổ 12 Thiền tông Ấn Độ với câu nói trong tác phẩm Đại Thừa Khởi Tín Luận: “Nhất thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng. Tất cánh bình đẳng, vô hữu cao hạ, cố danh Chơn Như.” Có nghĩa là “tất cả mọi sự vật hiện tượng, từ bản chất của nó, vốn xa lìa hẳn ngôn ngữ, lời nói, tên gọi [áp đặt] và tồn tại độc lập với tâm [của con người]. Tất cả chúng vốn bình đẳng, không có sự vật nào cao, sự vật nào thấp v.v… nên được mệnh danh là chân như.”

 

   Ngoài ra, ông cũng không hiểu được mệnh đề “nhất đa tương dung”, “nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” (mệnh đề thứ hai trong Nhất Thừa Thập Huyền Môn) là chủ trương trong Kinh Hoa Nghiêm. Và ông cũng không hiểu được thế nào là Tín Tâm, thế nào là Bất Nhị. Và do vậy mới có sự đánh đồng đáng tiếc. Con đường cũng như phương pháp đồng hóa hai hệ thống giáo nghĩa của Mục Sư Choan Seng Song là có mục đích hẳn hòi. Bất chấp thực tế, ông cho đó là sự kết hợp từ bản năng của đạo Phật:

 

   “Hầu như bằng bản năng, đạo Phật đã tìm cách kết hợp với đạo Lão, ở cấp độ cao nhất cũng như bình thường nhất. Và từ thế tương dung này “Phật giáo Trung quốc” đã ra đời, trở nên một tôn giáo thỏa mãn được tính hiếu tri cầu học của giới trí thức, đáp ứng được nhu cầu tâm linh của người ngoài đường mà vẫn giữ được nét đặc sắc của mình trong giáo lý và thực hành” (tr. 181).

 

   Rồi trong mệnh đề đồng hóa nầy, ông trở nên lúng túng và tự mâu thuẫn. Có lúc ông bảo : “Đạo Phật hoàn toàn hòa nhập với giáo huấn đạo Lão” (tr. 181), “Đạo Phật rũ bỏ được tính chất ngoại lai đi là nhờ mượn bộ áo đạo Lão mà khoác lên người mình” (tr. 180) và “bằng bản năng, đạo Phật đã tìm cách kết hợp với đạo Lão ở cấp độ cao nhất cũng như bình thường nhất” (tr. 181) như đã trình bày, nhưng có lúc ông lại bảo hai đạo nầy lai tạp nhau để rồi làm dị dạng, bóp méo lẫn nhau:

 

   “Có thể thắc mắc, không biết điều gì đã xảy ra ở đây giữa Phật giáo, một đạo hoàn toàn ngoại lai, với Lão giáo, một đoàn hoàn toàn bản địa? Phải chăng đấy là một hình thức lai tạp mà nói cho sít sao, thì chẳng phải Lão giáo, cũng chẳng phải Phật giáo. Hay Phật giáo Trung Quốc là dạng chiết trung, bóp méo chân lý của cả Lão lẫn Phật? (tr. 182).

 

   Như vậy thì quả thực là khó hiểu đến nực cười! Để hoàn tất sứ mệnh đồng hóa này, ông còn cho rằng các vị sư như Pháp Nhã và Khương Pháp Lãng của Phật giáo đã “tiếp biến văn hóa” Lão giáo mà thuật ngữ ông dùng gọi là CÁCH NGHI. Chính vì thế, ông đã định nghĩa:

 

   Trong thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo Trung quốc, “cách nghi” là từ dùng tư tưởng Trung hoa để trình bày giáo lý đạo Phật, đặc biệt là dùng tư tưởng Lão Trang. Cách nghi được nhắc đến trong Hành trạng Thiền sư Pháp Nhã (tr. 183).

 

   Nhưng thật ra “cách nghi” là một từ ngữ rất xa lạ với Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền và cả dòng Thiền Trung Quốc nữa. (Sai lầm này do ông phỏng ý lệch lạc của Phùng Hữu Lan trong tác phẩm Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc). Ông diễn tả sự khéo léo hội nhập văn hóa, mượn từ ngữ của các giá trị văn hóa bản địa diễn đạt giáo nghĩa của Phật giáo (vì siêu tuyệt khó tiếp nhận) cho các đối tượng đã ít nhiều in khắc giá trị văn hóa bản địa, vốn không thể sánh bằng Phật giáo, thuật ngữ chuyên môn trong Phật giáo gọi với nhiều từ khác nhau như: phương tiện, khế lý khế cơ, thiện hợp, diệu ứng, tiếp cơ ứng vật, nhậm vận và nhất là tùy duyên bất biến. Quá trình hội nhập văn hóa Phật giáo, từ Phật Thích-ca cho đến các vị Thiền Sư cũng đều mượn dùng hình thức của từ ngữ nhưng chứa tải vào nó nội dung hoàn toàn mới mẻ, có thể xem đó như một hiện tượng mà nói theo cách hiểu quen thuộc ngày nay là “bầu cũ rượu mới.” Không thể vin nắm sự giống nhau trên mặt hình thức rồi quy kết nội dung chúng là đồng dạng. Sự quy kết như vậy là việc làm thiếu cẩn trọng, thiếu khoa học.

 

   Từ nhận thức chỉ dựa trên sự phỏng đoán, suy luận, không đi sâu vào bản chất nội dung của những thuật ngữ Phật giáo, Mục Sư Choan Seng Song đã truy chụp Phật giáo bằng các quy kết táo bạo nhưng cũng quả thực là không có cơ sở:

 

   Không phải chỉ là vay mượn từ ngữ nơi những nguồn tư tưởng bên ngoài Phật giáo, mà còn nối dài đạo Phật sang tư tưởng tôn giáo và triết học Trung Hoa bằng phương pháp cách nghi này. Đối lưu chứ không phải một chiều, vì đến lượt mình, đạo Phật thấm nhuần tư tưởng Trung Hoa. Tư tưởng, tín ngưỡng Trung Hoa nối dài vươn thấu Đạo Phật (183-184).

 

   Để biện hộ cho lý lẽ của ông, ông tự đặt câu hỏi để tự trả lời:

 

   “Giả như hai phía không nới rộng nối dài vào nhau, hẳn đạo Phật vẫn là khách lạ bị chận không bước qua nổi cổng vào pháo đài thành lũy trí thức và tâm linh Trung quốc. Còn Trung Hoa thì sẽ không đời nào thừa nhận: ‘Cởi giáp quy hàng, mắt lòa vì chói, miệng há hốc chịu im, bại trận’, sẽ không có chuyện ‘hàng triệu người xuất gia đầu Thiền’, trở thành ‘tăng ni’, theo lối nói của Giáo sư Hồ Thích” (tr. 184).

 

   Mưu tìm một giải đáp cho bài toán tại sao Phật giáo truyền bá rộng rãi ở Châu Á nói chung, Trung Quốc nói riêng theo kiểu của Mục Sư Choan Seng Song như vừa nêu chỉ có giá trị giả thiết trên ốc đảo của sự suy diễn rồi đến loại suy tùy tiện, hoàn toàn không phản ánh đúng được mặt mũi sự thật của công cuộc truyền bá tuyệt vời này. Người Phật giáo có thể giải thích cho ông đáp số của bài toán đó nhưng chưa cần thiết trong bài viết này. Điều mà người Phật giáo cần lưu ý một cách tế nhị với ông là, muốn biết được nguyên nhân đích thực trước tiên người nghiên cứu phải rời bỏ thái độ và não trạng suy diễn và sau là cần phải lội mình trong biển hồ Phật Pháp với thái độ không định kiến. Chính hai yếu tố cơ bản này hình thành nên đáp án hoàn chỉnh nhất.

 

   Có thể nói được rằng, ngay từ trong thâm tâm của ông, thái độ cũng như phương pháp “đồng hóa” đã được ông định hình có mục đích rõ rệt. Mục đích đó không phải nhằm tìm hiểu đâu là chân lý thật sự, mà ông vận dụng nó để thực hiện một mưu đồ. Và mưu đồ đó là nhằm biến cải hai – Phật và Lão – thành sự cách nghi của Thiên Chúa, theo đó ông phác họa một mẫu thời trang “Thần học Kitô giáo Châu Á” bất chấp sự siêu việt của các tôn giáo này so với Thiên Chúa giáo. Đây, chúng ta hãy để ý đến cách nói khẳng định của ông: “Lịch sử biến đổi và phát triển của đạo Phật ở Trung Quốc ấy, người Kitô hữu chúng ta chớ lấy làm lạ lùng khó hiểu” (tr. 184). Để từ đó ông phô bày mục đích cuối cùng của ông là đồng hóa để phô trương Thiên Chúa, chứ không phải đơn thuần là nghiên cứu lịch sử Phật giáo:

 

   “Chúa chính là Chúa của cách nghi, của vươn dài, nới rộng, nối qua, với sang. Thiên Chúa với thấu mọi phần của tạo vật, mọi người của cộng đồng nhân loại. Ngoại trương của Thiên Chúa là không bờ bến. Không phần nào của thọ tạo mà Người không vào sâu được. Không có bộ phận thành phần nào của loài người mà bàn tay sáng tạo cứu độ của Người không chạm đến. Để trương ra cả thế giới, để nhận vào cả thụ tạo, Thiên Chúa sử dụng hết mọi ngôn ngữ, hình ảnh và biểu tượng đặc thù bản xứ của một dân tộc sống trong một nền văn hóa, một dòng lịch sử cá biệt.” (tr. 186-187).

 

   Về vấn đề đồng hóa nầy, người Phật giáo có thể vạch ra nhiều sai lầm khác của ông nữa. Nhưng việc làm đó quả thật là không cần thiết, mất nhiều thời giờ.

 

 

IV. Phật giáo du nhập Trung Quốc thế nào?

 

1. Sự đồng hóa bất chấp thực tế

 

   Điều gì đã khiến Mục Sư Choan Seng Song, Mục Sư Tin Lành giáo nghiên cứu lịch sử Phật giáo truyền nhập Trung quốc? Có thể trả lời dứt khoát ông không nghiên cứu để mà phục vụ Phật giáo. Ông nghiên cứu để phục vụ cho ý đồ “đồng hóa” ngay từ ban đầu của ông, từ ngữ mà tôi phải bất đắc dĩ lập đi lập lại nhiều lần. Chúng ta hãy đọc những đoạn văn dưới đây sẽ rõ:

 

   Phật giáo Trung Quốc là một bộ phận quan trọng bậc nhất của tôn giáo toàn Á Châu này. Do đó, về mặt lịch sử cũng như thần học, Phật giáo đã thâm nhập đất Trung Hoa ra sao cũng là một vấn đề lý thú như cách thức Kitô giáo chinh phục Châu Âu và Bắc Mỹ. Vấn đề này sẽ giúp chúng ta lần ra manh mối để hiểu Thiên Chúa hoạt động ra sao trong lịch sử nhân loại (tr. 166).

 

  Hay một sự mừng thầm hóm hỉnh, đầy dụng ý: “Điều thú vị là cùng một thời Phật giáo vào Trung Hoa, còn Kitô giáo thì xuất hiện ở Palestine. Người Kitô hữu chúng ta nên chú ý sự trùng hợp quan trọng này” (tr. 188). Rốt đến cách đặt vấn đề nặng lòng tiếc nuối an ủi:

 

   “Thế nhưng tin mừng của Thiên Chúa Kitô truyền đi sang Rôma, chứ không sang Hán. Trái lại, Phật hoằng dương đến Hán, chứ không đến Rôma. Phải chăng là vì núi non hiểm trở, sa mạc cách ngăn giữa Ấn Độ và Trung Hoa với Palestine và thế giới dưới quyền kiểm soát của La Mã? Có thể là như thế!” (tr. 170).

 

   Cũng với niềm tin Thiên Chúa Toàn Năng cứu chuộc, ông lại viết: “Mà lạ lùng thay, cái chuyện khác ấy – Kitô giáo trong thế giới phương Tây, lại đi đôi với chuyện Phật giáo ở Trung Quốc, và vì lẽ ấy, ở Châu Á nói chung” (tr. 173).

 

   Không chỉ thế, ông dẫn lời Eusebius, sử gia về lịch sử Giáo hội Thiên Chúa sơ khai, để đồng hóa sự kiện Hán Minh Đế về việc Phật giáo du nhập Trung Quốc (điều mà có lúc ông bảo là dật sử hoang đường – tr. 167) với Constantine, bành trướng Thiên Chúa giáo sang Rôma bằng chiến tranh – hai vấn đề mà từ bản chất, nội dung cho đến thời gian, không gian hoàn toàn khác lạ, không thể là nhau:

 

   “Constantine đã thắng trong trận đánh quyết liệt ở cầu Milvian gần Rôma, năm 312, với dấu thập giá phất phới đi đầu đạo quân – dấu ấy ông đã thấy trong một thị kiến khi đang cầu nguyện hôm trước trận đánh. Điều này có làm ta liên tưởng đến truyền thuyết tương tự về giấc mơ của Hán Minh Đế và khởi thủy của đạo Phật tại Trung Quốc chăng? “ (tr. 175).

 

  Kế đến ông còn đối chiếu hai sự thành công trong công cuộc truyền giáo của đạo Phật ở Trung Quốc và đạo Thiên Chúa ở thế giới Hy-La, để kích thích đức tin nhẹ dạ của những tín đồ đạo Kitô vốn tin triệt để vào Thiên Chúa, cho rằng Phật giáo “là một phần Thiên Chúa giáo”: Những người Châu Âu theo đạo Kitô chắc không biết mảy may rằng Kitô giáo làm được gì cho thế giới Hy-La, thì Phật giáo cũng làm những điều như thế cho Trung Quốc Nho Lão” (tr. 177). Dưới đoạn văn nầy, để trả lời câu hỏi ông đặt ra là “làm thế nào đạo Phật có thể đạt được kỳ công vĩ đại ấy, nếu không vĩ đại hơn kỳ công đạo Kitô thực hiện tại phương Tây thì cũng không thua kém chút nào?.” Ông bảo “nói cho đơn giản, câu trả lời là: ‘Cũng như Kitô giáo, đạo Phật là đạo cứu độ mà điều người ta cần chính là tìm được một con đường cứu độ’ ” (tr. 177) mặc dù có thể ông dư biết cứu độ trong Phật giáo là sự nỗ lực tu tập chánh pháp của tự bản thân, trong khi đó “cứu chuộc” trong Thiên Chúa giáo là phát xuất từ Thiên Chúa – cái mà đạo Phật cho là không thể thực hiện được.

 

   Ở một đoạn khác, ông đã phô trương mặc khải truyền đạo của Thiên Chúa rất đa dạng, theo đó, ông quy kết Phật giáo là hình ảnh khác của Thiên Chúa, thì quả thực ông chẳng hiểu chút gì về giáo lý của Phật giáo và cả giáo lý đạo của ông. Đây, ta hãy nghe ông lập luận:

 

   “Nếu Thiên Chúa được liên hệ tới phương Tây theo cách thức quá quen thuộc với Kitô hữu chúng ta, thì liệu có thể quan niệm được rằng Thiên Chúa cũng liên hệ tới Châu Á và Châu Phi, dù những cách thức liên hệ không quen thuộc lắm đối với chúng ta.” (tr. 187).

 

   Để thuyết phục những tín đồ đạo Kitô, vốn là những người nhẹ đức tin nơi sự cứu chuộc “giả tạo” của Thiên Chúa, ông lập luận bất chấp sự khác nhau giữa đạo Phật và đạo Ky-tô, và dĩ nhiên càng xa bản chất Phật giáo hơn:

 

   “Việc gì mà Kitô giáo cứ phải là tôn giáo một cỡ? Thần học là hệ thống tin tưởng một kích thước, còn Kitô hữu chúng ta cứ phải là một tín đồ cùng một khổ như nhau?” (tr. 188).

 

   Và trong một đức tin thiếu nền tảng của nhân quả, ông trở nên cuồng tín vào quyền năng giả định của Thiên Chúa, bày ra mặt mũi của ý đồ, cái mà ông đã phải len lỏi một cách vi tế để mà đánh lừa độc giả, dẫn người tin ông đi đến một chân trời mà nơi đó không có một lối thoát thật sự:

 

“Nếu nơi đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa nói ngôn ngữ chúng ta, thì tại sao chúng ta lại e ngại không dám dùng ngôn ngữ của Phật giáo chẳng hạn?” (tr. 188).

 

Và:

 

“Đạo Phật, vốn tin vào sự giải phóng khỏi khổ đau, là sứ điệp quan phòng cho dân Trung hoa đang cơn đau khổ” (tr. 201-202).

 

Hay:

 

“Tuy nhiên, có người Kitô hữu vẫn thắc mắc: thế thì tại sao phải là đạo Phật, chứ không phải là đạo Kitô? Xin thưa ngay rằng chúng ta không biết. Chỉ biết mỗi một điều là nhờ Thánh Phaolô, Kitô giáo đã được truyền sang phương Tây, phải hết sức phấn đấu tranh thủ từng bước để cắm rễ vào thế giới Hy-La. Thiên Chúa, đấng tạo thành và cứu chuộc toàn thể thọ tạo như thể hành động trong những thời kỳ đặc biệt này của lịch sử thế giới bằng cả hai tay: tay phải hướng về Châu Âu bằng cách chỉ cho Phaolô truyền đức tin vào Chúa Giêsu Kitô sang Rôma, còn tay trái thì quay về phương Đông bằng cách cho sứ điệp cứu khổ của đạo Phật nhập vào Trung quốc. Nói thế chẳng qua là lấy lòng tin mà ước đoán, chứ thượng trí của Thiên Chúa ai mà dò biết được” (tr. 202).

 

   Tất cả những lời lẽ, ngôn từ này của ông mang sắc thái là gì thì đọc đến đây chúng ta đã rõ. Nhưng điều quan trọng là chân lý của Phật giáo, con đường tuệ giác, giải phóng con người khỏi thần linh, Thượng Đế, có phải là giáo lý của Thiên Chúa giáo, giáo lý lệ thuộc tuyệt đối vào thần linh, Thượng Đế không? Câu trả lời đơn giản mà vẫn đầy đủ ý nghĩa và sự khẳng định là KHÔNG. Tuy nhiên, từ niềm tin nào đó, tín đồ Kitô giáo cứ cho rằng Phật giáo là một phần của Thiên Chúa giáo; sự nhận thức như vậy là tùy. Người ta có quyền lắm chứ. Nhưng đối với người Phật tử, việc đồng hóa như vậy chẳng là cái gì cả, như chính cái gọi là quyền năng thụ tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa vốn chỉ là những giả định trống rổng vô thật. Cũng như Hoa Sen tự nó là Hoa Sen, nhưng nếu ai đó cứ bảo là hoa hồng, hoa cúc để đồng hóa nó với các hoa bình thường, thì có sao đâu. Vấn đề quan trọng là hoa sen không vì thế mà trở thành hoa hồng, hoa cúc, mà nó vẫn nghiễm nhiên siêu việt hơn hoa hồng, hoa cúc vì bản chất siêu việt của hoa sen vốn là như vậy.

 

2. Hán Minh Đế và Kinh Tứ Thập Nhị Chương, chứng tích Phật giáo du nhập Trung Quốc.

 

   Đề cập về bối cảnh lịch sử cũng như thời gian du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc, Mục Sư Choan Seng Song cho rằng không thể khảo cứu được. Ông viết: “Phật giáo xuất hiện lúc đầu ở Trung Quốc khi nào và như thế nào là chuyện bí mật còn bao trùm” (tr. 167). Tiếp theo đó, ông còn cho rằng: “Những chuyện kể lại thời Phật giáo mới vào toàn là dật sử hoang đường. Trong số đó nổi tiếng nhất là câu chuyện giấc mộng của Hán Minh Đế” (tr. 167). Rồi kế đó cũng chính ông lại lập luận: “Đằng sau truyền thuyết đế mộng này hẳn có ít nhiều sự thật lịch sử” (tr. 168), nhưng nêu lên để rồi ông cho đó là chuyện cường điệu: “Song nếu chắc bất quá nó chỉ là hạnh tích do lòng sùng tín, cốt chứng minh và cường điệu việc vua quan Trung Hoa chấp thuận đạo Phật” (tr. 168). Thế thì khi đọc mấy trang sách chứa những lập luận tự mâu thuẫn của ông (mâu thuẫn này thể hiện rõ ở trang 175) người đọc sẽ thắc mắc rằng “sự thật của vấn đề này là gì? Có đúng với lời ông viết không?” Để vấn đề được sáng tỏ, trước hết chúng ta nên nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương.

 

   Theo Mục Sư Choan Seng Song, Kinh Tứ Thập Nhị Chương là do sứ thần vâng sắc chỉ Minh Đế sang tận Tây Vực(theo lời giải mộng của Thái sư Phó Nghi) rước mang về (tr. 167-168). Điều này thật là sai lầm. Nhưng có lẽ ông phải viết như vậy để quy kết sự thật lịch sử là “dật sử hoang đường.” Sự kiện Hán Minh Đế có nằm mộng hay không điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là chúng ta phải biết được rằng Kinh Tứ Thập Nhị Chương không phải do sứ thần đem về, mà do phái đoàn truyền giáo đầu tiên của hai vị cao Tăng người Trung Ấn là Ca-diếp-ma-đằng (Kasyapa Matanga) và Trúc-pháp-lan (Gobhavana). Các Ngài đi sang Trung Quốc dọc theo đường thông thương trên bộ, khởi đầu miền Tây Bắc Ấn đến Peshawar dọc theo Bamiyan và Balkh về hướng đông đến Kashgar xuyên qua Kucha về hướng đông bắc rồi đến Kotan về hướng nam, rẽ sang Đôn Hoàng và vào Trung Quốc. Phái đoàn truyền giáo này mang theo nhiều kinh điển Nam tông và Bắc tông bằng chữ Phạn, trong số đó có 5 bộ Kinh đã được phiên dịch ra tiếng Trung Hoa, riêng Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bộ kinh duy nhất còn lưu truyền cho đến ngày nay. Khi đặt chân đến đất Trung quốc, hai Tôn giả Ca-diếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan đã được Hán Minh Đế, niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10 (tức năm 67) tiếp đón nồng hậu và cho xây dựng chùa Bạch Mã (nằm về phía tây thành Lạc Dương), ngôi chùa đầu tiên tại Trung Hoa, vừa làm nơi tàng trữ và dịch kinh, và vừa để kỷ niệm ngày mà ánh sáng chân lý tuệ giải thoát của đạo Phật chiếu và ngự trị ở Trung Quốc. Công trình truyền bá này tuy không mang tầm vóc lớn lao như sau này nhưng nó mở ra một kỷ nguyên mới cho người dân Trung Quốc, kỷ nguyên bắt đầu hé mở bình minh chân lý của Phật giáo.

 

3. Tại sao đạo Phật thịnh hành ở Trung Quốc mà không phải là đạo Thiên Chúa?

 

   Có thể nhận thức rằng câu hỏi này là trọng tâm bài viết của Mục Sư Choan Seng Song. Câu hỏi nghe như giản đơn nhưng giải thích thấu lý thật chẳng giản đơn chút nào. Để trả lời cho câu hỏi quan trọng này, Mục Sư Choan Seng Song đưa ra các lý do sau đây:

 

(i) Đạo Phật đã nhanh chóng trở thành một bộ phận tích hợp của cảnh quan tôn giáo và văn hóa Trung Quốc (tr. 175).

(ii) Được Vua chúa biệt đãi (tr. 175).

(iii) Các tu sĩ Phật giáo từng làm cố vấn chính trị, quân sự và ngoại giao (tr. 175).

(iv) Nhờ phù phép thần thông với dân chúng ít học (tr. 175).

 

   Nhưng trong diễn tiến lý luận, ông tỏ ra không nhất quán lắm, khi thì nói thế này, lúc khác lại bảo thế nọ, mà hai lý do trước sau lại trái ngược nhau (xem các trang 176, 177, 178, 179). Do đó, tôi có thể nói thẳng là các giải thích trên không chính xác, không hợp lý. Bởi lẽ, như tôi đã chứng minh ở phần III.1 của bài viết này, Phật giáo, dù là Phật giáo Nam truyền hay Bắc truyền, Ấn Độ hay Trung Quốc, không thể là một bộ phận phân tích tổng hợp của cảnh quan và tôn giáo bản địa (ở đây là Trung quốc). Và chúng ta chỉ cần nghiên cứu nội dung Kinh Tứ Thập Nhị Chương thôi, mà không cần đến nhiều kinh khác, chúng ta cũng đã thấy được nét đặc thù và không thể so sánh được giữa Phật giáo với văn hóa và tôn giáo bản địa Trung quốc. Các giá trị văn hóa, đạo đức luân lý, triết học, học thuật … của đạo Phật hoàn toàn mới mẻ, có giá trị nhân bản cao (thậm chí không dừng lại ở Nhân thừa, mà mục đích là cùng hướng đến Phật thừa nhất chân bình đẳng), siêu phóng tột độ, phù hợp với căn cơ muốn tiến bộ trong nhận thức và phát triển nhân cách toàn thiện của người dân Trung Hoa, so với các tiền học thuyết bản địa. Chính từ đặc điểm giáo lý vốn siêu tuyệt, lại có công năng bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, nên Phật giáo là nguồn thức ăn tâm linh dồi dào cho cả hai hạng người trí thức và bình dân, hay nói đúng hơn, cho mọi đối tượng.

 

   Nhờ ba yếu tố chân vạc nầy, Phật giáo thích nghi nhanh chóng, phát triển rộng rãi và chiếm vị thế độc tôn trên mãnh đất. Trung Quốc nói riêng, Châu Á nói chung. Trong khi đó, chúng ta thừa biết dù Thiên Chúa giáo có nhiều nỗ lực đầu tư cho sự phát triển mở rộng tôn giáo mình ở mảnh đất này bằng nhiều chủ trương, tài lực và nhân lực, nhưng vì ngay bản chất tôn chỉ và giáo nghĩa, nó không có được một trong các đặc tính trên, nên nó không thể phát triển rộng rãi. Và hơn thế nữa, sự truyền bá và bành trướng Thiên Chúa giáo, phần lớn được thực hiện bằng một cái gì đó không hòa bình, lành mạnh.

 

 

V. Nghiệp và cách chặt tan xiềng xích này.

 

1. Từ một “tất định luận” . . .

 

   Trong 15 trang còn lại của bài viết, Mục Sư Choan Seng Song dành trọn cho vấn đề Karma – Nghiệp – trong Phật giáo. Nhưng trên thực tế, ông không trình bày Nghiệp theo nội dung giáo huấn của Đức Phật qua các kinh điển. Ông diễn tả nghiệp như một “tất định luận” – điều mà Đức Phật đã từng lên án và bỏ ra biết bao công sức lẫn thời gian thuyết pháp nhằm gột bỏ, tẩy sạch “chất nhơ nguy hại của quan niệm tà kiến” này.

 

   Mở đầu cho một “tất định luận,” Mục Sư Choan Seng Song viết: “Từ nguyên thủy đã có Karma” (tr. 188). Nhưng thật ra nhận thức về Karma có gốc nguồn từ nguyên thủy, là thuyết Nghiệp khổ của Bà-la-môn giáo Cổ Ấn, cũng chính là thuyết “nguyên tội, tông tội” của Thiên Chúa giáo. Phật giáo hoàn toàn phủ bác nhận thức phi nhân quả như vậy. Từ tận đáy lòng của người cầm bút, Mục Sư Choan Seng Song còn muốn biến học thuyết Nghiệp trong Phật giáo thành một cái gì đó như là một quyền năng không thể tránh khỏi, vì theo ông, Nghiệp quyết định đời sống tương lai của người ta một cách máy móc khó hiểu. Ông nói: “Kiếp này người ta làm gì, là gì đều do tiền kiếp tạo nên” (tr. 188). Tính chất tất định luận đã đè nặng, khống chế não trạng ông, khiến ông phải nhận xét chung cuộc vô cùng bi quan, đáng khiếp:

 

   “Tóm lại, cuộc sống là một đại dương bao la sâu thẳm của ‘Karma’ (nghiệp hải) trong đó mọi loại hữu sinh đều phải kinh qua chuỗi vô tận những nghiệp khổ, luống công đợi chờ giải thoát.” (tr. 189).

 

   Mặc dù không được tốt nghiệp từ một trường tất định luận, nhưng ông Song cứ bị ám ảnh mãi cái gọi là “túc mạng luận,” để ông phải bất giác thốt lên tiếng rên xiết buồn thảm trong nỗi niềm tuyệt vọng:

 

   “Thế thì sự sống là gì? Có phải là tập hợp các nghiệp quả thừa hưởng từ tiền kiếp và truyền lại cho tương lai không? Lịch sử là gì? Phải chăng là lưới Karma giăng bắt lấy muôn loài trong khổ não và tái sanh.” (tr. 189).

 

   Rồi trong sự bế tắc, bất lực thật sự, ông Song đã nặng lời quy kết cho giáo lý Nghiệp của Phật giáo đã bóp chết sức mạnh cải tạo của con người, như dưới đây, ông nói:

   “Là điều thân thiết gần gũi với các truyền thống tôn giáo phương Đông, Karma được coi là đặc sản của tư duy Đông Phương điển hình, của đầu óc đã đánh mất sức mạnh và ý chí muốn thay đổi cuộc đời và thế giới. Toàn thể thế giới Phương Đông nằm dưới ách của Nghiệp đành nhẫn nhục thúc thủ chịu đựng. Mọi dân tộc phương Đông thở dài rên xiết, mỏi mòn hy vọng.” (tr. 189).

 

   Từ chỗ không nhận được chân lý Phật giáo, ông bị trói buộc “thời gian, không gian, lịch sử và thế giới quẫn quanh trong vòng tròn tất định luận” (tr. 190, 193, 195). Chẳng những thế ông còn muốn cho: “Toàn thể nhân loại sống dưới bóng Karma, cái nghiệp âm này đủ sức mạnh kết liễu mọi nổ lực con người tìm kiếm tự do, công bằng và nhân ái” (tr. 195). Như vậy nhiều người sẽ tự hỏi ông rên xiết trước túc mạng luận, xem vai trò của Nghiệp như một sự “tất định” không thể tránh được ở tương lai để làm gì? Rõ ràng là để minh họa cho quyền năng cứu chuộc của Thiên Chúa, mặc dù Thiên Chúa không có quyền năng đó, không thể làm được việc đó, và quan trọng hơn, Thiên chúa cũng chưa từng hiện hữu để có được các quyền năng giả định do con người áp đặt lên.

 

2. Cho đến ý đồ của sự rên xiết: quyền năng cứu chuộc của Thiên Chúa?

 

   Sau khi rên xiết, ông Song đã đi đến kết luận hoàn toàn không có cơ sở cho sự tiến bộ: “Chúng ta không tài nào bứt thủng lưới Nghiệp, chui thoát được” (tr. 197), để từ đó ông kêu cứu đến Thiên Chúa: “Chúng ta cần phải tạo thêm chỗ ở trong linh hồn chúng ta để đáp lại tiếng gọi từ bi nhân ái của Thiên Chúa” (tr. 197). Muốn được như vậy, ông lừa mọi người vào cái gọi là quyền năng giả tạo của Chúa: “Còn Chúa Giêsu, người đã đập tan xiềng xích của Nghiệp bằng sức mạnh không thể chống lại được của Tình Yêu Thương” (tr. 198). Trên cơ sở sai lầm đó, ông “đồng hóa con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ của Phật giáo” là Tin Mừng của Thiên Chúa giáo. “Sứ điệp cứu khổ, thoát khổ này (Phật giáo) đến tai những người bình thường đã trở nên Tin Mừng” (tr. 200). Hay khéo léo đáng sợ hơn: “Đạo Phật vốn tin vào sự giải phóng khỏi đau khổ, là sứ điệp quan phòng cho dân Trung Hoa đang cơn khổ não” (tr. 201-202). Và ông Song còn đồng hóa một cách thô thiển hơn, sai lệch hơn: “Nơi hình thái Phật giáo Đại thừa, cái phần nhân loại cao cả nhất mà sức mạnh quyền năng của Thiên Chúa tác động đến đã được mặc khải hiển lộ” (tr. 202).

 

   Còn nhiều lý luận nhất hóa, đẳng thức hóa bất chấp thực tế, bất chấp dư luận, để đạt mục đích xuyên tạc, hạ thấp Phật giáo. Ông viết:

 

   “Tại Trung Quốc và các nước Á Châu khác, nơi dân chúng sùng mộ Đại thừa Phật giáo, thì các vị Bồ Tát rao giảng sứ điệp từ bi chính là ngôn sứ của niềm tin, lòng hy vọng và tình thương” (tr. 203).

 

   Ông đã đánh đồng từ bi của Phật giáo với tình yêu của Thiên Chúa:

 

   “Lòng từ bi vĩ đại của một Bồ-tát phải là tấm lòng gần gũi với lòng Thiên Chúa … Chính tấm lòng yêu thương, con tim từ bi ấy đã mở ra những con đường mầu nhiệm của Thiên Chúa đối với mọi tạo vật. Tấm lòng ấy đủ sức cứu vớt những ai sa xuống vũng lầy của gian truân đau khổ.” (tr. 204).

 

   Dù tốn nhiều thời gian, giấy mực, nói quàng xiên, nói tráo trở, nói vọng, nói tà, ông Song vẫn tiếc nuối cái quyền năng giả tạo của Thiên Chúa không được thực hiện thành công ở Châu Á nói chung, Trung Quốc nói riêng, vì lẽ, trong chân lý, Thiên Chúa còn không được chấp nhận, nói gì là chuyện cứu chuộc:

 

   Trong thánh ý quan phòng của Thiên Chúa, Đạo Phật đã thu phục được lòng người Trung Hoa. Song không phải vì vậy mà Trung Hoa vuột khỏi tay Thiên Chúa. Chắc chắn là không. Xuyên qua bao nỗi thăng trầm, được thua của đạo Phật, dân tộc Trung Hoa đã biết được, trong dòng lịch sử lâu đời của họ, rằng có một quyền năng vĩ đại hơn sức mạnh của sự dữ, lớn lao hơn sức mạnh của sự hủy diệt, đó là sức mạnh của tình yêu (Thiên Chúa) (tr. 206).

 

3. Còn chân lý về Nghiệp của Phật giáo thế nào?

 

   Sau khi chúng ta đã đi giáp vòng sự phân tích về Nghiệp lệch lạc, sự đề cao quyền năng giả dối của Thiên Chúa, sự đồng hóa tào tạp giữa giáo lý phá chấp của Phật giáo với giáo lý chấp mê của Thiên Chúa giáo, của Mục Sư Choan Seng Song, chúng ta hãy trở về với cội nguồn chân lý về Nghiệp của Phật giáo.

 

3.1- Định nghĩa khái quát.

 

   Một cách khái quát nhất, không phải là từ Thượng Đế, mà do từ con người nhận thức, Nghiệp là những hành vi tạo tác, là những hành động thi thố trong mọi lãnh vực cuộc sống, dưới ba cơ năng: ý nghĩ, ngôn ngữ và thân hành. Nghiệp không chỉ giới hạn trong hành vi cụ thể được thi thố như lời nói và sự tạo tác, mà còn bao gồm luôn những ý tưởng, ý niệm, sự tư duy, nhận thức. Ý nghĩ được gọi là Nghiệp, gồm hai trường hợp: thứ nhất là hình ảnh của một năng lực hành động tiềm ẩn, là chất xúc tác dẫn khởi hành vi cụ thể; thứ hai, ý nghĩ cũng là một hành động cụ thể biểu hiện dưới dạng thức năng lực vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ như sóng điện từ hay dòng điện, chẳng hạn lòng bi-trí-dũng, chánh kiến, tỉnh thức … (thiện nghiệp của ý) hay các tâm lý vẩn đục tham lam, sân hận, si mê, trạo hối, hôn thùy, hoài nghi chánh pháp … (ác nghiệp của ý). Con người là chủ thể nhận thức, tác tạo ra Nghiệp. Tùy theo tính chất và kết quả của sự biểu hiện, mà Nghiệp được phân định là thiện hay là ác. Thiện nghiệp là những hành vi tạo tác mang tính chất sáng suốt, lợi ích, hướng đến tiến bộ giải thoát. Ác nghiệp là những hành vi tạo tác đeo mang tính chất vô minh, bất lợi ích, chướng ngại con đường hướng đến tiến bộ giải thoát cho mình và người.

 

   Trong rất nhiều kinh điển, Đức Phật đã khai thị cho chúng ta thấy được Nghiệp là do chính con người tạo tác, do đó chính con người ấy phải gặt hái kết quả tạo tác đó đem lại:

 

   “Này các Tỳ-kheo, các chúng sanh là chủ của Nghiệp, là thừa tự của Nghiệp, là sanh căn của Nghiệp. Phàm chúng sanh nào tạo tác hành vi gì, thiện hay ác, chính họ phải gặt hái những kết quả của những hành vi đó” (Tăng Chi III, 549).

 

   Đức Phật nhấn mạnh đến tính chất tự tạo và tự thọ của Nghiệp để giúp cho con người ý thức hành vi cuộc sống của mình. Nhờ ý thức sáng suốt này, con người trở nên thận trọng trong lời nói, ý nghĩ việc làm, qua đó tạo ra hạnh phúc thật sự cho cuộc sống. Kinh Tăng Chi còn cho thấy Nghiệp tức hành vi tạo tác của ta, do ta làm, chứ không phải do thân nhân hay Thiên Chúa. Như vậy, tội, tức các hành vi ác nghiệp, là do bản thân ta gây nên, không thể là “tông tội”, “nguyên tội.” Do đó, còn gì hợp lý và xứng đáng cho bằng, tự mỗi chúng ta phải tu tập thiện, từ bỏ ác, cải tạo ác:

 

   “Chính do con người phóng dật, con người đã làm các điều ác về thân, về lời, về ý nghĩ. Ác Nghiệp của con người, chính do con người ý thức tạo tác, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bà con huyết thống, bà con thân hữu làm, không phải chư Thiên, Phạm Thiên [Thiên Chúa] làm. Ác Nghiệp ấy, chính do con người tự nó làm, nó sẽ lãnh hái quả dị thục đau khổ của Ác Nghiệp đó.” (Tăng Chi I, 155).

   Từ chân lý có thể nhận thức được, có thể chấp nhận được là Nghiệp của ai thì do chính người đó tạo tác và do đó, cũng chính người đó phải lãnh nhận kết quả tạo tác của mình. Đức Phật hướng dẫn con người đến chỗ từ bỏ hoàn toàn mọi ác nghiệp về thân, lời, ý nghĩ và dũng mãnh tô bồi tất cả những thiện nghiệp với một tiến độ tinh tấn và sáng suốt. Đây chính là chân lý, là mục đích, là giáo nghĩa về nghiệp của Phật dạy:

 

   “Khổ lụy thay, này các Tỳ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm. An lạc thay, này các Tỳ-kheo, là người sống tinh cần tinh tấn các thiện pháp, viễn ly các ác bất thiện pháp và mục đích lớn được viên mãn.

   Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt với nỗi lòng cầu nguyện, có thể đạt được cái cao thượng. Phải bằng những hành vi cao thượng, xa lìa thái độ nguyện cầu, mới đạt được cái cao thượng.

   Đáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Đạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để đoạn trừ những ác pháp nào chưa được đoạn trừ, để thực hiện những thiện pháp nào chưa được thực hiện, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đó là kết quả thành tích của tu học chánh pháp của Như Lai.” (Tương Ưng II, 34).

 

3.2- Nghiệp được cải hoán bởi chính con người.

 

   Cũng đồng thời chủ trương về Nghiệp, nếu như Bà-la-môn giáo, Thiên Chúa giáo cho rằng Nghiệp là một khối nặng túc mạng, tất định, không thể vẫy vùng nổi, nếu không có bàn tay cứu chuộc của Thiên Chúa, không thể chọc thủng, xé nát được, thì trái lại trong Phật giáo, Đức Phật dạy Karma, hành vi tạo tác được vận động, chuyển hướng, thay đổi theo nhận thức và sự cải tạo hành vi của con người. Chính con người, với nhận thức thiếu sáng suốt đã tạo tác ra các hành vi tổn hại lương tâm, đạo đức, làm đời sống thối hóa, sa đọa, thì cũng chính con người nhờ nhận thức chánh kiến đã tinh chuyên từ bỏ mãi mãi các ác, sự dữ, tô bồi, đắp xây cái thiện, sự tốt làm lại đời sống của mình trở nên thiện ích, tốt đẹp, chứ không do bàn tay mặc khải của Thiên Chúa. Dưới ánh sáng toàn năng của chân lý chánh pháp, Thiên Chúa không có quyền năng thụ tạo và cứu chuộc. Thiên Chúa không thể can thiệp vào đời sống của bất kỳ một ai. Thiên Chúa cũng chỉ là một hợp thể nhân duyên mang tính suy tư và hành động của tính người, nghĩa là Thiên Chúa không thoát khỏi vòng tay bao la, dang rộng của hành vi nhân quả tương xứng. Và vì vậy, cuộc đời của Thiên Chúa bị quyết định bởi sự lành hoặc sự dữ của Thiên Chúa. Trong hành vi sự dữ nếu có, Thiên Chúa sẽ không thể cứu được mình thì làm sao có thể cứu được người khác, do đó, khái niệm “quyền năng thụ tạo, quyền năng cứu chuộc” không có trong Phật giáo, không có trong chân lý cuộc sống.

 

   Nghiệp dưới cái nhìn tỉnh thức viên mãn của Đức Phật là một chuỗi vận hành và được chuyển biến, thay đổi bằng chuỗi vận hành của nghiệp được tạo tác sau đó. Sự dằng co năng lực, vị thế và sự quyết định cuộc sống lành dữ của con người giữa những tạo tác trước và tạo tác sau là một chiến trường cải hoán, phá vỡ, thiêu hủy đập tan xiềng xích của tất định luận hay túc mạng luận của các tôn giáo khác. Chúng ta hãy nghe bài thi kệ của Đạo Phật diễn tả sáng sủa vấn đề này:

 

 “Ai sống trước buông lung,

Sau sống không phóng dật,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che” (PC, 172)

 

Và dễ nhận hơn:

 

“Ai dùng các hạnh lành,

Làm xóa mờ nghiệp ác,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che” (PC, 173)

 

   Tất định luận hay túc mạng luận không hề có trong giáo nghĩa Phật giáo. Ở Kinh Tăng Chi, Đức Phật đả kích, phủ nhận hệ thống tất định luận, túc mạng luận của Bà-la-môn giáo, của những tôn giáo tin thờ vào một Thượng Đế thụ tạo an bài, như một chướng ngại, hay khối vật cản lớn chống lại sự cải tạo tiến hóa của đạo đức cuộc sống con người:

 

    “Nếu ai cho rằng, này các Tỳ-kheo, con người phải gặt hái hết kết quả của những hành động trong quá khứ, thì người đó chận đứng đời sống đạo đức và theo đó, con người sẽ không có cơ hội để diệt tận phiền não ác pháp. Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố rằng, quả gặt sẽ tương xứng với nhân đã gieo và con người có thể cải tạo quả đó, nếu nó xấu ác. Do đó sẽ có đời sống đạo đức và con người nhất định dập tắt được phiền muộn.” (Warren, Buddhism in Translations, tr. 219; Tăng Chi I, 248-285).

 

   Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật còn tuyên bố mọi hành vi cuộc sống của con người, mọi sự theo đuổi nghề nghiệp, sự tiến hóa cũng như thối lui của con người gần như toàn thể đều do hành vi trong cuộc sống hiện tại quyết định, chứ không phải là do túc mạng, định nghiệp hay thiên mệnh:

 

   “Là cùng đinh, không phải do từ sự sanh trưởng. Là Bà-la-môn, không phải do từ sự sanh trưởng …

   Từ hiện tại, do hành động, người này là cùng đinh.

   Từ hiện tại, do hành động, người kia là Bà-la-môn …

   Sự sanh trưởng không làm cho con người được liệt vào Bà-la-môn hay bị loại khỏi Bà-la-môn …

   Do nếp sống hằng ngày tạo ra người nông dân, thương gia hay nô bộc.

   Do nếp sống hàng ngày tạo ra binh sĩ, tu sĩ, vua chúa … hay sự lành và sự dữ v.v…” (Trung Bộ II, Kinh 98, tr.563-564; cũng như ĐBNB II, 302-303, 552-556).

 

   Tất định luận, trong Phật giáo, được xem là nhận thức lệch lạc, tà kiến, có hại cho sự tiến hóa trong mọi lãnh vực cuộc sống, mọi lãnh vực xã hội. Nó là một thứ nhận thức đầy nguy hại, hiểm độc đối với con người. Nó nhốt chặt, xiềng xích con người trong ngục tù của thái độ thụ động, chán nản, chịu đựng mù quáng, để đi đến niềm tin mù mờ và quyền lực cứu rỗi của Thiên Chúa bất toàn. Ta hãy nghe Đức Phật, người đầu tiên đã phá tan gông cùm này, dạy như sau:

 

   “Này các Tỳ-kheo, những ai có kiến chấp như sau: ‘phàm tất cả cảm giác gì mà con người phải lãnh thọ hạnh phúc hay đau khổ, đều do nghiệp quá khứ (Túc mạng luận, Tất định luận). Hay phàm tất cả cảm giác gì mà con người phải lãnh thọ, hạnh phúc hay đau khổ, đều do Đấng Tạo Hóa tạo ra (Thần ý luận).’ Này các Tỳ-kheo, Ta nói với chúng như sau: ‘như vậy thời theo lập luận của các Tôn giả, do “nghiệp nhân quá khứ,” do “Đấng Tạo Hóa” con người sẽ trở thành ác độc, trộm cướp, tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác độc, nói phù phiếm, tham lam, sân hận, si mê và tà kiến …’

 

   “Nhưng này các Tỳ-kheo, với những ai dựa vào “Đấng Tạo Hóa,” dựa vào “nghiệp quá khứ” cho là lý do chân thật thì nên biết rằng họ là “người tà kiến” và nguy hại hơn nữa là họ sẽ không có ước muốn, không có tinh thần “đây là việc phải làm, đây là việc không nên làm” và họ sẽ sống thất niệm buông lung, tội ác với tâm không hộ trì. Này các Tỳ-kheo, đó là những chủ trương của ngoại đạo, họ vẫn chấp chặt và bảo thủ quan điểm sai lầm ấy” (Tăng Chi I, 195-196; ĐBNB II, 534-543)

 

   Từ đây, chúng ta có thể đi đến kết luận rõ ràng là Mục Sư Choan Seng Song không hiểu gì về triết thuyết Nghiệp của Phật giáo. Chính sự không biết này dẫn ông đến nhận thức lệch lạc cho rằng Nghiệp trong Phật giáo là Tất định luận, là Túc mạng luận, để rồi từ đó ông chạy tìm đến Thượng Đế để van xin kêu cứu, điều mà Phật giáo gọi là bỏ mê này bám víu sang mê khác, bởi vì, quyền năng siêu nhiên của Thượng Đế trong quan niệm của Thiên Chúa giáo không thể cứu chuộc con người dưới cái nhìn chân lý chánh kiến của Phật giáo.

 

3.3- Chặt tan xiềng xích nghiệp chướng bằng sự tu tập chánh pháp của bản thân không phải là ơn cứu rỗi của Thiên Chúa.

 

   Như vừa trình bày, sức mạnh công phá, chặt tan xiềng xích nghiệp chướng, theo Phật giáo, là con đường tu tập trau dồi chánh pháp, một sự nỗ lực mang tính biện chứng nhân quả, của bản thân từng người, thông qua sự hướng đạo của Đức Phật, chứ không thể là ân cứu rỗi của Thiên Chúa. Một cách dứt khoát, theo Phật giáo, Thiên Chúa không có giá trị cứu rỗi con người, vì tất cả hành vi, sự lành sự dữ của con người là do con người tác tạo, tất con người phải là chủ thể là đối tượng nhận lãnh phản ứng của nó. Thái độ van xin cầu nguyện vào ơn cứu độ không hề có trong nhận thức của người Phật tử thấu hiểu lý nhân quả của Đức Phật đã dạy, nghĩa là quyền năng Thiên Chúa là không có và không thể có. Ác nghiệp tự nó có sức mạnh đổ dồn lên người làm ra nó mà không biết cải hoán. Cũng vậy Thiện nghiệp sẽ có công năng đem lại an lạc, hạnh phúc đến với tác giả của nó. Khi nghiệp quả đã trổ, nghĩa là phản ứng nghiệp đã diễn tiến chín mùi, sự van xin cầu nguyện lại càng trở nên vô nghĩa hơn nữa, Đức Phật dạy:

 

   “Nếu ai làm 10 ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu khẩn van xin, thành kính mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích. Làm 10 nghiệp ác phải rơi vào đọa xứ. Sự thể như có một người quăng tảng đá vào hồ nước, rồi nhiều người đến cầu khẩn van xin cho tảng đá ấy được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích. Vì tảng đá, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ như lời cầu khẩn. Cũng vậy, tạo 10 nghiệp ác thì phải rơi vào đọa xứ ” (Tương Ưng IV, 313).

 

   Chúng ta thấy hàng loạt những bài kệ, những đoạn Phật ngôn chứa đầy chất chánh kiến và nhân quả tương xứng như vậy trong các bản văn kinh Phật. Điều đó chứng tỏ, cái gọi là “ơn cứu chuộc của Thiên Chúa” là không thể chấp nhận được. Hãy nghe một đoạn Kinh tương tự dưới đây:

 

   “Một người không chú tâm trong sự tu tập, dẫu có khởi lên ước muốn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ, ước muốn ấy nhất định không được toại nguyện” (Tăng Chi III A, 123. Tương Ưng III, 184).

 

   Trong một lần khác, Đức Phật tái khẳng định sự ước muốn nguyện cầu, mong mỏi, nếu trái với tính chất chân lý của nhân quả, nhất định sự ước muốn đó là không cần thiết, vô ích, không thành tựu được một cái gì cả, ngoài sự thất vọng:

 

“Vắt sữa nơi “sừng” con bò cái

Tìm dầu nơi thùng cát có nước

Dầu ước nguyện cũng không thành tựu.” (Trung Bộ I, 103).

 

   Sự giác ngộ, giải thoát hay chứng đắc trong Phật giáo là kết quả của quá trình dày công tu tập, chặt đốt phiền não, lậu hoặc. Sự tận diệt phiền não là cội nguồn của Niết-bàn, của đạo quả Vô thượng Bồ đề. Nhưng đó không phải là hệ quả của cầu nguyện hay cứu rỗi: “Muốn chứng được Vô thượng Bồ đề mà không đoạn trừ Sát Đạo Dâm Vọng, chẳng khác nào như nấu cát muốn thành cơm, dù trải qua ngàn ức kiếp cũng không thể nào thành tựu được” (Lăng Nghiêm, VI, 234-242). Trong quá trình hướng đến giải thoát của mọi hành giả, Đức Phật đã tuyên bố là Ngài chỉ đóng vai trò của Đạo Sư dẫn đường, không thể ban bố cho chúng ta kết quả giải thoát. Do đó để đạt chân lý giải thoát, chúng ta phải là hành giả tu tập, như bài kệ dưới đây, Đức Phật đã khuyên:

 

“Hãy tự siêng trau dồi,

Như Lai chỉ thuyết dạy.

Tự hành trì thiền định,

Tự giải thoát ác nghiệp” (PC, 276)

 

   Sự tu tập trên cơ sở nỗ lực của tự thân còn được Đức Phật sánh ví với ốc đảo vững chắc, chính trên cơ sở này hoa tỉnh thức sẽ nở rộ, phiền não nghiệp chướng bị tiêu trừ:

 

“Hãy tự làm hòn đảo,

Tinh cần gấp sáng suốt,

Trừ cấu uế: thanh tịnh.

Đến thánh địa chư Phật” (PC, 236).

 

   Và Đức Phật cũng lưu ý chúng ta, không phải từ Ngài, không phải từ ân sủng cứu chuộc của Thiên Chúa, không phải do một ai, mà chính do sự tự tu tập của chúng ta dẫn chúng ta đến sự giác ngộ. Có như vậy, sự giác ngộ ấy mới vững chắc:

 

“Chẳng phải nương người khác,

Mà đạt được Niết-bàn,

Do tự điều, tự nương,

Mà đích đến kiên cố “(PC, 323)

 

   Có thể nói đây là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Sự khác biệt này cũng khẳng định được niềm tin trong Phật giáo đặt nặng tự tín, cứu độ trong Phật giáo là tự tu tập để giải thoát và thái độ người Phật tử là thái độ dứt khoát, không mong mỏi, rên xiết, nguyện cầu. Do đó không thể đồng hóa Phật giáo với Thiên Chúa giáo. Phật giáo là Phật giáo, còn Thiên Chúa giáo là Thiên Chúa giáo. Vì một đàng đặt nền tảng trên sự chánh tín, giải thoát trên sự tự tu, cứu độ được thực hiện bằng chính mình, còn một đàng đặt cơ sở trên niềm tin và hy vọng vào tình yêu của Chúa, và sự giải thoát là do ân Chúa cứu chuộc. Do đó, nỗ lực đồng hóa Phật giáo với Thiên Chúa giáo của Mục Sư Choan Seng Song quả thực là sai lầm nghiêm trọng và cũng hết sức nguy hiểm.

 

*

*      *

 

   Để tổng kết bài viết này, tôi xin nhắc lại rằng phương pháp luận của Mục Sư Choan Seng Song là phương pháp đồng hóa hai nguyên lý hoàn toàn trái ngược nhau, một đàng của Phật giáo và đàng còn lại của Thiên Chúa giáo làm một. Mưu đồ của việc làm thiếu nghiêm túc, thiếu khoa học này cốt nhằm xuyên tạc một cách công khai, trắng trợn giáo nghĩa của Phật giáo – một nền triết thuyết vượt xa Thiên Chúa giáo từ mọi mặt, nhận thức cho đến sự tu tập giải thoát – để minh họa cuồng tín cho một tình yêu giả tạo, một quyền năng bất thật, một sự hiện hữu rỗng của Thượng Đế. Sau mỗi thuật ngữ, tiêu đề viết về đức Phật và Phật giáo, ông tiến hành đồng hóa với Thiên Chúa giáo để đánh lừa người đọc, nhất là những người có đức tin nhẹ dạ vào cái gọi là “quyền năng thụ tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa,” dù trong chân lý, cái ấy là kiến chấp, vọng tưởng, bất thật. Đó là chưa nói đến những thuật ngữ, tiêu đề ông viết về Phật giáo đều là bôi nhọ, tô đen, lệch lạc. Do đó, “Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Châu Á” của Mục Sư Choan Seng Song cần phải được thẳng thắn lên án, phủ định, nếu không nó là sự đổ vỡ của một nền học thuyết trùng phức, phá sản.

 

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ

(1991)

 

 


 

 

 Viết Tắt và Tài Liệu Tham Khảo:

 

ĐBNB. = Kinh Đại Bát Niết-Bàn, 2 tập, HT. Thích Trí Tịnh dịch (HCM: Thành Hội Phật giáo Hồ Chí Minh, PL 2510).

 

Đại Bảo Tích = Kinh Đại Bảo Tích, 11 tập, HT. Thích Trí Tịnh dịch (HCM: Thành hội Phật giáo Hồ Chí Minh, 1988).

 

Lăng Nghiêm = Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực dịch và lược giải. (HCM: Thành Hội Phật giáo Hồ Chí Minh, tái bản 1993).

 

PC. = Kinh Pháp Cu HT. Thích Minh Châu dịch (HCM: Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam, 1990).

 

Pháp Hoa = Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch (HCM: Thành Hội Phật giáo Hồ Chí Minh).

 

Tăng Chi = Tăng Chi Bộ Kinh, 3 tập, HT. Thích Minh Châu dịch (HCM: Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam, 1988).

 

Tương Ưng = Tương Ưng Bộ Kinh, 5 tập, HT. Thích Minh Châu dịch (HCM: Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam, 1982).

 

Trường Bộ = Trường Bộ Kinh, 3 tập, HT. Thích Minh Châu dịch (HCM: Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam, 1988).

 

Trung Bộ = Trung Bộ Kinh, 3 tập, HT. Thích Minh Châu dịch (HCM: Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam, 1988).

 

Choan Seng Song, Thần Học Kitô Giáo theo Cung Cách Châu Á (HCM: Ủy Ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1991).

Thích Nhật Từ, Kinh Tứ Thập Nhị Chương và sự Liên Hệ với Kinh Điển Đại Thừa và Tiểu Thừa (HCM: Bản đánh máy, 1990).

 

Cập nhật: 13-6-2000

THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II – Trần Chung Ngọc

THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II

 

Ngày 10 tháng 5, 1984

Bangkok, Thái Lan

 Thưa Ngài,

    Đất nước này mà Ngài sẽ đến, quỳ xuống và hôn nó, là đất nước Phật Giáo, một đất nước mà nền độc lập của nó đã được những tổ tiên người Thái bảo vệ với mạng sống của mình, một đất nước chưa từng bị lấy làm thuộc địa.  Ngay cả trong thời đại mà những thế lực thực dân Tây phương toan tính chiếm nó làm thuộc địa, quần chúng đã đoàn kết xung quanh Vua của họ và đã có thể bảo toàn được sự tự do của đất nước và Thái Lan đã không trở thành thuộc địa của những giống người hiếu chiến tự nhận là văn minh.

   Đất nước này là đất nước của hòa bình và an sinh.  Dưới ảnh hưởng của giáo lý Phật Giáo, đất nước này chưa từng biết đến một cuộc “chiến tranh tôn giáo” nào dưới bất cứ hình thức nào, chưa từng làm đổ một giọt máu để bảo toàn quốc giáo.  Điều này không thể có với các tôn giáo khác.

   Đức Phật đã truyền bá giáo lý của Người bằng những phương tiện hòa bình.  Người dạy các đệ tử phải dùng thiện để thắng ác, thể hiện lòng từ bi đối với những người đang đau khổ trên thế giới và chỉ cho họ con đường chân thật để diệt khổ.

    Mọi đệ tử của Phật, với lòng từ bi và không mong ước một ân thưởng nào, đều vững tin là nhiệm vụ của mình là mang ánh sáng đến cho con người,  dạy họ con đường thoát khổ và đạt chân hạnh phúc, nghĩa là Niết Bàn.  Ra lệnh của các tôn giáo khác cho các nhà truyền giáo tiến lên và cải đạo các quốc gia vào đức tin của mình chưa bao giờ là động cơ thúc đẩy các nhà truyền giáo Phật Giáo.

   Chúng tôi, các Phật tử, vững tin là Phật Giáo thật thanh khiết.  Phật giáo có đầy những lý lẽ thách đố những người có đầu óc.  Phật giáo không cần đến tuyên truyền hay lùa bất cứ ai vào niềm tin của Phật giáo để tăng thêm số tín đồ như là một tôn giáo nào đó thường thèm khát tín đồ.

   Vì những lý do này, người dân Thái mà đất nước này là của họ đã bảo đảm tự do cho mọi tôn giáo và sự thuyết giảng giáo lý của tôn giáo.  Sự tự do lớn lao này đã có từ triều đại của Đại Đế Narai, khi mà các thừa sai đầu tiên đến Thái trong sự bao che của triều đình.

   Khi Giê-su Ki Tô dạy các đệ tử “Nếu ai tát các con má này thì hãy đưa nốt má kia ra”, ông ta đã cổ vũ sự sử dụng phương tiện hòa bình.  Lẽ dĩ nhiên điều này phải được áp dụng trong sự truyền bá đạo của Ngài.

    Thật là đáng tiếc, ở đây, những tín đồ của Giê-su Ki-Tô, bằng những hành vi bất xứng, đã luôn luôn phản bội lời dạy tuyệt tác trên.  Họ đã xảo quyệt nhận vơ những niềm tin, cách hành đạo, và lễ tiết của Phật Giáo là những niềm tin và hành đạo của Ki Tô Giáo.  Họ đã cố ý và trắng trợn xuyên tạc những nguyên lý của Phật Pháp và chê bai Tam Bảo bằng cách nhận vơ là Tứ Diệu Đế và Lý Duyên Khởi của Đức Phật là được Thiên Chúa của họ mạc khải cho, do đó Đức Phật chỉ là một nhà tiên tri hay nô lệ của Thiên Chúa, được huấn thị để sửa soạn những người dân Á Đông vào Ki Tô Giáo hay sửa soạn con đường để cho con người theo Giê-su.

   Tôi không nghĩ là hành động vô đạo đức này lại bắt nguồn từ chính sách Đối Thoại và Truyền Giáo của Công Đồng Vatican II vì nó không được thân thiện cho sự sống chung hòa bình giữa các tôn giáo.  Tôi hiểu rằng Ngài không biết đến cũng như không muốn tình trạng này xảy ra.

    Cùng sống với nhau như là bạn hay để có hòa bình thực sự trên thế giới, cần phải có sự lương thiện và thành thực hỗ tương, chứ không phải là đạo đức giả.

    Đất nước hòa bình này không muốn bất cứ ai, bất kể họ là người nào, miệng thì nói hòa bình nhưng những hành động thì lại làm nhơ bẩn dấu vết của nụ hôn trên đó.

 

 

OPEN LETTER TO POPE JOHN PAUL II

 Bangkok, Thailand

10 May, 1984

 Your Holiness,

      This land which Your Holiness will kneel down and kiss on your arrival is a Buddhist land, a land whose independence our Thai ancestors have defended with their lives, a land which has never been colonized.  Even during the time when the Western colonialists sought to take her as their possession, the people centred about their King were able to preserve her freedom and she did not become a colony of those war-thirsty races who called themselves civilized.  

     This land is a land of peace and well-being.  Under the influence of the ancient Buddhist teaching she never known a “religious war” in any form, has never spilled a drop of blood to preserve the national religion.  The same cannot be said to other religions.

     The Lord Buddha spread his teaching by peaceful means.  He taught his disciples to overcome evil by good, to show mercy and kindness to the suffering citizens of the world and he tried to show them the true way to relieve suffering.

      Every disciple of the Buddha, with loving kindness and without hope of reward, holds it to be his duty to bring light to people, to teach the way to end suffering and achieve true happiness or Nirvana.  The injunction of the teachers of  other religions to go forth and convert the nations of the world to their faith never motivated the teachers of Buddhism.

     We, Buddhists, firmly believe that Buddhism is pure.  It is full of reasons which are challenging to people with common sense.  It does not need propaganda or luring anybody to believe in it in order to increase the number of followers as practised in certain religion which is craving for followers.

     For these reasons, the Thai people to whom this land belongs have given the greatest freedom to all religions and to the teaching of religion.  This great freedom has endured since the reign of King Narai the Great when the firsts missionaries came under royal protection.

   When Jesus Christ taught his disciples “If anyone strikes on the right cheek, turn to him the other also”. he was exhorting the use of peaceful means.  Surely this must apply to the propagation of your religion.

     It is regrettable that, here, followers of Jesus Christ by improper conduct have continually betrayed this excellent teaching.  They have artfully claimed the beliefs, practices and ceremonies of Buddhism as Christian beliefs and practices.  They have clearly and intentionally distorted the principles of the Dhamma and denigrated the Triple Gem by falsely claiming that Lord Buddha’s Four Noble Truths and the Dependent Origination were revealed by the Christian God of whom the Lord Buddha was merely a prophet or slave who had been instructed to prepare the peoples of the Orient for Christianity or to prepare the way for Jesus who was to follow.

     I would not like to think that this immoral action stems from the Dialogue and Mission policy of the Vatican Council II because it is inimical to the peaceful co-existence of religions.  I understand that Your Holiness is neither aware of nor desires this state of affairs.

     To live together as friends or to have true peace in the world, there must be mutual honesty and sincerity, not hypocrisy.

     This land of peace does not want anyone, whoever he be, whose mouth talks of peace but whose actions are otherwise to sully the mark of the kiss.

 

Sathienpong Wannapok

 

*   *   *

 

   Phân tích tài liệu trên chúng ta có thể biết được vài điều về lịch sử và rút kinh nghiệm cho Việt Nam.

 

   Trước hết, Thái Lan bảo toàn được độc lập và tự do của đất nước là vì người dân đã đoàn kết xung quanh Vua của họ và đã thành công trong việc chống lại mưu toan thuộc địa hóa Thái Lan của các thế lực thực dân hiếu chiến Tây phương. 

   Trông người lại nghĩ đến ta, trong bài Thiên Hạ Đại Thế Luận, tên tay sai đắc lực của Pháp là Nguyễn Trường Tộ đã xuyên tạc lịch sử, hù dọa vua quan ta bằng lời tâng bốc các nước phương Tây sai sự thực lịch sử “Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ …Xiêm La (Thái Lan)… Cao Ly (Hàn quốc), Nhật Bản, Trung Quốc….”, và những tài liệu lịch sử ngày nay đã chứng tỏ một sự kiện bất khả phủ bác là “Không có sự tiếp tay và phản bội của giáo dân Việt Nam thì nước Pháp không thể chiếm được Việt Nam làm thuộc địa.”Thật vậy, chính giám mục Puginier đã nói rõ hơn ai hết vai trò phản quốc của giáo dân Việt Nam như sau, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques của  Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:

 

   “Giám Mục Puginier viết rằng: “Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.  Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.  Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào  tình trạng không  thể hoạt động  được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng.  Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại.”

   (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.  La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force.  En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d’ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l’impossibilité d’agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.  Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

 

   Đây là một vết nhơ không bao giờ có thể rửa sạch trên khuôn mặt của giáo hội Ca Tô hoàn vũ nói chung, giáo hội Ca Tô Việt Nam nói riêng.  Vì lời thú nhận của giám mục Puginier ở trên đã vạch trần vai trò gián điệp thực dân của các thừa sai Tây phương và vai trò phản quốc của giáo dân Việt Nam trên đất nước Việt Nam. [Độc giả có thể đọc thêm nhiều chi tiết về sự hỗ trợ quân xâm lăng Pháp của giáo dân Việt Nam trong những cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của Cao Huy Thuần; Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897) của Nguyễn Xuân Thọ; Thập Giá Và Lưỡi Gươm của Linh Mục Trần Tam Tĩnh; The Vietnam Response To French Intervention: 1862-1874 của Mark W. McLeod; Vietnam’s Will To Live của Helen Lamb; Catholic Imperialism Against The Asiatic Continent của Avro Manhattan; French Catholic Missionaries And The Politics Of Imperialism In Vietnam, 1874-1914 của Patrick J. N. Tuck; Annam-Tonkin 1885-1896 của Charles Fourniaux v..v..].

    Cũng như lịch sử đen tối của Ca Tô Giáo Rô Ma vẫn muôn đời tồn tại trong lịch sử loài người dù gần đây giáo hoàng đã công khai xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội, lịch sử ô nhục của giáo dân Việt Nam tiếp tay với thực dân Pháp để đưa đất nước vào vòng thuộc địa của Pháp cũng sẽ muôn đời tồn tại trong lịch sử Việt Nam, bất kể là giáo hội Ca Tô Việt Nam có xưng tội với với nhân dân Việt Nam hay không.  Nếu giáo hoàng John XXIII đã thú nhận dấu ấn của Cain đã in đậm trên trán của giáo hội sau vụ Hitler, một tín đồ Ca Tô, giết 6 triệu người Do Thái, thì chúng ta có thể nói dấu ấn của Cain cũng đã in trên trán của giáo hội Ca Tô Việt Nam mà không sợ sai lầm. 

 

   Thứ đến, qua vài đoạn văn ngắn ngủi mô tả đức tính hòa bình và khoan nhượng của Phật Giáo, Tỳ kheo Sathienpong Wannapok đã chứng tỏ là những sắc thái này đối ngược với

với lịch sử đẫm máu và ô nhục của Ca Tô Giáo trong sách lược truyền đạo.  Tuy Ngài không viết thẳng ra nhưng một độc giả có đôi chút kiến thức về lịch sử tàn bạo của Ca Tô Giáo Rô Ma đều hiểu Ngài muốn viết gì qua lối hành văn đối chiếu, nêu lên những trái ngược giữa hai tôn giáo.  Trong thư ngỏ gửi giáo hoàng mà Ngài viết “Phật Giáo chưa hề làm đổ một giọt máu để truyền đạo” hay “Phật Giáo không hề có một cuộc chiến tranh tôn giáo nào” hay “Phật giáo không cần phải tuyên truyền hay lùa thêm tín đồ vào Phật giáo” v..v.. thì chúng ta phải hiểu là Ngài muốn nhắc lại cho Giáo hoàng là “đạo của ông đã làm đổ rất nhiều máu trong khi truyền đạo”, “đạo của ông đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo” , và “đạo của ông chỉ  muốn kiếm thêm tín đồ bằng tuyên truyền và những thủ đoạn bất chính” v..v..  Nhắc để làm gì?  Để chứng tỏ là bản chất của đạo Ca Tô là như vậy, ông không thể che dấu được ai trong thời đại này, và với lòng từ bi của một Tỳ Kheo thì đó là với hi vọng có thể khai sáng, chuyển hóa tâm tư của giáo hoàng để cho Giáo hoàng có thể trở thành lương thiện hơn trong sách lược truyền đạo của Vatican.  Câu cuối cùng trong thư ngỏ nói thẳng là nụ hôn của giáo hoàng trên đất Thái chỉ làm nhơ bẩn đất nước Thái ra mà thôi.

 

   Trong thư ngỏ, Tỳ kheo Sathienpong Wannapok chỉ nhắc sơ vài luận điệu thần học ma giáo của Ca Tô Giáo với mục đích xuyên tạc và hạ thấp Phật Giáo.  Trong bài Nhận Định Bản Tông Huấn ở trên, tác giả Ngô Triệu Lịch đã phân tích kỹ những luận điệu ma giáo đó.  Ở đây, tôi chỉ phân tích đoạn văn trong thư ngỏ:

 

   Họ đã cố ý và trắng trợn xuyên tạc những nguyên lý của Phật Pháp và chê bai Tam Bảo bằng cách nhận vơ là Tứ Diệu Đế và Lý Duyên Khởi của Đức Phật là được Thiên Chúa của họ mạc khải cho, do đó Đức Phật chỉ là một nhà tiên tri hay nô lệ của Thiên Chúa, được huấn thị để sửa soạn những người dân Á Đông vào Ki Tô Giáo hay sửa soạn con đường để cho con người theo Giê-su.

  

    Luận điệu “Đức Phật chỉ là một tiên tri (Ca Tô giáo dùng từ “Ngôn sứ”) được Thiên Chúa mạc khải v..v..”  chỉ có thể lừa bịp được những đầu óc kém hiểu biết.  Đối với giới trí thức có đôi chút hiểu biết về Ki Tô Giáo và Phật Giáo thì đó là một luận điệu hoang đường, lố bịch và ấu trĩ chưa từng thấy.  Chứng minh? 

 

   Thứ nhất, một trong 10 danh hiệu của Đức Phật là “Thiên Nhân Sư”, nghĩa là bậc Thầy của Thiên Chúa và con người.  Trong xã hội loài người có cả trăm Thiên Chúa khác nhau.  Thiên Chúa của Ki Tô Giáo chỉ là một trong số hàng trăm Thiên Chúa này. [Xin đọc The History of God của Karen Armstrong; A World Full of Gods của Keith Hopkins; In God We Trust: But Which One? của Judith Hayes; Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus của William Harwood; The Dark Side of God của Douglas Lockhart v..v..]

  

   Nếu Đức Phật đã được tôn là bậc Thầy của các Thiên Chúa thì không thể nào lại là “ngôn sứ” của một Thiên Chúa, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.  Ắt hẳn sẽ có người cho rằng sự tôn vinh Đức Phật như trên là của các Phật tử ca tụng giáo chủ của mình, cũng như tín đồ của các tôn giáo khác tôn vinh giáo chủ của họ, chứ không phải là sự thật.  Không hẳn vậy.  Vì chúng ta có thể thấy rõ vấn đề khi chúng ta đọc những lời Phật dạy trong ba tạng Kinh Luật Luận của Phật Giáo và những lời của Thiên Chúa Ki Tô Giáo trong Cựu Ước.  Chúng ta thấy gì?  Suốt trong ba tạng Kinh Luật Luận của Phật Giáo chúng ta chỉ thấy những giáo lý, từ dễ hiểu cho tới cao siêu, với mục đích hướng dẫn con người hướng thiện và hướng thượng để đạt tới giải thoát cho chính mình.  Chúng ta không hề thấy một lời nói ác độc, một chuyện dâm ô, loạn luân, hay một chuyện giết người tàn bạo nào.  Trái lại trong Cựu Ước, theo niềm tin Ki Tô Giáo thì đó là những lời mạc khải  của Thiên Chúa Ki Tô Giáo, quá nửa là những chuyện giết người tàn bạo, ác độc, trả thù, dâm ô, loạn luân nhiều khi thủ phạm  lại chính là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.  Vậy bằng cách nào mà một Thiên Chúa tàn bạo, ác độc, khát máu, vô đạo đức  như được mô tả trong Cựu Ước lại có thể mạc khải cho một bậc từ bi như Đức Phật mà giáo lý của Người, chúng ta đã biết, hoàn toàn trái ngược với những lời mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh?  Cho nên, danh hiệu “Thiên Nhân Sư” của Đức Phật hoàn toàn đúng, vì bậc Thầy như Đức Phật là bậc đạo đức cao cả, trí tuệ thông suốt, để cho chúng sinh lấy đó làm tấm gương soi vào để noi theo.  Còn Thiên Chúa của Ki Tô giáo chỉ là đối tượng của một đức tin không cần biết không cần hiểu, cho nên bản chất không khác gì thần hà bá, thần cây đa, thần bình vôi v..v.. Nhưng chúng ta nên hiểu rằng, bậc Thầy dạy giáo lý, đạo đức v..v.. là một chuyện, mà chúng sinh, gồm có Thiên Chúa và con người, có theo được những lời dạy của Đức Phật hay không lại là chuyện khác.  Tất cả đều tùy thuộc căn trí và duyên của Thiên Chúa cũng như của con người. 

 

   Đối với những nhà truyền giáo nói lên luận điệu thần học ma giáo để hạ thấp Đức Phật như trên, chúng ta chỉ cần đặt trước mặt họ cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo và bất cứ cuốn Kinh Phật nào rồi bảo họ hãy giải thích sự trái ngược về luân lý và đạo đức chứa trong hai cuốn sách trên, và hãy so sánh tư cách, trí tuệ của Đức Phật với tư cách và trí tuệ của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. 

   Mặt khác, chúng ta không nên quên, cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll,  Ingersoll The Magnificent (Lewis, p. 110) đã đưa ra nhận định sau đây về Ki Tô Giáo và Thiên Chúa của họ:

 

   “Nếu Ki Tô Giáo chỉ ngu đần và phản khoa học, nếu Thượng Đế của Ki Tô Giáo chỉ dốt nát và có lòng tốt, nếu Ki Tô Giáo hứa hẹn cho các tín đồ một sự hỉ lạc vĩnh hằng, và nếu các tín đồ thực hành hạnh tha thứ mà Ki Tô giáo răn dạy, thì tôi là người chẳng đụng gì đến tín ngưỡng của họ.

   Nhưng Ki Tô Giáo còn có một mặt khác.  Tôn giáo này không chỉ ngu đần mà còn lắt léo, không chỉ phản khoa học mà còn vô nhân tính.  Thượng đế của tôn giáo này không chỉ dốt nát mà còn vô cùng ác độc.  Tôn giáo này không chỉ  hứa hẹn cho tín đồ một phần thưởng vĩnh hằng mà còn khẳng định rằng hầu hết mọi người (không phải là tín đồ. TCN) đều bị giam cầm trong những tòa hình ngục của Thượng đế và sẽ bị vĩnh viễn đau đớn.  Đó là sự man rợ của Ki Tô Giáo.”

   (If Christianity were only stupid and unscientific, if its god was ignorant  and  kind, if it promised eternal joy to believers, and if the believers practiced the forgiveness they teach, for one I should let the faith alone.

    But there is another side to Christianity.  It is not only stupid, but malicious.  It is  not only unscientific,  but  it is heartless.  Its god is not only  ignorant,  but  infinitely cruel.  It not only promises the faithful an eternal reward, but declares that nearly all of the children of men, imprisoned in the dungeons of god will suffer eternal pain.  This is the savagery of Christianity.)

 

   Vậy chúng ta hãy tự hỏi, một Thiên Chúa như vậy có thể nào lại là đấng “mạc khải” cho Đức Phật, một vĩ nhân của nhân loại mà tư cách và đạo đức đã được cả thế giới tôn sùng, khoan nói đến chuyện vượt xa Thiên Chúa cũng như Giê-su trong Thánh Kinh, và một tôn giáo như Ki Tô Giáo có đáng để cho chúng ta chui đầu vào làm nô lệ cho một đám người gian manh, vô cùng bất lương trong sách lược truyền đạo?

 

    Thứ nhì, mọi luận điệu thần học của Ca Tô Giáo dùng để truyền đạo đều dựa trên một giả định (assumption) là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo hiện hữu.  Họ đưa ra lý luận là “Nếu không ai chứng minh được Thiên Chúa của họ không hiện hữu tất nhiên Thiên Chúa của họ phải hiện hữu”.  Lý luận này ngớ ngẩn vì việc chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa là việc của những người tin rằng có Thiên Chúa.  Tôi không tin có Thiên Chúa thì việc gì tôi phải chứng minh là không có Thiên Chúa.  Nếu ông muốn tôi tin là có Thiên Chúa thì hãy chứng minh cho tôi là Thiên Chúa thực sự hiện hữu.  Điều này chưa có một nhà thần học nào hay một chức sắc Ki Tô Giáo nào làm được và họ chỉ có thể dạy những người trong óc thiếu neuron là hãy cứ tin vào những điều không đáng tin.  Trong một phần trên, tôi đã đưa ra vài tài liệu cập nhật nhất của giới trí thức Tây phương về nền thần học Ki Tô Giáo: đó là một nền thần học không có chủ đề, những nhà thần học không biết là mình nói cái gì, và John Remsburg đã cho rằng “Đối với giới trí thức, nền thần học Ki Tô Giáo trên thực tế đã chết”.  Thật vậy, tất cả những luận cứ thần học của Ki Tô Giáo để biện minh cho sự hiện hữu của một Thiên Chúa sáng tạo như được viết trong Thánh Kinh ngày nay đã bị phủ bác dứt khoát.  Chúng ta có thể kể những luận cứ thần học về Bản Thể (Ontological argument) của Anselm, Thomas Aquinas, René Descartes; về vũ trụ (Cosmological argument) của Thomas Aquinas; về Cứu Cánh (Teleological argument hay Design argument) của William Paley; về đạo đức (Moral argument) của Hastings Rashdall v..v.. Tất cả những luận cứ thần học trên đã không còn chỗ đứng trong giới trí thức Tây phương và sự hiện hữu của một Thiên Chúa của Ki Tô Giáo chỉ còn sót lại trong những đầu óc không đội trời chung với khoa học, triết lý, và lý trí. 

   Kết luận, luận cứ thần học của Ca Tô Giáo trong mưu toan hạ thấp Đức Phật xuống hàng ngôn sứ của Thiên Chúa là một luận cứ lố bịch, lừa bịp những kẻ ngu dốt, có thể xếp vào loại những luận cứ ma giáo của Ca Tô Giáo, không có một căn bản thuyết phục nào.

 

   Thứ ba, nói rằng giáo lý của Đức Phật là để sửa soạn cho dân Á Châu tiếp nhận vai trò cứu rỗi của Giê-su, đấng cứu thế, là nói càn, nói ẩu, thuộc loại “cưỡng từ, đoạt lý”.  Vì đạo Phật là đạo của trí tuệ.  Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama đã bác bỏ dứt khoát mọi sự tin nhảm nhí, tin bướng tin càn, tin mà không hiểu, tin mà không thể chứng nghiệm vào chính bản thân ngay khi còn sống.  Trái lại, đạo Giê-su là đạo của đức tin, tin mà không cần biết không cần hiểu, như ông trí thức Ca Tô Đỗ Mạnh Tri đã khẳng định trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng.  Đạo Giê-su là đạo dựa trên một tín lý ác ôn, vô nghĩa và hoang đường: “Ai tin Giê-su thì sẽ được Giê su cứu rỗi, lẽ dĩ nhiên sau khi chết, cho lên thiên đường (mù), còn ai không tin sẽ bị đày hỏa ngục (ma) vĩnh viễn”.  Vậy theo lý luận thần học của Ki Tô Giáo, Đức Phật sửa soạn cho dân Á Châu đi giật lùi, đi từ lý trí xuống phi lý trí, đi từ tự tu tự chứng xuống hàng tin bướng tin càn hay sao?  Điều này không thể có được và người con Phật không bao giờ chấp nhận chiều hướng tụt hậu, làm mất phẩm giá con người, đi giật lùi này.

 

    Thật ra, những luận điệu thần học ma giáo ở trên chỉ là sản phẩm diễn giải lắt léo của những đầu óc bệnh hoạn, cuồng tín, hạ căn chứ không hề có xuất xứ từ Thánh Kinh.  Không ai có thể tìm thấy trong Thánh Kinh bất cứ một chi tiết nào nói về sự mạc khải của Thiên Chúa, nếu thực sự có một Thiên Chúa, cho Đức Phật.  Nhưng vấn đề ở đây là những luận điệu thần học lắt léo ma giáo đó chỉ có thể lừa bịp được đám dân ít học chứ chúng vô dụng đối với những người có đôi chút hiểu biết.  Mặt khác, nếu chúng ta nghiên cứu kỹ về Ki Tô Giáo thì chúng ta sẽ thấy không có gì là của Ki Tô Giáo cả, tất cả chỉ là vay mượn, bắt chước, xào xáo những niềm tin hay giáo lý đã có trong dân gian làm của riêng cho Ki Tô Giáo.  Chúng ta hãy đọc tài liệu sau đây của Linh Mục Kirati Boonchua, giáo sư triết tại đại học Chulalongkorn, Thái Lan:

 

Niềm Hãnh Diện Của Ki Tô Giáo:

Sao Chép Và Mô Phỏng

 

   “Cho đến bây giờ (1985), không ai thật sự biết đúng ngày sinh và ngày chết của Giê-su.  Tất cả chỉ là đoán mò. [Ngô Triệu Lịch đã gọi nền thần học Ki Tô Giáo là nền thần học đoán mò].  Ngày sinh vào 25 tháng 12 là lấy của người La Mã.  Người La mã ăn mừng ngày sinh của Thần Mặt Trời vào ngày 25 tháng 12.  [Thật ra, dây không phải là ngày lễ riêng của dân La Mã mà là ngày mà nhiều nơi trong dân gian cổ xưa ăn mừng ngày bắt đầu lại dài ra sau một mùa Đông mà họ thấy ngày cứ ngắn dần và lo sợ không còn ánh sáng mặt trời nữa].  Ki Tô Giáo không có cái gì là của mình cả.  Ki Tô Giáo chỉ có thể sao chép và mô phỏng các tôn giáo khác.  Điều này có đáng xấu hổ không?  Tại sao Ki Tô Giáo lại phải xấu hổ?..

   Hơn nữa, Giê-su cũng không có một hệ thống giáo lý của chính mình.  Giê-su mô phỏng những điều trong Cựu Ước.  Giê-su không thiết lập một hệ thống triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức cho Ki Tô Giáo.  Do đó, Ki Tô Giáo không hề có một hệ thống triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức của Ki Tô Giáo để có thể phô trương trước các tôn giáo khác.  Chưa bao giờ có được một cái gì thực sự là của chính mình, đó là điều duy nhất mà Ki Tô Giáo có thể phô trương.  Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, hân hoan chấp nhận là triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức của chúng ta ngày nay đều là sao chép và mô phỏng từ ngôn ngữ và văn hóa của những miền đất mà Ki Tô Giáo nảy nở trong đó.  Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, là những chuyên gia về kỹ thuật xảo trá…”

The Proud of Christianity: Borrowing and Imitation

   …Up to now, no one actually knows the exact dateof birth and date of death of Jesus Christ.  Everything is merely the matter of guess.  Christmas on 25 December was borrowed from Roman.  Roman celebrated the Birth of Sun God on 25 December.  Christianity possesses nothing of its own.  Christianity can only borro and imitate others.  Is it shameful?  Why Christianity have to shame?..

   Moreover, Jesus Christ also had no own syatem of teaching.  Jesus imitated those of the Old Testament… Jesus did not establish philosophical syatem, school of art and official language for Christianity.  Therefore, Christianity possesses no Christian philosophy, art and official language in order to show to others.  Never having any authentic thing of its own is the only thing Catholics can show off..  We, Catholics, delightfully accept that our present philosophy, art and official language are borroed and imitated from the language and culture of the lands where Christianity has grown.  We, Catholics, are experts in manipulation..

   (Lecture of Father Kirati Boonchua, Professor of philosophy at the Faculty of Arts, Chulalongkorn University) in “Life Review” a Catholic program in Bangkok, broadcasting on 8 December 1985)

 

   Linh mục Kirati Boonchua nói thật hay nói chơi?  Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Bản Tin số 10 (Bulletin No 10, pp. 25-27) của Vatican:

 

    “Trong những xứ Phật Giáo, để khoác bộ áo văn hóa bản địa, giáo hội có thể và phải lấy những điều hay trong truyền thống Phật giáo và biến đổi chúng, cho chúng một ý nghĩa của Ki Tô Giáo để có thể áp dụng chúng vào đời sống của những tín đồ của Ki-Tô.”

   (In the Buddhist countries, in order to make its own cultural garnment, the Church can and must take on the good elements of the Buddhist tradition and transform them giving them a Christian meaning so as to adapt them to the life of the followers of Christ.)

 

   Lấy cái hay của người khác để dùng cho mình là điều ai cũng nên làm.  Nhưng dùng kỹ xảo biến đổi nó đi và nhận là của mình thì đó là trò ăn cắp ma giáo, bất lương trí thức, và chỉ có một tôn giáo như Ca Tô Giáo mới có thể làm như vậy trong suốt chiều dài lịch sử  của tôn giáo này.  Một thí dụ điển hình của trò ma giáo này nằm trong Bản Tin số 10 trên:

 

    “Toàn thể Phật Giáo đặt căn bản trên Tứ Diệu Đế: Khổ, Nguồn gốc của Khổ, Diệt Khổ và Thoát Khổ (Khổ,Tập, Diệt, Đạo).  Tại sao sự truyền bá Phúc âm của Ki-Tô không thể cũng được thâu tóm trong bốn chân lý trên?  Sự khổ chân thật của con người là tội.  Giê-su đến để giải thoát con người khỏi khổ –tội. “

    (The whole of Buddhism is based on the four thuths: sorrow, the cause of sorrow, the destruction of sorrow and liberation from sorrow.  Why could not the spreading of the Gospel of Christ be summed up also in these four truths?  The true sorrow of Man is sin.  Jesus came to liberate Man from sorrow-sin.)

 

   Chúng ta thấy ngay thủ đoạn xảo trá và bất lương của Ca Tô Giáo Rô Ma trong đoạn trên:  xuyên tạc ý nghĩa của  Tứ Diệu Đế, nghĩa là bốn chân lý chân thật của Phật Giáo, và biến đổi chúng thành ra hai điều mê tín hoang đường cho người Ca Tô.  Bốn chân lý cao thượng của Phật Giáo có tính phổ quát mà mọi người chúng ta có thể chiêm nghiệm hàng ngày.  Trong bài đầu, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Tiến sĩ Phật học, đã vạch trần sự xuyên tạc của Mục sư Tống Tuyền Thịnh về ý nghĩa của “Khổ” trong Phật  Giáo.  Quan niệm về “Khổ” trong Phật Giáo không dính dáng gì đến cái gọi là “Tội” của Ki Tô Giáo, nhất lại là cái tội tổ tông hoang đường của Ki Tô Giáo mà một Giê-su hoang đường đã chuộc tội một cách hoang đường, trèo lên cây thập giá để cho người ta đóng đinh.  Còn nếu tội là tội thế gian như giáo hoàng loạn luân, linh mục hiếp dâm, nữ tu hành hạ trẻ em v..v.. trong lịch sử Ca Tô Giáo thì nếu Giê-su đến để giải thoát, nếu một người chết cách đây đã 2000 năm thực sự có thể giải thoát những tội đó cho những người sống, cho tín đồ những tội đó thì ai muốn tin cứ việc tin.  Riêng tôi, tôi không thể chấp nhận cái luận điệu quái gở, vô đạo đức đó.

  

    Với những sách lược và thủ đoạn ma giáo nằm trong những Bản Tin của Vatican mà tôi đã trích dẫn một phần nhỏ ở trên, nay chúng ta đã hiểu tại sao những Bản Tin của Vatican lại được lệnh phải giữ “mật, không được nêu xuất xứ, và không được phổ biến cho báo chí.”

 

*

*     *

 

VÀI LỜI KẾT

 

    Ngày nay,  Ki Tô Giáo, dựa vào thế lực của các cường quốc  Âu Mỹ, và nấp sau những chiêu bài như “đối thọai”, “hòa hợp tôn giáo”, “tự do dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo” để thúc đẩy chương trình bành trướng cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú.  Không còn mấy giá trị đối với giới trí thức hiểu biết, mất dần ảnh hưởng trong những quốc gia văn minh tiến bộ, Ki Tô Giáo phải tìm đất sống ở những nơi tình trạng xã hội chưa ổn định, dân trí còn kém mở mang, và dân chúng còn nghèo khó, còn chịu nhiều bất công xã hội.  Á Châu là miếng mồi ngon nhất, thích hợp nhất, từ đó nền “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu” đã được đề xướng để thực hiện âm mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Ki Tô Giáo.  Âm mưu này có thành tựu hay không, tất cả tùy thuộc chính sách giáo dục và tôn giáo của các chính quyền địa phương ở Á Châu.

 

   Qua sự phân tích những chủ đề trong cuốn sách này,  chúng ta đã biết rõ thực chất của cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu” là như thế nào.  Đó chẳng qua chỉ là một tập hợp những thủ đoạn truyền đạo xảo quyệt, bất chính, bất lương trí thức của những tổ chức thế tục mang danh tôn giáo.  Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ trước những phản ứng của Á Châu để đối phó với sách lược Cải Đạo Á Châu của Ki Tô Giáo.

   Chúng ta đã biết ít nhiều về phản ứng của dân Thái Lan và Ấn Độ.  Chúng ta cũng đã biết, Trung Quốc, Đài Loan, Sri Lanka, và Việt Nam đã từ chối, không chấp thuận lời xin của giáo hoàng John Paul II tới viếng thăm tín đồ trong các quốc gia này mà ai cũng biết mục đích là khuyến khích sự cuồng tín của các tín đồ, ngầm xúi họ gây loạn và xáo trộn trong những xã hội này qua lời dạy “đừng sợ”.  Xin quý độc giả hãy tìm đọc cuốn Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập III, của Trần Văn Kha, mới xuất bản tháng 2, 2003, trong đó có bài phỏng vấn Bác Sĩ David Frawley, một cựu tín đồ Ca Tô, để biết về quan điểm rất chính xác của ông về thực chất sách lược cải đạo Á Châu của Ca Tô Giáo là như thế nào.

 

    Vấn đề của chúng ta ngày nay là phải xét xem giáo hội Ca Tô có thể làm được những gì với sách lược Cải Đạo Á Châu trong tương lai, và sách lược này có ảnh hưởng gì đến đất nước Việt Nam.  Sách lược của giáo hội Ca-Tô cũng như Tin Lành, chúng ta đã rõ, do đó chúng ta cần có những biện pháp đối phó.  Tại sao lại phải đối phó?  Bởi vì KiTô giáo chưa hề thay đổi trong sách lược truyền đạo, và sách lược này luôn luôn xúc phạm đến các tôn giáo và các nền văn hóa truyền thống địa phương, như chúng ta đã thấy trong những phần phân tích ở trên.  Ki Tô giáo không thể chấp nhận ý tưởng hòa hợp tôn giáo theo quan niệm đa tôn giáo bình đẳng trên thế giới.  Đây là một thái độ nguy hiểm, phương hại đến nền hòa bình thế giới.  Sau đây chúng ta hãy đi thẳng vào vấn đề.

 

   Một thủ đoạn trong sách lược Cải Đạo Á Châu, như chúng ta đã biết, là dùng chiêu bài “đối thoại” và “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” mà thực chất chỉ là những bình phong che đậy những âm mưu đen tối đàng sau.  Ngay từ Công Đồng Vatican II, Giám Mục Emile de Smedt, phát ngôn viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo, đã đưa ra khuyến cáo về chính sách “đối thoại”,  “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” chỉ có trên mặt văn tự của Vatican trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963 như sau:

 

   “Nhiều người phi-Ca-Tô đã nuôi sự thù ghét đối với giáo hội, hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt được mục đích bất kể đạo đức. TCN),  vì  đối với họ chúng ta  có vẻ như là khi ở thế thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải  được tự do tôn giáo  nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ cùng sự tự do tôn giáo đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.

   Tại sao lại nói đến đối thoại với các người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, giáo hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng tự do của những người phi-Ca-Tô.

   Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và với thẩm quyền rằng giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội phải dựa trên căn bản tự do tôn giáo, lên án sự bất khoan dung, bách hại và kỳ thị .”

   (Many non-Catholics harbor an aversion against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation and at the  same time  refuse  and deny the same religious freedom when Catholics are in the majority.

   Why speak about dialogue with other Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?

   Every ecumenical “move” of  the Catholic Church will be completely fruitless and devoid of any real meaning unless the Church states clearly and authoritatively  that it will respect the liberty of other believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.)

 

   Tuy nhiên, trong mấy chục năm qua, Vatican vẫn theo đuổi chính sách xâm lăng văn hóa và tôn giáo trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Á Châu và Phi Châu, qua những thủ đoạn không được lương thiện như đã được trình bày trong các phần trên.  Nhưng tà không bao giờ có thể thắng được chánh, cho nên dù với tiền rừng bạc bể, với những đám tín đồ bản địa cuồng tín, với những phương tiện truyền thông rồi rào, tất cả những kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Vatican cũng sẽ vô hiệu quả và trở thành hoàn toàn vô nghĩa, như giám mục Emile de Smedt đã báo động ở trên.

 

   Tuy những kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Ca Tô Giáo không có mấy hi vọng thành tựu, nhưng chúng ta không thể lơ là, coi thường những thủ đoạn của Giáo hội Ca Tô.  Chúng ta không thể áp dụng hạnh từ bi một cách sai lầm theo nghĩa chỉ biết tụng Kinh niệm Phật, ngồi hít vào thở ra, tìm sự an lạc cho riêng mình, và để mặc cho Ca Tô Giáo tự do hoành hành, nô lệ hóa đầu óc người dân Việt, kéo người dân Việt xuống hàng súc vật (con chiên).  Tinh thần Đại Thừa, Phật Giáo nhập thế ngày nay không cho phép chúng ta có thái độ như vậy khi chúng ta còn có nhiệm vụ đối với quốc gia dân tộc, nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và tôn giáo dân tộc, nghĩa là Phật Giáo.  Tôn giáo dân tộc nên hiểu là tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong một quốc gia chứ không phải là tôn giáo duy nhất được chính thức công nhận trong quốc gia đó.  Thí dụ, Ki Tô Giáo được coi là tôn giáo dân tộc của Mỹ tuy chỉ có khoảng 80% người Mỹ theo Ki Tô Giáo, trong đó có 25% là Ca Tô.  Tuy vậy trên khắp nước Mỹ chúng ta thấy đầy dẫy những khẩu hiệu như “In God We Trust” hay “God Bless America” v..v.. Do đó, ở Việt Nam, phổ biến những biểu tượng của Phật Giáo như Hoa Sen, Cờ Phật Giáo, Chuyển Pháp Luân v..v.. đều không có gì là trái với lẽ thông thường và không có nghĩa Phật Giáo là tôn giáo duy nhất ở Việt Nam.

   Từ là cho vui, và Bi là cứu khổ.  Khai sáng trí tuệ người dân, chuyển hóa để cho họ thấm nhuần giáo lý nhân bản, thiết thực, hòa bình, vị tha, vô thường, vô ngã v..v.. của Phật Giáo là mang niềm vui đến cho họ.  Cứu họ ra khỏi vô minh, mê tín dị đoan, xiềng xích trí tuệ, tinh thần nô lệ ngoại nhân v..v.., đó chính là cứu khổ.  Vì không hiểu ý nghĩa thực sự của từ bi nên những người Ca Tô thường lên án những ai viết ra những sự thực về Ca Tô Giáo là không áp dụng hạnh từ bi của Phật Giáo.  Họ muốn rằng họ được quyền xuyên tạc Phật Giáo, mạ lỵ Tăng đoàn, và khi ở vị thế cầm quyền, được tự do giết người ngoại đạo, cưỡng bức cải đạo họ như dưới thời Ngô Đình Diệm.  Ngược lại, họ muốn chúng ta phải áp dụng hạnh từ bi của Phật Giáo theo nghĩa họ muốn, nghĩa là không được viết ra những sự thật lịch sử hay những mánh mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ca Tô Giáo.  Họ muốn khi họ tát vào má này của chúng ta thì chúng ta phải đưa má kia ra cho họ tát tiếp, áp dụng lời dạy của Giê-su, một lời dạy mà thực chất là nuôi dưỡng sự bất công, và chính họ chưa bao giờ áp dụng.

 

    Sự nguy hại thật sự của kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Ca Tô và Tin Lành là, do cái căn bản tự cho là một tôn giáo thiên khải và chỉ được thờ một Thần Ki Tô, và tin vào sự hứa hẹn của các nhà truyền đạo về một sự “cứu rỗi” của Giê-su, sách lược cải đạo có tính cách mê hoặc này cộng với sách lược hạ thấp, mạ lỵ các tôn giáo và nền văn hóa khác như vừa nêu ở trên, sẽ tạo nên một lớp người bản xứ vô não trở thành cuồng tín, tình nguyện làm nô lệ cho ngoại bang, sẵn sàng phản bội quốc gia để đổi lấy một cái bánh vẽ trên trời sau khi chết,  do đó không tránh khỏi đưa đến những cảnh xáo trộn trong xã hội, bất hòa trong những khối tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia yêu chuộng hòa bình, đang sống hòa hợp trong tình tương thân tương ái giữa những đồng bào ruột thịt.  Những điều này đã xảy ra ở Việt Nam từ khi các thừa sai Ca Tô đầu tiên xâm nhập Việt Nam để truyền đạo và tiếp tục xảy ra trong vài vùng cao nguyên, đã và đang xảy ra ở Ấn Độ, Thái Lan, ở Đông Timor, Nam Dương v..v…

 

   Là một người “ngọn Mỹ, gốc Việt”, tôi quan tâm đến Việt Nam, và sau đây là những nhận định của tôi về sách lược Cải Đạo Á Châu của Vatican trên đất nước Việt Nam.

    Dựa trên những sự kiện lịch sử trong quá khứ xa và gần, chúng ta có thể phần nào tiên đoán được sự thành công hay thất bại của sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Vatican tại Á Châu nói chung, Việt Nam nói riêng.  Tôi tin rằng sách lược cải đạo của Ca-Tô Giáo tại Việt Nam sẽ thất bại bởi những lý do sau đây.

  

 1).   Trở lại lịch sử, Ca Tô Giáo xâm nhập vào Việt Nam từ 1533, và 140 năm sau, tới đầu thập niên 1670, các thừa sai Ca Tô mới khuyến dụ được khoảng 60000 người theo đạo, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam (Xin đọc Catholicism et Sociétés Asiatiques của Yoshiharu Tsuboi), không có khả năng phân biệt chánh tà, chân giả cho nên rất dễ bị lùa vào trong vòng mê tín của Ca Tô Giáo.  Sau đó, các thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, mở đầu cuộc xâm chiếm bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858.  Sau khi tích cực giúp quân xâm lăng Pháp để đưa Việt Nam vào vòng đô hộ, Ca-Tô Giáo ở Việt Nam dựa vào thế lực thực dân để truyền đạo, làm mưa làm gió trên đất nước Việt Nam.  Nhưng dù ở thế thượng phong, dưới cái dù của thực dân trong gần 100 năm, cộng với 9 năm miền Nam dưới chế độ độc tài, gia đình trị, Ca Tô trị của Ngô Đình Diệm, số tín đồ Ca-Tô trên tỷ lệ dân số luôn luôn chỉ ở mức 7 phần trăm hay ít hơn.  Điều này chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam không tương hợp với nền văn hóa Ki Tô.  Vậy ngày nay, tất cả lợi thế về quyền lực thế tục của Ca-Tô Giáo đã không còn, ngoại trừ sức mạnh hữu danh vô thực hào nhoáng bên ngoài, Ca-Tô Giáo có cách nào để cải đạo người dân Việt Nam?  Liệu chính quyền hiện nay có để cho họ tự do xâm nhập ào ạt vào Việt Nam để truyền đạo sau những chiêu bài đạo đức giả có tính cách lưỡng chuẩn (double standard) như nhân quyền và tự do tín ngưỡng một chiều hay không?  Chúng ta cần phân biệt rõ ràng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do xâm nhập một quốc gia để truyền đạo.  Hai quyền này hoàn toàn khác nhau.

  

2). Thời buổi này, không còn mấy người có đầu óc còn tin ở những chuyện hoang đường như “tội tổ tông”, “Chúa tình nguyện leo lên thập giá để chuộc tội cho nhân loại”, “Đức Mẹ đồng trinh”, “Giê-su chết ba ngày rồi sống lại và bay lên trời”, quyền phép “cứu rỗi” của Giê-su v..v.., kể cả một số giám mục, linh mục trong giáo hội.  Khoa học với những bằng chứng bất khả phủ bác trong vũ trụ học, di truyền học, sinh học, sinh hóa học, cổ sinh vật học v..v.. cộng với thuyết tiến hóa đã bác bỏ toàn bộ nền thần học Ki Tô Giáo. Đặc biệt là trong thời đại thông tin điện tử này, không ai có thể dấu ai được điều gì, và con người có thể kiểm chứng những tài liệu nghiên cứu chính xác bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu.  Làm sao giáo hội Ca Tô có thể thuyết phục được quần chúng bằng những lý thuyết mơ hồ không có một căn bản xác thực nào.  Làm sao sao Ca Tô Giáo có thể thuyết phục con người bằng những thuyết sáng tạo, cứu rỗi, thiên đường, hỏa ngục trong khi chính giáo hoàng của họ đã chính thức phủ bác những thuyết này khi ông ta đã chính thức công nhận trước quần chúng thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc nhân loại, và phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục.  Trí tuệ người dân Việt Nam đâu còn ở mức trí tuệ của những nông dân hay dân chài ở những vùng hẻo lánh trong thế kỷ 18, 19?  Liệu chính quyền Việt Nam và người dân Việt Nam có để cho những nhà truyền giáo Ca Tô tiếp tục lừa dối người dân bằng những chuyện hoang đường cổ xưa nay đã không còn một giá trị nào trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay?  Chúng ta có đủ tài liệu và thông tin để chất vấn, bẻ ngược lại mọi luận điệu thần học giả dối của Ca Tô Giáo.

 

3).  Dù sách lược Cải Đạo Á Châu mang nhãn hiệu “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á” nhưng bản chất “thần giáo” của Ki Tô Giáo không thể thay đổi.  Do đó nền văn hóa KiTô không tránh khỏi vấp phải nền văn hóa Phật giáo đã bám rễ ăn sâu và đồng hóa với nền văn hóa truyền thống của dân Việt Nam, vốn là một nền văn hóa nhân bản và nhân chủ.  Sự tích dân tộc Việt Nam là Con Rồng Cháu Tiên của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân và tục thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ đã qua đời, chứng tỏ người Việt Nam từ ngàn xưa đã bác bỏ quan niệm thần linh sinh ra con người.  Còn gì nhân bản hơn là người tôn thờ người, và người thờ nhân tính.  Đạo sống này của dân Việt Nam có trước cả khi Đức Phật, Lão Tử, Khổng tử hay Giê-su sinh ra đời.  Và Phật Giáo đã đóng góp vào nền văn hóa đặc thù này bằng cách đưa vào chủ trương tôn trọng nhân phẩm của con người, tự tu tự chứng, mình làm chủ chính mình.  Do đó, nền văn hóa nhân bản và nhân chủ của Việt Nam chính là thành trì chống nền văn hóa Kitô qui phục thần hữu hiệu nhất. 

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết, Tây phương ngày nay cũng đã nhận ra giá trị đích thực của một nền văn hóa nhân bản và nhân chủ.  Ngay gần đây, tháng 4, 2003, hội những người Mỹ theo chủ nghĩa nhân bản và nhân chủ (Humanists) đã phổ biến một bản Cương Lĩnh số 3 khẳng định “bác bỏ ý tưởng là có một Thiên Chúa cần phải “cứu” nhân loại” (rejecting the idea that there is a God who needs to “save” humanity),  “chỉ có đạo đức con người mới quyết định tương lai của thế giới” (human’s ethical behavior alone will dictate the future of the world), “Trách nhiệm về đời sống của chúng ta và cái thế giới mà chúng ta sống trong đó là thế giới của chúng ta và chỉ của chúng ta mà thôi” (The responsibility for our lives and the kind of world in which we live is ours and ours alone).  Ký tên trên bản Cương Lĩnh (Manifesto) này là 19 nhân vật đã được trao tặng giải Nobel, và 57 nhà trí thức có tên tuổi khác trong đó có tiểu thuyết gia Kurt Vonnegut và nhà đạo diễn Oliver Stone.  Năm 1973, hội này cũng ra tuyên ngôn cho rằng “sự tin vào một Thiên Chúa đáp ứng những lời cầu nguyện “không chứng minh được và lỗi thời” và một niềm tin như vậy cho chúng ta “những hi vọng hão huyền về một thiên đường trong đời sau”” (belief in a prayer-answering God “unproved and outmoded”, such a belief offers “false hopes of heaven hereafter”.)  Hội này tin rằng con người được kêu gọi để sống đạo đức mà không cần phải có sự trợ giúp siêu nhiên của một thần, của các nam thần hay nữ thần nào, hay của một lực huyền bí không có tình người  nào. (Humanists believe that people are called to ethical living “without supernatural assistance from a god, gods or godesses or an impersonal mystical force.)  

   

   Nền văn hóa Phật Giáo cao hơn nền văn hóa Ki Tô rất nhiều, điều này không ai có thể phủ nhận, trừ phi chúng ta đánh đồng sai lầm nền văn hóa Ki Tô với những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật của xã hội của Tây phương, những tiến bộ mà Ki-Tô giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng, đã tích cực ngăn chặn (đốt sách vở, đốt luôn cả khoa học gia, cấm tín đồ đọc sách v..v..) nhưng không nổi, cho nên ngày nay đã nhận vơ làm “nền văn hóa Ki Tô Giáo”. Ngày nay, Tây phương đã nhận ra chân giá trị của Phật Giáo, và Phật Giáo phát triển rất tự nhiên trong những xã hội Tây phương mà không hề có ý định cải đạo người khác hoặc kiếm thêm tín đồ.  Đụng phải cái thành trì Phật Giáo ở Á Đông, Ki Tô Giáo không có cách nào thắng được Phật Giáo vì từ giáo lý cho đến thực hành, từ bản chất của mỗi tôn giáo cho đến những phúc lợi mà mỗi tôn giáo đã mang đến cho nhân loại, từ đạo đức tôn giáo cho tới trí tuệ của những vị lãnh đạo tinh thần trong mỗi tôn giáo v..v.., Ki Tô Giáo đều không thể so sánh với Phật Giáo được.

 

4).  Bản  chất  của Giáo hội Ca-Tô Việt Nam chỉ là một mớ

tín đồ hạng hai.  Ca-Tô giáo vào Việt Nam từ 1533 nhưng 400 năm sau (1933) mới có một giám mục đầu tiên (Nguyễn Bá Tòng).  Nhưng tệ hơn cả là Giáo hội này hoàn toàn lệ thuộc Vatican bất kể là những quyết định của Vatican xâm phạm đến chủ quyền dân tộc và xúc phạm đến nền văn hóa  của Việt Nam tới đâu.  Lịch sử cho thấy quyền lợi của Vatican luôn luôn đối nghịch với quyền lợi của Việt Nam.  Chừng nào mà tinh thần nô lệ này còn tồn tại, thì chừng đó người dân Việt Nam vẫn còn phải lưu tâm đề phòng lịch sử tái diễn.  Tinh thần nô lệ này hoàn toàn trái ngược với tinh thần yêu nước, yêu độc lập của người dân Việt Nam, đã được chứng minh qua bao cuộc đánh đuổi quân ngoại xâm.  Với sách lược Cải Đạo Á Châu qua những thủ đoạn bất chính, liệu Ca Tô Giáo có tin rằng những người ngoại đạo ở Việt Nam sẽ để yên cho Giáo hội muốn tuyên truyền lừa dối đồng bào của họ ra sao cũng được?  Hay tin rằng người dân Việt Nam đã quên đi vai trò của giáo hội Ca-Tô Rô-Ma tại Việt Nam trong việc đưa nước Việt Nam vào vòng nô lệ của Pháp?

 

5).  “Thần học” là một bộ môn chưa bao giờ có và không thể nào có trên đất Á Châu.  Á Châu có rất nhiều thần: thần ác, thần thiện, thần cây đa, thần bình vôi, thần hoàng làng (thường là những nhân vật có công với đất nước được sắc phong của nhà vua), thần hà bá v..v..  Nhưng Á Châu không có môn học nào gọi là thần học.  Cho nên “thần học Ki Tô Giáo”, bất kể là mang nhãn hiệu nào, Á Châu hay Phi Châu, của phái nữ hay giải phóng, đen hay đỏ, hay cả dâm ô (Xin đọc Theological pornography của Mary Hunt) đều không có tác dụng trên đầu óc người Á Đông.  “Thần học Ki Tô Giáo” chỉ có thể hợp những người có đầu óc yếu kém, không thể tự mình bước đi trên đường đời, cho nên lúc nào cũng phải dựa vào một cặp nạng thần học, một cặp nạng đã mọt rỗng đến tận cốt lõi.  “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á” cũng không ra ngoài lệ vì bản chất nó chỉ là “thần học” và được xây dựng trên những luận cứ xảo quyệt, gian dối hạ đẳng như đã được chứng minh trong các phần phân tích ở trên.

 

   Trên đây chỉ là vài lý do chính mà tôi nghĩ sách lược Cải Đạo Á Châu sẽ không thể nào thành tựu ở Á Châu nói chung, Việt Nam nói riêng.  Giáo hoàng đặt kế hoạch  trồng cây Ca-Tô Giáo vào những miền đất ở Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba, theo thường lịch.  Điều hiển nhiên là đất Á Châu không thích hợp với cây Ca-Tô.  Trồng vào đó, cây tuy không đến nỗi chết héo queo như cây sung bị Chúa Giêsu nguyền rủa, không bao giờ có thể ra trái được nữa, nhưng có lẽ cũng chỉ sống một cách èo ẹt, không có nhiều sinh khí.  “Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa cứu độ Á Châu” trong 2000 năm qua vẫn tiếp tục kỳ diệu như cũ, nghĩa là Á Châu vẫn tiếp tục từ chối không muốn biết đến Thiên Chúa.  Lịch sử không đi giật lùi.  Không ai có thể đi ngược lại đà tiến hóa của con người.  Người dân Việt Nam không lẽ lại tệ hại đến mức phải đi hốt những thứ làm ô nhiễm đầu óc con người mà Âu Châu và Mỹ Châu đang đào thải dần dần, và coi đó là những của báu trên trần gian.  Tôi thực tình không tin như vậy.

 

   Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải đề cao cảnh giác về hiểm họa Ki Tô Giáo. Hiểm họa Ki Tô Giáo ở trên thế giới là một hiểm họa có thực.  Lịch sử đã chứng tỏ như vậy.  Chúng ta không nên bị mê hoặc bởi luận điệu: “Tôn giáo nào cũng tốt như nhau cả, đều dạy con người làm lành, tránh ác.”

   Bản chất của Ca-Tô Giáo và Tin Lành là lợi dụng sự cuồng tín của tín đồ, tạo thành một lực lượng xã hội,  để khi có cơ hội và quyền thế thì sẽ khuynh loát chính quyền, đàn áp và áp bức tín đồ của các tôn giáo khác.  Bản chất cuồng tín này, nếu ở vị thế nắm quyền hành thì sự tác hại của nó đối với khối dân chúng không đồng tín ngưỡng không biết lên tới mức độ nào.  Kinh nghiệm lịch sử ở những nơi mà Ca-Tô giáo là chủ lực tinh thần trong thời Trung Cổ, và trong thời cận đại ở Tây Ban Nha dưới quyền của nhà độc tài Ca-Tô Franco, ở Croatia dưới quyền của tên Ca-Tô Ante Palevic và những linh mục khát máu, và ở Nam Việt Nam dưới chế độ Ca-Tô Ngô Đình Diệm là một tấm gương cảnh tỉnh những người còn mơ mộng là “tôn giáo nào cũng tốt cả”. Ngày nay, không ai còn coi Ki Tô Giáo là một lực lượng tôn giáo thuần túy mà trái lại chỉ là những định chế coi nặng vấn đề quyền lợi chính trị và kinh tế.  

   Ngày nay, không một người nào có đầu óc còn nghĩ đến những biện pháp cấm đạo và bách hại những người đi đạo như khi xưa nữa.  Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam?  Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Ca-Tô và Tin Lành,  cái hiểm họa đã được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca-Tô giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết ngăn chận sự xâm nhập của các thừa sai truyền đạo vào trong đất nước, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí.  Qua con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng, và từ đó sẽ đỡ bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo.  Theo nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, “Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt” chỉ có sự mở mang dân trí và đời sống thoải mái kinh tế mới có thể loại trừ ảnh hưởng của Ca Tô Giáo.

   Điều này đã xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ trong đó đời sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo, bất kể tôn giáo đó là tôn giáo nào, và bất kể chủ đề nghiên cứu là chủ đề nào, của những người có uy tín trong giới trí thức như lãnh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo sư đại học v..v.. được phổ biến rộng rãi trong quần chúng.  Hi vọng với đà tiến triển về kinh tế hiện nay ở Việt Nam, với nhiều tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được nhà nước sáng suốt cho phép phổ biến, Việt Nam có thể giảm bớt hiểm họa Ki Tô trên đất nước.

 

   Tôi thành thực ước mong chính quyền Việt Nam hãy lưu tâm đến hiểm họa Ki Tô Giáo trên đất nước và đưa ra một chính sách tôn giáo hợp lý, không thiên vị.   Đừng bao giờ để rơi vào những cạm bẫy “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết quốc gia” mà ngăn chận chính sách mở mang dân trí.  Dân trí mở mang không bao giờ có thể là nguồn gốc của sự chia rẽ hay gây hận thù. Sự hòa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia tân tiến Âu Mỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được phổ biến rộng rãi, là một bằng chứng rõ rệt nhất về lợi ích của việc mở mang  dân trí  để  cho  người dân  biết rõ  sự thật về  tôn giáo trong xã hội.  Thật vậy, khoảng 85% dân Mỹ  theo Ki Tô Giáo trong đó có khoảng 25% theo Ca Tô Giáo Rô Ma, hơn 90% dân Pháp rửa tội theo Ca Tô Giáo v..v.. nhưng những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo: những sự thực về lịch sử những tội ác của Ca-Tô Giáo, về tổ chức độc tài của Giáo hội, về những thần quyền tự phong của giới lãnh đạo Ca-Tô, cùng những tín điều hoang đường phi lô-gic, phi lý trí, phản khoa học, huyền hoặc, lỗi thời v..v.. của Ca-Tô Giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, về con người lịch sử Giê-su, về những sai lầm trong Thánh Kinh v..v.. đều được tự do phổ biến mà các chính quyền Mỹ, Pháp không sợ làm mất sự “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết dân tộc” trên đất nước của họ, thì thử hỏi tại sao Việt Nam chỉ có 7% dân chúng theo Ca Tô Giáo mà chính quyền lại sợ rằng những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh với đầy đủ tài liệu về tôn giáo lại có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết dân tộc trên đất nước?  Ngăn chận sự mở mang dân trí trong thời buổi này là có tội với dân tộc, với lịch sử.

 

   Việt Nam cần phải ý thức được sự nguy hại của chiêu bài nhập nhằng tự do tôn giáo với tự do truyền đạo để có thể tìm cách đối phó, đưa ra những biện pháp ngăn chận thích nghi, hợp lý.  Những biện pháp ngăn chận này phải nằm trong quốc sách và phải được cương quyết thi hành.  Tôi tin rằng đa số người dân Việt Nam sẽ ủng hộ những biện pháp bảo vệ nền văn hóa truyền thống Việt Nam này vì chúng ta ý thức rõ ràng rằng không có một chế độ nô lệ nào độc hại bằng nô lệ văn hóa.

    Sách lược truyền giáo của Ca-Tô Giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo, dối trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v.. Lịch sử thế giới đã ghi rõ điều này, và kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập của Ca-Tô Giáo còn ghi rõ trong sử sách.  Ở đây, sách lược truyền giáo của đạo Ca-Tô đã đưa tới những cảnh bất hòa trong những gia đình nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Ca- Tô Giáo, từ bỏ không còn tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong gia đình.  Ca-Tô Giáo cũng đưa tới những cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đã chứng tỏ.  Gần đây, Ca-Tô giáo còn đưa ra sách lược nham hiểm: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là lịch sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những chiêu bài đầu môi chót lưỡi như  “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, hoặc “quay về với truyền thống dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc”, trong khi bản chất độc tôn cuồng tín về “Chúa KiTô là đấng trung gian duy nhất”, nô lệ Vatican vẫn không thay đổi.  Chính quyền và người dân Việt Nam cần nghiên cứu kỹ để biết rõ những âm mưu lũng đoạn quốc gia Việt Nam, và nhất là thái độ “không đội trời chung” của Ca-Tô Giáo đối với Cộng Sản, để biết đường mà tránh đi trên con đường đưa tới sự tự hủy diệt.  Thế lực của Ca Tô Giáo hoàn vũ ngày nay chỉ là một lớp sơn phết bên ngoài, thực lực càng ngày càng yếu, không còn nắm quyền sinh sát như ngày trước, cho nên muốn gì giáo hội chỉ còn biết cầu nguyện.

    Người Việt Nam chúng ta thường tự hào với 4000 năm văn hiến.  Thật ra, nền văn hóa nhân bản (lấy con người làm gốc), nhân chủ (con người tự quyết định số phận mình) và định cư (không lang thang nay đây mai đó) của dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa đối ngược với loại văn hóa thần linh, du mục của dân Do Thái, còn lâu hơn là 4000 năm.  Nền văn hóa này, được biết trong giới khoa học và khảo cổ là nền văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt Nam).  Tiến sĩ Wilhel G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học ở trường đại học Hawaii đã viết: “Tôi không ngạc nhiên nếu thời kỳ văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt Nam) bắt đầu khoảng 15000 (mười lăm ngàn) năm trước Tây Lịch..  Trên một mảnh sành khoảng 6 cm vuông, chúng tôi đã thấy dấu vết vỏ một hạt thóc oriza savita.  Dùng carbon 14 định tuổi những đồ vật bị vùi ở lớp đất trên lớp đất vùi mảnh sành, chúng tôi biết là mảnh sành – và hạt lúa – đã có niên đại muộn là 3500 trước Tây Lịch” (Wilhelm G. Solheim II, New Light On A Forgotten Past, National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971).  Như vậy, tính đến thế kỷ 16, khi Ca-Tô giáo bắt đầu du nhập Việt Nam, thì Việt Nam đã có một lịch sử và một nền văn hóa không hề biết đến Chúa Cha cũng như Chúa Con trong ít nhất là 5000 năm.  Trong 5000 năm này, tổ tiên chúng ta đã tốn bao xương máu, mồ hôi, nước mắt để xây dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Bổn phận của mọi người Việt chúng ta là phải tiếp nối truyền thống anh dũng của ông cha, không thể đi ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại, không thể để cho một ý thức hệ hoang đường, vô tổ quốc, vô gia đình, có nhiều sắc thái đế quốc như ý hệ Ca Tô xâm lấn với mục đích biến đổi, đưa nền văn hóa và tôn giáo dân tộc của chúng ta xuống hạng hạ căn qui thần, “quên mình trong vâng phục” mấy tên mũi lõ mắt xanh vô đạo đức ngồi ở Rô Ma nghĩ kế hoạch tước đoạt trí tuệ và khả năng suy tư của người dân Việt Nam.  Chúng ta không nên quên rằng, ông cha chúng ta trước đây đã qui kết Ca Tô Giáo Rô Ma là một tà đạo.  Nhận định chính xác này thật là đáng phục ở thời điểm mà các công cuộc nghiên cứu về Ca Tô Giáo chưa phát triển. Tà là không ngay thẳng, không chính trực, gian dối.  Ngày nay, qua những tác phẩm nghiên cứu về Ca Tô Giáo, càng ngày chúng ta càng thấy lộ ra bản chất tà giáo của tôn giáo này. 

   Thật vậy?  Thứ nhất, tôn giáo này đã được xây dựng trên những tà thuyết mà ngày nay Tây phương đã không còn chấp nhận, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết.  Như trên chúng ta đã biết, Mục sư Ernie Bringas đã đưa ra nhận định: “Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy tín lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại” và Giám mục John Shelby Spong đã khẳng định: “..một đấng cứu thế (Giê-su) có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin.” (A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.), và nhà thần học nổi danh, Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được ngôi vị giáo sư thần học của Ca Tô Giáo, đã qui kết những chuyện trong Tân Ước như “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”, “các phép lạ Giê-su làm”, “Giê-su sống lại”, “Ngôi mộ trống”, “Giê-su thăng thiên”, “những chuyện trong Sứ Vụ Các Tông Đồ (Acts)”,  “Phê-rô ở Rô-ma” v..v.. đều là những chuyện trẻ con, cần phải dẹp bỏ [Xin đọc cuốn Putting Away Childish Things của Giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann)  Thứ nhì, chỉ có một tà giáo mới có thể gây ra 7 núi tội lỗi mà giáo hoàng đã phải xưng thú trước thế giới.  Thứ ba, sách lược cải đạo Á Châu, như được phân tích trong các phần trên, đã chứng minh rằng đó chỉ là những thủ đoạn bất chính  để thực hiện mưu đồ xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Đông.

   Tuy nhiên, không ai cấm con người tiếp tục tin vào những tà thuyết hay những điều không có thực, như tin là có thần bình vôi, có Chúa sống lại, có chú Cuội ngồi gốc cây đa trên cung Hằng, hay như trẻ con để răng sữa dưới gối, treo bít tất ở lò sưởi để nhận quà của ông già Noel v..v..  Nhưng tà thuyết luôn luôn vẫn chỉ là tà thuyết, điều không có thực luôn luôn cũng chỉ là lông rùa, sừng thỏ, bất kể là có bao nhiêu người vẫn còn tiếp tục tin vào tà thuyết hay những điều không có thực. Con người căn trí bất đồng, không ai có thể bắt buộc những tín đồ Ki Tô Giáo trong những ốc đảo ở Nam Mỹ, Phi Châu, Phi Luật Tân, Việt Nam, và ngay cả trên đất Mỹ, phải có cùng trình độ trí óc mở mang như đa số trên thế giới ngày nay.

   Dù vậy, tôi không thể không có vài lời tâm huyết cùng các tín đồ Ki Tô Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành.  Tôi không coi các bạn là kẻ thù.  Đời tôi không có ai là kẻ thù.  Nhưng lương tâm tôi không cho phép tôi nói lên những lời đãi bôi để tạo sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết dân tộc.  Tôi hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của các bạn nhưng điều này không có nghĩa là tôi không được phép, hay không nên, nói ra những sự thực về tôn giáo của các bạn.  Đây là một bổn phận đối với mọi người còn nghĩ đến quốc gia dân tộc. Qua những phần phân tích ở trên, tôi tin rằng mọi người Việt Nam yêu nước đều ý thức được bổn phận phải vạch trần âm mưu bất chính của Vatican trong sách lược Cải Đạo Á Châu và từ đó, có bổn phận phải tập trung nỗ lực để ngăn chận mọi thủ đoạn truyền đạo bất chính của Ki Tô Giáo trên đất nước..

   Tôi hi vọng các bạn có thể sáng suốt nhận ra rằng, từ xưa đến nay các bạn đã bị lừa vào một niềm tin không đáng.  Có đáng hay không khi các bạn vẫn tiếp tục bám víu vào một hi vọng hão huyền: sự “cứu rỗi” của một người Do Thái tên là Giê-su mà chính Giáo Hoàng hay một số giám mục, linh mục, mục sư, những người lãnh đạo tinh thần các bạn, đã bác bỏ.  Giáo Hoàng của các bạn đã phủ nhận thuyết sáng tạo, phủ nhận “tội tổ tông”, phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục,  Giám mục Spong đã coi vai trò “cứu thế” của Giê-su như là một sự vô nghĩa hậu – Darwin, Mục sư Ernie Bringas đã gọi sự “cứu rỗi” của Giê-su là một cái bánh vẽ trên trời,, và giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann đã coi tất cả những điều các bạn tin là những chuyện trẻ con, cần phải dẹp bỏ. Vậy tại sao các bạn còn cứ tự giam mình trong những giáo hội mà lịch sử đen tối của chúng đã rõ rệt.  Các bạn có cho rằng, các bạn chỉ cần đến một đức tin là đủ, là các bạn ở trong một “hội Thánh”, còn những chuyện ô nhục giáo hội làm trong suốt mười mấy thế kỷ, hay những luận điệu lừa bịp của giáo hội để kéo các bạn vào một đức tin không thực, hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến các bạn?   Nếu các bạn không dứt bỏ được, ít nhất là gánh nặng Vatican, trên vai thì các bạn sẽ kẹt lắm.  Bất kể là các bạn tin thế nào, dùng luận cứ gì, những sự thực lịch sử của giáo hội Ca Tô Rô Ma sẽ gắn liền với đời sống tâm linh của các bạn mà các bạn không có cách nào có thể tách rời nó ra khỏi đời sống tâm linh của các bạn.  Với phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay, với số người Việt sống ở nước ngoài, và cả ở trong nước, không có cách nào các bạn có thể ngăn chận được những thông tin xác thực về Ki Tô Giáo.  Hi vọng các bạn sẽ có một chọn lựa sáng suốt.

   Trong cuốn A New Christianity For A New World, xuất bản năm 2001, Giám mục John Shelby Spong có liệt kê những tín điều căn bản sau đây của Ki Tô Giáo:

 

-  Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.

-  Tư cách thần thánh của Giê-su vì sinh ra từ một nữ trinh.

-  Cái chết của Giê-su là để chuộc tội cho nhân loại, và máu của Giê-su là năng lực cứu rỗi (saving power of his blood)

-  Thân xác Giê-su sống lại.  Ngôi mộ trống là một sự thật cũng như những chuyện Giê-su hiện ra sau khi chết.

-  Ngày trở lại của Giê-su để phán xét nhân loại.

 

và đưa ra lời khẳng định sau đây:

 

   Ngày nay tôi thấy những tín lý căn bản này mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những là ngây ngô, mà còn có thể dứt khoát loại bỏ. Trong thế hệ của chúng ta, không một tín lý nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận. (Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only naive, but eminently rejectable.  Nor would any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars.)

    Hi vọng bài viết này có thể đóng góp một phần nhỏ trong nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và tôn giáo dân tộc của Việt Nam, đất nước thân yêu của chúng ta, và nhất là giúp các bạn Ki Tô nhìn ra được vấn nạn Ki Tô trên đất Việt.

 

Trần Chung Ngọc

 

http://giaodiemonline.com/2009/07/caidao3.htm

PHẦN HAI – THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á & NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

PHẦN  HAI

  

THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á

&

NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

 

   SỰ KIỆN VẪN LÀ MỌI HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO, ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI QUYỀN LỰC KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC NƯỚC THỰC DÂN, VẪN CÒN TƯƠNG ĐỐI KHÔNG THÀNH CÔNG.  BẤT CỨ Ở NƠI NÀO MÀ CÓ MỘT TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO MẠNH, THUẦN NHẤT THÍ DỤ NHƯ LÀ Ở ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, SỰ XÂM NHẬP CỦA KI TÔ GIÁO CHỈ Ở MỨC TỐI THIỂU.. ẤN ĐỘ GIÁO VẪN LÀ TÔN GIÁO CHỦ LỰC CỦA TIỀM LỤC ĐỊA Á CHÂU, VÀ PHẬT GIÁO VẪN NGỰ TRỊ TRUNG QUỐC VÀ ĐÔNG NAM Á CHO ĐẾN NGÀY NAY.  KI TÔ GIÁO CHẲNG CÓ MẤY THÀNH CÔNG TRONG VIỆC TRUYỀN GIÁO Ở CÁC NƠI NÀY MẶC DÙ ĐÃ CÓ NHỮNG NỖ LỰC LỚN LAO…

   CÁC DỮ KIỆN (VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO) ĐÃ CHỨNG TỎ RẤT RÕ LÀ MỤC TIÊU CẢI ĐẠO THẾ GIỚI VÀO ĐỨC TIN KI TÔ CỦA KI TÔ GIÁO ĐÃ LÀ MỘT SỰ THẤT BẠI RẤT ĐÁNG KỂ Ở KHẮP MỌI NƠI…THẬT RA, NGÀY NAY TỈ LỆ SỐ TÍN ĐỒ KI TÔ TRÊN THẾ GIỚI CÒN ÍT HƠN LÀ Ở THỜI ĐẦU CỦA LỊCH SỬ KI TÔ GIÁO.

   (..The fact remains that all this missionary activity, buttressed by the economic and political power of the colonial nations, was still relatively unsuccessful.  Wherever there is a strong unified religious tradition, such as that which marked India, China, and Japan, for example, the Christian inroads were minimal… Hinduism still is the dominant religion of the Asian sub-continent, and Buddhism dominates China and Southeast Asia to this day.  Christians enjoyed little missionary success in these places despite massive efforts..

   The data make it very clear that the Christian goal of converting the world to Christ has been a significant failure everywhere…In fact, the world has a smaller percentage of Christians in it today than it did earlier in its history.)

          BISHOP JOHN SHELBY SPONG, 

A New Christianity For A New World, 2001, pp. 176-77.

   

 

    Trong Phần I, chúng ta đã biết, nền thần học Ki Tô Giáo, bất kể với nhãn hiệu gì, ngày nay đã không còn chỗ đứng trong những xã hội văn minh tân tiến.  Bởi vì, trước những khám phá khoa học mà không ai có thể phủ bác về nguồn gốc vũ trụ, về thuyết Tiến Hóa v..v.., một Thiên Chúa “sáng tạo” ra vũ trụ và con người cách đây khoảng 6000 năm như được viết trong Thánh Kinh đã trở thành một chuyện tiếu lâm, chỉ còn sót lại trong những đầu óc chưa được mở mang đúng mức.  Vai trò “cứu thế” của Giê-su, như Giám Mục Spong đã nhận định, chỉ là sự mê tín tiền – Darwin và sự vô nghĩa hậu – Darwin.

   Nước Mỹ, một quốc gia có thể nói là văn minh tiến bộ nhất thế giới, ít ra là về vấn đề kỹ thuật và vật chất, trong đó có khoảng 85% người dân theo Ki Tô Giáo (Tin Lành 60%, Ca Tô 25%) nhưng thực ra chính quyền Mỹ là một chính quyền thế tục (secular government).  Những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo của giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, thuộc loại “chống Ki-Tô” đối với những tín đồ Ki Tô cuồng tín không có đầu óc, được phát hành và phổ biến rộng rãi.  Các trường học không được phép dạy “thuyết sáng tạo” của Ki Tô Giáo, trong khi thuyết Tiến Hóa là một chủ đề không thể thiếu trong chương trình học của mọi trường học, từ Trung học đến Đại học.. 

   Chúng ta cũng đã biết, tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo ở thế giới Tây phương và  nhiều nơi khác trên thế giới nói chung đã rõ rệt.  Ki Tô Giáo, thay vì gia tăng nỗ lực để đảo ngược tình trạng suy thoái ở Tây phương để cho người dân lấy lại niềm tin vào Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, lại toan tính mang đồ Tây phương đang dần dần từ bỏ để nhập cảng sang Á Châu với tất cả những thủ đoạn không chính đáng với mục đích cải đạo Á Châu dựa trên một môn thần học mới mang mỹ danh “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á”.  Tuy trong thực tế Ca Tô Giáo Rô Ma và Tin Lành vẫn còn chống đối nhau, thù ghét nhau, nhưng về phương diện truyền đạo sang Á Châu, cả hai giáo phái Ki Tô này đều hợp sức cùng nhau sử dụng vũ khí “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á”, phối hợp với những chiêu bài chính trị như Dân Chủ, Đa Nguyên, Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo v..v..để cải đạo Á Châu. 

 

   Bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” của Giáo Hoàng John Paul II tung ra cuối năm 1999 và cuốn “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á”, một tuyển tập gồm các bài viết của Mục sư Tống Tuyền Thịnh (Choan Seng Song), người Đài Loan, được một số nhân viên trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo T.P. HCM tuyển dịch và ấn hành vào tháng 8 – 1991, về bản chất không khác gì nhau, vì cùng nhắm một mục đích: cải đạo Á Châu qua những thủ đoạn có thể nói là bất chính và bất lương trí thức (intellectually dishonest) như sẽ được chứng minh trong một phần sau.

    Trong Phần I, tôi đã phê bình đoạn mở đầu trong bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” và vạch ra những thủ đoạn trích dẫn Thánh Kinh Ki Tô Giáo một cách xảo quyệt, bất lương trí thức, ngoài toàn bộ vấn đề, của Giáo Hoàng John Paul II để đưa ra những luận điệu bịp bợm về một chương trình cứu độ của Thiên Chúa tại Á Châu mà thực chất chỉ là âm mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu.  Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao trong thời buổi này mà giáo hoàng còn sử dụng những thủ đoạn lắt léo để lừa dối tín đồ và quần chúng? Tiến Sĩ Madalyn O’hair đã đưa ra nhận định sau đây khi được hỏi về uy tín của giáo hoàng John Paul II trên thế giới:

 

   “Những phương tiện truyền thông trong các xứ Ca-Tô đều phụ thuộc Giáo Hoàng và dựng ông lên như là một lãnh tụ danh tiếng của thế giới.  Ông  ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm… Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.

 

   Cái đầu óc Trung Cổ của John Paul II không nhìn thấy sự tiến bộ của nhân loại nên vẫn tiếp tục theo một sách lược bịp bợm lừa dối của tòa Thánh trước đây để giữ tín đồ trong vòng ngu si như Linh mục Maurice Weitlauff đã nhận định.  Trong cuốn Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập III, tác giả Trần Văn Kha đã đưa ra một tài liệu của Linh mục Maurice Weitlauff trong đó ông ta nhắc đến một văn kiện của các Hồng Y đưa ra sách lược (Thư viện Paris, tờ 1089, tập II 641-650 – ref.fonds latin số 12558) mà nội dung là phương pháp giữ tín đồ trong vòng ngu si như sau, trang 1130-31:

 

   “Chỉ nên cho phép đọc sách Phúc Âm càng ít càng tốt, nhất là bằng tiếng hiện đại (nghĩa là các tiếng địa phương) và ở trong những nước ở dưới quyền Ngài (giáo hoàng Jules II).  Chỉ một số rất ít (trong Phúc Âm) thường đọc trong lễ Mi-sa là đủ và phải cấm bất cứ ai muốn đọc nhiều hơn.  Chừng nào mà dân chúng thỏa mãn với cái ít ỏi đó, quyền lợi của Ngài sẽ thịnh vượng, nhưng, từ khi mà họ muốn đọc nhiều hơn thì quyền lợi của Ngài bắt đầu sa sút.  Đây (cuốn Thánh Kinh) là một quyển sách, hơn bất cứ cuốn sách nào, sẽ gây ra cho chúng ta những sự nổi loạn, những cơn bão tố có thể làm cho chúng ta tan tành sự nghiệp.  Thật ra bất cứ ai xem xét kỹ lưỡng những lời dạy trong Kinh Thánh và so sánh chúng với những gì đang xảy ra trong giáo hội của chúng ta, sẽ nhận ra ngay những mâu thuẫn, sẽ thấy những lời giảng dạy của chúng ta thường đi ra ngoài Kinh Thánh và nhiều khi còn ngược lại.  Nếu dân chúng biết đến điều này, họ sẽ thách thức chúng ta cho tới khi mọi điều phải được tiết lộ, như vậy, chúng ta sẽ trở nên đối tượng của sự chế giễu và sự thù hận phổ quát.  Vậy thì cần phải tích cực tước đoạt Kinh Thánh khỏi tay của dân chúng mà không gây ra sự hỗn loạn”

   (La lecture de l’Évangile ne doit être permise que le moins possible, surtout en langue moderne et dans les pays soumis à votre autorité.  Le très peu qui est généralement lu à la Messe devrait suffire et il faudrait interdire à quiconque d’en lire plus.  Tant que le peuple se contentera de ce peu, vos intérêts prospèreront, mais, dès l’instant qu’on voudra en lire plus, vos intérêts commenceront à en souffrir.  Voilà le livre qui, plus qu’aucun autre, provoquera contre nous les rebellions, les tempêtes qui ont risqué de nous perdre.  En effet, quiconque examine diligemment l’enseignement de la Bible et le compare à ce qui se passe dans nos églises trouvera bien vite les contradictions, verra que nos enseignements s’écartent souvent de celui de la Bible et plus souvent s’opposent à celle-ci.  Si le peuple se rend compte de ceci,  il nous provoquera jusqu’à ce que tout soit révélé, alors, nous deviendrons l’objet de la dérision et de la haine universelle.  Il est donc nécessaire que la Bible soit enlevée et dérobée des mains du peuple avec zèle, toutefois sans provoquer de tumulte.”)

 

   Sau khi trích dẫn văn kiện trên, Linh mục Maurice Weitlauff than: “Một sự bất lương như thế không thể nào tưởng tượng được.  Tôi như chết đứng.”  (Une telle duplicité est inconcevable.  J’en suis toute renversée)

 

   Điều hiển nhiên là ngày nay, giáo hoàng John Paul II vẫn tưởng rằng giáo dân không ai được phép đọc Thánh Kinh, vẫn cho rằng tòa Thánh giữ độc quyền trích dẫn Thánh Kinh để giam giữ tín đồ trong vòng ngu si, cho nên vẫn tiếp tục trích dẫn lạc lõng và diễn giải lệch lạc những đoạn trong Thánh Kinh để hô hào các giám mục Á Châu phải theo đó mà tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu như tôi đã phân tích đoạn đầu trong bản Tông Huấn của ngài.  Nhưng ngài đã lầm, vì thế giới ngày nay không phải là Âu Châu trong thời Trung Cổ.  Nếu tín đồ của ngài không đọc Thánh Kinh thì không thiếu gì người ngoại đạo, và ngay cả những bậc trí thức có lương tâm trong giáo hội, đã đọc kỹ Thánh Kinh và đã vạch ra, không những sự bất lương của giáo hội Ca Tô trong việc uốn nắn và giam giữ đầu óc giáo dân mà còn cả những sai lầm chứa đầy trong Thánh Kinh.

   Điều quái gở là một số thuộc hạ Việt Nam của Ngài cũng theo cùng một sách lược bất lương trí thức như Ngài như chúng ta thấy rõ trong những tác phẩm như Chứng Nhân Hi Vọng của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, 2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ của Một Số Người Công Giáo, Tin Nhà Paris xuất bản, hay trong các báo như Hiệp Nhất, Diễn Đàn Giáo Dân v..v… trong đó chứa toàn là những trích dẫn vụn vặt, lạc lõng từ Thánh Kinh.

 

   Khi cuốn Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á của Mục sư Tống Tuyền Thịnh ra đời thì Tỳ Kheo Thích Nhật Từ ở Việt Nam đã thuyết trình một bài Phê Bình cuốn sách này trong cuộc hội thảo “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo T.P. HCM tổ chức.  Bài thuyết trình này đã được in thành sách ở Việt Nam và được phổ biến trên một số trang nhà Phật Giáo.  Trong bài thuyết trình, được in lại ở phần đầu cuốn sách này, như chúng ta đã biết, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã vạch ra những sai lầm của Mục sư Tống Tuyền Thịnh qua những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc và hạ thấp giáo lý Phật Giáo để tô hồng quảng cáo cho cái gọi là “quyền năng cứu chuộc” của Thiên Chúa mà chúng ta đã biết đó chỉ là một sự mê tín tiền – Darwin và sự vô nghĩa hậu – Darwin. 

   Điều đáng để ý là Ca Tô Giáo Việt Nam đã lấy một tác phẩm thần học của một Mục sư Tin Lành làm đề tài hội thảo với mục đích rao bán “quyền năng cứu chuộc” của Thiên Chúa.  Đây là một chuyện hiếm có, vì từ xưa tới nay, Ca Tô Giáo luôn luôn khẳng định Giáo hội Ca Tô là phương tiện cứu rỗi duy nhất, không có sự cứu rỗi ở ngoài giáo hội Ca Tô (No salvation outside the (Catholic) Church).  Điều này cho thấy Ca Tô và Tin Lành cùng có chung một sách lược cải đạo Á Châu dựa trên cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu.”

   Thật ra, không phải là cuối thế kỷ 20 Ki Tô Giáo mới đưa ra sách lược cải đạo Á Châu.  Sách lược này đã được hoạch định từ sau Công Đồng Vatican II (1962-1965) của Ca Tô Giáo Rô Ma với những huấn thị rõ ràng trong những bản văn mật của Tòa Thánh gửi cho các giám mục địa phương ở Á Châu.  Và Tin Lành cũng dựa theo sách lược này để đi cải đạo thế giới.  Những miền đất xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki Tô Giáo trong những thập niên 1970-80 là ở Ấn Độ và Thái Lan, lợi dụng tinh thần khoan nhượng tôn giáo của hai quốc gia này.  Từ cuối thế kỷ 20, mục tiêu hàng đầu của Ca Tô Giáo Rô Ma là Việt Nam, nấp sau những chiêu bài chỉ có trên mặt văn tự như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo v…, lợi dụng tình trạng xã hội kinh tế ở Việt Nam, sự khoan nhượng của chính quyền Việt Nam, và nhất là ở đó họ đã có sẵn một đạo quân thứ năm cuồng tín, chưa mở mang trí óc như những tín đồ Tây phương, nên vẫn cam phận làm tôi tớ cho Vatican, quên mình trong vâng phục, thi hành mọi mệnh lệnh của Vatican, do đó sẵn sàng phản bội quốc gia như trong quá khứ, để đánh đổi lấy một chỗ trên thiên đường mà thực chất chỉ là một hoang đường như chính giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới.

   Sau đây chúng ta sẽ đi vào một số chi tiết trong sách lược cải đạo Á Châu của Ki Tô Giáo.

 

a).   Ở Ấn Độ, hơn 400 năm nay Ki Tô Giáo đã vô cùng tích cực trong vấn đề truyền đạo với hi vọng Ki Tô  hóa Ấn Độ nhưng dân chúng Ấn, tuy nghèo khó và trước những hứa hẹn về vật chất của Ki Tô Giáo, vẫn từ chối tôn giáo này.  Số người theo Ki Tô Giáo nói chung chưa lên tới 1% tuy chính quyền Ấn đã rất dễ dãi để cho những nhà truyền giáo tự do truyền đạo.

   Sự dùng vật chất để ép những người ngoại đạo đang ở trong những hoàn cảnh khó khăn về vật chất theo đạo lộ liễu đến mức một Ủy Ban Điều Tra Những Hoạt Động của Các Giáo Sĩ Thừa Sai tại Ấn Độ đã phải đưa ra những khuyến cáo sau đây, trong cuốn “Tín ngưỡng của người khác” (“The Faith of Other Men”, trg. 107) của Giáo Sư Wilfred Cantwell Smith, một nhà Thần học KiTô nổi tiếng, Giáo sư môn Tôn Giáo Thế giới và Giám đốc trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới tại đại học Harvard: 

 

   “Nên yêu cầu những thừa sai mà mục đích chính là dụ người vào đạo phải rút lui.  Số lượng lớn các nhà truyền giáo ngoại quốc không được hoan nghênh và cần phải kiểm soát. (Đề nghị chính quyền Việt Nam hãy cấm mọi người ngoại quốc vào Việt Nam để truyền đạo.  Khi nhập cảnh, những người ngoại quốc, kể cả những người Việt Nam mang quốc tịch khác phải khai báo mục đích đến Việt Nam (điều khoản này có trong mọi tờ khai trước khi vào bất cứ một quốc gia nào), nếu gian dối vi phạm sẽ bị truy tố trước pháp luật).

   Sự dùng các dịch vụ y tế hay chuyên môn như là phương tiện trực tiếp để dụ người vào đạo phải cấm bởi luật pháp.

   Mọi toan tính dùng vũ lực hay lừa gạt gian dối, hay đe dọa bằng những cách bất chính hay giúp đỡ tài chính hay mọi sự trợ giúp khác, hoặc bởi những phương tiện hay hứa hẹn lừa gạt gian dối, hoặc bằng sự giúp đỡ tinh thần và vật chất, hoặc lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm hay lòng tự tin của bất cứ người  nào, hoặc bằng cách khai thác nhu cầu, sự yếu kém về tinh thân (tâm thần) hay nhẹ dạ của bất cứ người nào, hoặc, đại cương là mọi toan tính hay nỗ lực (dù thành công hay không), trực tiếp hay gián tiếp thâm nhập vào ý thức tôn giáo của con người (dù đã trưởng thành hay còn vị thành niên) thuộc tín ngưỡng khác, với mục đích thay đổi ý  thức  tôn giáo hay tín ngưỡng của họ, để cho hợp với lý tưởng và niềm tin của phe đi dụ người ta vào đạo, phải tuyệt đối cấm.” (Được biết hiện nay ở Việt Nam, Ca Tô Giáo Rô Ma cũng như Tin Lành đều dùng các phương tiện giúp đỡ vật chất mô tả như trên để dụ người vào đạo.  Những thủ đoạn truyền đạo này phải tuyệt đối cấm bởi luật pháp.  Người bị dụ vào đạo có thể truy tố trước pháp luật người đi dụ về những hành động vi luật này)

   (Those missionaries whose primary object is proselytization should be asked to withdraw.  The large influx of foreign missionaries is undesirable and should be checked..

   The use of medical or other professional services as a direct means of making conversions should be prohibited by law..

   Any attempt by force or fraud, or threats of illicit means or grants of financial or other aid, or by fraudulent means or promises, or by moral and material assistance or by taking advantage of any person’s inexperience or confidence, or by exploiting any person’s necessity, spiritual (mental) weakness or thoughlessness, or, in general any attempt or effort (whether successful or not), directly or indirectly to penetrate into the religious conscience of persons (whether of age or underage) of another faith, for the purpose of consciously altering their religious conscience  or faith,  so  as  to agree  with  the  ideas  of convictions    of    the   proselytizing   party   should   be absolutely prohibited..)

 

      Tại sao người ta lại phải khuyến  cáo như  vậy nếu  các công vụ truyền giáo của Ki Tô giáo chỉ thuần túy là truyền giáo?  Chúng ta cũng nên để ý rằng, hiện nay, ở Ấn Độ đang có phong trào bài Ki Tô Giáo rất mạnh.  Báo Los Angeles Times ngày 12 tháng 11, 1998, đăng một bài tường thuật dài của ký giả Dexter Filkins về những hành động bài Ki Tô Giáo, nhiều khi dùng đến bạo lực, ở Ấn Độ.  Một lãnh tụ của phong trào bài Ki Tô Giáo, ông B. L. Sharma, tuyên bố:

 

   “Chúng tôi đã phải làm nô lệ cả ngàn năm, và nay chúng tôi đã sáng mắt rồi.  Tôi đòi hỏi chính phủ Ấn Độ phải đuổi cổ những kẻ đang dụ dân Ấn cải đạo,  và  phá hại văn hóa, ngôn ngữ  và y phục của chúng tôi.”

   (We were slaves for 1000 years and now we have opened our eyes.  I demand that the government of India throw out these people who are out to convert Hindus and ruin our culture, language and attire.)

  

   Tại sao lại xảy ra phong trào bài Ki Tô Giáo mạnh mẽ ở Ấn Độ?  Vì  cả Tin Lành lẫn Ca Tô Giáo đều vẫn tiếp tục, một mặt dùng phương tiện truyền thông, những thủ đoạn phi tôn giáo như bài bác Ấn Độ giáo để hạ thấp Ấn Độ Giáo, một mặt lợi dụng sự nghèo khổ của đám dân thấp kém trong xã hội, dùng bả vật chất để truyền đạo, và nhất là xử dụng vũ khí hữu hiệu nhất của Ca Tô Giáo: bình phong “từ thiện” đi kèm với phương tiện truyền thông để tô hồng quảng cáo cho Ca Tô Giáo trong khi thực chất của việc từ thiện là để thu nhặt tín đồ và khai thác lòng nhân từ của quần chúng để vơ vét tiền bạc cho Vatican, và trong một số trường hợp, nhiều hành động ác ôn đã được ngụy trang đàng sau bình phong “từ thiện”. 

 

   Trường hợp điển hình là việc thành lập dòng “Thừa sai bác ái” (sic) của bà Teresa mà cái tên của nó đã nói lên thực chất sử dụng “bác ái” làm một vũ khí truyền đạo.

 

   Qua phương tiện truyền thông với những hình ảnh làm mủi lòng quần chúng, bà Teresa đã được thổi phồng lên như một thánh nhân, thực hiện chủ trương bác ái của giáo hội.  Kết quả là tiền vào như nước nhưng chỉ có một phần nhỏ được chi dùng cho các hoạt động mang danh “từ thiện”.  Những người đóng góp tin tưởng rằng tiền của mình đóng góp sẽ được dùng trong những công tác từ thiện vị tha của giáo hội.  Nhưng sự thật đằng sau tổ chức “Thừa sai bác ái” để làm công việc “từ thiện” này ra sao, và thực chất con người của bà Teresa ra sao, ngày nay chúng ta đã biết rõ.  Trong thế giới ngày nay, khó ai có thể che dấu được những việc mờ ám, nhất là khi người đó là một nhân vật nổi tiếng như bà Teresa.  Muốn cho người khác không biết thì đừng có làm.  Bà Teresa không ý thức được chân lý này nên kết quả là người ta đã phanh phui ra những chuyện động trời sau bức màn “Thừa sai bác ái” của bà Teresa.  Trong bài Đâu Là Sự Thật, đã được đăng trên báo Giao Điểm và đưa lên trang nhà giaodiem.com hay giaodiem.net, tôi đã đưa ra một số tài liệu vạch trần thực chất con người của bà Teresa.  Ở đây tôi sẽ không nhắc lại chi tiết nữa, chỉ tóm tắt những điểm chính.

 

   Theo Christopher Hitchens thì: “Mẹ Teresa là một kẻ “mị dân” chống phá thai và là kẻ “phục vụ cho những quyền lực thế gian.”, thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992.  Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền mà hắn đã biếu cho Mẹ, và đề nghị Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các “sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý”; Mẹ đã không hề hồi âm.”

    Theo một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, người đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những “cơ sở từ thiện”  của bà Teresa  và tìm  hiểu  sự thực

về những “công cuộc từ thiện” của bà Teresa thì:

 

            * Về tiểu sử,  bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc.

* Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo.  Ngay cái tên của dòng “Thừa Sai Bác Ái” cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua.  Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua.  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm “việc thiện”, chứng tỏ “lòng nhân từ” của Bà.  Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài.

 

    Sau khi bà Teresa chết thì có một số “sơ” trước đây đã cộng tác với bà trong tổ chức “Thừa sai bác ái” đã tiết lộ nhiều chi tiết thuộc loại động trời.

   Thí dụ, sơ  Susan Shields đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:

 

   Một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc “từ thiện” vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu “Thừa sai bác ái”, nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương “nghèo khổ” là một đức tính.  Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự “săn sóc” của hội “thừa sai bác ái” phải ăn đói.  Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên  kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa. (Judith Hayes trong The Happy Heretic, p. 66-67)

 

   Tác giả Judith Hayes còn phê phán: Tôi chưa từng nghe thấy một người nào có lòng bác ái mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt. [Bà Teresa quan niệm như vậy vì đó là ý Chúa] Bác ái là đức tính tối thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint) nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic)  và Ngu Đần (Stupid).  (Tác giả đã chơi chữ ở đây: If all of that is true, it places Teresa somewhere between “sadistic” and “stupid” which, interestingly, is where “saint” appears in the dictionary)

 

    Thực ra thì những hành động vô nhân tính của bà Teresa được phanh phui ở trên cũng không lấy gì làm khó hiểu vì chúng hầu như là một mẫu mực chung cho những người cuồng tín, làm việc “từ thiện” với mục đích đi kiếm linh hồn cho Chúa để Chúa cho một chỗ trên thiên đường (mù) của Giáo hội, chứ không bắt nguồn từ tâm từ thương người. Thật vậy, nếu bà Teresa đã gian dối và nhẫn tâm như được mô tả trong các tài liệu dẫn chứng ở trong bài Đâu Là Sự Thật [Xin đọc trong Giao Điểm, giaodiem.com hay giaodiem.net] thì thuộc hạ của bà cũng chẳng khá hơn chút nào.

 

    Bản tin BBC ngày 18 tháng 9 năm 2000 có đầu đề “Các Nữ Tu Của Mẹ Teresa Bị Kết Tội Hành Hạ Trẻ Em” (Mother Teresa Nuns accused of torture), viết bởi Subir Bhaumik ở Calcutta, cho biết giám đốc những thừa sai bác ái (Nữ tu Nirmala, người thay thế Teresa) đã phải ra hầu tòa sau khi cơ sở từ thiện “Thừa Sai Bác Ái” và một “nữ tu” bị kết tội là hành hạ một em bé lên 7 tuổi.  Giám đốc tổ chức (thừa sai bác ái), Nữ tu Nirmala, được tòa cho phép đóng tiền thế chân là 5000 Rupees. (The head of the Missionaries of Charity, founded by Mother Teresa, has surrendered to a Calcutta court after the Charity and one of its nun were accused of torturing a 7-year-old girl.  The organization leader, Sister Nirmala, was granted bail on a surety of 5000 Rupees). Bản tin BBC ngày 21 tháng 9 năm 2000 với đầu đề “Các Nữ Tu Của Mẹ Teresa Hành Hạ Trẻ Em” (Mother Teresa Nuns Tortured Children)  cho biết cơ sở bác ái  do Mẹ Teresa thành lập ở Calcutta nay đã thú nhận là một nữ tu của tổ chức đã hành hạ 4 trẻ em (The Charity set up by the late Mother Teresa in the Indian city of Calcutta has now admitted that one of its nuns was guilty of torturing four children).  Hành hạ như thế nào?  Theo đơn kiện của Karivan Mondal, nữ tu  Francesco đã trừng phạt con gái của ông, vì quá nghèo nên đã nhờ cơ sở “bác ái” (sic) của bà Teresa nuôi, bằng hình phạt đốt bỏng tay của con gái ông.

   Chúng ta cũng không nên quên vụ kiện gần đây ở Québec, Canada, đòi bồi thường hơn một tỷ đô la (a 1.2 billion lawsuit) cho các nạn nhân của các “nữ tu” trong một viện mồ côi, các “sơ” mặc áo xám, (gray nuns), những người đã hành hạ trẻ em trong viện cho đến chết, và cố ý làm tật nguyền một số em, thí dụ như chọc thủng màng tai của chúng để lấy thêm trợ cấp của chính phủ, $2.50 cho mỗi em bị tật nguyền thay vì $0.75 mỗi ngày cho các em lành lặn, do chương trình TV Prime Time của đài ABC đưa lên; và chuyện trong một viện mồ côi khác, các “sơ” dội nước sôi lên các em để trừng phạt tội vì đói quá nên ăn cắp thức ăn các “sơ” dùng để nuôi thỏ, do chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa lên.

   Cả thế giới cũng đã biết chuyện giáo hội Ca Tô Anh đã mở lòng “bác ái” nhận nuôi nhiều trăm trẻ em mồ côi hoặc sinh ngoại hôn, nói dối vớc các bà mẹ là sẽ nuôi nấng các em tử tế và xây dựng tương lai cho các em, nhưng thực ra là đưa các em vị thành niên sang Uc, bóc lột sức lao động chân tay của các em để xây chủng viện . Vụ này cũng bị báo chí và chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa ra ánh sáng, và các nạn nhân của chương trình “bác ái” dã man, vô nhân đạo này đang kiện giáo hội và đòi trang trải mọi phí tổn để một số em, nay đã trưởng thành, có thể đoàn tụ với người mẹ đã xa cách lâu ngày.

   Và gần đây nhất, theo bản tin BBC ngày 8 tháng 11 năm 2002 thì nhà đạo diễn Ca Tô Peter Mullan, dựa trên các nhân chứng và các tài liệu chính xác (based on true events), đã hoàn thành một cuốn phim nhan đề “Các Nữ Tu  Của Tu Viện Magdalene” (The Magdalene Sisters) trong đó ông đưa lên màn ảnh những cảnh các nữ tu bóc lột sức lao động và hành hạ hàng ngàn các em bé gái chưa đến tuổi trưởng thành trong các nữ tu viện Ca Tô ở Ai Nhĩ Lan.  (In the film, Peter Mullan, himself a Catholic, tackled the thorny subject of young girls taken to convents and made to work in the laundries, while subject to abuse by nuns).  Có nhiều em phải làm việc trong xưởng giặt, 6 tháng không thấy ánh mặt trời.  Cuốn phim đã được trao giải thưởng Sư Tử Vàng về phim hay nhất trong cuộc tuyển chọn phim ở Venice. (Scottish director Peter Mullan has won the Golden Lion Best Film Award at the Venice film festival for The Magdalene Sisters, a box office success in Ireland.)  Tuy Vatican đã lên tiếng phản đối là cuốn phim có mục đích “chống Ca-Tô” nhưng tín đồ Ca Tô Ai Nhĩ Lan vẫn đổ xô đi xem cuốn phim này.  Ký giả Miriam Donohoe của tờ Irish Times phát biểu: “Tôi cảm thấy rất giận vì trong nhiều thập niên, nhiều ngàn em bé gái đã phải qua tay những “sơ” quá độc ác như vậy và đối xử với các em tệ như vậy” (I feel very angry that thousands of young Irish girls over several decades had gone through the hands of nuns who were so cruel and who treated them so badly.)

 

   Trên đây chỉ là vài chuyện điển hình về bộ mặt thật của cái mà giáo hội Ca Tô Rô Ma quảng cáo tô hồng triệt để cho giáo hội: công tác “từ thiện” và “bác ái” của giáo hội.  Đây là ngón nghề thông thạo nhất của giáo hội Ca Tô Rô Ma, cũng như Giáo hội đã thành công cấy vào đầu các tín đồ hình ảnh một giáo hội thánh thiện, tông truyền, duy nhất v..v.. trong khi thực ra lịch sử của giáo hội là một lịch sử thô bạo, đẫm máu, chứa đầy những chuyện ô nhục nhất thế gian: thánh chiến; tòa hình án xử dị giáo; săn lùng và thiêu sống phù thủy; chủ trương diệt chủng Do Thái; không ít giáo hoàng ác độc, tàn bạo, vô luân; không ít linh mục loạn dâm: hiếp dâm nữ tu Ca Tô, trẻ em phụ tế, nữ tín đồ v..v… và không ít nữ tu đang tâm bạo hành trẻ em cũng như dự phần trong chính sách diệt chủng ở Rwanda?  Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể dựa vào những trường hợp cá biệt nêu trên để mà tổng quát hóa vấn đề đạo đức trong Ca Tô Giáo Rô Ma.  Nhưng chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi:  Tại sao một tôn giáo thường tự nhận là do Thiên Chúa mạc khải, do Chúa Giê-su thành lập, thánh thiện, tông truyền, duy nhất v..v.. lại có một lịch sử đen tối như vậy và lại có thể đào tạo ra một số linh mục, nữ tu ác ôn như vậy trong khi những chuyện ô nhục này không hề xảy ra trong các tôn giáo mà Ki Tô Giáo gọi là “thấp kém”?  Câu trả lời nằm trong câu hỏi đối với những người không cần đến kiến thức của các học giả mà chỉ cần có một đầu óc còn đôi chút suy nghĩ để có thể nhận ra bản chất chân thật của Ca Tô Giáo là như thế nào.

   Nói tóm lại, nếu chúng ta theo rõi những vụ kiện các cơ sở từ thiện, viện mồ côi của Ca Tô Giáo ở Canada, Mỹ, Ireland, và Úc Châu v..v.. thì chúng ta sẽ không lấy gì làm lạ trước những hành động “bác ái” của bà Teresa ở Calcutta và của một số sơ trong các tu viện, viện mồ côi.

   Những cơ quan này được tạo ra chỉ để vơ vét tiền bạc và kiếm thêm tín đồ chứ không có ngĩa “từ thiện” thuần túy.  Thật vậy, B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul), đã viết như sau, trang 25:

 

   Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo.  Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Ca Tô (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church.  Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics).

  

   Rajneesh đã không nhắc đến sự kiện là với những sự trợ cấp của chính phủ và sự đóng góp của những người có từ tâm, nhiều cơ sở “từ thiện” đã là những nguồn kinh tài cho giáo hội, vơ vét tiền bạc trên sự đau khổ của các trẻ em mồ côi và những người xấu số.  “Sơ” Lê Thị Tríu ở Phi Luật Tân cũng đã hốt được 2 triệu đô-la để thành lập “làng Việt Nam ma” ở Phi Luật Tân.

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức “từ thiện” của Vatican.  Sách vở, báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là “Giây chuột” (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành  giả, tài chánh v..v.. cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã  ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina).

   Nói tóm lại, những công cuộc “từ thiện” của Ki Tô Giáo, Ca Tô Giáo cũng như Tin Lành, chỉ là những sơn phết màu mè che dấu những âm mưu đen tối đàng sau.  Tuy vậy, những lớp sơn phết này cũng đánh lừa được nhiều người, kể cả những chính quyền phi Ki-Tô không biết rõ bản chất “từ thiện” của Ki Tô Giáo, chỉ nhìn thấy mặt ngoài thường xuyên được Ki Tô Giáo thổi phồng mà không để ý đến những mánh mưu gây tác hại cho quốc gia dân tộc về sau.   

b).  Ở Thái Lan, Ca Tô Giáo Rô Ma còn hung hăng hơn nữa trong sách lược truyền đạo.  Lợi dụng tinh thần khoan dung tôn giáo của dân Thái, giáo hội Ca Tô ở Thái, tuy chỉ chiếm chưa tới 1% dân số, đã có những hành động xâm nhập chống phá Phật Giáo và phổ biến những tài liệu có tính cách hạ thấp dân Thái và Phật Giáo. Để độc giả có một ý niệm về bản chất cuồng tín của các nhà truyền giáo Ki Tô ngay trong thời đại này, tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Missionaries, trg. 186, nói về phương cách truyền giáo của Ca Tô Giáo ở Thái Lan:

  

   “Ở Á Châu, không có mấy nước mà các thừa sai cảm thấy hoàn toàn tin tưởng là công vụ truyền giáo của họ sẽ không bị gián đoạn trong tương lai.  Ngay cả dân Thái  cũng  nhạy  cảm đối  với  vấn đề  thừa sai  nếu sự truyền giáo không khéo xử, thái độ khoan dung của dân Thái có thể thay đổi.  Hiện nay, trong một nước mà 97 phần trăm theo Phật Giáo, 2 phần trăm theo Hồi Giáo, số người theo Ki Tô Giáo hiển nhiên rất ít.

   Sulak Siravaksa là một trí thức Phật Giáo theo học các trường Ki Tô.  Tuy nhiên, ông ta rất lấy làm khó chịu trước những tài liệu truyền giáo mô tả Thái Lan là “địa hạt của Satan”; rằng “99% dân Thái bị câu thúc bởi ma quỉ”; lên án Phật Giáo là “thờ hình tượng” và là “một tôn giáo yếm thế một cách vô vọng.”;  và chấp chặt là “không có sự mặc khải của Ki Tô thì không hiệp thông được với Thượng đế.”  Như Sulak đã vạch rõ,  đó là ngôn ngữ hàng ngày của một số tài liệu truyền giáo, những tài liệu này đã xúc phạm nặng nề đến những Phật tử Thái Lan.”

    (In Asia there are few countries where missionaries can feel completely confident of an uninterrupted future for  their  work.   Even  the  Thais  are  sensitive  on  the subject of missionaries and if evangelism is not carried out in a tactful manner, their tolerant attitude may change.  At present, in a country where 97 percent of the population is Buddhist and 2 percent Muslim, there are obviously very few Christians. 

   Sulak Sivaraksa is a Buddhist intellectual who was educated in Christian schools.  He is, however, severely irritated by evangelical literature that describes Thailand as “the territory of Satan”; that declares “99 percent of Thais are in bondage to demons”; that condemns Buddhism  as  “idolatry”   and   “a  religion  of  hopeless escapism”; and which insists that “without Christian revelation, there is no relationship with God”.  As Sulak points out, this is the everyday language of a certain kind of mission literature, which is deeply offensive to Thai Buddhists.)

 

   Vì  chính sách truyền đạo cuồng tín cố hữu như trên tại Thái Lan mà Phật Giáo Thái đã phải chính thức gửi kháng thư cho  John Paul II,  phàn nàn  về những  việc làm sai trái của Gia Tô Giáo ở Thái Lan.

   Những tài liệu trong cuốn “Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo” (The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986)  cho chúng ta thấy rõ, qua những huấn thị mật của Vatican, sách lược cải đạo Á Châu bất kể thủ đoạn đã được hoạch định từ ngay sau Công Đồng Vatican II.  Sự chống phá của Ca Tô Giáo lên tới mức độ mà người dân Thái bắt buộc phải có phản ứng.  Ngày 10  tháng 5, 1984, và sau đó, ngày 12 tháng 9, 1984, Hiệp Hội Bảo Vệ Đạo Pháp Thái Lan cũng như nhiều hội đoàn Phật Giáo khác đã gửi cho Giáo hoàng John Paul II những kháng thư nhân dịp ông tới Thái Lan.  Sau khi phàn nàn về việc Giáo hội Ca Tô Rô Ma tại Thái Lan xâm nhập Phật Giáo với nhiều hành động sai trái, theo chỉ thị của Vatican, có bằng cớ dẫn chứng (The Roman Catholic Church in Thailand has intruded Buddhism  with many  injust  actions  as shown  in  the attached Protesting Memorandum), Hiệp Hội  yêu cầu John Paul II ra lệnh cho các tín đồ Ca Tô hãy chấm dứt xuyên tạc và phá Phật Giáo (To stop the Catholics here in Thailand from distorting and subverting Buddhism).  Những phản ứng của người dân Thái Lan đối với giáo hoàng John Paul II như nước đổ đầu vịt, vì truyền thống của Vatican là ù lì, coi những phản ứng này như không có, và cứ tiếp tục thi hành sách lược cải đạo bất lương và bất chính của mình.  Vài tài liệu sau đây có thể chứng minh được điều trên.

 

   Sau đây là phần Dẫn Nhập trong cuốn “Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo” (The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986).  Đây là một bản văn khá quan trọng với nhiều chi tiết có thể giúp chúng ta thấy rõ vấn đề hơn và do đó tìm ra một đường hướng thích hợp để đối phó với kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo tại Á Châu:

 

   “Những tín đồ Ca Tô Rô Ma đến Thái Lan trong triều đại của Đại Đế Narai vào khoảng 300 năm trước.  Ngày nay có khoảng hơn 100,000 tín đồ Ca-Tô (vào khoảng 2 phần ngàn của một dân số trên dưới 50 triệu. TCN), một con số rất nhỏ đối với giáo hội.

   Trong quá khứ những người Ki Tô Giáo tin rằng những tôn giáo khác với Ki Tô Giáo, như Phật Giáo chẳng hạn, đều là tội lỗi, là giáo lý của Ác Thần và Satan.  Do đó, Giáo hội đã phái những linh mục Ca Tô để dạy dỗ những kẻ ngoại giáo, giới thiệu Thượng đế cho họ, và cải đạo họ.  Những người này bị dẫn dụ vào Ki Tô Giáo bằng cách tấn công Phật Giáo và các tôn giáo khác là xấu xa và sai lầm trong giáo lý.  Phương pháp cải đạo này gọi là “truyền giáo”.

   Khoảng một thập niên trước đây, người Ca Tô thay đổi chiến thuật.  Các linh mục Ca Tô không tấn công Phật Giáo nữa.  Cả hai giới, linh mục và tín đồ, đều trở nên thân thiện và cùng với các Phật tử phục vụ xã hội.   Họ đã điều chỉnh để sống thích nghi với nền văn hóa Thái và bắt chước những lễ tiết Phật Giáo. Phương pháp Thiền của Phật Giáo đã được nghiên cứu và thay đổi làm Thiền của Ki Tô Giáo.  Nhiều cuốn sách mới được viết ra để giảng giải Ki Tô Giáo bằng những thuật ngữ Phật Giáo, khai thác và bóp méo giáo lý Phật Giáo.  Đó là những hiện tượng mới lạ đáng để ý.

   Những sự thay đổi trong thái độ và thực hành mới của những người Ca Tô là kết quả của Công Đồng Vatican II, họp từ 11/10/1962 đến 8/12/1965. Công Đồng Vatican II đã được sửa soạn từ năm 1959.  Công đồng diễn tiến nghiêm trọng và liên tục trong ba năm trên. Giám mục khắp nơi trên thế giới và nhiều nhân viên lãnh đạo khác, tất cả vào khoảng 4000 người, được động viên để tổng hợp những quan niệm mới và điều chỉnh những phương pháp tuyên truyền cho phù hợp với những thay đổi trong thế giới hiện đại.  Nhiệm vụ của các giám mục được nhấn mạnh, nghĩa là, ngoài những công việc trong giáo xứ của mình, họ còn phải theo đúng chính sách của giáo hội mẹ (Vatican) như Công Đồng Vatican II đã quyết định.  Mọi quyết định của Công Đồng phải được áp dụng nghiêm chỉnh và phải thực thi bởi mọi giáo hội Ca Tô khắp hoàn cầu trong những thập niên tới cho đến khi Công Đồng Vatican tới được triệu tập. (Công Đồng Vatican thứ nhất được tổ chức trên 100 năm trước, từ tháng 12, 1869 tới tháng 7, 1870, có hơn 7 tháng và số tham dự viên chỉ vào khoảng 1000).

   Một chủ đề quan trọng của Công Đồng Vatican II là xét và hoạch định chính sách tiếp cận mới với mọi tôn giáo phi Ki-Tô, quyết định của chính sách này là Bản Tuyên Ngôn Về Những Giao Hệ Của Giáo Hội Đối Với Những Tôn Giáo Phi Ki-Tô.

   Trong bản Tuyên Ngôn của CĐ  Vatican II, một loại giao hệ mới đối với các tôn giáo khác, gọi là “Đối Thoại”,  đã được thiết lập.  Một hậu quả khác là, Giáo Hoàng, người đứng đầu giáo hội, đã lập ra “Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ” chịu trách nhiệm về đối thoại.  Sau đó Bộ này đã phát hành những “Bản Tin”, một ấn phẩm mật để liên lạc với các giám mục và giới chức cao cấp đang hoạt động trong các quốc gia khác nhau.  Bản Tin chứa đựng những tin tức từ Vatican liên quan đến các tôn giáo khác và các tín đồ của họ.  Những ý tưởng và cách thực hành sự đối thoại được ban bố, cùng những hiểu biết về các tôn giáo khác để dùng làm căn bản cho sự đối thoại, gồm những bản phúc trình về tình hình tôn giáo ở các địa phương, nơi các linh mục hành nghề.  Bản Tin được dùng làm diễn đàn trao đổi những kinh nghiệm của các linh mục hoạt động trong những quốc gia khác nhau.

   Bản Tuyên Ngôn của CĐ Vatican II cùng với những giải thích và khuyến cáo trong Bản Tin, những quan niệm mới và cách tiếp cận mới những tôn giáo phi Ki-Tô chứng tỏ rằng, thay vì coi các tôn giáo khác như một mớ những sai lầm và là hoa trái của tội lỗi như trong quá khứ, thái độ mới là chấp nhận những cái hay cái đẹp trong các tôn giáo khác, coi tất cả những thứ đó đến từ Thiên Chúa.  Chỉ có Ki Tô Giáo, tôn giáo của Thiên Chúa, là đầy đủ.  Các tôn giáo khác là sự pha trộn của tốt và xấu, sự thực và sai lầm, nhưng chúng có thể được dùng như là một phương tiện để cho chúng trở thành hoàn hảo trong Ki Tô Giáo.  Do đó, sự chân thật trong các tôn giáo khác có thể là khởi điểm để làm cho những người ngoại đạo trở thành tín đồ Ki Tô Giáo…

   Đối thoại phải được hiểu như là coi nhau như bình đẳng, và không toan tính cải đạo người khác vào tôn giáo của mình.  Tuy nhiên, sau khi xét kỹ những ấn phẩm mật của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, sự đối thoại này thật đáng nghi ngờ.  Nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng trong sự đối thoại (của Vatican), sự hợp tác, cùng chung sức, hiểu biết lẫn nhau và thỏa hiệp không phải là những mục tiêu thật.  Đó chỉ là những phương tiện hoặc chiến thuật để đạt những mục tiêu khác.  Vatican có hai cơ quan, mỗi cơ quan có những trách nhiệm khác nhau.  Một cơ quan là Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin có nhiệm vụ “Truyền Giáo” và cơ quan kia là Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ có nhiệm vụ “Đối Thoại”.  Hiển nhiên là đối thoại không thay thế cho truyền giáo mà bổ túc cho truyền giáo.  Đối thoại là phương tiện dọn đường cho truyền giáo, nó đi trước truyền giáo.  Trong trường hợp có thể truyền giáo được ngay, phương pháp truyền giáo được dùng.  Nhưng, nếu tình hình chưa sẵn sàng cho phép truyền giáo, đối thoại được sử dụng.  Quý vị nào muốn biết về sự thật này thì hãy đọc kỹ những tài liệu đã có.  Đối với những vị nào không có cơ hội đọc hết những tài liệu, những điểm quan trọng được trích dẫn sau đây sẽ giúp quý vị rất nhiều để làm sáng tỏ những mục đích thật sự của những hoạt động Ca-Tô.

   Hầu hết những tài liệu trích dẫn ở đây được viết bởi những giới cao cấp của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, nghĩa là, Bộ Trưởng, Tổng Thư Ký và Phó Tổng Thư Ký.  Do đó, chúng phải được coi như là chính sách chính thức và kế hoạch hành động của Giáo hội Ca-Tô.

   Vatican, tổng hành dinh của giáo hội Ca Tô, là một quốc gia độc lập, có chính phủ.  Giáo hội Ca-Tô tại Thái Lan là thuộc hạ của Vatican.  Muốn hiểu mọi điều liên quan đến Giáo hội Ca-Tô tại Thái Lan, chúng ta cần hiểu về mạng lưới hoạt động của Vatican.

   Đối thoại được đề xướng bởi những người Ca-Tô và họ là những người diễn xuất màn đối thoại, Phật tử là đối tượng của những hành động này và bị lừa dối để bị kéo vào cùng diễn xuất trong màn đối thoại.  Chính là những người Ca Tô đã thay đổi những cách tiếp cận của họ trong khi tự bao giờ các Phật tử vẫn luôn luôn thân thiện.  Lẽ dĩ nhiên là những diễn xuất viên Ca Tô phải sửa soạn trước với những ý tưởng, kế hoạch và nhân sự cho cuộc đối thoại.  Trong trường hợp như vậy, Phật tử trở thành đối tượng của đối thoại.  Nếu những mục đích bất lương, che dấu, đi kèm với đối thoại, chắc chắn Phật tử sẽ trở thành những nạn nhân.

   Một sắc thái quan trọng của đối thoại là sự hiểu biết lẫn nhau.  Là những người khởi xướng, những người Ca-Tô đã nghiên cứu kỹ về Phật Giáo để sẵn sàng cho cuộc đối thoại.  Họ biết về Phật Giáo rất rõ trước khi đối thoại.  Trái lại, tuy các Phật tử đã nhận được sự thân thiện từ người Ca Tô và “liên tôn” với những người Ca Tô, có vẻ như họ không biết gì nhiều về người Ca Tô và những mục đích thật sự của chúng.  Do đó, Phật tử cần phải tìm hiểu để có thể có được một sự hiểu biết lẫn nhau.  Nếu thấy rằng trong cuộc đối thoại người  Ca Tô có những động cơ kín đáo, chúng ta, các Phật tử, phải khuyến cáo họ hãy lương thiện, thẳng thắn và thành thật đối với chúng ta.

   Ít nhất, khi liên kết với ai, chúng ta nên biết người đó là ai, họ nhìn chúng ta ra sao, họ nghĩ về chúng ta như thế nào và họ muốn gì ở chúng ta, để chúng ta có thể xử sự một cách khôn ngoan…Lao đầu vào một cuộc đối thoại mà không biết gì và thiếu hiểu biết, cái mà chúng ta được không thấm vào đâu so với cái mà chúng ta mất trong tương lai xa.

   Tất cả những tài liệu cho Giáo hội Ca Tô, từ Vatican cũng như tại Thái Lan, đều đưa đến kết luận là, đối thoại chỉ là một chiến thuật để thực hiện những kế hoạch của Giáo hội Ca-Tô để đồng hóa Phật Giáo vào Ki Tô Giáo.  Âm mưu này có thực hiện được hay không còn tùy thuộc ở các Phật tử có ý thức được hay không những động cơ trong mối giao hệ với người Ca Tô và biết xử sự như thê nào trong mối giao hệ này.  Điều này tùy thuộc ở nhận định của người Phật tử.  Ở đây, chỉ có một số trích dẫn từ những tài liệu của Giáo hội Ca Tô được đưa ra cho độc giả tham khảo.

  Mục đích của cuốn sách này là khuyến cáo các Phật tử và thức tỉnh họ trước tình trạng hiện nay để , trước hết, họ có thể có những thái độ thích đáng trong cương vị của người đi tiếp cận hay người được tiếp cận.  Thứ đến, nguy cơ sẽ đến với Phật Giáo nếu các Phật tử coi thường, không cập nhật, yếu và lơi là.  Không bỏ buông, Phật Giáo không thể bị ai làm hại.  Mọi nguy cơ, dù hiển lộ hay che dấu, cần phải được sử dụng làm động cơ thúc đẩy người Phật tử tự mình cải tiến trong việc tu học và hành trì ngõ hầu họ có thể tin ở Phật Pháp và hoạt động với lương tri để giúp mọi người có hạnh phúc.

  Cũng nên ghi là hiện nay, những giáo hội Tin Lành cũng đã thường sử dụng những chiến thuật  và kỹ thuật tương tự của “Đối Thoại”.

   (INTRODUCTION:  The Roman Catholics came to Thailand in the reign of King Narai the Great about 300 years ago.  There are now a little over 100,000 Catholics, the number considered very small by the Church.

   In the past the Christians believed that other religions than Christianity, such as Buddhism are sinful, the teachings of Evil and Satan.  Therefore, the Church has been sending Catholic priests to teach the pagans, introducing God to them, convert them.  They were induced into Christianity by attacking Buddhism and other religions as being evil and wrong teachings.  This method of converting is called Mission.

   About a decade ago, the Catholics changed their strategies.  The Catholic priests no longer attacked Buddhism.  Both Catholic priests and laymen have become friendly and joined with the Buddhists in rendering services to the society.  They have been adjusting themselves to the Thai culture and imitating Buddhist ceremonies.  Buddhist mediatation has also been studied and modified into Christian one.  New books have been written to explain Christianity in Buddhist vocabulary, exploiting and distorting Buddhist doctrines.  These are new, strange and intersting phenomena.

   These changes in attitudes and practices of the Catholics are the results of Vatican Council II, which was held from 11 October 1962 to 8 December 1965.  The preparation for Vatican Council II had been made sice 1959.  The Council was carried out seriously and continuously over these three years.  The bishops all over the world and other top qualified personnel approximately 4,000 in number were bobilized to synthesize new concepts and adjust their methods of propagation to suit the changes in the modern world.  The responsibility of bishops was emphasized, that is, beside their work in their own diocese, they also have to follow the policy of the Mother Church (Vatican) as resolved in Vatican Council II.  All the resolutions of the Council must seriously be adhered to and put into practice by all the Catholic churches all over the world throughout all the coming decades until the next Vatican Council takes place.  (The first Vatican Council took place over a hundred years ago, that is, during December 1869 to July 1870 which took only a little over seven months and the participants were fewer than 1000 persons).

   One important theme of Vatican Council II was the consideration and lay-out of the policy on and new approaches to all non-Christian religions, the resolution of which was: The Declaration on the relations of the Church with non-Christian religions.

   In this declaration of Vatican Council II, a new kind of relationship with other religions called the “DIALOGUE” has been established.  Another consequence was that, the Pope, Head of the Church, set up “Secretariat for Non-Christians” to be responsible for the dialogue.  Later on the Secretariat has issued “Bulletin”, a confidential publication to communicate with bishops and higher priests who are working on different countries.  The bulletin contains news from the Vatican concerning other religions and their followers.  Ideas and practices of the dialogue are given, as well as knowledge concerning other religions to be used as bases for the dialogue, including reports on religious situations in the localities where the Catholic priests work.  The bulletin serves as field for exchanges of experiences of the priests working in different countries.

   The declaration of Vatican Council II together with explanations and advices given in the bulletin, new concepts and new approaches of the Church to non-Christian religions show that instead of looking at other religions as  the mass of errors and the fruit of the sins of men as in the past, the new attitude is to accept all the beautiful and good in other religions, all of which are to be regarded as coming from God.  Only the Christian religion, the religion of God, is complete.  Other religions are mixture of good and bad, truths and falsities, but they can be used as means to consummate in Christianity.  Therefore, the true and the good in other religions can be the starting point to make pagans become Christians…

    The dialogue is to be understood as a looking at each other as equals, and not to attempt to convert other persons to ona’s religion.

   However, after considering the confidential publication of the Secretariat for non- Christian, this is dubious.  Evidences show that in the dialogue, cooperation, collaboration, mutual understanding and compromise are not the the real objectives.  They are only means or strategies leading to other objectives.  Since there are two organizations, each having different responsibilites, one is the Sacred Congregation of Propaganda Fide which is responsible for “MISSION” and the other is the Secretariat for non-Christians which is responsible for “DIALOGUE”, it is evident that the dialogue is not substituting the mission but to complement it.  The dialogue is a means to pave the way for the mission; it foregoes the mission.  In cases where the mission can take place immediately, the mission method can be employed.  But, if the situation is not ready, the dialogue has to be used.  Those who want to know the truth about this can examine different available documents.  For those who do not have opportunity to follow through all the documents, the important points quoted in this book will greatly help to clarify the real purposes of the Catholic activities.

   The documents quoted here are mostly written by high ranking officials of the Secretariat for non-Christians, i.e., the Chairman, the Secretary General and the Deputy Decretary General.  Therefore, they are to be regarded as the official policy and work plan of the Catholic Church.

   The Vatican which is the center of the Catholic Church is an independent state.  It has its own government.  The Catholic Church in Thailand is subordinate to the Vatican.  To understand all concerns the Catholic Church in Thailand, it is necessary to understand the network of the Vatican.

   The dialogue is initiated by the Catholics who perform the actions, the Buddhists are the objects of the actions and are deceived to join in the performance.  It is the Catholic who changed their approaches while the Buddhists remain friendly as ever.  It is natural that the performer of the actions will have prepared themselves with ideas, plans and personnel for the dialogue.  In such a situation, the Buddhists become the objects of the dialogue.  If hidden unhonest purposes are attached to the dialogue, the Buddhists will certainly become victims.

    One important characteristic of the dialogue is mutual understanding.  As initiators, the Catholics have made a thorough study of Buddhism to prepare themselves for the dialogue.  They accordingly know the Buddhists very well before they start the dialogue.  On the contrary, though the Buddhists have received the friendship and joined with the Catholic to a large extent, they do not seem to know much about the Catholic and their real motives.  Hence, the Buddhist need to study it in order to obtain mutual understanding.  If it is found that in the dialogue the Catholics have ulterior motives, we, the Buddhists, can warn them to be honest, candid and sincere to us.

    At least, in associating with anybody, we should know who he is, how he looks at us, what he thinks of us and what he wants from us, so we can act wisely…  In entering the dialogue with ignorance and lack of understanding, what is gained will not cover the loss in the long run.

   All the documents of the Catholic Church, both from the Vatican and in Thailand, inevitably lead to a conclusion that the dialogue is a strategy to carry out the plans of the Catholic Church to assimilate Buddhism into Christianity.  That this plot will be realized or not depends on whether the Buddhists aware of the motives of the relationship and know how to act in the relationship.  This is up to the discernment of the Buddhists.  Here, only the classified excerpts from the documents of the Catholic Church will be given for consideration of the readers.

   The purpose of this presentation is to warn the Buddhists and awaken them to the situation so that, in the first place, proper attitudes can be made whether is the approacher or the approached.  Secondly, dangers to Buddhism will arise if the Buddhists are negligent, not up to par, weak and slackened.  Without carelessness, Buddhism can not be endangered by anybody… Any danger, whether open or hidden, which has arisen should motivate the Buddhists to improve themselves both in their studies and practices, so that they will be confident in the Dhamma and work conscientiously to help people to really become happy.

   It should be noted that at present the Protestant Churches have also been utilizing similar strategies and techniques of the Dialogue.)

 

   Qua tài liệu trên của Phật Giáo Thái Lan, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm gì? 

   Đối với người Việt Nam, chúng ta cần phải ý thức được rằng chiêu bài “đối thoại” hay “liên tôn” của Ca Tô Giáo Rô Ma chỉ là những bình phong chiêu dụ những người Phật tử nhẹ dạ, ngây thơ, kém hiểu biết, hám danh, lao đầu vào cái bẫy của Ca Tô Giáo Rô Ma mà không biết đến những âm mưu của họ trong chính sách xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu, cũng như không biết rằng mục đích chính của Ca Tô Giáo Rô Ma không phải là “đối thoại” hay “liên tôn” mà chỉ là những chiến thuật giai đoạn nhằm mục đích đồng hóa Phật Giáo vào Ki Tô Giáo.  Cũng may, số Phật tử này không nhiều, không có uy tín trong quần chúng, thực chất chỉ là những con nội trùng kém đạo đức trong Phật Giáo, nên ảnh hưởng hay kết quả những cuộc hợp tác “đối thoại” hay “liên tôn” của họ với Ca Tô Giáo có thể nói là không đáng kể, không cần phải quan tâm.  Tuy vậy, Phật tử cũng không nên vì  thế mà lơi là, không chịu tìm hiểu kỹ các vấn đề, áp dụng hạnh từ bi một cách thiếu sáng suốt, và để mặc cho Ca Tô Giáo tự tung tự tác trong sách lược cải đạo Á Châu. 

   Thường thường chúng ta thấy một số chức sắc Ca Tô khởi xướng tiếp cận với một số lãnh đạo Phật Giáo chứ không có chuyện ngược lại.  Mọi tiếp cận đều đi kèm với một mưu toan nào đó để có lợi cho giáo hội chứ không phải là thật lòng muốn đối thoại.  Ví dụ có ông linh mục đến Thầy Mãn Giác và xin Thầy khuyên Trần Chung Ngọc không nên viết những bài “chống Công giáo” (sic), tưởng rằng Hòa Thượng cũng giống như Linh mục, và Phật tử cũng giống như giáo dân.  Nguyễn Văn Trung cũng làm nhiều chuyến Mỹ du và Pháp du để tiếp xúc với một số cư sĩ Phật Giáo để tìm hiểu nội bộ Phật Giáo và tuyên truyền cho Ca Tô giáo, tiếp xúc với chị Nguyễn Mạnh Quang, người Công giáo, để làm áp lực với anh Nguyễn Mạnh Quang đừng viết thêm những tác phẩm “chống Công Giáo”, nhưng mưu toan này bị thất bại hoàn toàn vì chị Quang là người rất sáng suốt nên nghe nói đã cho ông Nguyễn Văn Trung một bài học vỡ lòng về sự lương thiện trí thức, tôn trọng sự thật, và ý nghĩa thực sự của cuộc đối thoại tôn giáo..

   Chúng ta cần phải vạch trần âm mưu dùng “đối thoại” để truyền giáo và cải đạo của Ki Tô Giáo cho quần chúng biết rõ, báo động nguy cơ xâm lăng của Ca Tô Giáo, và nhất là buộc những người Ca Tô phải lương thiện, thẳng thắn và thành thật đối với chúng ta qua những hành động cụ thể chứ không chỉ có trên đầu môi chót lưỡi hay trên mặt văn tự.

   Ví dụ, người Ca Tô ngày nay nói rằng họ có tinh thần dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc.  Vậy hành động cụ thể của họ phải là từ bỏ tinh thần nô lệ Vatican, từ bỏ lệ thuộc Vatican về hành chánh cũng như về vấn đề tâm linh, vì thực chất Vatican là một ngoại bang, và tinh thần dân tộc Việt Nam là không bao giờ chịu nô lệ ngoại bang, và văn hóa Việt Nam thì không bao giờ có thể tương hợp với văn hóa Ca Tô.  Trong một phần sau tôi sẽ bàn nhiều hơn về những vấn đề này.

   Bài Dẫn Nhập trong cuốn Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo ở trên ghi là có những tài liệu trích dẫn từ những ấn phẩm mật của Vatican.  Hiển nhiên ở đây tôi không thể nào kê ra hết những tài liệu trích dẫn đó mà chỉ có thể đưa ra một số trích dẫn điển hình để chúng ta thấy rõ sách lược truyền đạo của Vatican.  Trong cuốn Âm Mưu Của Công Giáo Chống Phá Phật Giáo, những tài liệu trích dẫn phần lớn là từ những Bản Tin (Bulletin) của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, và được đánh số ví dụ như (1: 4-5) có nghĩa là từ Bản Tin Số 1, trang 4-5.

   Trước hết là một huấn thị từ Tổng Thư Ký Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ P. Humbertclaude:

 

   Vì tất cả những việc của chúng ta phải được thi hành với sự thỏa thuận của các giám mục xứ và qua họ, một phương tiện tiếp xúc với họ (Bản Tin) là điều cần thiết.  Đây là những nét đại cương:  chúng sẽ được cải tiến cùng với kinh nghiệm và cùng với những đề nghị mà Bộ trông đợi từ nhiều người đọc Bản Tin của Bộ. (1: 3)

   Thật là rất quan trọng cho lợi ích chung cũng như cho tương lai của Bản Tin, mọi người phải ý thức được rằng đây là một ấn phẩm mật dành riêng cho các giám mục xứ và cho những cá nhân mà các giám mục hay Bộ đã chỉ định trong nhiệm vụ đối thoại.  Nếu khi nào mà các giám mục xứ tin rằng cần phải in lại toàn phần hay một phần của bài nào hay văn kiện liên lạc nào họ có thể làm như vậy mà không được nêu xuất xứ.  Vì đây là một ấn phẩm mật, không được thông báo cho báo chí. (1: 4-5)

   (Since all of our work must be done with the agreement of the Ordinaries and through them, an instrument of contact was necessary.  Here it is its general outines: it will improve with experience and also with the suggestions that we await from many of our readers. (1: 3)     

   It is extremely important for the common good, as well as for the future of the Bulletin itself, that everyone be well aware that it is a confidential publication exclusively for Ordinaries and for persons that the Bishops or we have designated for dialogue.  If then the Ordinaries believe it useful to reprint entirely or in part a certain article or communication they should do so without citing the source.  Since it is a confidential publication, the press should not be informed. (1: 4-5))

 

   Đoạn (1: 3) chứng tỏ Vatican đã chỉ đạo đường hướng hoạt động của các giám mục địa phương và đường hướng này sẽ được thay đổi tùy theo tình hình địa phương qua hồi ứng của các giám mục địa phương.  Đọc tiếp những tài liệu trích dẫn từ những Bản Tin mật của Vatican chúng ta thấy rõ Vatican đã chỉ thị cho các giám mục địa phương và mọi tín đồ Ca Tô phải nghiên cứu kỹ tình hình Phật Giáo và dân tình địa phương để từ đó Vatican sẽ hoạch định những kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo thích ứng.  Vậy thực chất các giáo hội địa phương chỉ là những ổ gián điệp nằm vùng trong các quốc gia phục vụ cho Vatican, một ngoại bang.  Điều này chúng ta có thể thấy rõ ngay trong đoạn (1: 4-5) ở trên:  Tại sao một Bản Tin liên lạc với các giám mục địa phương của Ca Tô Giáo, một “tôn giáo” tự coi là thiên khải, tông truyền v..v.. có nhiệm vụ mang “Tin Mừng” đến cho nhân loại, lại phải là một ấn phẩm mật mà các giám mục địa phương phải tuân hành mà không được tiết lộ xuất xứ, và phải dấu báo chí, nếu trong đó không có những kế hoạch truyền đạo bất chính mà Vatican không muốn cho các tôn giáo khác biết?  Câu trả lời thật là rõ ràng: “Tin Mừng” của Ca Tô Giáo phải được rao truyền qua những phương tiện, thủ đoạn lắt léo, bất chính và “cấm ngoại thủy không ai được biết”.  “Nói có sách, mách có chứng”, tôi không có nói vu vơ. Phần phân tích một số tài liệu mật của Vatican về sách lược cải đạo Á Châu sẽ chứng minh điều này.  Trước hết là một nhận định tổng quát.

 

   Những huấn thị viết trong các Bản Tin là một loạt những khẳng định vô trách nhiệm, kiêu căng vô lối, hỗn hào, láo xược, đối với các tôn giáo phi Ki-Tô, kèm theo những tiểu xảo hạ cấp để truyền đạo.

   Chúng ta hãy xét đoạn sau đây trong Bản Tin (Bulletin) số 7, trang 12:

 

  Một chiến thuật trong cuộc bút chiến là mô tả qua loa những sự phong phú (trong các tôn giáo phi Ki-Tô) nhưng sự công nhận những sự phong phú đó không được để cho những người ngoại đạo được hưởng.  Do đó chúng ta phải công nhận giá trị theo nghĩa hòa nhập, vì tư tưởng Ki Tô Giáo là trên hết.  Trích dẫn từ những người ngoại đạo phải được chọn dựa theo Thánh Kinh: những biểu tượng (của người ngoại đạo) phải được sửa đổi để đưa vào đó khuôn mặt của Giê-su; và sau cùng làm cho những lời lẽ của ngoại đạo sẽ mang ý nghĩa khác hẳn.  Những tôn giáo ngoại đạo không có gì là quan trọng cho chính chúng, mà chỉ là cho những ốc đảo chân lý nhỏ bé có chứa trong chúng..

   Xét về toàn thể, những tôn giáo và triết lý ngoại đạo chỉ là một đống những sai lầmChúng là kết quả của tội lỗi con người và sau cùng là của quỷ.  Nhưng trong sự tối tăm đó cũng còn có lập lòe chút ánh sáng.  Chính trong cái ánh sáng đó chúng ta phải khám phá ra thiện chí từ những người ngoại đạo và đoan chắc chân lý của Ki Tô Giáo, vì những mảnh chân lý đó đến từ đức Ki Tô.

   (It is a polemical way of describing riches glimsed, credit for which must not be left to the pagans.  So we must speak of a recognition of value but in the sense of an integration, for the Christian thought is primary throughout.  The pagan quotations are chosen with reference to Scripture: the symbols are modified to throw more into the relief the face of Jesus Christ; and finally the pagan words take on a totally different meaning.  The pagan religions have no importance for themselves, but solely for the little islands of truth which are contained in them….

   Taking as a whole, the pagan religions and philosophies are for them merely a mass of errors.  They are the fruit of the sins of men and ultimately of the devil.  But in this darkness there are still some gleams of light.  In this virtue of this light that we must proceed to discover the pagans of good will and confirm thus the truth of Christianity, for those scraps of truth come from Christ.  (7:12))

 

   Những lời huênh hoang kiêu căng vô lối, và những lời hỗn hào, láo xược, xuyên tạc, mạ lỵ các tôn giáo phi-KiTô như trên, chỉ để tuyên truyền nhồi sọ cho đám tín đồ ngu dốt chứ đối với thế giới Tây phương và nhất là đối với giới trí thức hiểu biết, chính Ca Tô Giáo mới là một đống những sai lầm: sai lầm từ Thánh Kinh cho tới các tín lý Ca Tô, sai lầm từ nền Thần học Ki Tô Giáo cho đến những giáo lý của giáo hội Ca Tô, sai lầm từ đạo đức của các giáo hoàng xuống tới các linh mục v..v…  Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng.  Thật vậy, chân lý của Ki Tô Giáo là gì, nếu không phải là những niềm tin vào một Giê-su đã chết đi ba ngày rồi sống lại, bay lên trời, và quyền năng “cứu rỗi” của Giê-su trong ngày phán xét cuối cùng? Nhưng những niềm tin như trên ngày nay đã trở thành những điều mê tín của một thiểu số trên thế giới vẫn còn sống trong bóng tối của sự đần độn tâm linh, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, do đó không biết rằng những niềm tin này đã bị đa số trên thế giới, kể cả các giới trí thức trong các giáo hội Ki Tô Giáo, vứt bỏ, vì chúng không còn một giá trị nào trước những bằng chứng trong khoa học về vũ trụ, về nguồn gốc con người, về sự bất khả hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục v..v.. mà không ai ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo có thể bác bỏ được.

   Nhưng vấn đề ở đây không phải là những luận điệu thiếu văn hóa của Vatican như trên mà là thủ đoạn mượn, nói nôm na là ăn cắp, những điều hay trong các tôn giáo phi Ki Tô rồi biến đổi chúng thành của Ki Tô Giáo, một thủ đoạn không mấy lương thiện.  Mặt khác, cùng trong Bản Tin số 7, trong một đoạn sau, trước tình hình tôn giáo hiện nay của thế giới, sự thay đổi trong sách lược truyền đạo được hoạch định như sau (7:15):

 

   Giáo hội không còn sống trong thời của những tổ phụ lập giáo.  Trong những ngày đó giáo hội sống trong sự nở rộ trẻ trung; giáo hội công khai chứng tỏ những hứa hẹn của tương lai và sẵn sàng nhanh chóng chinh phục thế giới.  Tình hình ngày nay đã khác.  Những tôn giáo phi-KiTô góp chung lại thì có nhiều tín đồ hơn.  Đối với tuyệt đại đa số các tôn giáo đó, có vẻ như giáo hội không còn là một sức mạnh trong tương lai.  Đó là tại sao chúng ta phải từ bỏ ý tưởng tấn công trực diện và thay thế bằng đối thoại, và tìm ra những giá trị  nội tại và những điều quý báu của mỗi giáo lý…

   Thay vì nghĩ về các tôn giáo khác như là một đống những sai lầm trong đó cũng có rải rác vài chân lý, chúng ta hãy nhìn trong các tôn giáo đó những công cụ đã giúp hàng triệu người tìm thấy Thiên Chúa và ngày nay vẫn còn tìm như vậy.  Nếu chúng ta hiểu biết rõ hơn về phần vụ của những tôn giáo dân gian trong lịch sử tôn giáo thế giới thì điều này sẽ giúp chúng ta rất nhiều.

   Từ đó, nhiệm vụ truyền giáo đang được phát triển trong tầm nhìn rộng rãi hơn.  Nó không còn là cải đạo cá nhân mà là, nói cho đúng ra,  cải biến chính những nền văn hóa tôn giáo khác.

   (The Church is no longer living in the time of the Fathers.  In those days she was in the bloom of youth; she showed openly the promises of the future and was ready swiftly to conquer the world.  The situation is different today.  The non-Christian religions taken together have more followers.  To the great majority of these the Church does not appear to be the force of the future.  That why we must give up the idea of a frontal attack and substitute that of dialogue, while seeking the intrinsic values and the religious treasures of every creed…

   Far from thinking of them as a mass of errors in which some scattered truths have survived, we must rather see in them the instruments which have helped millions of men to find God and are doing still to-day.  It will be a great help also if we have a better understanding of the part played by the pagan religions in the religious history of the world.

   Since then, the missions are developing a wider perspective.  It is no longer one of converting the individual but of converting the religious cultures themselves, so to speak. (7:15))

 

   Huấn thị cho các giám mục địa phương ở trên đã nói lên mục đích truyền đạo hay cải đạo Á Châu của Vatican là biến cải những nền văn hóa phi Ki Tô chứ không phải chỉ cải đạo cá nhân.  Đây chính là sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican.  Đối với Việt Nam, đây là một hiểm họa có thực nếu Vatican có thể thực hiện được mưu đồ của mình.  Cho nên, người Việt Nam chúng ta, nếu còn lòng yêu nước, yêu quê hương, còn tinh thần dân tộc thì bổn phận của mọi công dân là phải ý thức được hiểm họa này và phải ra sức ngăn chận âm mưu cải đạo Á Châu của Vatican.

   Để cho vấn đề rõ ràng hơn và cũng để cho người dân biết rõ hơn về kế hoạch xâm lược văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican, sau đây tôi sẽ đi thêm vào một số chi tiết trong sách lược cải đạo Á Châu của Ca Tô Giáo Rô Ma và Tin Lành.

 

   Thủ đoạn rất quen thuộc của Ca Tô và Tin Lành trong sách lược cải đạo Á Châu gồm hai mặt: tấn công và chống đỡ.

   Trong mặt tấn công, họ dựa trên cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, lấy một số giáo lý của Phật giáo, xào xáo, thay đổi làm thành giáo điều của Ki Tô Giáo, đồng thời tung ra những bản văn xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo, mạ lỵ tăng đoàn, cố tình gây phản ứng trong Phật Giáo.  Khi Phật Giáo phản ứng để phản bác thì họ giữ im lặng, lợi dụng bản tính hiền hòa và khoan nhượng tôn giáo của người dân Á Châu, đưa ra mặt chống đỡ, tạo trong quần chúng một ý tưởng là chính Phật Giáo là phe khởi xướng cuộc tranh chấp tôn giáo, gây chia rẽ, làm mất tình hòa hợp đoàn kết quốc gia.  Ngoài ra, họ còn mua chuộc, hối lộ các chính quyền địa phương để ngăn chận sự phổ biến những tài liệu phản kháng, vạch trần âm mưu của họ, trong quần chúng.  Thủ đoạn này đã thành công phần nào ở Thái Lan và ở Việt Nam.  Người dân ít hiểu biết và ngay cả chính quyền cũng rất dễ bị lừa dối bởi thủ đoạn này, không nhận thức được bộ mặt thật của Ki Tô Giáo. 

   Những mánh mưu và luận điệu tuyên truyền lừa bịp của họ không thể kể hết và phân tích trong phạm vi bài viết này.  Ở đây tôi chỉ xin trích dẫn một tài liệu của Thái Lan để từ đó chúng ta có thể suy ra những kinh nghiệm cho Việt Nam, rồi tôi sẽ phân tích vài điểm cốt yếu nhất trong luận điệu tuyên truyền lừa bịp của Ca Tô và Tin Lành.

 

   Năm 1984, tuy chưa tới 1% dân Thái theo Ki Tô Giáo nhưng chính quyền Thái đã cho phép Giáo hoàng John Paul II đến Thái Lan viếng thăm tín đồ của ông.  Sau Công Đồng Vatican II, Ca Tô Giáo Rô Ma mở chiến dịch truyền đạo ở Thái với nhiều thủ đoạn bất lương và bất chính.  Trước tình hình như vậy, nhiều tổ chức Phật Giáo ở Thái Lan đã ra tuyên ngôn kèm theo bằng chứng, và viết thư phản đối gửi đến các chức sắc Ca Tô trong giáo hội Ca Tô tại Thái.  Nhưng giáo hội Ca Tô tại đây ù lì, không có một biện pháp sửa sai nào.  Cho nên, nhân dịp giáo hoàng sắp viếng thăm Thái Lan, nhiều tổ chức Phật giáo cũng như dân sự Thái Lan đã viết những bức thư ngỏ gửi giáo hoàng, trình bày và phản đối những hành động sai trái của Ca Tô giáo tại Thái Lan. Điển hình là Tỳ Kheo Sathienpong Wannapok đã viết một bức thư ngỏ gửi John Paul II.  Đọc kỹ bức thư, và nếu chúng ta hiểu về lịch sử và bản chất của Ca Tô Giáo Rô Ma, thì đây vừa là một cái tát vào mặt Giáo hoàng, vừa là một bài học về đạo đức tôn giáo cho giáo hoàng, tuy lời văn khiêm tốn và nhẹ nhàng.  Nguyên văn bức thư như sau:

3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“CỦA GH JOHN PAUL II – Trần Chung Ngọc

3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“
                 CỦA GH JOHN PAUL II

 

 BẢN TÔNG HUẤN LÀ MỘT LỜI TUYÊN CHIẾN CHỐNG NỀN VĂN HÓA Á ĐÔNG, CÁC TÔN GIÁO Á ĐÔNG, VÀ XÃ HỘI Á ĐÔNG NÓI CHUNG, ẤN ĐỘ GIÁO NÓI RIÊNG.

   (“Ecclesia in Asia” is a Declaration of War against Asian culture, Asian religions, and Asian society in general, and Hinduism in particular.)

MAC KHER (WWW.NYCNY.COM)

 

     Lâu lâu, Tòa Thánh lại tung ra một bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng, với danh nghĩa là người thừa kế Phê-rô, một tông đồ của Chúa Giê-su khi xưa mà giáo hội phịa ra chuyện Chúa đã trao cho nhiệm vụ thành lập giáo hội Ca Tô, để dạy dỗ các tín đồ có đầu mà không có óc, về một vấn đề nào đó.  Tuy nhiên, không phải tất cả mọi tín đồ đều thuộc loại vô não. Cho nên, trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma, đã có nhiều trường hợp mà tín đồ không những coi “Tông Huấn” này hay “Tông Huấn” nọ của Tòa Thánh như không có, mà còn lên tiếng phê bình chỉ trích.

    Bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) mà Vatican tung ra trong dịp Giáo hoàng John Paul II đến Ấn Độ vào tháng 11 năm 1999 có nội dung chỉ đạo cho các giám mục Ca Tô ở Á Châu phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba của Tây phương. Nỗ lực cải đạo Á Châu này dựa trên một nền thần học mới có tên là “Thần học theo cung cách Á Châu”, nội dung  của nền thần học này chỉ là những mánh mưu, thủ đoạn ăn cắp những cái hay của các nền văn hóa và tôn giáo Á Đông, xào xáo lại, thay đổi và diễn giải xuyên tạc để biến chúng thành của Ki Tô Giáo như sẽ được chứng minh trong một phần sau. 

   Thần học Ki Tô Giáo, bất kể là nó mang cái nhãn hiệu nào, cũng chỉ là môn học về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, một môn học đã quá lỗi thời, ngày nay không còn có thể thuyết phục được ai.  Thật vậy, Giáo sư David Voas, đại học New Mexico, Hoa Kỳ,  tác giả cuốn sách khảo cứu Tân Ước nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước, đã viết trong phần dẫn nhập như sau:

 

   Thật là đáng xấu hổ…  Thần học – chấp nhận như là môn học về Thiên Chúa – bị coi là không có chủ đề nào, hoặc ít nhất là không có chủ đề nào chúng ta có thể nghiên cứu.  Đó là ngành học duy nhất với những chuyên gia thực sự không biết mình đang nói cái gì… Những tư tưởng gia Ki Tô ngày nay có nhiệm vụ phải chứng tỏ rằng Thánh Kinh có ý nghĩa, nhất quán, và có đạo đức.  Điều này thật là khó khăn.

   (David Voas, The Bad News Bible: The New Testament, Introduction: It’s a shame… Granted, theology – the study of God – suffers from the suspicion that it has no subject, or at least none we can study.  It is the only field with experts who don’t know what they are talking about… Christian thinkers now have the job of showing that scripture makes sense, is consistent, and appears morally defensible.  This can be difficult.)

    Đọc kỹ bản “Tông Huấn..” chúng ta thấy rõ đúng là tác giả thực sự không biết mình đang nói cái gì.  Trước khi đi vào phần nhận định một đoạn nhỏ tiêu biểu trong bản “Tông Huấn..”, tưởng chúng ta cũng nên biết thực chất nền

thần học Ki Tô Giáo là như thế nào.

    H. L. Mencken (1880-1956), một Văn hào Mỹ, đã viết:

    “Thần học: một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng cách đặt sự giải thích vào những cái không đáng biết”

   (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.)

 

   Và Alfred North Whitehead (1861-1947), một nhà Toán học và Triết gia Mỹ cũng đưa ra nhận định:

    Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại.

   (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race).

    Và cũng vì vậy mà John E. Remsburg đã viết trong cuốn False Claims (Những Điều Nhận Vơ Sai Sự Thực của Giáo hội Công Giáo. TCN):

    Trong  những giới  thông  minh  ở  Âu châu và  Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết. 

    (Among the intelligent classes of Europe and  America, Christian theology is practically dead.)

 

   Remsburg đã đưa ra một nhận định rất đúng: không phải là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã chết, theo như quan niệm của Nietzche, mà là chính nền thần học Ki Tô Giáo đã chết.  Bởi vì làm gì có Thiên Chúa để mà chết.  Cái chết đi chính là nền thần học Ki Tô Giáo đã tạo nên một vị thần hay Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, và nền thần học này ngày nay đã không còn chỗ đứng trong sự tiến bộ trí thức của nhân loại, dù nó mang nhãn hiệu Phi Châu hay Á Châu.

   Thế mà, ngày nay Giáo hội Công Giáo La Mã còn tung ra chiến dịch cải đạo Á Châu.  Phải chăng giáo hội tin rằng dân Á Châu ngu muội, không có ai đủ thông minh để nhận ra mánh mưu của giáo hội, nên ai ai cũng sẽ nhắm mắt nuốt trọn cái gọi là “Thần học theo cung cách Á Châu”, một nền thần học gian dối, hạ đẳng, xảo quyệt nhất trong các loại thần học?

    Khi xưa, ở vị thế Thần quyền chỉ huy thế quyền, giáo hội đã thi hành một sách lược cải đạo ở khắp nơi trên thế giới bằng cường quyền, bạo lực, và cưỡng ép.

   Thật vậy, học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden, sau khi nghiên cứu về lịch sử Ki Tô Giáo đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Sau Cùng (The Final Superstition), trang 169, như sau:

    “Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki Tô Giáo trong cả hai thế giới cổ và Tân thế giới phần lớn dựa vào sự cưỡng bách bạo hành và đàn áp.  Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc tiêu diệt những người lạc đạo ngay từ thuở đầu, cho tới những cuộc thánh chiến, những tòa án xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác khắp hoàn cầu, Ki Tô Giáo đã chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống nhân loại của tôn giáo này.”

   (In summary, the evidence is overwhelming that the propagation of Christianity in both the Old World and the New was due in large measure to coercion, persecution and suppression.  Throughout its history, from the earliest purges of heretics, through the crusades, the Inquisition, and repression of other cultures throughout the world, Christianity was demonstrated its destructive anti human values.)

 

3 nhà trí thức chống Kitô

 

   Đây là những vết nhơ không bao giờ có thể rửa sạch trên khuôn mặt của giáo hội.  Nhưng ngày nay, giáo hội đã mất đi thế quyền, và thần quyền đã không còn một giá trị nào ngoài khối tín đồ thấp kém, mê tín, cả tin, giáo hội không còn có thể áp dụng sách lược “cường quyền bạo lực thắng công lý” được nữa.  Đúng như John E. Remsburg đã nhận định trong cuốn Những Lời Nhận Vơ (Của giáo hội Ca Tô) False Claims, trang 24:

    “Hình như tôi nghe người Ki Tô biện hộ cho giáo hội nói: “Nhưng bây giờ giáo hội không còn giết nữa”.  Đúng vậy, một con hổ sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi.  Ngày nay giáo hội không còn giết nữa vì không còn quyền lực để mà giết.  Bó củi (để thiêu sống người) và thanh gươm (để giết người) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và ngày nay giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống.”

   (“But the church does not kill now,” methinks I hear the Christian apologist exclaim.  No, a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious.  The church does not kill now because it does not have the power to kill.  The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.)

 

   Suốt trong chiều dài lịch sử, giáo hội Ca Tô Rô Ma đã nổi tiếng về xảo thuật ngụy tạo tài liệu, sửa đổi Thánh Kinh, nói ngang nói ngược, nói ngược nói xuôi v..v.. để kéo con người vào đạo.  Cái gọi là “Thần học theo cung cách Á Châu” cũng không ra ngoài lệ, có đầy đủ những sắc thái trên.  Và do đó, bản “Tông huấn..” của Giáo hoàng John Paul II là một văn kiện ngụy biện, dối trá, gian xảo, nhằm mục đích đẩy mạnh nỗ lực cải đạo Á Châu của Ca-tô giáo Rô-ma bất kể thủ đoạn.

   Theo Mac Kher (www.nycny.com) thì bản “Tông Huấn..” “là một lời Tuyên Chiến chống nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ Giáo nói riêng.”     

   Điều đáng nói là, để chống nền văn hóa nhân bản Á Đông, các tôn giáo trí tuệ của Á Đông, và các xã hội phi Ki-Tô ở Á Đông, bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng John Paul II đã phải vận dụng tối đa xảo thuật diễn giải méo mó Kinh Thánh cùng viện dẫn rất nhiều điều trong Thánh Kinh, coi đó là những chân lý, trong khi đối với thức giả ngày nay thì những điều được viện dẫn thực ra chỉ là những điều mê tín vụn vặt (out of context) cổ xưa còn sót lại và không còn một giá trị nào trong thế giới khoa học, tiến bộ trí thức của nhân loại.  Chứng minh?

 

    Trong bài nhận định về bản “Tông Huấn” ở trên, tác giả Ngô Triệu Lịch đã đưa ra những nhận định sâu sắc, rất chính xác, và khá chi tiết về bản “Tông Huấn..” cho nên tôi sẽ không đi vào nhiều chi tiết trong đó.  Ở đây, tôi chỉ muốn chứng minh những nhận định tổng quát như trên của tôi về bản “Tông Huấn..” qua sự phân tích đoạn đầu tiên trong bản  “Tông Huấn..”,  mục  “Kế Hoạch  Kỳ Diệu  Của

Thiên Chúa Tại Á Châu”:

 

   1. Giáo Hội tại Á Châu phải ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này. Thật vậy, chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Ngài hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi Môsê đưa dân Ngài đến chỗ tự do (x. Xh 3,10). Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và những phụ nữ can đảm trong đức tin. Và “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu ! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).

 

   Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng điểm một trong đoạn trên.  Trước hết tôi xin quý độc giả hãy kiên nhẫn, vì phê bình đoạn văn ngắn ngủi trên, tôi lại phải viết khá dài, nếu không, tôi không thể vạch rõ thủ đoạn xử dụng Thánh Kinh một cách không được quang minh chính đại cho lắm của Giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”.

   Trước hết, thực ra thì “Kế Hoạch Kỳ Diệu Của Thiên Chúa Tại Á Châu” là như thế nào?   Chúng ta hãy đọc câu mở đầu:

 

   “Giáo Hội tại Á Châu phải ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này.”

   (Ecclesia in Asia:  The Church in Asia sings the praises of the “God of salvation” (Ps 68:20) for choosing to initiate his saving plan on Asian soil, through men and women of that continent.)

 

   Bản “Tông Huấn..” viết như vậy, nhưng sự thực lịch sử thì sao?  Không ai có thể phủ nhận sự kỳ diệu nhất của kế hoạch Thiên Chúa tại Á Châu là Á Châu không hề biết đến Thiên Chúa trong mấy ngàn năm nay.  Hiện nay ở Á Châu chỉ có chưa tới 3% biết tới Thiên Chúa và những thế hệ đầu tiên của số người này thuộc giới cùng đinh nghèo khổ, ít học trong xã hội.  Họ là nạn nhân của những cuộc chinh phục thuộc địa của Âu Châu, dựa vào sức mạnh của súng ống, kỹ thuật hàng hải, và bả vật chất chứ không phải dựa vào “Tin Mừng” (sic) của Thiên Chúa.  Trong số những nạn nhân bất hạnh đáng kể nhất chúng ta phải kể Phi Luật Tân, bị Tây Ban Nha chiếm, đổi luôn tên nước và cưỡng bức cả nước phải theo Ca Tô Giáo Rô Ma.  Hiện nay hơn 60% dân Phi sống dưới mức nghèo khổ (Over 60% live under the poverty line). Thứ đến là Việt Nam, tuy bị Pháp đô hộ gần 100 năm và Công Giáo La Mã chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng số giáo dân luôn luôn chỉ quanh quẩn ở mức 7% dân số, phần lớn sống trong  những ốc đảo Công Giáo ngu dốt (Từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm).  Những ốc đảo này nguyên thủy là những vùng dân đánh cá nghèo nàn như Bùi Chu, Phát Diệm v..v… 

   Trái lại, Trung Quốc, một nước với trên 1 tỷ 3 dân, tuy đã có thời bị Tây phương xâm chiếm một phần nhỏ, nhưng ngày nay cũng chỉ chưa tới 4 phần ngàn theo Ki Tô Giáo.  Nhật Bản với khoảng trên dưới 130 triệu dân cũng chỉ có chưa tới  1% theo Ki Tô Giáo.  Thái Lan cũng vậy, tuy Công Giáo La Mã đã tung ra những đòn phá ngầm Phật Giáo từ thập niên 1970, 80, nay cũng chỉ chưa tới 1% theo Ki Tô Giáo trên một dân số trên 60 triệu.  Kế hoạch cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa khởi sự ở Á Châu, cho dân Á Châu, nhưng kế hoạch đó lại không thể phát triển được ở Á Châu trong suốt 2000 năm qua.  Nghịch lý này được giải thích cho giáo dân có đầu mà không có óc: đó là sự mầu nhiệm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thật vậy, trong bản “Tông Huấn..”, mục 2, có viết: “Quả là một mầu nhiệm khi Đấng Cứu Thế sinh ra tại Á Châu lại vẫn cứ vô danh đối với các dân tộc trên lục địa này cho tới ngày hôm nay.”  Và ngày nay, Vatican  muốn tước bỏ sự mầu nhiệm trên của “Đấng Cứu Thế” của Ca Tô Giáo Rô Ma bằng cách hô hào các giám mục địa phương phải gia tăng nỗ lực cải đạo Á Châu, với hi vọng làm cho Đấng Cứu Thế từ “vô danh” trở thành “hữu danh”, hiện nguyên hình là một bung xung của một  tổ chức thế tục mượn danh Chúa để mưu cầu những quyền lợi thế tục.  Sự mầu nhiệm của Chúa không chỉ có ở Á Châu mà hiện hữu ngay trong cái nôi của Ki Tô Giáo.  Như  chúng ta đã biết, trong những nôi của Ki Tô Giáo nói chung, đặc biệt là của Ca Tô Giáo Rô Ma, Ki Tô Giáo đang suy thoái không có cơ cứu vãn.  Sự mầu nhiệm này không được giáo hoàng nói tới.

   Sự tiến bộ trí thức của con người đã mở mắt Tây Phương, kéo họ ra khỏi thời đại man rợ và đen tối trí thức (the ages of barbarism and intellectual darkness), thời đại mà Ca Tô Giáo Rô Ma độc chiếm thần quyền và thế quyền ở Tây phương. Và ngày nay, Tây phương đang sống như là không có Thiên Chúa như hội đồng giám mục đã ghi nhận ở trên.  Trong thiên niên kỷ thứ ba của Tây phương này, người dân Á Đông, về vấn đề tâm linh vốn đã vượt xa Tây phương từ ngàn xưa, cho nên đã từ khước “Tin Mừng” của Thiên Chúa trong bao thế kỷ nay, ngay cả khi dưới áp lực của thực dân và đoàn quạ đen đồng hành với thực dân, chẳng lẽ nay lại tự nguyện tụt hậu đến độ phải hồ hởi chấp nhận đồ phế thải tâm linh của Âu Châu, và đi giật lùi trở lại   thời đại man rợ và đen tối trí thức của thời Trung Cổ hay sao?  Không thể nào có chuyện đó, vì thật ra, cái gọi là “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa” chỉ là kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của giáo hội Ca Tô Rô Ma hoàn vũ chứ làm gì có Thiên Chúa để mà đặt kế hoạch, và ai có thể biết được kế hoạch của Thiên Chúa ra sao nếu thực sự có một thực thể không ai thấy, không ai biết, không ai hiểu, mang nhãn hiệu Thiên Chúa?  Tất cả chỉ là mượn danh Thiên Chúa để lừa dối đám dân đầu óc yếu kém mà thôi.

 

    Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là cái mà Ki Tô Giáo gọi là Thiên Chúa thực ra chỉ là một vị thần của dân Do Thái khi xưa, và sự hiện hữu của Thiên Chúa đó hiện nay là một dấu chấm hỏi lớn.  Chúng ta cũng bỏ qua sự kiện là Á Châu là một tên địa dư (geographical name) chứ không phải là một lục địa mà trên đó chỉ có một sắc dân thuần nhất.  Trên lục địa này có nhiều sắc dân khác nhau, với những màu da, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán khác nhau, tiếng nói khác nhau v..v…không liên hệ gì tới nhau, cho nên Thiên Chúa của một đám dân du mục Do Thái nhỏ bé khi xưa, nếu có, tuyệt đối không phải là Thiên Chúa của những sắc dân khác như Hi Lạp, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, A Phú Hãn, Saudi Arabia, Iran, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,Việt Nam v..v..

   Mặt khác, trong phần nhận định sơ khởi, tôi đã đưa ra những tài liệu của giáo hoàng chính thức công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, công nhận thuyết tiến hóa, bác bỏ sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục, do đó đã chính thức bác bỏ những huyền thoại sáng tạo, tội tổ tông, cứu rỗi, luận phạt v..v.. cho nên cụm từ “Thiên Chúa cứu độ (sic)” đã trở thành hoàn toàn vô nghĩa.  Ở đây, tôi sẽ không đi vào chi tiết những huyền thoại trên mà ngày nay đã trở thành lỗi thời, thuộc loại mê tín, mà tôi chỉ muốn vạch ra xảo thuật  diễn giải và trích dẫn Thánh Kinh (Tv 68,20) một cách lắt léo, gian xảo, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) của giáo hoàng, phản ánh một sự bất lương trí thức cố hữu của Ki Tô Giáo từ ngày đầu.

    Tiểu xảo của các nhà truyền giáo Ki Tô là trích dẫn vụn vặt Thánh Kinh, rồi diễn giải lệch lạc chúng với mục đích lừa dối quần chúng thấp kém.  Sách lược này đã có hiệu quả và thành công trong quá khứ, khi mà giáo dân không được phép đọc Thánh Kinh và giới giáo sĩ giữ độc quyền rao giảng Thánh Kinh.  Nhưng ngày nay, nhân loại đã tiến bộ nhiều, và đòn phép diễn giải Thánh Kinh một cách tùy tiện đã luôn luôn bị vạch trần, không còn có thể lừa dối được ai nữa.

    Thật vậy, cũng như Matthew trong Tân Ước đã tách riêng Isaiah 7, 14 để “chứng minh láo” là sự sinh ra của Giê-su phù hợp với lời “tiên tri“ (sic) trong Cựu Ước, Giáo hoàng đã tách riêng Tv 68, 20 để “chứng minh láo” về cái gọi là “kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trên đất Á Châu”, cho rằng cách đây 3000 năm, trong thời đại của David, Thiên Chúa của Do Thái thật sự đã biết đến toàn thể Á Châu, một chuyện hoang đường không thể nào phù hợp với những sự kiện lịch sử và nội dung Thánh Kinh.  “Chứng minh láo” vì như Thomas Paine đã nhận định rất đúng về các Thánh Vịnh (hay Thi Thiên) trong cuốn Thời Đại Lý Trí (The Age of Reason) như sau: “Phần lớn những thánh vịnh liên hệ đến những hoàn cảnh địa phương của dân Do Thái trong thời buổi chúng được viết, chớ chẳng dính líu gì đến chúng ta.”  (The greater part of the Psalms relates to certain local circumstances of the Jewish nation at the time they were written, with which we have nothing to do).  Nhận định này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn trong phần phân tích sau đây.

 

   Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của các Thánh Vịnh, hay Thi Thiên (Psalms) mà Ki Tô Giáo thường cho David là tác giả. Ki Tô Giáo tôn David là thánh, thực ra  David chỉ là một tên tướng cướp, một bạo chúa, hoang dâm vô độ, vô đạo đức và cuồng sát (Xin đọc bài “Thánh David Là Ai?” trong phần Phụ Lục, cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?” của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, tháng 4, 2002).  Và “Thánh vịnh” là một tập hợp 150 bài thơ dài ngắn khác nhau mà nội dung là những lời rên rỉ, ca thán, vò đầu bứt tai, của những kẻ loạn thần kinh, bài nào cũng buồn chán như bài nào (Xin đọc The Happy Heretic của  Judith Hayes, p. 131: Psalms: This is one long, whining, grousing, hand-wringing, neurotic harangue. There are 150 chapters, each as depressing as the next.)  Nếu Thánh Vịnh có đôi chút giá trị thì đó là giá trị văn chương trong thời đại cách đây 3000 năm chứ tuyệt đối không thể có những giá trị tâm linh cho những dân tộc phi – Do Thái, nhất là trong thời đại tiến bộ trí thức ngày nay.

    Thánh Vịnh 68 có đầu đề là “Sự Vinh Quang của Thiên Chúa về lòng tốt của Ngài đối với Israel” (Holy Bible, The New King JamesVersion, p. 501: The Glory of God in His Goodness to Israel), do đó chỉ liên hệ đến dân Israel (Do Thái), không liên quan gì đến bất cứ dân tộc nào khác ngoài Israel. Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước tiếng Việt (The Holy Bible in Vietnamese), American Bible Society, New York, 1998, cũng vậy, viết đầu đề của Tv 68 là: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Si-na-i (Do Thái) và của nơi thánh.” không liên hệ gì đến bất cứ dân tộc nào khác.

   Chúng ta hãy đọc Thánh Vịnh 68, 20 và đọc tiếp theo Thánh Vịnh 68, 21-23 thì sẽ thấy rõ sự xảo quyệt của giáo hoàng trong việc trích dẫn Thánh Kinh như thế nào, cùng lúc sẽ thấy rõ bản chất của Thiên Chúa mà Giáo hội tại Á Châu phải ca ngợi, theo lệnh của giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”, Thánh Kinh tiếng Việt, trang 543:

 

20.  Đức Chúa trời (của chúng tôi) là Đức Chúa trời giải cứu chúng tôi, Ấy là nhờ Chúa Giê-Hô-Va mà loài người được tránh khỏi sự chết.  21.  Nhưng Đức Chúa trời sẽ đạp nát đầu kẻ thù nghịch Ngài, Đỉnh tóc của kẻ cứ phạm sự gian ác. 22.  Chúa đã phán rằng: Từ Ba-san Ta sẽ dẫn dân ta về, đem chúng nó lên khỏi biển sâu:  23.  Để người dầm chân mình trong huyết, Và lưỡi chó ngươi cũng được phần trong kẻ thù nghịch ngươi  (Psalms 68, 20-23: 20.; Our Lord is the Lord of salvation, And to God the Lord belong escapes from death.  21.  But God will wound the head of His enemies, The hairy scalp of the one who still goes on in His trespasses.  22.  The Lord said, “I will bring back from Bashan, I will bring them back from the depths of the sea,  23. That your foot may crush them in blood, And the tongues of your dogs may have the portion from your enemies.”)

 

   Đây là một bài thơ của David viết cho “thầy soạn nhạc” để ca tụng Đức Chúa Trời của Isarel.  Rõ ràng là “Đức Chúa Trời” này chỉ là một vị Thần của dân Do Thái mà David tin là chính vị Thần này đã giúp David để chiến thắng quân thù. Đọc toàn thể Thánh Vịnh 68, từ 1 đến 35, chúng ta thấy đây là một bài ca ca tụng Thần Giê-hô-va, thần của dân Do Thái, đã giúp ông ta chiến thắng quân thù. Thật vậy, Tv 68, 20 mở đầu bằng câu “Đức Chúa trời (của chúng tôi) là Đức Chúa Trời giải cứu chúng tôi” (Our God is the God of salvation).  Chúng tôi ở đây là ai?  Rõ ràng chỉ là người Do Thái, và Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái, tuyệt đối không phải là Thiên Chúa của loài người.   Cho nên, chữ “salvation” trong Tv 68, 20 chỉ có nghĩa là “cứu giúp” hay “giải cứu” như Kinh Thánh tiếng Việt đã viết, chứ không có nghĩa tôn giáo là “cứu rỗi linh hồn” hay “cứu rỗi linh hồn khỏi tội qua một Đấng Cứu Rỗi” (Salvation from sin through a Savior) của nền thần học Ki Tô Giáo sau này, và tuyệt đối không có nghĩa là “cứu độ”, một danh từ đặc thù của Phật Giáo với ý nghĩa khác hẳn sự “cứu rỗi” của Ki Tô Giáo.  Dịch “salvation” trong Ki Tô Giáo là “cứu độ” là một sách lược lấy những tư tưởng, từ ngữ trong các tôn giáo Á Đông làm tư tưởng, từ ngữ của Ki Tô Giáo để xâm nhập các xã hội Á Đông trong việc truyền đạo.  Và  lấy một câu trong Thánh Vịnh 68 ra, một câu chỉ liên hệ đến dân Do Thái, rồi diễn giải “Thiên Chúa giải cứu dân Do Thái” là “Thiên Chúa cứu độ” cho toàn thể Á Châu là một thủ đoạn lừa dối bất lương trí thức, nhằm đạt một mục đích thế tục: quyền lực tinh thần cũng như quyền lợi vật chất của giới giáo sĩ trên đám tín đồ kém hiểu biết, cả tin.   Điều này sẽ được chứng minh rõ ràng hơn trong một phần sau.

 

    Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là bản Kinh Thánh tiếng Việt đã hiểu sai và dịch sai Tv 68, 20-23 như trên.  Vì nếu hiểu đúng và dịch đúng thì chữ “them” trong Tv 68, 22 không phải là “dân ta” mà là những kẻ thù của Giê-hô-va.  Ngoài ra “escapes from death” là những người Do Thái thoát chết trong cuộc chiến với kẻ thù chứ tuyệt đối không có nghĩa “loài người được tránh khỏi sự chết”.  Lịch sử của Do Thái cách đây khoảng 3000 năm tuyệt đối không dính dáng gì đến “loài người” vì chính Thần của Do Thái trong Cựu Ước, alias Giê-hô-va, alias “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II, cũng không biết là quả đất tròn, như đã viết rõ trong Thánh Kinh.

   Kẻ thù của Giê-hô-va là ai?  Cũng là kẻ thù của David vì Giê-hô-va đã chọn David, về phe David, và đã giúp David chiến thắng kẻ thù nhiều lần, cũng như đã giúp David chiến thắng trong huyền thoại “cậu bé David đánh bại người khổng lồ Goliath”.  Vì vậy, theo sự hoang tưởng của David, thần mới nói ( The Lord said): dù chúng có lên núi, xuống biển, thần cũng kéo chúng về để cho dân Do Thái dẫm chân nghiền nát chúng trong máu (your foot may crush them in blood) và chó của dân Do Thái cũng có phần thưởng là được liếm máu chúng (And the tongues of your dogs may have the portion from your enemies.).  Đúng là một hoang tưởng của David vì theo Ca-Tô Giáo thì không ai thấy được Thiên Chúa (invisible), không ai biết được Thiên Chúa (unknowable), không ai hiểu được Thiên Chúa (incomprehensible).  Vấn đề là, một vị thần của dân Do Thái khát máu và dã man như vậy mà nay được giáo hoàng dạy các giáo hội Á Châu phải “ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ”(sic) (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này.”

   Có thể nào có một luận điệu thần học nào gian dối, lắt léo, sai sự thật hơn là suy diễn “Thiên Chúa giải cứu” dân Do Thái cách đây 3000 năm thành “Thiên Chúa cứu độ” cho toàn thể Á Châu không?  Thế mà nó nằm ngay trong câu đầu của bản “Tông Huấn..” của “Đức Thánh Cha” và bản “Tông Huấn..” này được Phêrô ĐXT – Antôn NNS chuyển ngữ và giới thiệu như sau: “Đây là Tông Huấn, trong đó, Đức Thánh Cha đúc kết và chuẩn nhận những suy tư sâu sắc, những nhận định đúng đắn và những phương hướng hành động của Thượng Hội Đồng Giám Mục bàn về Á Châu.”  Sâu sắc và đúng đắn ở chỗ nào?  Chẳng trách là đã có vị linh mục ở Saigon than thái độ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là “Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm”.  Thật là tội nghiệp.

   Chúng ta hãy đọc tiếp bản “Tông Huấn..”: “Thật vậy, chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Ngài hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi Môsê đưa dân Ngài đến chỗ tự do (x. Xh 3,10). Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và những phụ nữ can đảm trong đức tin.”  (It was in fact in Asia that God revealed and fulfilled his saving purpose from the beginning. He guided the patriarchs (cf. Gen 12) and called Moses to lead his people to freedom (cf. Ex 3:10). He spoke to his chosen people through many prophets, judges, kings and valiant women of faith.)

 

    Chúng ta hãy khoan bàn đến những chuyện hoang đường về Moses trong Cựu Ước và đặt một câu hỏi:  “Chuyện Thiên Chúa của dân Do Thái “hướng dẫn các tổ phụ Do Thái và kêu gọi Môsê đưa dân của Thiên Chúa (dân Do Thái) đến chỗ tự do” thì có dính dáng gì đến toàn thể Á Châu, một lục địa rộng lớn mà chính Thiên Chúa cũng không biết hết?  Dân Do Thái bị Ai Cập bắt làm nô lệ và sau đó được tự do nhờ “kế hoạch cứu độ” (sic) của Thiên Chúa đối với dân của Ngài, dân Do Thái.  Vậy mắc mớ gì đến các dân tộc khác trong lục địa Á Châu? 

     Khi Đức Quốc Xã áp dụng chính sách diệt chủng, giết 6 triệu người Do Thái, thì sao không ai thấy “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đối với dân của Ngài (dân Do Thái)?  Nhưng sự kiện Thiên Chúa giúp dân Do Thái thoát khỏi cảnh nô lệ, nếu chúng ta có thể tin được huyền thoại này vì ngày nay các học giả đã bác bỏ hoàn toàn điều mê tín cổ xưa này của dân Do Thái, thì việc đó cũng không thể diễn giải là thuộc kế hoạch cứu độ (sic) của Thiên Chúa.  Vì  kế hoạch “cứu rỗi” của Thiên Chúa là để cho những người tin Chúa chứ không phải là sự thoát khỏi cảnh nô lệ, khoan kể là chính Thiên Chúa cũng đã cổ súy việc mua bán nô lệ trong Thánh Kinh như chúng ta sẽ chứng minh về sau.

   Thật vậy, Việt Nam bị Tàu đô hộ tất cả là cả ngàn năm, nhưng đã nhiều lần đánh đuổi quân xâm lăng, lấy lại tự do, chủ quyền cho đất nước.  Đó là nhờ các ông Vua vô thần hay các ông Vua Phật Giáo như trong thời đại Lý Trần, đâu có cần đến “kế hoạch cứu độ” (sic) của Thiên Chúa của dân Do Thái, làm ra vài phép lạ để cho Tàu hoảng sợ và trả độc lập tự do cho Việt Nam?  Gần đây, Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm.  Nhưng sau cùng Tây cũng bị đánh đuổi về Tây, đó là nhờ công của ai, nếu không phải là của Cộng Sản Vô Thần?  Việt Nam đâu có cần đến Thiên Chúa của Do Thái trổ tài làm phép lạ để trừng phạt thực dân Pháp, giúp Việt Nam thu hồi chủ quyền?  Dân Do Thái có thể biết ơn Thiên Chúa của họ vì tin rằng chính Thiên Chúa đó đã cứu dân tộc họ ra khỏi vòng nô lệ như được kể trong huyền thoại về Moses trong Thánh Kinh.  Nhưng người Việt Nam chúng ta thì đương nhiên là phải nhớ ơn tổ tiên, ông cha chúng ta, và ngay cả Cộng Sản vô thần (Voltaire đã từng nói: “Vô thần là thói xấu của một số ít người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people)) đã có công đánh đuổi xâm lăng, giành lại quyền tự chủ, độc lập cho nước nhà.  Thời đại Lý Trần thì không hề có ai biết đến Thiên Chúa, và thời cận đại thì Thiên Chúa đã dẫn dân Bùi Chu, Phát Diệm di cư vào Nam.  Thiên Chúa và Đức Mẹ đi trước, giáo dân đi theo sau, và đến năm 1975 thì Thiên Chúa lại theo Mỹ về Mỹ, có cứu giúp gì được dân Việt đâu?  Vậy “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đối với dân Việt Nam là kế hoạch nào, khoan nói đến chuyện là cho toàn thể Á Châu.  Tất cả những huyền thoại về Thiên Chúa của dân Do Thái đều xảy ra ở Trung Đông, quanh vùng Jerusalem.  Vậy tôi đề nghị Vatican hãy mang “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đến các nước lân cận Jerusalem như A Phú Hãn, Iran, Saudi Arabia, Ai Cập, Pakistan v..v.. trước, có thành công rồi hãy tính đến chuyện mang “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đến các nơi xa hơn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam v…v…  Chưa làm được như vậy thì tại sao chúng ta lại có thể nuốt nổi chuyện tầm phào là Thiên Chúa của dân Do Thái ở Á Châu giúp cho dân Do Thái được tự do là thực hiện kế hoạch cứu độ (sic) cho toàn thể Á Châu?  Rõ ràng đây chỉ là một luận điệu bịp bợm bất kể đến sự lương thiện trí thức của con người.

 

   Để cho vấn đề được rõ ràng hơn nữa, chúng ta cần trở lại lịch sử Do Thái.  Trong giai đoạn mà tất cả các bé trai sơ sinh Do Thái đều bị ném xuống sông, vào khoảng thế kỷ 13 Trước Thường Lịch (TTL), thì Môsê (Moses) sinh ra đời. Môsê là ai?  Thánh Kinh viết rõ, Môsê là sản phẩm của một cuộc loạn luân: Cha của Môsê lấy cô ruột của mình và sinh ra Aaron và Moses (Exodus 6: 20:  Amram lấy Jochebed, cô ruột của mình, làm vợ, và bà sinh ra Aaron và Moses (Now Amram took for himself  Jochebed, his father’s sister, as wife, and she bore him Aaron and Moses)).  Mẹ của Moses không nỡ giết con nên để Moses vào một cái giỏ và đặt giỏ trôi trên sông.  Moses được một công chúa Ai Cập vớt và nuôi nấng cho đến khi Moses khôn lớn, rồi nhận Moses làm con nuôi.

   Thánh Kinh (Exodus 2-14) kể rằng, Moses bỗng nhiên biết mình là người Do Thái và cảm thấy đau lòng khi thấy dân Do Thái bị người Ai Cập hành hạ.  Và một hôm, khi thấy một người lính canh Ai Cập đánh đập dân Do Thái, Moses bèn giết người lính canh rồi khi bị Vua Ai Cập ra lệnh truy lùng, trốn sang xứ Madian.  Ở đây. Moses lấy vợ, sinh con.

   Dân Do Thái, dân được Thần Giavê (Giê-hô-va) chọn làm dân cưng của Ngài,  vì bị làm việc cực nhọc và bị đối xử như nô lệ, ta thán và khóc than với Thần.  Thần nghe tiếng kêu than của họ, nhớ lại (Ngài quên khuấy đi mất rồi, vì đã trải qua 6, 700 năm) lời Ngài đã hứa với Abraham, Isaac, và Jacob.  Do đó, một hôm,  Thiên sứ của Thần hiện ra trước Moses trên núi Horeb, nơi Thần cư ngụ.  (Dân Do Thái tin rằng dân tộc họ ở đâu thì Thần Ki Tô ở đó để che trở, bao bọc, giúp đỡ họ.  Vì vậy, khi lang thang trên sa mạc, họ làm một chiếc tàu lớn để cho Thần Gia-vê ngồi trong đó, và khi Vua Solomon đóng đô ở Jerusalem thì dựng lên một đền thờ để Thần Gia-vê cư ngụ trong đó).  Thế rồi Thần (Thánh kinh chỉ viết Thiên sứ của Thần hiện ra chứ không phải đích thân Thần hiện ra (And the Angel of the Lord appeared to him…) gọi Moses và sai Moses trở về Ai Cập để thuyết phục Vua Ai cập Pharaoh thả dân của Ngài trở về xứ.  Vua Ai Cập không chịu vì chính Thần Giavê đã làm cho lòng Vua chai cứng (Exodus 7: 3: Nhưng Ta sẽ khiến cho lòng Pharaoh trở nên chai cứng, và Ta sẽ đưa ra gấp bội những dấu hiệu và phép lạ của Ta trong nước Ai cập. (And I will harden Pharaoh’s heart, and multiply My signs and My wonders in the the land of Egypt)

   Thật là chuyện lẩm cẩm nhất trong những chuyện lẩm cẩm.  Theo “lý luận” của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng” thì sự kiện Ai Cập bắt dân Do Thái làm nô lệ và hành hạ dân Do Thái chính là ý định của Thiên Chúa dùng Vua Ai Cập để giáo dục dân Do Thái.  Giáo dục xong rồi, Ngài chỉ việc khẩy cái móng tay là dân Do Thái ào ào chạy ra khỏi  xứ Ai Cập, như dân Bùi Chu, Phát Diệm lên tầu Mỹ chạy theo Đức mẹ bồng Chúa Giê-su vào Nam năm 1954.  Nhưng không, Ngài lại sai Moses trở về Ai Cập làm thuyết khách, rồi lại làm cho lòng Pharaoh chai cứng, không chịu thả dân Do Thái, nghĩa là biết trước Moses thất bại trong nhiệm vụ của mình, rồi bấy giờ Ngài mới làm nhiều phép lạ trên đất Ai Cập để ép Vua Ai Cập phải thả dân Ngài đi. Những phép lạ Thần mượn tay Moses tạo ra là những phép lạ nào?  Đó chẳng phải là phép lạ mà là những tai họa mà thời đó người ta coi như là của Thần giáng xuống đầu dân Ai Cập.  Đặc biệt là sau mỗi lần tai họa được giáng xuống, Thần lại làm cho lòng Vua Ai Cập chai cứng, không chịu để cho dân Do Thái rời khỏi xứ, kết quả là Ngài phải giáng tới 10 tai họa xuống dân Ai Cập, gây ra bao cảnh khổ, chết chóc, rồi bấy giờ Ngài mới làm cho lòng Vua Ai Cập bớt chai cứng, chịu thả cho dân Do Thái ra đi. Ấy thế mà nhiều người vẫn còn tin rằng “Thiên Chúa” là bậc “nhân từ” nhất hạng.  Nhưng những tai họa mà Thần giáng xuống đầu dân Ai Cập là những tai họa gì? Hầu hết chẳng qua chỉ là những thiên tai hoặc những hiện tượng thiên nhiên như: nước sông Nile đỏ ngầu như máu, nhiều ếch nhái, bọ rận chấy, ruồi muỗi, bệnh dịch làm súc vật chết, ghẻ lở, mưa đá, châu chấu, hoặc phản khoa học như tối tăm trên toàn đất Ai Cập trong 3 ngày nhưng lại có ánh sáng trong những nơi cư ngụ của dân Do Thái, và vô cùng tàn nhẫn và độc ác như: tất cả những đứa con đầu lòng của dân Ai Cập, từ Vua cho tới thứ dân, và những con vật sinh ra đầu tiên trong xứ Ai Cập, đều chết hết.  Sau 10 tai họa trên, Vua Ai cập mới sợ và để cho dân Do Thái ra đi.

    Chuyện vô lý và lẩm cẩm như vậy mà vẫn có nhiều người tin, cũng như tin chuyện Thần tạo ra những cảnh khổ ở Calcutta rồi mới mượn bàn tay của bà Teresa chứng tỏ lòng nhân từ của Thần.  Ấy thế mà ngày nay giáo hoàng John Paul II của Ca-Tô Giáo Rô-ma còn mang chuyện lẩm cẩm này ra để quảng cáo “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa của dân Do Thái cho toàn thể Á Châu trong sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu.

 

   Ngày nay, nhiều người, từ những bậc trí thức cho tới những dân thường trong những xã hội văn minh tiến bộ đã đặt câu hỏi:  “Một vị Thần độc ác như vậy, có đáng để chúng ta tôn thờ hay không?  Chúng ta nên nhớ, theo thuyết Ba Ngôi của giáo hội Ca Tô Rô Ma, thì vị Thần độc ác táng tận lương tâm này, Chúa Cha, và Giê-su, Chúa Con, cùng Chúa Thánh Thần chỉ là một.  Chúng ta có nên mong ước được sống đời đời bên cạnh vị Thần hung ác này không, vị Thần mà chúng ta biết chắc rằng có tính đồng bóng, thưởng phạt bất công, hỉ nộ vô chừng, và nhất là không hề có thiện tâm, nếu chúng ta tin tất cả những lời trong Thánh Kinh đều là những lời “mặc khải” không thể sai lầm của Thần.”  Xin để cho những cán bộ truyền giáo cùng những nhà trí thức Ca Tô cũng như Tin Lành Việt Nam trả lời câu hỏi này với sự thành thực nhất trong lương tâm của họ. 

   Trong giáo hội Ca Tô hoàn vũ đã có nhiều người trong hàng giáo phẩm như Giám mục, Linh Mục và nhiều tín đồ đã trả lời câu hỏi này một cách dứt khoát, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói: từ bỏ giáo hội và viết sách để lại cho hậu thế những suy tư lương thiện và thành thực nhất của họ về chính tôn giáo của họ.  Thực chất của sự từ bỏ này bắt nguồn từ sự nhận thức được rằng, Thần Giavê không đáng để cho con người tiến bộ ngày nay kính trọng, đừng nói là thờ phụng, do đó tiến tới quyết định dứt khoát khước từ ân sủng “được thấy nhan Thánh Chúa” sau khi chết, một thứ bánh vẽ ở trên trời.

 

   Bản chất của “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II là như thế nào?  Chúng ta có thể thấy rõ hơn nữa khi chúng ta phân tích câu tiếp theo của giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”: “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu ! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1). (In “the fullness of time” (Gal 4:4), he sent his only-begotten Son, Jesus Christ the Saviour, who took flesh as an Asian! Exulting in the goodness of the continent’s peoples, cultures, and religious vitality, and conscious at the same time of the unique gift of faith which she has received for the good of all, the Church in Asia cannot cease to proclaim: “Give thanks to the Lord for he is good, for his love endures for ever” (Ps 118:1).)

 

   Ở đây, chúng ta lại thấy “xảo thuật” trích dẫn Thánh Kinh một cách lạc lõng của Giáo hoàng John Paul II trong mưu đồ cải đạo Á Châu.  Thật vậy, giáo hoàng viết: “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu”.  Chúng ta cần đặt câu hỏi: ““khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4)” là khi nào, có phải là cách đây khoảng gần 2000 năm, khi Giê-su mới sinh ra đời không?  Và Giê-su có phải là đấng “cứu thế” hay không, “cứu thế” như thế nào?  Cứu thế theo nghĩa cứu chuộc cái tội tổ tông hoang đường trong nền thần học Ki Tô Giáo, hay cứu thế theo nghĩa đã rửa sạch tội lỗi của nhân loại, làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn, hay cứu thế là khuyên dân Do Thái hãy mau mau sám hối tội lỗi vì ngày tận thế đã gần kề?  Tất cả những loại “cứu thế” trên nay đã không còn chỗ đứng trong thế giới nữa.

 

   Đọc Tân Ước, chúng ta phải hiểu rằng, đây là câu Paul viết cho dân Galati, và “khi thời gian đã mãn”  là Paul muốn nói đến niềm hoang tưởng của Giê-su, tin rằng ngày tận thế đã gần kề, Giê-su tự nhận là Con Thiên Chúa xuống trần để khuyên dân Do Thái hãy mau mau sám hối để được Thiên Chúa tha tội và có thể về nước trời cùng Thiên Chúa.  Trong thời đó, Paul, cũng như tất cả nhưng người tin vào lời tiên tri nhảm nhí về ngày tận thế của Giê-su, đều tin là ngày tận thế đã gần kề (thời gian đã mãn), chứ tuyệt đối không có liên hệ gì đến việc Giê-su sinh ra, dù mang hình hài Á Châu, hay Ma-rốc, hay Congo v..v..  Hơn nữa, kiến thức nhân loại ngày nay đã chứng tỏ sự phi lý của điều mà giáo hoàng John Paul II trích dẫn trong Tân Ước và diễn giải láo ở trên.  Chứng minh? 

   Tuổi của trái đất mà chúng ta đang sống trên đó ít ra cũng là bốn tỷ rưỡi năm. Theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận ở đại học Virginia, một chuyên gia về  ngành vật lý học các thiên thể (astrophysics), thì những đại diện đầu tiên của con ngưởi hiện đại đã dẫm chân trên trái đất từ 2 triệu năm trước (Trịnh Xuân Thuận, The Birth of The Universe, p. 120: “..about 2 million years ago the first representatives of Homo Sapiens trod the earth”). Mới đây, các nhà khảo cổ đã kiếm ra ở xứ Cộng Hòa Phi Châu Chad một chiếc sọ, nhiều mảnh xương hàm và răng đã hóa thạch, có tuổi là 7 triệu năm, của một  tổ tiên xa của con người hiện đại (Chicago Tribune, July 11, 2002: Archeologists have found a fossilized skull, jaw fragments and several teeth belonging to a 7 million-year-old ancester of modern humans..).  Một lần nữa, thuyết Tiến Hóa của Darwin đã được kiểm chứng.  Đối với khoa học gia White ở đại học Berkeley thì con người tiến hóa như thế nào nay đang trở nên rõ ràng hơn (To Berkeley’s White, the picture of how humans evolved is becoming clearer) và White nói: “Darwin đã tiên đoán sự tiến hóa này, và đó chính là những điều chúng tôi tiếp tục kiếm ra” (Darwin predicted that, and it’s what we keep finding). Đây là những sự kiện khoa học trong khoa khảo cổ, và vô số sự kiện trong nhiều ngành khoa học khác, đã kiểm chứng và chứng minh sự xác tín vào thuyết Tiến Hóa, những sự kiện bất khả phủ bác, những sự kiện mà vị tự nhận là đại diện của đấng Ki-tô trên trần (Vicar of Christ), nghĩa là giáo hoàng của Ca-tô giáo Rô-ma, Gioan PhaoLô II, cũng đã phải chính thức công nhận. 

   Những khám phá của khoa học hiện đại như trên đã dứt khoát dẹp bỏ vai trò “cứu thế” của Giê-su.   Thật đúng vậy, như chúng ta đã biết, vai trò “cứu thế” của Giê-su trước đây đã được giáo hoàng John Paul II “giải thích” (sic) trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, qua “nghệ thuật” trích dẫn một câu trong Phúc Âm John, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” và nay lại lập lại trong mục 5 của bản “Tông Huấn”. Chúng ta thấy ngay rằng, cách giải thích trên thật là hoang đường và phi lý.  Hoang đường và phi lý vì rõ ràng là câu trên chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giêsu.  Nhưng trước khi Giêsu sinh ra cả nhiều triệu năm thì trên thế gian này đã có biết bao nhiêu người sống rồi, và hiển nhiên họ đâu có biết tới Giêsu.  Vậy họ có bị luận phạt hay không?  Vì theo giáo lý Gia Tô, đến ngày tận thế, Chúa sẽ giáng trần để thưởng phạt nhân loại, làm cho người chết sống lại, kẻ nào tin Giêsu thì được lên Thiên đường, kẻ nào không tin Giêsu thì sẽ bị đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục.  John 3, 18 đã viết rõ:  “Ai tin Con Thiên Chúa sẽ không bị luận phạt, ai không tin đã bị luận phạt rồi, vì không tin nhận Con Một của Thiên Chúa”. Trong số những kẻ không tin Giêsu này gồm cả nhân loại trước thời Giêsu và trong đó tất nhiên có cả gia hệ của Giêsu gồm không biết là bao nhiêu đời.  Một giáo lý thuộc loại mê tín dị đoan, phi lôgic, phi nhân đạo, phản khoa học v… v.. như vậy mà vẫn có nhiều người tin thì chúng ta phải hiểu rằng họ thuộc những thành phần nào trong cộng đồng thế giới.  Trước thế kỷ 16, dân Việt Nam không biết Giêsu là ai.  Từ thế kỷ 16, những người dân Việt Nam đầu tiên biết tới Giêsu thuộc thành phần cùng đinh của xã hội, như nhiều tài liệu lịch sử đã chứng tỏ.  Tín đồ Ca-Tô Việt Nam hẳn rất lấy làm sung sướng được lên Thiên đường thấy nhan thánh Chúa, sống đời đời bên Chúa, trong khi ông bà tổ tiên nhiều đời của họ bị đày địa ngục.  Cái đạo gì mà đưa ra một giáo lý ác ôn như vậy, và những người bị mê hoặc bởi cái giáo lý ác ôn này có bao giờ nghĩ đến đồng bào ruột thịt, ông bà tổ tiên của họ không?  Nhưng điều đáng nói là câu Giáo hoàng viết như trên vào năm 1994 và lập lại trong bản “Tông Huấn” vào tháng 11 năm 1999, đã chứng tỏ cái tâm địa lắt léo của vị chủ chăn Ca Tô, vì trước đó có mấy tháng, tháng 7, 1999, chính ông đã phủ nhận sự hiện hữu của Thiên đường và Hỏa ngục, chứng tỏ cái mà ông gọi là “luận phạt” hay “sống đời đời” chỉ là những điều Giáo hội bày đặt ra để hù dọa và khuyến dụ  những người có đầu óc yếu kém.

 

   Đây chính là thực chất bịp bợm, lừa dối của nền Thần học Ki Tô Giáo mà ngày nay, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại cùng với những khám phá của khoa học, đã trở thành, theo như nhận định của Giám Mục Spong, những sự vô nghĩa trong thời hậu-Darwin.  Tuy nhiên, Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói riêng, không bao giờ muốn cho tín đồ của mình biết những sự thực này, sợ tín đồ mất đi niềm tin và kéo theo hậu quả Giáo hội mất đi nguồn lợi và quyền lực về vật chất cũng như về tinh thần.  Nhưng tiến hóa là một định luật tự nhiên của con người, không có một quyền lực nào, thế tục cũng như tôn giáo, có thể ngăn chặn nổi.  Bởi vậy trong những xã hội Âu Mỹ tân tiến ngày nay, những công cuộc nghiên cứu về lịch sử nhân loại cũng như tôn giáo càng ngày càng vạch ra những sự thực không ai có thể chối cãi, và người dân trong những xã hội này càng ngày càng hiểu biết hơn, do đó đã xảy ra tình trạng bỏ đạo, thiếu hụt linh mục đến mức độ trầm trọng.  Đây là những sự kiện xã hội trong thế giới mà chính Tòa Thánh Vatican và các lãnh tụ Chính Thống Giáo, Tin Lành đều công nhận. 

   Lại nữa, đọc Tân ước, chúng ta biết rằng, phẩm Galatians trong Tân ước là Thư Của Tông Đồ Paul (Phao Lồ) Viết Cho Dân Galati (The Epistle of Paul the Apostle to the Galatians), một đám dân ở Tiểu Á, vùng Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.  Thánh Kinh tiếng Việt dịch đầu đề này là “Thơ của Phao-Lô Gởi Cho Người Ga-La-Ti”.  Chúng ta hãy đặt một câu hỏi:  Thư của Paul viết cho người Galati thì có liên quan gì đến toàn thể Á Châu?  Phải chăng Paul là đại diện của toàn thể Á Châu và dân Galati là đại diện cho tất cả các sắc dân ở Á Châu?  Mặt khác, chúng ta cũng đã biết, dù Đức Giêsu KiTô mang hình hài của người nào, người mặt thô da ngăm ngăm đen, môi dày, tóc quăn như hình của đài BBC mới tái tạo gần đây, hay người Congo, hay người da trắng như trong các hình tượng mà chúng ta thường thấy, thì ông ta cũng không phải là đấng Cứu Thế.   Khi xưa, khi mà giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh với những biện pháp tịch thu tài sản hay xử tử hình những kẻ nào vi phạm lệnh cấm này, thì có thể giáo dân không còn cách nào khác là phải tin theo những lời giảng dạy thậm vô lý của Giáo hội.  Nhưng ngày nay, con người được tự do đọc Thánh Kinh và tự do dùng đến khả năng suy tư của mình, thì những luận điệu bịp bợm, trích dẫn vụn vặt ngoài toàn bộ vấn đề và diễn giải lệch lạc không còn có thể lừa dối được ai.  Có vẻ như giáo hoàng quên đi sự kiện là ngày nay con người đã tiến bộ văn minh hơn nhiều, không còn như thời của Giê-su, và nhất là giáo hội Ca Tô đã mất đi quyền lực thế tục đễ có thể cưỡng bách những người ngoại đạo phải tin theo những điều thậm phi lý mà giáo hội đưa ra.

      Thật ra thì Phao-Lô không phải là tông đồ của Giê-su.  Ông ta không biết Giê-su là ai ngoài những lời đồn đại sau khi Giê-su đã chết trên thập giá.  Ông ta chỉ “thấy” Giê-su, trên con đường ông ta đi tới Damascus, trong một ảo giác (vision) sau khi Giê-su đã chết.  Ngày nay chuyện Giê-su sống lại đã bị bác bỏ hoàn toàn cho nên ảo giác của Phao-Lô không có bất cứ một giá trị nào, cũng như bất cứ ảo giác nào khác mà con người “thấy” Giê-su hoặc bà Mary hiện ra bất cứ ở đâu. 

     Cũng như trên, vì trích dẫn câu Gal 4,4 riêng biệt nên câu này trở thành lạc lõng và giáo hoàng đã dựa vào sự lạc lõng này để truyền đạo.  Đọc tiếp Gal 4,5 chúng ta mới thấy được Phao-Lô muốn viết gì.  Gal 4, 4-5 như sau: Nhưng khi kỳ hạn đã mãn, Đức Chúa Trời bèn sai con mình, sinh ra từ một người đàn bà, sinh ra dưới luật pháp, để chuộc tội những người ở dưới luật pháp, để cho chúng ta có thể được nhận làm con Ngài.  (Gal 4, 4-5: But when the fullness of the time had come, God sent forth His Son, born of a woman, born under the law, to redeem those who were under the law, that we might receive the adoption as sons)

 

   Thật là rõ ràng, Phao Lô đã viết Giê-su sinh ra từ một người đàn bà (woman), không phải từ một nữ trinh (virgin), và sinh ra dưới luật pháp của Do Thái, nghĩa là luật pháp của Thần Gia-vê “mặc khải” cho Môsê trước đó.  Giê-su được Chúa Cha sai xuống chỉ để chuộc tội cho những người đang sống dưới luật pháp của Chúa Cha, nghĩa là dân Do Thái.  Vì vậy trong Tân Ước chúng ta thấy nhiều lần Giê-su đã khẳng định là chỉ cứu giúp dân Do Thái mà thôi, như sẽ được chứng minh trong phần sau.  Trích dẫn lạc lõng một câu trong Tân Ước rồi dựa vào đó để mà diễn giải về một “kế hoạch cứu độ” hoang đường cho toàn thể Á Châu, tôi cho đây là một thủ đoạn bất lương trí thức.  Đây không phải là vấn đề tự do tín ngưỡng, vấn đề đức tin, mà là vấn đề ngụy biện một cách gian xảo với mục đích lừa dối, lạc dẫn quần chúng.

   Điều này chúng ta còn có thể thấy rõ ràng hơn nữa trong phần cuối của đoạn tôi trích dẫn ở trên:

   “Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).” (Exulting in the goodness of the continent’s peoples, cultures, and religious vitality, and conscious at the same time of the unique gift of faith which she has received for the good of all, the Church in Asia cannot cease to proclaim: “Give thanks to the Lord for he is good, for his love endures for ever” (Ps 118:1).)

   Đọc toàn thể Thánh Vịnh 118, chúng ta thấy đây chỉ là những lời ca tụng Thần Gia-vê của David, vua của Israel, vì David tin rằng Thần đã về phe ông ta và giúp ông ta chiến thắng, chứ chẳng có liên hệ gì tới “kế hoạch cứu độ” Á Châu của Thần Gia–vê, dù rằng chúng ta có vứt bỏ khả năng suy tư của con người để trở thành những con cừu non, tin rằng Thần Gia-vê của người Do Thái có một “kế hoạch cứu độ” Á Châu.    Thật vậy, nếu chúng ta đọc tiếp Thánh Vịnh 118, 2-4: “Bây giờ hãy để cho Israel nói rằng:  Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời; Bây giờ hãy để cho dân của Araon (dân Do Thái) nói rằng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời; Bây giờ hãy để cho những người sợ Chúa nói rằng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.” (Psalms 118, 1-4: Oh give thanks to the Lord, for He is good!  Because his mercy endures forever; Let Israel now say, His mercy endures forever; Let the house of Aaron now say, His mercy endures forever; Let those who fear the Lord now say, His mercy endures forever).  Điều rõ ràng là David đã ca tụng Thần Gia-vê của ông ta một cách lố bịch và kêu gọi dân Israel của ông, những người luôn luôn sợ Thần Gia-vê trừng phạt vì họ được giới giáo sĩ Do Thái dạy rằng: “Những bất hạnh xảy ra cho dân Do Thái là do Chúa trừng phạt vì đã không theo luật Chúa”, hãy theo ông, ngay trong thời đại của ông (now), ca tụng Thần Gia-vê để được Thần ban cho ân huệ.  Tại sao lại là lố bịch?  Vì chỉ mấy câu sau, ông ta đã tuyên bố là Chúa về phe ông thì không ai có thể làm gì ông và ông sẽ nhân danh Chúa mà hủy diệt mọi quốc gia bao vây ông (Psalms 118, 9- 10:  “Chúa về phe tôi, Tôi sẽ không sợ hãi, con người có thể làm gì được tôi?  Tất cả các nước bao vây tôi, nhưng nhân danh Chúa (nghĩa là với sự giúp đỡ của Chúa) tôi sẽ hủy diệt tất cả “ (The Lord is on my side; I will not fear.  What can man do to me?  All nations surrounded me, But in the name of the Lord I will destroy them).  Chúa giúp David để tiêu diệt các quốc gia bao vây ông, nghĩa là những quốc gia không tin Chúa nên là kẻ thù của Chúa. Vậy thì Chúa nhân từ ở chỗ nào, và nhân từ với ai?  Và những câu ca tụng Thần Giavê một cách lố bịch từ một đầu óc bệnh hoạn của David cách đây trên 3000 năm thì liên hệ gì đến các quốc gia khác mà Giáo hoàng phải dạy họ bắt chước David và dân Do Thái “không thể ngừng xướng lên ““Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).”   Trải qua bao thế kỷ, sự lắt léo của giáo hội Ca Tô trong việc xử dụng láo Thánh Kinh để truyền đạo vẫn không thay đổi.

   Phải chăng vì vậy mà Leo Tolstoy (1828-1910), văn hào Nga, đã phát biểu:

 

   “Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội (Ca-Tô)  là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành

   (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) 

 

   Nhận định của Leo Tolstoy quả là vẫn còn chính xác khi chúng ta đọc kỹ bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng John Paul II.

   Về những Phúc Âm trong Tân Ước, George H. Smith đã viết trong cuốn Vô Thần: Bản Án Chống Ki Tô Giáo (Atheism: The Case Against Christianity) như sau, trang 209: 

 

   “Qua thời gian và luôn luôn, những đoạn trong Cựu Ước bị xuyên tạc, diễn giải sai lạc và được trích dẫn ngoài toàn bộ vấn đề để dựng lên những lời tiên tri về Giê-su”

   (Time and again, Old Testament passages are distorted, misinterpreted and quoted out of context in the attempt to manufacture prophesies for Jesus). 

 

   Và ngày nay, sau gần 2000 năm, giáo hoàng Ca Tô John Paul II cũng không có sáng kiến nào thông minh hơn, lại chỉ có thể xử dụng thủ đoạn gian dối của những tác giả viết Phúc Âm, trích dẫn Thánh Kinh ngoài toàn bộ vấn đề, diễn giải lệch lạc để dựng lên cái gọi là “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa cho Á Châu.  Thật không có gì đáng khinh hơn trong thời đại tiến bộ trí thức ngày nay.  Đáng khinh vì ông ta đã lấy một câu của David ca tụng Thiên Chúa của David, coi đó như là một chân lý, và muốn người đời cũng phải ca tụng Thiên Chúa như David, bỏ qua tất cả những đoạn khác nói về Thiên Chúa trong Thánh Kinh hoàn toàn mâu thuẫn với lời ca tụng Thần Gia-vê, hay Thiên Chúa của John Paul II, như trên.

    Thật vậy, thực ra thì Thiên Chúa của John Paul II nhân lành như thế nào, và tình thương ngàn đời của Thiên Chúa ra sao?  Thánh Kinh đã viết rất rõ.  Chúng ta hãy chịu khó đọc kỹ Thánh Kinh thì sẽ thấy ngay. Nhưng trước hết là vài nhận định về “Thiên Chúa nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương “ mà giáo hoàng John Paul II dạy các giáo hội Á Châu phải “không ngừng xướng lên..”.

 

   Trước hết là nhận định của James A. Haught trong cuốn 2000 Years of Disbelief:

 

   Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với lòng thương yêu nhất mực không đứng vững.  Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

   (Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doens’t hold water.  If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDS, Alzheimer’s disease, and Down’s syndrome.  He mandated foxes to rip rabbits apart and cheetahs ro slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he’s a monster, not an all-merciful father.)

 

    Và theo Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson thì Chúa là “một nhân vật có cá tính cực kỳ độc ác, đầy hận thù, đồng bóng và bất công” (In the words of Thomas Jefferson, God is “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust”. 

    Thomas Jefferson nhận định đúng hay sai?  Sau đây chỉ là tóm tắt vài sự kiện trong Thánh Kinh chứng tỏ nhận định của Thomas Jefferson không hề sai sự thực. 

 

   Trong Amos 3, 6, nhà tiên tri Amos đặt câu hỏi:  “Nếu tai họa xảy ra trong một thị trấn, chẳng phải là Chúa đã gây ra hay sao?” (If there is calamity in a city, will not the Lord have done it?) và nhà tiên tri Jeremiah đồng ý,  Ca Thương (Lamentations) 3, 38: “Há chẳng phải từ miệng Đấng Tối Cao (Chúa) ra tai họa và an lành?” (Is it not from the mouth of the Most High that woe and well-being proceed?).  Và trong Isaiah 45, 6-7, chính Chúa đã khẳng định: “Ta là Chúa, và không có Chúa nào khác…Ta làm ra hòa bình và tạo ra tai họa; Ta, là Chúa, đã tạo ra tất cả những điều đó” (I am the Lord, and there is no other…I make peace and create calamity; I, the Lord, do all these things.)  Kết luận: Chúa chính là tác giả của những tai họa, và như vậy không thể nào là một “Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”

   Trong Cựu Ước, chúng ta thấy đầy dãy những chuyện độc ác mà tác giả chính là “Thiên Chúa cứu độ” của John Paul II.  Lẽ dĩ nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi không thể liệt kê tất cả những chuyện độc ác, vô đạo đức của Thiên Chúa như được viết trong Thánh Kinh.  Ở đây tôi chỉ đưa ra một số nhỏ những việc Chúa làm và chỉ dẫn quý độc giả có thể đọc ở đâu trong Thánh Kinh để có thể kiểm chứng những sự kiện này.

 

-         Thiên Chúa đòi hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11;  2 Samuel  21).

-         Thiên Chúa giết đứa con đầu lòng trong mọi gia đình Ai Cập (Exodus 12)

-         Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25)

-         Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21)

-         Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22)

-         Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31)

-         Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa tạo ra (2 Samuel 24)

-         Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ vì chúng chế riễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2)

-         Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đình tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, vì Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra, tội lỗi (Genesis 6) [Con người tội lỗi nhưng Chúa lại giết cả mọi sinh vật chính Chúa “sáng tạo” ra]

-         Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13)

-         Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật  (Genesis 17)

 

    Vài  trích dẫn trong số rất  nhiều điều  tương tự từ Thánh Kinh ở trên cũng đủ để cho chúng ta thấy là “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II độc ác như thế nào, và lời răn dạy của giáo hoàng cho các giáo hội Á Châu phải “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” có ý nghĩa gì, và nếu các giáo hội Á Châu tuân theo lời dạy của Giáo hoàng thì bản chất của họ có khác chi những nô lệ không có đầu óc.

   Hẳn chúng ta có người còn nhớ là Thomas Paine, sau khi đọc cuốn Thánh Kinh, đã viết trong cuốn Thời Đại Lý Trí như sau:

 

   “Bất cứ khi nào mà chúng ta đọc những chuyện tục tĩu, những chuyện trụy lạc dâm dục, những chuyện tra tấn giết người độc ác, những chuyện thù hận bất tận, những chuyện chứa quá nửa cuốn Thánh Kinh, thì đúng hơn chúng ta phải coi đó là những lời của một con ác quỷ chứ không phải là lời của Thiên Chúa.  Đây là một lịch sử của sự độc ác, đã được dùng để bạo hành nhân loại và làm cho con người đồi bại; và, về phần tôi, tôi thành thực ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác.”

   (Whenever we read the obscene stories, the voluptuous debaucheries, the cruel and torturous executions, the unrelenting vindictiveness, with which more than half the Bible is filled, it would be more consistent that we called it the word of a demon, than the word of God.  It is a history of wickedness, that has served to corrupt and brutalize mankind; and, for my part, I sincerely detest it, as I detest everything that is cruel.)

 

   Sau cùng, cái thuộc tính “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” của Thiên Chúa mà John Paul II dạy các giáo hội Á Châu nô lệ của ông là phải gia tăng nỗ lực mang đi rao bán ở Á Châu không thể phù hợp với những thực tế trong vũ trụ.  Sự hiện diện của những sự xấu ác trên thế giới từ trước tới nay vẫn là một cái gai đâm vào cạnh sườn của nền Thần học Ki Tô Giáo mà các nhà Thần học vĩ đại nhất của Ki Tô Giáo cũng không có cách nào nhổ nó ra được.  Những bất hạnh, đau khổ vật chất và tinh thần xảy ra cho loài người đã đương nhiên bác bỏ thuộc tính “nhân lành, muôn đời trọn tình thương” của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa được quan niệm là một bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, quá khứ cũng như vị lai.

   Các nhà thần học Ki Tô Giáo đã một thời cố gắng biện hộ cho Thiên Chúa của họ qua thuyết “Tự do ý chí” (free will) mà họ giảng là Thiên Chúa không muốn cho con người là những người máy (robot) mà là những con người có tự do trong ý chí hành động của mình.  Do đó, những điều xấu ác của con người gây ra không phải là lỗi của Thiên Chúa mà chỉ là lỗi của con người không biết xử dụng đúng quyền “tự do ý chí” mà Thiên Chúa ban cho loài người.  Lý luận này đã hoàn toàn bị bác bỏ vì những hiện tượng xấu ác không chỉ xảy ra trong xã hội loài người, mà còn xảy ra trong xã hội loài vật, và trong thiên nhiên.  Những bất hạnh xảy ra cho con người không thuần chỉ là tác phẩm của con người mà còn là những hành động của chính Thiên Chúa mà các hãng bảo hiểm không chịu bảo hiểm vì coi đó là những hành động của Thiên Chúa (Acts of God).

   Chúng ta hãy tự hỏi:  Thiên Chúa là bậc toàn năng, do đó có thể chọn lựa trong vô số phương pháp “sáng tạo” để tạo ra một vũ trụ tốt đẹp, hay một thế giới loài người tốt đẹp, vậy tại sao Thiên Chúa lại “sáng tạo” ra thế giới của chúng ta đầy những cảnh khổ đau mà chúng ta thấy thường ngày.  Chúng ta không thể nào không thắc mắc:

a).  Thiên Chúa “sáng tạo” ra ra rắn, rết, bọ cạp, các thú dữ cắn giết lẫn nhau, những con khổng long nay đã không còn trên trái đất, những cảnh cá lớn nuốt cá bé trong thế giới loài vật để làm gì?

b). Thiên Chúa “sáng tạo” ra những con ròi bọ, vi trùng, siêu vi trùng, vi trùng sinh ra bệnh AIDS và đủ các thứ bệnh khác như cùi hủi, ung thư  v..v.. để làm gì, giúp ích gì cho loài người mà Thiên Chúa tạo ra theo như hình ảnh của chính Thiên Chúa?

c). Thiên Chúa “sáng tạo” ra những cảnh thiên tai như: động đất, núi lửa, sóng thần, bão lụt, hạn hán, nạn đói, bệnh dịch v..v.., với kết quả là gây ra bao nhiêu bất hạnh và tai họa cho loài người để làm gì?

d).  Và sau cùng, tại sao Thiên Chúa lại để cho xảy ra những cảnh như một đứa bé vừa sinh ra đời, thật sự vô tội, đã trở thành ngay một quái thai, mất chân, mất tay, mắt mù, đầu óc trì trệ, và bị đủ mọi thứ khuyết tật?

 

   Kết luận?  Cái thế giới mà chúng ta sống trong đó không thể nào là sự sáng tạo của một Thiên Chúa “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương”, và hiển nhiên một Thiên Chúa như vậy chỉ có trong văn tự truyền đạo của giáo hội Ca Tô chứ thực ra không làm gì có Thiên Chúa, và dù chúng ta có tin một cách không cần biết, không cần hiểu theo như quan niệm của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng đi chăng nữa thì Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã thực sự bất lực, và do đó không thể giúp ích gì cho nhân loại.  Thật vậy, những thiên tai không chỉ xảy ra trên những miền đất không ai biết đến Thiên Chúa mà còn xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong những quốc gia hầu hết tin ở Thiên Chúa.  Những sự kiện lịch sử sau đây có thể dùng để bác bỏ quan niệm về một Thiên Chúa “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” của Ki Tô Giáo.

   Giữa thế kỷ 6 (540), bệnh dịch hạch (bubonic plague) phát ra ở Byzantine mà một tài liệu lịch sử ghi rằng đã làm chết hại gần 100 triệu người.

   Trong thế kỷ 14, Âu Châu có thể nói là hầu như toàn tòng Ca Tô Giáo Rô Ma.  Nhưng bệnh dịch hạch đã phát ra (1348-1350) và giết  hại  gần nửa  dân số Âu  Châu, toàn là những người tin Thiên Chúa.

    Trong thế kỷ 18, ở Bồ Đào Nha, một quốc gia toàn tòng Ca Tô Giáo Rô Ma, có một trận động đất làm chết hại 40000 người ở tỉnh Lisbon.  Về sự kiện này, Voltaire đã đặt câu hỏi:  “Phải chăng trong trận động đất này Thiên Chúa đã đích thân chọn để giết đi 40000 người dân Bồ Đào Nha ít đạo đức nhất?” (Did God in this earthquake select the 40000 least virtuous of the Portuguese citizens?).

   Rồi đệ nhất thế chiến, đệ nhị thế chiến, các quốc gia Âu Châu bị tàn phá, chẳng ai thấy mặt “Thiên Chúa nhân lành, ngàn đời vẫn trọn tình thương” ở đâu.

   Những sự kiện lịch sử trên và hàng trăm hàng ngàn những thiên tai, bệnh tật khác mà con người phải thường xuyên đối phó và khắc phục đã chứng tỏ rằng cái bánh vẽ “Thiên Chúa nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” trong “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa” không còn có một giá trị nào, hay còn đủ hấp dẫn để có thể khuyến dụ con người Á Châu cải đạo.

    Vậy mà Giáo hoàng John Paul II vẫn còn không hề biết ngượng, ra lệnh cho các giáo hội Á Châu:

Hãy cảm tạ Chúa đi, Vì Chúa nhân lành,

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

   Qua sự phân tích một đoạn ngắn ở đầu bản “Tông Huấn..”, chúng ta cũng đã có thể thấy rõ thực chất bản “Tông Huấn..” của Giáo hoàng John Paul II là như thế nào.  Tôi không nghĩ rằng một người ở địa vị và có trình độ học thức như ông ta lại không biết đến những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh ngày nay để mà hiểu rằng Thánh Kinh Ki Tô Giáo chẳng qua chỉ là một tác phẩm liên hệ đến lịch sử và niềm tin của  dân Do Thái khi xưa, tuyệt đối không làm gì có “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa cho bất cứ quốc gia nào ngoài Do Thái, khoan nói đến chuyện cho toàn thể Á Châu, trong đó.

   “Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa ở Á Châu” không có cách nào có thể thành công ở Á Châu được.  Tại sao?  Vì một lẽ rất đơn giản: Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành, đều đã và đang dùng những thủ đoạn không chính đáng, vô đạo đức, để thực hiện “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa ở Á Châu”, nói đúng hơn là “Kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu” của Ki Tô Giáo, và vì trí tuệ con người nay đã mở mang, không còn có thể dễ dàng lừa dối như trước nữa.  Đây chính là những chủ đề mà tôi muốn bàn tới trong Phần II về nền “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” và những “Thủ Đoạn Cải Đạo Á Châu của Ca Tô và Tin Lành.”

 

2. NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG ĐƯA ĐẾN SỰ SUY THOÁI CỦA KI TÔ GIÁO – Trần Chung Ngọc

2.  NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG ĐƯA ĐẾN SỰ SUY THOÁI CỦA KI TÔ GIÁO

 

    ÂU CHÂU, TRONG NHIỀU THẾ KỶ LÀ CÁI NÔI CỦA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN GIÁO KI TÔ ĐI KHẮP NƠI, NAY CHÍNH NÓ LẠI TRỞ THÀNH NƠI CẦN PHẢI ĐƯỢC TRUYỀN GIÁO.  MỘT SỐ NGƯỜI NÓI RẰNG ĐÂY LÀ MỘT LỤC ĐỊA “HẬU-KITÔ”.

    (Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.)

JULIAN PETTIFER & RICHARD BRADLEY

 

   TRONG MỘT HỘI NGHỊ ĐẶC BIỆT VÀO NĂM 1999, CÁC GIÁM MỤC ÂU CHÂU TUYÊN BỐ RẰNG CÁC DÂN TỘC TRONG TOÀN LỤC ĐỊA ÂU CHÂU ĐẢ QUYẾT ĐỊNH SỐNG “NHƯ LÀ THIÊN CHÚA KHÔNG HỀ HIỆN HỮU.

     (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.)

JOHN CORNWELL

 

 

   Tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ là một tình trạng đã rõ rệt, không ai có thể phủ nhận.  Một vài tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho chúng ta thấy rõ hiện tượng này.  Trong cuốn Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries) của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một chương trình TV  6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể đọc được vài sự kiện như sau:

Trang 242:  Âu châu đã trở thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà nhà thần học Đức Kierkegaard đã gọi là lục địa của những “người ngoại giáo đã được rửa tội”.  Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của chương trình truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó lại đã trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một số người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”.

Theo Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) thì: Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại Thượng đế thì sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu Châu.

Những nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều của chủ nghĩa thế tục.  Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo.

   (Europe had become “an embarrassement to Christianity”, a continent of what the German theologian Kierkegaard called “baptised pagans”.  In short, Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.

   For Floyd McClung: there is a fear that if Europe continues to turn its back on God, the time may come when God will turn His back on Europe.

   The missionaries believe that Europe is in danger of being swamped by a tidal wave of secularism.  They vigorously deny that this is the inevitable and ultimate destiny for all Christian nations..)

 

   Trang 244: Ở Anh Quốc: Tình trạng vô Thượng đế ở Anh được coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị.  Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn còn là những người, nếu không phải là sợ Thượng đế thì ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà thờ… Hình ảnh này đã hoàn toàn thay đổi.  Sự truyền nhiễm đã tràn vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của giáo hội, những giáo xứ  ở miền quê, cũng đã bị nhiễm độc.  Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ.  Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%.

   Các nhà thống kê tranh cãi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào.  Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%.  Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; ¾  có dưới 100 tín đồ..  Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng.  Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn.  Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đã biến những nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái Trưởng Lão Tin Lành (Bresbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên.  Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn.

   Tuy nhiên sự quan tâm về tình trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với Pháp.  Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú,  dân Pháp cũng “không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.”  Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành.  Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật.  Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Ca-Tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo.

   (In Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a contagion confined to the urban working classes.  Although there were notable exceptions, the middle classes remained, if not God- fearing, then at least church-going folk…The picture had completely changed.  The disease had spilled into middle-classes suburbia and even the life-blood of the church, the rural parishes, had been infected.  On census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church.  A century later, in 1951, it was nearer 10%.

   The statisticians quibble about how just low the figures are for practising Christians in Britain.  Some argue that consistent church attendance is as low as 4%.  By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; ¾ had less than 100 members… Churches all over Britain lie abandoned and derelict.  In London particularly, church conversion has become big business.  Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, renamed the Limelight Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; ..In Wales, the Bresbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house.  Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet disount stores and restaurants.

   But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France.  According to the American missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilised natives of one of the world’s darkest continents”.  A mere 0.22% of France’s 54 million population are evangelical Protestants.  Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend church.  Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared France a mission field.)

  

    Ở Mỹ, tình trạng Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, cũng không sáng sủa gì hơn.  Đức tin Ca-tô càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ý nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật.  Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và gốc Phi Châu.  60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất United Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Ca-tô cũng như Tin Lành, được rao bán để người mua muốn sử dụng làm gì thì làm, có nhiều trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa.  Nhiều trường học Ca-tô ở các địa phương đóng cửa vì không có học trò và không đủ tài chánh để tiếp tục hoạt động.  Nhưng các giáo xứ vẫn có tiền bồi thường, thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh mục can tội loạn dâm.

    Năm 1990, linh mục David Rice dòng Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây số) để phỏng vấn và tìm hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:

 

    Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Ca-tô Rô-ma đã bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi.  Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đình – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong.   Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành.

   (100000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than one every two hours.  Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination.  The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation)

 

John Cornwell, một tín đồ Ca Tô và cũng là một chuyên gia về Ca Tô Giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng về Vatican: A Thief in the NightHitler’s Pope, đã viết thêm một tác phẩm về Ca Tô giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Ca Tô  Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism), xuất bản  năm 2001,  trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen Tối Của Ca Tô Giáo (A Catholic Dark Age).  Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình trạng suy thoái trầm trọng của Ca Tô giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp.  Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến  linh mục,  vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, vì người ta không còn chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v..  Tình trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Ca Tô giáo,  thật là thê thảm.  Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục.  Ở Ý, 90% theo Ca Tô giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một nửa.  Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Ca Tô, số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng thời gian.  Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.)   Ở Nam Mỹ, tình trạng cũng không khá hơn.  7000 tín đồ mới có một linh mục.  Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật.  Theo một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng  sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church each year.)

   Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới đã trở thành “vô thần”.  Đây là một hiện tượng bất khả đảo ngược vì nó phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nằm trong luật Tiến Hóa của vũ trụ.

 

   Tình trạng Ki Tô Giáo suy thoái ở Âu Châu là một nghịch lý, vì Ki Tô Giáo vẫn tự nhận là một tôn giáo văn minh tiến bộ nhất, và những xã hội Âu Mỹ hiển nhiên là những xã hội văn minh tiến bộ nhất.  Nghịch lý này cho chúng ta thấy rõ thực chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng.  Nghịch lý trên cũng đưa ra một sự thật: luận điệu của các thừa sai Ca-Tô khi đến nước ta vào những thế kỷ 17- 19, nói là để văn minh hóa những dân tộc mọi rợ, điều mà các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, kể cả những người được gọi là trí thức, vẫn tin là như vậy cho đến ngày nay (Xin đọc Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo: “Ông thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”, hoặc cuốn  “2000 Năm Một Thuở:  Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo” do nhóm Tin Nhà ở Pháp mời gọi một số trí thức Ca Tô viết và xuất bản năm 2000, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, viết ở trang 44: “Ai cũng biết hàng giáo sĩ công giáo là lớp người đi tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm tối lạc hậu”), thật ra chỉ là những luận điệu huênh hoang cuồng tín, mang sự hoang đường mê tín đến đầu độc đám dân chúng cùng đinh đần độn ở Việt Nam, nơi đây các tôn giáo Á Đông thực sự đã vượt xa Ki Tô Giáo về mọi phương diện, điều mà ngày nay thế giới Tây phương đang phải chấp nhận.  Thời gian qua, với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân loại, ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đã bị phơi bầy, và chính ở trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang tuột dốc theo luật đào thải của con người văn minh tiến bộ. 

 

   Tại sao trong những xã hội Âu Mỹ lại xảy ra hiện tượng giải trừ Ki Tô Giáo (de-Christianization) và người dân lại đang từ từ bỏ Ki Tô Giáo?  Chẳng có gì là khó hiểu, vì như là một qui luật thế gian, sự tiến bộ trí thức của con người và đời sống vật chất thoải mái trong những xã hội này tất nhiên phải đưa đến tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo. 

 

  Thật vậy, nữ học giả Ca-tô Joane H. Meehl, người mà sau khi đã thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo hội Ca Tô từ thế kỷ 4 tới nay, đã viết trong cuốn “Người Tín Đồ Ca Tô Tỉnh Ngộ” (The Recovering Catholic), trg. 288, như sau:

 

  “Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt.  Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái” (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant.  It is overcome by education and economic well-being).

 

   Trừ lớp tín đồ thấp kém trong Ca-Tô Giáo Rô-ma vẫn tin rằng mình ở trong một “hội thánh”, “tông truyền”, “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v.., những thuộc tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu Mỹ tiến bộ ngày nay đã nhận ra bộ mặt thật của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Tài liệu về bộ mặt thật này, kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dãy trong các thư viện và tiệm sách lớn và trên Internet.  Giáo hội đã mất đi quyền lực ngăn chận những tác phẩm này như khi xưa giáo hội đã làm.  Dân trí mở mang, sự thật được phơi bày, và giới chăn chiên trong giáo hội chỉ còn có cách khuyên các con chiên không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là “chống Ca-Tô” tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những sự thật lịch sử về Ca-Tô Giáo Rô-ma, những sự thật mà giới chăn chiên không bao giờ muốn cho các con chiên của mình biết đến.

    Nhưng tiến hóa là một định luật thiên nhiên, cho nên không có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được những bước tiến trí thức của nhân loại.  Do đó sự tiến bộ trí thức của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo Rô Ma nói riêng, bởi vì căn bản tín ngưỡng Ki Tô Giáo đã không còn chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su, về các tín điều hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và trước những thành quả của khoa học ngày nay về nguồn gốc con người và vũ trụ.  Sau đây chúng ta hãy duyệt qua vài tài liệu về sự thức tỉnh của thế giới Tây phương về chính tôn giáo truyền thống của Tây phương, nghĩa là Ki Tô Giáo.

    Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy thật ra sự thức tỉnh của Tây phương không phải trong thời đại này mới xảy ra mà đã bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người ít ra là từ cuộc Cách Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, từ Thời Đại Lý Trí  (The Age of Reason) vào thế kỷ 18, Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment) vào thế kỷ 19, và Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis) vào thế kỷ 20.  Những thời đại này đã kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà sự thống trị của Ca-Tô Giáo Rô-ma đã đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ (The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages), hay Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The ages of barbarism and intellectual darkness).

   Những thời đại bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người đã từ từ văn minh hóa Ca-Tô Giáo Rô-ma, hay nói đúng hơn, theo John E. Remsburg, đã tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Ca-Tô Giáo Rô-ma những bó củi để thiêu sống người và những thanh gươm để giết người.  Mặt khác, sau khi Martin Luther ly khai với giáo hội Ca-Tô vào đầu thế kỷ 16, không công nhận chế độ giáo hoàng, để lập ra hệ phái Ki-Tô Phản Đối (Protestantism) mà chúng ta thường biết dưới cưỡng từ Tin Lành, thì Thánh Kinh bắt đầu được dịch ra những tiếng địa phương, và cũng bắt đầu từ đó, những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và về nhân vật Giê-su trong Thánh Kinh phát triển.  Kết quả của những công cuộc nghiên cứu này là người ta khám phá ra rằng, Thánh Kinh không phải là những lời mạc khải của Thiên Chúa như giáo hội thường dạy cho các tín đồ, mà chứa rất nhiều sai lầm, mâu thuẫn, về thần học cũng như khoa học.  Ngoài ra, những công cuộc khảo cứu này cũng đưa ra hình ảnh của một Giê-su lịch sử khác hẳn với vai trò thần linh có khả năng cứu rỗi mà giáo hội Ca-Tô đã tạo dựng lên.  Và cũng từ đây, những tín lý, tín điều, cũng như những cái mà giáo hội Ca-Tô gọi là “bí tích” đã không còn chỗ đứng trong những xã hội Tây phương, ít ra là trong giới thức giả hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội.  Sau đây chúng ta sẽ duyệt qua vài tài liệu điển hình, kết quả của những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh cũng như về nhân vật Giê-su.

 

   Russell Shorto, người đã tổng duyệt những công cuộc nghiên cứu về Giê-su trong 200 năm nay, đã viết như sau trong cuốn Sự Thực Trong Phúc Âm (Gospel Truth):

     Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ  là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng (tự cho mình là Con Thiên Chúa và tin rằng Nước Trời sắp đến. TCN) – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

   (Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

 

   Giáo hội Ca-Tô Rô-ma rất hãnh diện về tôn giáo của mình vì có nhiều tín đồ nhất.  Lẽ dĩ nhiên, đây cũng là tôn giáo trên thế gian có nhiều tín đồ bình thường vẫn còn sống trong bóng tối nhiều nhất.  Sự thành công và sức mạnh của Giáo hội Ca-Tô hoàn vũ là ở điểm này.  Đó là sự thành công của một tổ chức tạo sức mạnh trên lớp người không bao giờ cần đến cái khả năng quý báu nhất của con người là lý trí, kiến thức, và óc suy luận.

   Nhưng đối với giới thức giả Tây phương ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô thì vấn đề có khác.  Trong cuốn “Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh” (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio,  nhận định rằng:

    Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích  Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được.  Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa,  và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

   Trong những năm 1835-1836, cuốn “Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su” (The Life of Jesus Critically Examined)  của  D.  F.  Strauss  đã  quy  một số  chuyện trong Tân Ước là “huyền thoại” và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo.  Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và  xác nhận sự khẳng định này.  Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy tín lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

   1.   Đức Mẹ đồng trinh

   2.   Hiện thân của Chúa  (Thượng  đế  hiện  thân thành

         người, nghĩa là, Thượng đế là Giê su.) 

   3.   Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa

   4.   Sự sống lại của Chúa.

   5.  Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

   6.  Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người  chết  cho ngày phán xét cuối cùng)

   7.  Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha  phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

   (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur.  In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as “myth” and defined those  unhistorical   elements  as expressing a series of religious ideas.  Today,  analytical studies continue to support and confirm this assertion.  The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

 1.  The virgin birth

 2.   The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

 3.  The work of Atonement (plan for salvation)

 4.  The resurrection

 5.  The ascension (Jesus’ bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

 6.  The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)     

 7.  The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ’s Second Coming)

 

    Chúng ta nên để ý là trên đây Mục sư Ernie Bringas chỉ trình bày quan điểm của giới trí thức học giả về Ki Tô Giáo.  Điều này không áp dụng cho số tín đồ đông đảo, Ca-Tô cũng như  Tin Lành, còn sống trong bóng tối.  Điều này cũng đã chứng tỏ rằng nền tảng tín ngưỡng của Ki Tô Giáo nói chung đã không còn hấp dẫn trong thế giới Tây phương, thế giới của khoa học, của suy lý.

   Chúng ta cũng nên biết rằng, bảy tín lý mà Mục sư Ernie Bringas nêu lên ở trên là dựa vào, theo các giáo hội Ki Tô, những lời mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh, hoặc do giáo hội Ca-Tô đưa ra.  Do đó, chúng ta có thể suy ra rằng, không có cái gì gọi là mạc khải ở trong Thánh Kinh, những chuyện trong Thánh Kinh hầu hết thuộc loại huyền thoại, bắt nguồn từ lịch sử và ước vọng của dân Do Thái cổ xưa, và những tín lý mà giáo hội Ca-Tô đưa ra bắt tín đồ phải tin chẳng qua chỉ là học thuật Ca-Tô nhằm mục đích nô lệ hóa đầu óc tín đồ cùng tạo quyền lực cho giới giáo sĩ.  Thật vậy,  niềm tin cốt tủy của Ki Tô Giáo về huyền thoại con người sa ngã (ăn trái cấm), bị Thượng đế phạt, cho nên cần đến sự cứu chuộc của Giê-su, người con trai duy nhất của Thiên Chúa (God’s only son) được phái xuống trần để hi sinh (sic) chết giả vờ trên cái giá hình chữ thập từ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật, chuộc tội cho nhân loại (Thiên Chúa toàn năng toàn trí không có cách nào khác hay sao?  TCN), nay đã trở thành chuyện khiến cho người có đầu óc bưng miệng cười, thuộc loại mê tín và vô nghĩa như Giám Mục John Shelby Spong đã nhận định ở trên: “..một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin.” (A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

    Nếu những huyền thoại về Chúa Con (Giê-su) nay đã không còn chỗ đứng trong giới hiểu biết thì vai trò của Chúa Cha (God) ra sao?  Trong cuốn Những Phê Bình về Thiên Chúa (Critiques of God), biên tập bởi Peter A. Angeles, trong đó có 16 tác giả phê bình về mọi lý luận thần học của Ki Tô Giáo, trang xiii, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây:

     Những niềm tin vào những đấng siêu nhiên đã biến khỏi nền văn hóa của chúng ta.  Bất cứ sự sùng tín đại cương nào về Thiên Chúa cũng đang trở thành mờ nhạt trong nền văn hóa của chúng ta.  Thiên Chúa đã mất đi trụ xứ trong không gian như là một nước trên Thiên đàng.  Ông ta cũng mất đi chỗ đứng trong vũ trụ như là đấng đã sáng tạo ra nó từ hư vô.  Không phải là Thiên Chúa bị đẩy ra một vùng xa lắc xa lơ.  Không phải vì ông ta trở thành một trừu tượng vô thân thể (phi Nam phi Nữ).  Mà vì chúng ta nhận thức ra rằng chẳng làm gì có Thiên Chúa để mà nói tới.

   (Beliefs in supernatural beings have vanished from our culture.  Any general serious belief in God is fading in our culture.  God has lost his spatial location as a monarch in heaven.  He has lost his temporal precedence to the universe as its Creator ex nihilo.  It is not God is being relegated to a remote region.  It is not that God has become a bodiless abstraction (a sexist It).  It is the realization that there is no God to which to relate.)

 

   Trên đây chỉ là vài quan niệm điển hình về tín ngưỡng Ki Tô Giáo trong thế giới Tây phương ngày nay.  Chúng ta còn biết, trong Ca-tô giáo Rô Ma, ngoài những niềm tin bắt nguồn từ Thánh Kinh mà giáo hội bắt buộc các tín đồ phải tin, các tín đồ còn bắt buộc phải tin những điều “giáo hội dạy rằng…”, những điều được đặt ra mà không hề có trong Thánh Kinh với mục đích tạo quyền lực trên đám tín đồ thấp kém.  Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope’s Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

    Tín đồ Ca-Tô phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Ca-Tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. Vì Truyền Thống Ca-Tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

   (A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)

 

   Tại sao giáo hội lại dạy tín đồ phải tin như vậy mà không được quyền thắc mắc?  Vì theo “lý luận” thần học của giáo hội thì: “Chúa Cha không do tạo sinh, Chúa Con không do tạo sinh, Thánh Ma (còn được gọi là Chúa Thánh Thần. TCN) không do tạo sinh.  Chúa Cha không thể hiểu được, Chúa Con không thể hiểu được, Thánh Ma không thể hiểu được.” (The Father is uncreated, The Son uncreated, The Holy Ghost uncreated.  The Father incomprehensible, The Son incomprehensible, The Holy Ghost incomprehensible).  Phê bình lời dạy trên của giáo hội, cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã châm biếm: “Và đó là tất cả lý lẽ mà chúng ta biết quá nhiều về Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Ma.” (And that is the reason we know so much about The Father, The Son, and The Holy Ghost) hàm ý tất cả những điều giáo hội dạy về Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Ma hoàn toàn mâu thuẫn với chính những khẳng định của giáo hội, và thực chất chỉ là những luận điệu lừa dối của giáo hội.  Bởi vì, nếu Chúa Ba Ngôi không thể hiểu được, thì bằng cách nào mà giáo hội dạy tín đồ là ý Chúa thế này, ý Chúa thế nọ?  Phải chăng chỉ có giới chăn chiên mới hiểu ý Chúa?  Làm sao mà mấy ông giám mục Việt Nam lại can ngăn tín đồ không được nói động đến mấy ông linh mục vô đạo đức, làm bậy, với luận điệu “Các con đừng có nói hành các cha mà mang tội với Chúa” hàm ý là Chúa không muốn cho tín đồ nói động đến các linh mục vì “cha cũng như Chúa”?  Nhưng ở Mỹ thì con chiên không những “nói hành các cha” mà còn đưa các “cha” ra tòa để cho các “cha” vào ngồi tù vì can tội cưỡng dâm trẻ phụ tế và nữ tín đồ.  Chắc chắn là họ không sợ cái luận điệu “mang tội với Chúa” của hàng giám mục Việt Nam lừa bịp đám con chiên ngu dốt.  Tại sao giáo hội Ca-Tô tại Việt Nam còn có những ông giám mục đe dọa con chiên bằng những luận điệu “ngu dân dễ trị” rất hoang đường như trên?

 

   Ngày nay, giới trí thức Tây phương đánh giá những điều “Giáo hội dạy rằng…” ra sao?  Giáo hội dạy tín đồ tin nhiều thứ lắm, nhưng điển hình là tin vào sự ứng nghiệm của những lễ tiết giáo hội bày đặt ra nhưng không thể giải thích được mà giáo hội gọi là “bí tích”, tín điều “Giáo hoàng bất khả ngộ” nghĩa là giáo hoàng không thể sai lầm khi tuyên bố về đạo đức và giáo lý, và quyền của giáo hoàng và các giới chức cao cấp trong giáo hội “tuyệt thông” hay là “Dứt phép thông công” tín đồ, nghĩa là không cho phép tín đồ hưởng các “bí tích” của giáo hội, một trong những “bí tích” này là được ăn…bánh thánh và  uống… rượu thánh, nghĩa là ăn thịt và uống máu Chúa Giê-su để hiệp thông với Chúa Giê-su.  Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, chương III, tôi đã luận về 7 “bí tích” của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Phần này cũng đã được đưa lên trang nhà Giao Điểm www.giaodiem.com .  Chúng ta hãy thử xét quyền “tuyệt thông” của giáo hội.

 

   Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, “tuyệt thông” hay “dứt phép thông công” là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi con nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay “Tòa Thánh”.  Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc.  Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của “tuyệt thông” như sau, trang 39-40:

 

   Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.

…Tuyệt thông,  trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng  đế .  Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô.  Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

   Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục.  Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận.  Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.

   (I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

…Excommunication had for centuries been authority’s way of playing God.  It was the inhuman and unchristian denial of man’s freedom of conscience.  But most of all it had been a deeply frigtened authority’s frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love.  Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity.  Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat.  They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman’s relationship with God, but incredulously they still exist.)

 

   Bàn về các “bí tích” trong Ki Tô Giáo, Tin Lành có 2, Ca-Tô có 7, trong cuốn Thoát Ly Khỏi Thiên Chúa: Lấy Lại Khả Năng Tìm Hiểu (Freedom From God: Restoring The Sense of Wonder, Almador Pub., 2001), Mục sư  Harry Willson viết, trang 55:

    “Trong đầu óc của rất nhiều người biết suy tư, lương thiện và có thiện chí, Ki Tô Giáo đã trở thành không còn thích hợp, vì nó đòi hỏi con người dự phần quá nhiều vào những điều vô nghĩa.” [có nghĩa là những bí tích]

   (Christianity has become irrelevant, in the minds of so many thoughtful persons of good will and honesty, because it requires so much participation in nonsense.)

 và đưa ra nhận định, trang 59:

 

   “Bất cứ khi nào, một người nào đó tự nhận mình là đại diện của Thiên Chúa trên trái đất, hay “đại diện của Chúa Ki Tô trên trái đất” (điều mà các giáo hoàng vẫn tự nhận. TCN), hay bất cứ điều nào như vậy,  là hắn ta đòi hỏi thế giới phải tin vào điều vô nghĩa.  Thật là kinh hoàng khi vẫn có nhiều triệu người tin như vậy.”

   (Whenever someone claims to be the representative of God on earth, or “the vicar of Christ on earth”, or any such thing, he is asking the world to believe in nonsense.  It is alarming how many millions still believe it.)

 

   Harry Willson viết cuốn sách trên để khuyến khích tín đồ hãy theo gương ông, cất cái gánh nặng Thiên Chúa ra khỏi vai họ (Get God off your back).  Ông coi đó là một sự giải phóng:

 

   Hãy nghĩ về hình ảnh Thượng đế đi vào một hố đen của thập niên 60 với “Thượng đế đã chết”.  Đừng kể đến phái bảo thủ Ki Tô vì trong đó không có sự suy tư.  Đây là một cuốn sách đi vào qua cái hố đen ấy và đi ra ngoài đầu kia – đến sự giải phóng.  Sự thách đố này là để cho những con người biết đọc và thích suy nghĩ, và còn có thể có khả năng thắc mắc, tìm hiểu.  Không khí trong lành đó thật là kỳ diệu.

   Các bạn cũng có thể được tự do.  Các bạn có thể bác bỏ cái quyền năng (của Thượng đế) đó, và gỡ bỏ những ngón tay đang bóp nghẹt yết hầu của các bạn. Để cho các bạn có thể thở!

   (Thinking about God went into a black hole in the sixties with “God is dead”.  Fundamentalism doesn’t count, because there’s no thinking there.  Here’s a book that goes all the way to that black hole and comes out the far end – into liberation.  This challenge is for persons who can read and like to think, and can still sense wonder.  The fresh air is wonderful.

   You, too, can be free! You can repudiate that authority, and remove those fingers at your throat.  You can breathe!)

 

   Sự thức tỉnh của Tây phương không chỉ thuần túy là vì những giá trị tín ngưỡng Tây phương nay đã sụp đổ mà còn vì một khía cạnh khác không kém phần quan trọng.  Đó là cái lịch sử tàn bạo của Ki Tô Giáo và vấn đề đạo đức trong giới lãnh đạo Ki Tô Giáo.  Ngày nay, các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đã khám phá ra rằng lịch sử và đạo đức Ki Tô Giáo còn cái mặt đen tối, và nếu đặt lên cán cân thì mặt này sẽ nặng trĩu trên cán cân.  Thật vậy, chính giáo hoàng John Paul II của Ca Tô Giáo Rô Ma đã đưa ra những lời thú nhận như sau:

 

Năm 1994: Trong một mật thư gửi cho các hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ý, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: “Làm sao mà chúng ta có thể tiếp tục yên lặng trước nhiều hình thức bạo tàn mà giáo hội đã phạm phải nhân danh đức tin – chiến tranh tôn giáo, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và những hình thức vi phạm nhân quyền khác?” (Chicago Tribune, June 5, 1995: In a 1994 confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press, Pope John Paul II asked: “How can one remain silent about the many forms of violence perpetrated in the name of faith – wars of religion, tribunals of the Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?”)

 

 Năm 1995:  Giáo hoàng John Paul II thúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hãy nắm lấy cơ hội “đặc biệt thuận lợi” của một thiên niên kỷ mới để ghi nhận “cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Ca-tô)” (Ibid.,: Pope John Paul II had urged the Roman Catholic Church to seize the “particularly propitious” occasion of the new millennium to recognize “the dark side of its history”).

  Năm 2000:  Tại thánh đường Phê-rô, Vatican, ngày 12 tháng 3, Giáo Hoàng cùng một số hồng y, tổng giám mục đã chính thức xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội Ca-tô Rô-ma đối với  nhân loại và xin được tha thứ.

    Cái mặt đen tối của lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-ma là như thế nào?  Đề tài này không thuộc nội dung bài viết về sách lược cải đạo Á Châu của Vatican.  Tuy nhiên, chúng ta cũng nên biết cái  mặt đen tối này một  cách đại cương qua những tác phẩm nghiên cứu sau đây:

  Năm 1988: Peter de Rosa, một linh mục dòng Tên (a Jesuit), giáo sư về Siêu Hình Học và Đạo Đức tại trường Dòng Westminster, khoa trưởng khoa Thần học tại đại học Corpus Christi ở Luân Đôn (Professor of Metaphysics and Ethics at Westminster Seminary and Dean of Theology at Corpus Christi College in London) xuất bản cuốn Những Đại Diện của Chúa Ki-Tô:  Cái Mặt Đen Tối Của Những Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) trong đó tác giả vạch trần sự đồi bại và những tội ác đã ngự trị trong nhiều triều chính giáo hoàng như đồi bại, ngụy tạo tài liệu, loạn dâm, giết người, theo đuổi chính sách diệt chủng v..v.. (corruption, document-forgery, sex scandal, murder, genocide).  Tác giả đã mở toang những cánh cửa kính màu (thường là mẫu mực trong các nhà thờ ở Tây phương, nhất là Thánh đường Phê-rô ở Vatican. TCN) và để lộ ra những giáo điều của Giáo hội thường là “…hình thành bởi những ham muốn đồi bại, độc tài và cuồng tín của những giáo hoàng (Peter de Rosa opens the stained glass window and reveals that the Church’s teachings were too often “..shaped by the whims of corrupt, despotic and fanatical popes”).  Cuốn sách đã được nhiều tín đồ Ca-tô đánh giá cao vì tính chất lương thiện và nghiêm túc  của nó (The book was appreciated for its honesty and seriousness by many Catholics).

 

  Năm 1995: Helen Ellerbe cho ra đời cuốn “Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo” (The Dark Side of Christian History).  Chúng ta có thể đọc những lời tóm tắt sau đây nơi trang bìa sau: “Trong khoảng thời gian gần 2000 năm, giáo hội Ki-Tô đã đàn áp và bạo hành nhiều triệu người trong toan tính kiểm soát và ngăn chận vấn đề tâm linh của con người.  Cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo phanh phui với  chi tiết tỉ mỉ những thảm họa, đau khổ và bất công mà giáo hội đã giáng lên nhân loại.  Tác phẩm vạch trần sự thật này là một đòi hỏi hấp dẫn và nồng nhiệt cho nhân phẩm và sự tự do trong vấn đề tâm linh” (Over a period of almost two millennia, the Christian Church has oppressed and brutalized millions of individuals in an attempt to control and contain spirituality.  The Dark Side of Christian History reveals in painstaking detail the tragedies, sorrows and injustices inflicted upon humanity by the Church.  This exposé is a compelling and passionate cry for human dignity and spiritual freedom).

 

 Năm 1999: Douglas Lockhart xuất bản tác phẩm Cái Mặt Đen Tối Của Thiên Chúa (The Dark Side of God) với lời giới thiệu như sau: “Giáo hội Ki-tô (Ca-tô) tự nhận là thừa hưởng  trực tiếp từ Giê-su quyền năng tinh thần như được viết trong Phúc Âm.  Nhưng thực ra có phải là một sự chuyển giao quyền lực một cách êm ả từ  Giê-su cho Phê-rô và từ Phê-rô cho Giáo hội hay không?  Hay đó chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, ngụy tạo, và lừa dối lâu dài đã che đậy bản chất thực sự của các biến cố.  Cuốn sách mới, có tác dụng làm cho chúng ta suy nghĩ, về nguồn gốc Ki Tô Giáo, đưa ra một họa đồ  về sự theo đuổi quyền lực không ngừng của Giáo hội , từ lúc đầu cho đến ngày nay.  Trong  sự phân tích hấp dẫn và thường gây ngỡ ngàng về niềm tin trong Ki Tô Giáo, cuốn sách này khảo sát từ đâu mà Giê-su, người xứ Nazareth, đã được thổi phồng lên quá mức hoàn toàn xa với thực tế thường ngày.”

   (The Christian Church claims to inherit its spiritual authority directly from Jesus through the teaching of the gospels.  But was there really a smooth transfer of power from Jesus to Peter and thence to the Church?  Or has a long-term campaign of propaganda, forgery and deception concealed the true nature of events?  This thought-provoking new book on the origins of Christianity charts the Church’s relentless pursuit of power, from its beginnings to the present day.  In a compelling and often disturbing analysis of Christian belief, it examines how Jesus the Nazarene was inflated into a figure of cosmic proportions far-removed from everyday reality…)

    Về vấn đề đạo đức tôn giáo thì chúng ta đã thấy đạo đức của người chủ chăn Ca-Tô, giáo hoàng John Paul II, là như thế nào.  Cánh tay phải của ông, Hồng Y Ratzinger, cầm đầu Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, đã lên tiếng phê bình Phật Giáo một cách vô giáo dục như sau “Buddhism is a sort of autoeroticism”.  Còn giới hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục thì ô hô, một số không nhỏ chỉ còn nước lấy mo che mặt vì những xì-căng-đan trên khắp thế giới:

 

   Sau đây là vài chuyện điển hình:

 

   Có lẽ chúng ta chưa quên rằng, mới tháng 3 năm ngoái, 2001, báo chí thế giới đã phanh phui ra những vụ “Cha cũng như Chúa” cưỡng hiếp một số “sơ” trong 27 quốc gia kể cả ở Mỹ, Ý, Ái Nhĩ Lan, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Ba Tây v..v.. và cưỡng bách họ vào các nhà thương Ca Tô để phá thai khi họ mang thai.  Tòa Thánh đã phải lên tiếng thú nhận có vấn đề ô nhục này nhưng vẫn lừa dối quần chúng với luận điệu: “Chuyện chỉ xảy ra trong một vùng địa dư mà thôi”.  Tờ Orange County Register ngày 31 tháng 3, 2001 có bài của Chris Hedoes thuộc New York Times trong đó có vài chi tiết như sau: Ở Malawi, trong một giáo xứ có tới 29 “sơ” bị các ông linh mục làm cho mang thai.  Khi bà sơ bề trên than phiền với ông Tổng Giám Mục thì bà ta và các “sơ” mang bầu bị đổi đi nơi khác.  (..In Malawi, where 29 sisters in a single congregation “became pregnant by priests in the diocese”.  When the sisters’ superior general complained to the archbishop, she and the sisters were replaced.); “..linh mục khuyên các “sơ” nên uống thuốc ngừa thai, nói dối họ là để đề phòng sự truyền nhiễm của bệnh AIDS” (..priest “recommending that sisters take a contraceptive, misleading them that the pill will prevent transmission of HIV).  Chúng ta cũng nên nhớ rằng, giáo hoàng John Paul II vẫn tuyệt đối cấm tín đồ không được dùng thuốc ngừa thai.  Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng Vatican có cổ phần trong một công ty chế tạo thuốc ngừa thai, phải chăng chỉ để riêng cho các “sơ” dùng theo sự khuyên bảo của linh mục bề trên.

    Và gần đây là vấn đề tai tiếng sôi nổi thế giới của giáo hội Ca-tô, một vấn đề đã kéo dài liên tục ngày này sang ngày khác suốt từ tháng 1, 2002 cho đến ngày nay: vấn đề loạn dâm của một số không nhỏ các vị “lãnh đạo tinh thần” con chiên, từ hồng y trở xuống, và những biện pháp che dấu của giáo hội. 

   Vấn đề loạn dâm trong giới hàng giáo phẩm Ca-tô đã nổ ra ở Boston vào đầu năm 2002, nhưng không phải đến bây giờ, 2002, mới nổ ra.  Nó đã bị phanh phui từ trên dưới 20 năm nay ở Mỹ, và nhiều cuốn sách viết về vấn đề này đã được xuất bản.  Chúng ta có thể kể tên vài cuốn điển hình: Betrayal of Trust: Clergy Abuse of Children của Annie Laurie Gaylor, 1988; Unholy Orders: Tragedy at Mount Cashel của Michael Harris, 1990; Lead Us Not To Temptation: Catholic Priests  and the Sexual Abuse of Children của Jason Berry, 1992; A Gospel of Shame: Children, Sexual Abuse, and the Catholic Church của Elinor Burkett & Frank Bruni, 1993; Sex, Priests, and Power: An Anatomy of a Crisis của A.W. Richard Sipe, 1995; và Pedophiles and Priests: Anatomy of a Contemporary Crisis của Philip Jenkins, 1996, ngoài những bài viết về vấn đề này trên các Nhật Báo hay Tuần Báo, và tin tức trên TV.

 

   Đây là một vấn đề ô nhục rất nghiêm trọng đã xảy ra trong cái gọi là “hội Thánh” và đã làm giảm uy tín của Giáo hội và niềm tin của tín đồ không ít, và nhất là, đã dìm Giê-su xuống bùn đen. Tại sao?  Vì trong nhiều trường hợp, các linh mục, giám mục đã mang Chúa ra làm bung xung để thỏa mãn dục tính của mình như dọa nạn nhân nếu không chiều ý “Cha cũng như Chúa” thì sẽ bị Chúa đầy hỏa ngục, hoặc “Chúa muốn như vậy để “Cha cũng như Chúa” biết được sự đời” v..v..  Giám mục ở Việt Nam cũng răn đe con chiên: “Đừng nói hành các cha mà mang tội với Chúa”.  Đó là thực chất Chúa Giê-su, một ông ngoáo ộp của hàng chăn chiên để hù doạ những kẻ vô não. 

   Vấn đề ô nhục này đã đưa đến việc hồng y Bernard Law ở Boston phải từ chức.  Hồng y Law và một số giám mục ở Boston còn bị truy tố ra tòa về tội trong nhiều năm đã bao che các linh mục loạn dâm theo như chính tài liệu trong hồ sơ của giáo hội mới bị phanh phui đã chứng tỏ.  Tờ Newsweek số ngày 6 tháng 1, 2003 thông tin:  giáo dân ngày nay đã tổ chức để cất lên tiếng nói của giáo dân, không còn chấp nhận kiểu mẫu cổ xưa: “đóng tiền, cầu nguyện, và tuân phục” của giáo hội nữa. (Voice of the faithful: they will no longer accept the old model of “pay, pray and obey” of the church.)

 

   Lẽ dĩ nhiên, giới tín đồ thấp kém thường rất ít đọc sách báo và những người trong hàng giáo phẩm của “hội Thánh” dù có biết cũng chẳng bao giờ nói ra cho nên đa số vẫn mù tịt và tin tưởng rằng “hội Thánh” của họ đích thực là một “hội Thánh”, và các hồng y, giám mục, linh mục, những người giữ vai trò của Chúa trên trần, tất nhiên phải là những người đạo đức nhất trần gian, đáng kính phục nhất, như ông Đỗ Mạnh Tri đã trơ trẽn ca tụng một cách vô liêm sỉ trong cuốn “2000 Năm Một Thuở….”, trang 176:

 

   “Nói gì thì nói, trên bình diện luân lý, trong lịch sử giáo hội chưa có thời nào giáo sĩ, tu sĩ và giáo phẩm đáng kính phục như ngày nay.”

 

   Về giới nữ tu sĩ Ca-Tô, các “sơ”, hình ảnh cũng không mấy sáng sủa vì một số xì-căng-đan xảy ra trên thế giới liên hệ đến một số cơ sở “từ thiện” và nữ tu viện đã vang dội trên thế giới.  Một số xì-căng-đan điển hình nói lên đạo đức tôn giáo của một số nữ tu Ca Tô sẽ được trình bày trong Phần II.

   Chúng ta thấy rằng, từ những công cuộc nghiên cứu mới nhất về Thánh Kinh, về nhân vật Giê-su, về Ki Tô Giáo nói chung, và nhất là từ những sự tiến bộ của khoa học, giới thức giả Tây phương đã thức tỉnh và nhận ra rằng, từ thế hệ này qua thế hệ khác, trải qua 2000 năm lịch sử, từ khi Giê-su sinh ra đời, con người Tây phương đã bị lùa vào một đức tin thuộc loại mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.  Hơn nữa, khoan kể đến cái mặt đen tối của Ki Tô Giáo nói chung, trước những cảnh chiến tranh triền miên, thiên tai, bệnh tật, cảnh khổ, cảnh chết đói ở những nước kém mở mang ở Phi Châu, bất cứ người nào còn có đầu óc suy tư  đều không còn có thể chấp nhận luận điệu thần học về một Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những thuộc tính của Thiên Chúa như : “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian…”, “Giê-su yêu tất cả mọi người”, “Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui tình thương, tin vui tự do…” v..v..  Chỉ có những đầu óc trong đó có một khuyết tật hay một điểm mù tôn giáo mới có thể còn tin như vậy.

   Tuy rằng thế lực xoay sở trong hậu trường (lobbying power) của Ki Tô Giáo vẫn còn rất mạnh nhưng chúng ta có thể nói, những xã hội Âu Mỹ ngày nay là những xã hội thế tục (secular societies).  Trong những xã hội này, Thượng đế (God) chỉ đóng một vai trò truyền thống bên ngoài, được những chính trị gia và những nhà lãnh đạo Ki Tô Giáo sử dụng buôn bán trên con đường truy cầu quyền lực thế tục cũng như tiền tài vật chất.  Diễn văn của các chính trị gia Mỹ ra tranh cử không thể thiếu câu kết “God Bless America”.  Những nhà truyền giáo trên TV đã kiếm được nhiều triệu Mỹ kim và sống một cuộc đời xa hoa, vô đạo đức tôn giáo, vì đây là một dịch vụ hái ra tiền  do sự khai thác trình độ thấp kém và lòng mê tín của con người.

   Tất nhiên, khi đã mất niềm tin, về nền tảng tín ngưỡng cũng như về thực chất hành trì của các giáo hội Ki Tô, con người Tây phương cần phải đi tìm một cái gì khác để bù đắp vào nhu cầu tâm linh của mình.  Tất cả những tôn giáo độc thần khác như Hồi Giáo, Do Thái Giáo, bản chất đều như nhau, không thể thỏa mãn nhu cầu tâm linh thích hợp với thời đại này của người Tây phương.  Do đó, Tây phương đã phải đi tìm sự uyên thâm về tư tưởng ở Đông phương.  Đông phương có Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, và Ấn Độ Giáo.  Ấn Độ Giáo thờ nhiều thần, không thích hợp với người Tây phương.  Khổng giáo là những triết lý về xã hội và có những điều nay không còn hợp thời.  Lão giáo thì thoát tục, xa lìa trần thế.  Chỉ còn có Phật Giáo, vừa là một tôn giáo nhân chủ và nhân bản, vừa là một hệ thống triết lý thực dụng chẳng bao giờ lỗi thời, vừa có tinh thần khoa học, cho nên có thể nói là thích hợp với con người Tây phương nhất.  Một cuốn sách xuất bản mới đây nhất của Vicky MacKenzies đã chứng minh sự kiện này.  Cuốn sách có tên là Tại Sao Lại Là Phật Giáo? Người Tây Phương Đi Tìm Kiếm Sự Uyên Thâm Của Trí Tuệ  (Why Buddhism?   Westerners In Search Of  Wisdom), nxb Thonsons, Anh quốc, và đề năm xuất bản là 2003.

 

Sự phát triển của Phật Giáo trong thế giới Tây phương có nhiều nguyên nhân, nhưng tất cả có thể thu về một mối.  Đó là: nhân loại đã nằm trong một quá trình tiến hóa liên tục, một quá trình thiên nhiên trong vũ trụ, không một thế lực nào có thể ngăn chận được.  Sự tiến hóa về mọi mặt của con người, nhất là về mặt trí tuệ, tất nhiên đưa đến sự thoái hóa của những quan niệm, lý thuyết và cả những niềm tin tôn giáo đã lỗi thời trong xã hội loài người.  Do đó, chúng ta có thể nói rằng, ở Âu Mỹ, sự phát triển của Phật Giáo, một tôn giáo Đông phương đã ra đời trước tôn giáo Tây phương hơn 500 năm, thì đi song song với sự suy thoái của tôn giáo Tây phương.  Chúng ta nên hiểu rằng, sự suy thoái của tôn giáo Tây phương tuyệt đối không phải vì sự “xâm lấn” (sic) của Phật Giáo để cướp đi tín đồ của các tôn giáo Tây phương, vì lịch sử Phật Giáo trải dài hơn 2500 năm nay đã chứng tỏ rằng, Phật Giáo chưa bao giờ làm đổ một giọt máu hay cưỡng bách bất cứ ai trong quá trình truyền đạo.  Sự suy thoái của tôn giáo Tây phương là điều tất nhiên phải xảy ra khi mà người Tây phương, trước những bằng chứng bất khả phủ bác trong khoa học về nguồn gốc vũ trụ và loài người (thuyết Big Bang và thuyết Tiến Hóa), đã thức tỉnh, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết, để nhận ra sự thực về tôn giáo truyền thống của mình, và cùng lúc nhận ra được chân giá trị của Phật Giáo.  Đây là một điểm rất đặc biệt mà chúng ta cần ghi nhận, vì nếu Phật Giáo không có chân giá trị thì không thể nào đi vào thế giới Tây phương, nơi đây sự tiến bộ trí thức đã tạo nên truyền thống đặt nặng tinh thần khoa học, thực dụng, lôgic, và quyền được thắc mắc, nghi ngờ và chất vấn, một truyền thống không xa lạ gì với Phật Giáo. 

   Nhưng đây cũng là một mối lo chính của Ki Tô Giáo.  Cũng vì vậy mà Ca-Tô giáo cũng như Tin Lành đều tung ra sách lược phá ngầm Phật Giáo bằng những thủ đoạn vô đạo đức tôn giáo, thiếu lương thiện trí thức v…v… như chúng ta sẽ bàn đến trong phần sau.

CÔNG GIÁO, TIN LÀNH VÀ SÁCH LƯỢC CẢI ĐẠO Á CHÂU – Trần Chung Ngọc

CÔNG GIÁO, TIN LÀNH VÀ SÁCH LƯỢC

CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

Trần Chung Ngọc

 

MỤC LỤC

 PHẦN  MỘT:  VÀI NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

 ·     NHẬN ĐỊNH VỀ TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN PAUL II VÀ BẢN CHẤT NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO CA-TÔ VÀ TIN LÀNH

  • ·     NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG ĐƯA ĐẾN SỰ SUY THOÁI CỦA KI TÔ GIÁO
  • ·     NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“ (ECCLESIA IN ASIA) CỦA GH JOHN PAUL II

 PHẦN  HAI:  THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á & NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

 VÀI LỜI KẾT

 

 


 

 

 

PHẦN  MỘT

 VÀI NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

 

 1.  NHẬN ĐỊNH VỀ TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN PAUL II VÀ BẢN CHẤT NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO CA-TÔ VÀ TIN LÀNH

ĐÂY LÀ MỘT CON NGƯỜI (JONH PAUL II) HOÀN TOÀN ĐÁNG KHINH BỈ VÀ LỊCH SỬ SẼ PHÁN XÉT ÔNG TA NHƯ VẬY.

   (This is a thoroughly despicable man and history will judge him as that.- DR. MADALYN O’HAIR)

    TRONG KHI THAM GIA MỘT CUỘC HỌP ĐA TÔN GIÁO, GIÁO HOÀNG (JPII) NÓI ĐẾN ĐỐI THOẠI, SỰ HIỂU BIẾT, VÀ SỰ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO.  NGÀY HÔM SAU, ÔNG TA NÓI NGƯỢC TRỞ LẠI, NHẤN MẠNH KI TÔ GIÁO LÀ TÔN GIÁO CHÂN THẬT DUY NHẤT, VÀ KÊU GỌI TÍN ĐỒ ĐI CẢI ĐẠO Á CHÂU.  ĐÂY LÀ THÁI ĐỘ ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ LỪA DỐI CỐ Ý TỆ MẠT NHẤT.

    (While attending an inter-faith meeting, the Pope talked about dialogue, understanding, and solidarity between religions. The next day he reverted back to his insistence on Christianity  as the only true religion, and gave a call to convert Asia. This is hypocrisy and duplicity at its worst. – MAC KHER (WWW.NYCNY.COM)

 

     Theo bản tin BBC ngày 6 tháng 11, 1999, trong cuộc viếng thăm Ấn Độ, giáo hoàng John Paul II đã kêu gọi các Chính Quyền Á Châu hãy bảo đảm tự do tôn giáo (Pope John Paul II has called on Asian Governments to guarantee religious freedom).  Theo giáo hoàng John Paul II thì cái thứ “Tự do tôn giáo” mà ông ta hiểu và đòi hỏi là “tự do cải đạo theo Ca-tô Giáo Rô-ma” chứ không thể ngược lại, hay nói cách khác, hãy để cho những giám mục, linh mục trong đạo quân thứ 5 của ông tại các quốc gia Á Châu, hoặc những giám mục, linh mục được ông phái tới, được tự do tuyên truyền cải đạo qua những thủ đoạn phi tôn giáo trong những quốc gia này, chứ không ai có quyền cướp đi tín đồ của ông.  Tại sao?  Vì John Paul II cho rằng tất cả mọi người trên thế gian đều cần đến cái ơn “cứu rỗi” của một người Do Thái có một tiểu sử bất minh, đã bị đóng đinh trên một cái giá gỗ hình chữ thập, chết và táng xác cách đây gần 2000 năm, mà một số người Do Thái tin là vị cứu tinh của dân tộc họ, và sau này nền thần học Ki Tô Giáo đã đôn lên làm Chúa của nhân loại.  Giáo hoàng John Paul II cũng cho rằng chỉ có Ca Tô Giáo Rô-ma là có thẩm quyền mang sự “cứu rỗi” tưởng tượng đó cho nhân loại, một thẩm quyền tự ban, và kéo mọi người vào đức tin Ca-Tô với bất cứ thủ đoạn nào là một nhiệm vụ thiêng liêng của tín đồ Ca-Tô giáo, vì đó là làm theo ý Chúa, thực ra là ý của giáo hội, vì  có ai biết được ý Chúa ra sao đâu.

 

   Chúng ta chắc chưa ai quên, vào năm 1996, trước sự kiện mỗi ngày tại Nam Mỹ và Phi Châu có tới 8000 tín đồ Ca-Tô Giáo Rô-Ma bỏ đạo để theo Tin Lành, giáo hoàng John Paul II đã mất bình tĩnh, và để lộ đạo đức tôn giáo chân thật của người chủ chăn Ca-Tô, người mà các tín đồ Ca-Tô vẫn thường gọi là “đức thánh cha” (Holy Father), “đại diện của Chúa Ki Tô trên trần” (Vicar of Christ), khi ông gọi những nhà truyền giáo Tin Lành ở những nơi đây là “những con chó sói đói mồi..gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng của chúng ta.” (Newsweek, Feb. 12, 1996:  John Paul II denounces them (the Protestant missionaries)  as   ravenous  wolves…causing  discord  and division in our communities.). 

    Nhưng chỉ vài năm sau, như tự tát vào chính mặt mình, ông ta đã thúc dục những giám mục của ông ta phải tăng gia nỗ lực đi cải đạo các tín đồ tôn giáo khác ở Á Châu. (BBC, Ibid.: The Pope called on the bishops to step up evangelisation (in Asia)).

   Chúng ta hãy đặt một câu hỏi: bản chất của những giám mục này có khác chi những nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu mà ông ta đã gọi là “những con chó sói đói mồi gây bất hòa và chia rẽ”?  Nếu những nhà truyền giáo Tin Lành đi cải đạo các tín đồ Ca-Tô, theo giáo hoàng John Paul II, là những con “Chó sói (Tin Lành) đói mồi”, thì những nhà truyền giáo Ca-Tô hay Tin Lành ở Á Châu hay đi đến Á Châu để cải đạo dân Á Châu, “gây bất hòa và chia rẽ” trong những cộng đồng phi-KiTô là gì?  Có lẽ giáo hoàng không hề nghĩ đến câu hỏi này mà người ngoại đạo có thể đặt ra.

 

   Đối với người phi Ki-Tô thì  những thừa sai Ca Tô và Tin Lành hoàn toàn không có gì khác biệt, vì họ có cùng một bản chất và cùng một mục đích: đi cướp tín đồ, gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng phi Ki-Tô.  Kinh nghiệm Việt Nam đã chứng tỏ quá trình truyền đạo Ca Tô vào đất nước thân yêu của chúng ta, vốn vẫn sống trong tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, hòa hợp và thuần nhất, đã gây ra những cảnh bất hòa, chia rẽ trong gia đình những kẻ tân tòng, và gây ra cảnh chia rẽ, Lương Giáo tàn sát lẫn nhau trong xã hội Việt Nam.  Và gần đây, chiến lược truyền đạo Tin Lành trong một vài miền cao nguyên Việt Nam cũng đã gây ra những cảnh chia rẽ, xáo trộn trong xã hội. 

 

    Theo sự hiểu biết của tôi về những nhà truyền giáo Ki Tô, tôi phân họ ra làm hai loại người. 

 

 a).  Loại người đi truyền giáo thứ nhất là những người cuồng tín, đần độn (fanatic, stupid) theo nghĩa trong thời đại tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay mà vẫn còn tin vào những điều huyễn hoặc vô căn cứ, không thể kiểm chứng được ở trong Thánh Kinh Ki Tô giáo, coi chúng đích thực là những lời mặc khải của một vị Thần của người Do Thái khi xưa, không thể sai lầm, và do đó, không chấp nhận, loại bỏ bất cứ sự kiện nào trái ngược với Thánh Kinh.  Phần lớn những nhà truyền giáo thuộc loại này là Tin Lành. Họ được nhồi sọ để tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, được huấn luyện kỹ để mang những đoạn vụn vặt trong Thánh Kinh ra giảng một cách méo mó, lệch lạc, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) trong khi kiến thức tổng quát của họ về Thánh Kinh, về lịch sử Ki Tô Giáo, và về những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay thường rất hạn hẹp.  Ngay cả những ngôi sao Tin Lành trên TV như Jerry Falwell, Pat Robertson, và Franklin Graham, con của Billy Graham cũng thuộc loại cuồng tín, ngu đần tôn giáo. [Ngu đần tôn giáo ở đây chỉ có nghĩa là, về vấn đề tôn giáo, vẫn còn bám vào những tín lý đã lỗi thời, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của con người về vấn đề tôn giáo, và nhắm mắt bác bỏ mọi sự kiện trái nghịch với niềm tin của mình.  Mục sư  Tin Lành Ernie Bringas gọi những đầu óc ngu đần này là những đầu óc có một khuyết tật (an astrolabe mind), một loại đầu óc trong đó có một khoảng cách kiến thức về tôn giáo, và khoảng cách này đã đưa những người có đầu óc như vậy về trình độ của thế kỷ 17.]  Điều này chúng ta có thể thấy rõ qua sự kiện sau đây.  Sau vụ hai máy bay lao vào Trung Tâm Giao Thương Quốc Tế (World Trade Center) ngày 11 tháng 9, 2001, những nhà truyền giáo trên đã lên tiếng tấn công Hồi Giáo là một ngụy tôn giáo (false religion) và tuyên bố rằng Allah là một “ngụy Thiên Chúa” (false God).  Sự ngu đần của những nhà truyền giáo nổi danh trên là ở chỗ họ không biết rằng Allah chính là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.  Tiếng Ả Rập Allah là Thiên Chúa cũng như tiếng Pháp Dieu là Thiên Chúa, tiếng Đức Gott là Thiên Chúa.  Theo Kinh Qur’an và giáo lý của Muhammad về sau thì Allah chính là Thiên Chúa mà người Do Thái và các tín đồ Ki Tô, Hồi Giáo cùng thờ phụng, và Thiên Chúa chung của ba tôn giáo Do Thái, Ki Tô, Hồi Giáo đã nói với nhân loại qua nhiều nhà tiên tri và ngôn sứ như Noah, Abraham, Moses, David, John the Baptist, Jesus, Muhammad.  Tên của Jesus được nhắc đến 93 lần trong Kinh Qur’an của Hồi Giáo. 

 

     Sự cuồng tín và ngu đần tôn giáo của những nhà truyền giáo Tin Lành Việt Nam cũng có thể thấy rõ khi chúng ta vào trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt Nam ở Mỹ và đọc những bài viết trong đó, những bài truyền đạo và giảng đạo rất ấu trĩ, phản ánh những trình độ hiểu biết về tôn giáo rất thấp kém và đi ngược thời gian, với hi vọng viển vông là có thể thuyết phục được con người ngày nay trở thành những “tôi tớ hèn mọn” siêng năng hầu việc một người Do Thái mà họ gọi là Chúa nhưng thực chất chỉ là một anh thợ mộc Do Thái tầm thường như nhiều chuyên gia về Ki Tô Giáo đã chứng minh, dựa trên những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh về cổ sử [Xin đọc cuốn Chúa Giê-su Là Ai ?  Giảng Dạy Những Gì? của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, 2002]. 

 

   Những nhà truyền giáo Tin Lành hầu như không biết gì về các tôn giáo và truyền thống văn hóa địa phương, những nơi mà họ được phép đến truyền đạo, hoặc có biết chăng chỉ là những điều xuyên tạc trong chương trình đào tạo họ.  Họ tin rằng cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo có thể giải đáp được mọi vấn đề, và coi tất cả những gì phi Ki-Tô hay những tôn giáo phi Ki-Tô đều thấp kém, là sản phẩm của Satan.  Tiêu đề chính của những người truyền đạo Tin Lành này là hãy tin thì sẽ được tất cả, hay đức tin biện minh cho tất cả (justification by faith). Cho nên, đối với Tin Lành, nếu thực tế sai với Thánh Kinh thì phải loại bỏ thực tế, nếu khoa học mà phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học tốt (Good science), nếu khoa học mà không phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học xấu (Bad science).   Bởi vậy, cho tới ngày nay mà những tín đồ tân tòng Tin Lành như “Tiến sĩ” Lê Anh Huy ở Mỹ, Khuất Minh ở Việt Nam v..v.. vẫn còn cố gắng bác bỏ thuyết Tiến Hóa bằng những lý luận rất ấu trĩ trong khi từ Giáo Hoàng Ca Tô cho tới các nhà thần học trong Ki Tô Giáo đều đã phải chấp nhận thuyết Tiến Hóa trước những bằng chứng tràn ngập trong nhiều bộ môn khoa học.  

   Tin Lành cũng tuyệt đối tin rằng con người sinh ra trong tội lỗi (born in sin) và do bản chất đó, con người không thể làm gì tốt (by nature, incapable of doing good),  phải bị đày đọa vĩnh viễn (To be a sinner is to be destined to eternal damnation), và cách duy nhất để được cứu rỗi là phải tin vào quyền năng của Giê-su, tuy rằng ngày nay, trước sự tiến bộ của nhân loại, tin vào quyền năng “cứu rỗi” của Giê-su đã trở thành một điều mê tín vô nghĩa, chỉ còn sót lại trong đám tín đồ thấp kém.

 

   Thật vậy, nhân loại không sinh ra trong tội lỗi, không cần đến sự “cứu rỗi” của Giê-su, như chính giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã khẳng định trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die) như sau:

  “Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong phép rửa.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, sẽ mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không được rửa.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin.”

  (We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)

 

   Do đó những tín đồ Tin Lành thường là những người, về vấn đề tôn giáo, không bao giờ cần dùng đến lý trí, đến khả năng phán đoán của con người, hay nói cách khác là tự chấp nhận từ bỏ thân phận làm người để trở thành những tôi tớ hèn mọn của Chúa, siêng năng hầu việc Chúa, như họ thường tự nhận, với một ảo vọng là sẽ được Chúa “cứu rỗi” (sic), lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, cho họ sống một cuộc sống đời đời bên Chúa trên một thiên đường (mù). 

   Bản chất của Tin Lành không khác gì Ca Tô vì cả hai đều cùng có một quan điểm về nhân loại học (anthropology).  Các tín đồ của hai tôn giáo này khác nhau ở một điểm:  Tín đồ Ca Tô là nô lệ của chế độ giáo hoàng, còn tín đồ Tin Lành là nô lệ của cái mà họ gọi là Thánh Kinh.  Mục sư Tin Lành Ruben Alves đã giải thích điều này trong cuốn Protestantism and Repression, trang 43, như sau: 

 

   “Điểm quan trọng nhất là, về phương diện lịch sử và thần học, Tin Lành – đặc biệt là khi bắt đầu sự cải cách giáo hội của Luther – trước hết chỉ là sự sửa đổi của ý hệ Ca Tô, trong đó sự trình bày những vấn nạn của Ca Tô Giáo được giữ nguyên, nhưng được diễn giải khác đi.”

   (The point of primary importance is that, historically and theologically regarded, Protestantism – especially at the outset in Luther’s reform of the Church – was, in the first place, simply a modification of Catholicism, in which the Catholic formulation of the problems was retained, while a different answer was given to them)

 

      b).  Loại người đi truyền giáo thứ hai là loại bất lương trí thức (intellectually dishonest), nghĩa là những người đã biết rõ sự thật về những huyền thoại trong Ki Tô Giáo, về những ngụy tạo thần học trong giáo hội, nhưng vì những quyền lợi vật chất và tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, và vì nằm trong những mưu đồ thế tục, chính trị đế quốc, nên vẫn tiếp tục đưa ra thủ đoạn giữ độc quyền diễn giải Thánh Kinh một cách lắt léo như sẽ được chứng minh qua sự phân tích một đoạn trong bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” của giáo hoàng John Paul II trong mục 3, hoặc tiếp tục đưa ra những luận điệu thần học lừa dối đã lỗi thời, thí dụ như “Chúa Giê-su sinh ra từ một trinh nữ”, “Giê-su chịu chết để chuộc cái tội tổ tông cho nhân loại”, “Giê-su sống lại và bay lên trời ngồi bên phải Chúa Cha”, “Giê-su có khả năng cứu rỗi những người tin ông, nghĩa là đến ngày phán xét, sẽ làm cho xác chết sống lại nhập với linh hồn và được sống đời đời bên ông ở trên thiên đường” v..v.. những tín lý, tín điều đã bị giới trí thức trên thế giới, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, dứt khoát bác bỏ vì chúng thuộc loại huyền thoại của người Do Thái cách đây đã trên dưới 2000 năm, để mê hoặc những đầu óc thấp kém, cả tin, đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn vật chất v..v.. ở trong những quốc gia kém phát triển về kinh tế, để lùa họ vào trong tín ngưỡng Ki-Tô, tín ngưỡng đang suy thoái ở trong các quốc gia văn minh tiến bộ.  Phần lớn những nhà truyền giáo thuộc loại này là Ca-Tô.  Vài sự kiện sau đây sẽ chứng tỏ nhận định trên không phải là vô căn cứ.

 b.1.  Năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học.  Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến.  Ông ta nói với các khoa học gia là cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế. (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God).  Giáo hoàng, và lẽ dĩ nhiên giáo hội, đã thừa nhận là vũ trụ này sinh ra từ một sự nổ lớn, theo như thuyết “Big Bang” trong khoa học. Điều này đã dứt khoát chôn vùi thuyết sáng tạo trong thánh kinh, dù giáo hoàng đã vớt vát bằng một câu hoàn toàn vô nghĩa: “Big Bang là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế”.  Vô nghĩa vì giáo hoàng không hề có một chút kiến thức nào về khoa học nên đã nói bừa là ngay lúc Big Bang là “lúc sáng tạo” của Thượng đế.  Vì Big Bang chẳng qua chỉ là sự nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng nóng, vô cùng đặc, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay. Nóng bao nhiêu, và đặc như thế nào?  Các khoa học gia đã tính ra được là sau khi nổ khoảng một phần ngàn giây đồng hồ (1/1000 sec) thì nhiệt độ của Big Bang vào khoảng “một ngàn tỷ độ” (1012 độ) và tỉ trọng của khối cầu lửa khi đó vào khoảng 100,000 tỷ gram (1014 g) cho 1 phân khối.  Để có một khái niệm về nhiệt độ và tỉ trọng của Big Bang chúng ta nên biết là nhiệt độ của mặt trời chỉ vào khoảng 6,000 độ, và tỉ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối.  Với nhiệt độ của Big Bang như vậy thì Thượng đế nào tạo ra Big Bang cũng phải tự mình bị thiêu hủy ngay tức khắc, còn đâu nữa để mà sau này đi dạo trong vườn địa đàng nói chuyện với Adam, hay hiện ra trước ông tổ Do Thái Abraham của những người đi đạo Việt Nam. Giáo hoàng nói vớt vát như vậy là chỉ để lừa dối đám con chiên thấp kém đầu óc vốn mù mịt, chứ còn người ngoài, ai nghe câu trên cũng phải bưng miệng cười. Chúng ta cũng nên biết, năm 1981, thuyết Big Bang chưa được hoàn chỉnh, mà tòa thánh đã công nhận thuyết Big Bang rồi.  Phải đến năm 1992, khi phi thuyền COBE (COsmic Bacground Explorer) dò ra được những vân (ripples) trong bức xạ nền (background radiation) của vũ trụ, thuyết Big Bang mới được công nhận là hoàn chỉnh và rốt ráo.  Khi công nhận thuyết Big Bang thì Tòa Thánh cũng đã công nhận là thuyết Sáng Tạo trong Cựu Ước chỉ là một huyền thoại cổ xưa của dân Do Thái, không có một giá trị nào đối với những dân tộc khác.

 

b.2.  Năm 1992, giáo hoàng đã công khai nhìn nhận là giáo hội đã sai lầm trong vụ án Galileo Galilei.  359 năm về trước, Giáo hội bắt Galilei phải sửa lại kết quả nghiên cứu khoa học của ông ta (rằng trái đất quay xung quanh mặt trời) cho đúng với những lời “mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh” (nghĩa là trái đất đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đất), rồi giam ông ta tại gia cho đến khi chết.  Sự nhìn nhận sai lầm của Tòa Thánh trong vụ Galilei cho thấy thánh kinh sai và kéo theo vấn đề: nếu thánh kinh đã sai về vũ trụ học thì có gì bảo đảm là thánh kinh không sai về nhiều điều khác nữa.  Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu thánh kinh đều đồng thuận ở điểm là thánh kinh có rất nhiều sai lầm cả về thần học lẫn khoa học.  Do đó, thánh kinh không phải là những lời “mạc khải” không thể sai lầm của một Thượng đế toàn năng toàn trí, như lời giáo hội vẫn thường dạy cho những tín đồ bảo sao nghe vậy.  Thực tế cũng cho thấy rằng, trí tuệ của con người ngày nay đã vượt xa trí tuệ của bậc “toàn năng, toàn trí” trong Thánh Kinh Ca-Tô rất nhiều.  Ấy thế mà người ta vẫn đi thờ phụng một “đấng” mà trí tuệ kém cỏi hơn người đời rất nhiều.  Thật là kỳ lạ.

 

b.3.  Năm 1996, giáo hoàng  đã đặt chắc thẩm quyền giáo lý của Ca-Tô giáo sau quan điểm là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”.  Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).  Chấp nhận thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.

 

b.4.  Tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).  Như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ phần giáo lý quan trọng nhất của giáo hội Ca-Tô: Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 76, Giáo hoàng đã trích dẫn một câu trong Tân ước, John 3: 16, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”,  làm luận điểm trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần phải cứu rỗi?” .  Không có thiên đường trên các tầng mây, không có hỏa ngục nơi lòng đất, vậy ý nghĩa của cuộc sống đời đời bên cạnh Chúa, và bị luận phạt, đầy đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục, đã trở thành những điều thậm vô nghĩa, thuộc loại mê tín hoang đường.

    Tôi tin rằng tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô không hề biết đến những thay đổi trong nội bộ giáo hội về căn bản tín ngưỡng Ca-Tô mà giáo hoàng đã thú nhận như trên vì họ vẫn bị giam chặt trong sách lược của giáo hội là duy trì và khai thác tối đa sự mê tín và giữ cho tín đồ “càng biết ít càng tốt”.  Như vậy có phải họ thật là tội nghiệp và đáng thương không?

    Điều đáng buồn là trong khi phần lớn thế giới đã biết đến những lời thú nhận của Giáo hoàng John Paul II như trên, những lời thú nhận hàm ý nền thần học Ca-Tô Giáo tạo thành căn bản tín ngưỡng Ca-Tô đã không còn một giá trị thực sự nào trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, thì các tín đồ Ca-Tô vẫn còn sống trong bóng tối của sự ngu dốt tôn giáo, theo nghĩa không được biết đến những sự thật ngay chính trong giáo hội của mình, khoan kể đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại về vấn đề tôn giáo.

  Và điều đáng khinh là một mặt giáo hội vẫn cố gắng ngăn chận sự phổ biến những diễn biến như trên trong quần chúng giáo dân, một mặt vẫn đưa ra những tín lý đã lỗi thời mà chính giáo hội đã công khai bác bỏ để bắt tín đồ phải tin, và nhất là phải tin vào vai trò trung gian tự phong của giáo hội, định chế duy nhất có thể đem lại sự “cứu rỗi” cho giáo dân, và ngày nay lại còn toan tính mang những điều mê tín đã lỗi thời, ngụy trang sau mỹ danh “Thần học theo cung cách Châu Á” để mê hoặc người dân Á Châu, nhằm cải đạo họ.  Tôi cho như vậy là không được lương thiện, vì giáo hội vẫn đưa ra những giáo lý mà chính giáo hội không còn tin để lừa dối và mê hoặc đầu óc tín đồ.  Để làm gì, nếu không phải là để duy trì những quyền lợi thế tục?  Và những thuộc hạ của giáo hoàng, giới giám mục và linh mục, tuân theo sách lược đi cải đạo Á Châu trong khi đã biết rõ là những chuyện “chuộc tội” hay “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những huyền thoại của dân Do Thái cổ xưa, phải chăng bản chất chỉ là những nô lệ thiếu lương thiện trí thức của Vatican?

    Sự thiếu lương thiện của tòa thánh thực ra cũng chẳng có gì là mới lạ mà có thể coi như là truyền thống của Vatican.  Trong cuốn Tội Lỗi Của Các Giáo Hoàng: Cấu Trúc Của Sự Lừa Dối (Papal Sin: Structures of Deceit) sử gia Ca Tô Garry Wills đã dùng tới 230 trang qua 15 chương để viết về hai đề tài: Bất Lương Trong Sự Bóp Méo  Lịch Sử (Historical Dishonesty) và Bất Lương Trong Vấn Đề Truyền Bá Giáo Lý (Doctrinal Dishonesty).

     Lẽ dĩ nhiên, Ca-Tô và Tin Lành đều có những nhà truyền giáo thuộc cả hai loại trên.  Điều này sẽ được chứng minh trong phần phân tích về sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo nói chung ở Á Châu.

   Trong cuộc viếng thăm Ấn Độ vào tháng 11 năm 1999, giáo hoàng John Paul II cũng còn ban hành một văn kiện gọi là “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia), từ đây về sau được gọi ngắn là “Tông Huấn..”.  Nội dung bản “Tông Huấn” này là chỉ đạo đường hướng cho  một sách lược xâm lăng văn hóa, tôn giáo, và truyền thống Á Châu, đã được hoạch định từ Công Đồng Vatican II, 1962-65, và nhất là dựa trên một niềm hoang tưởng của chính giáo hoàng.  Ông phát biểu: “Dân Á Châu cần tới Giê-su Ki Tô và Tin Mừng của người.  Á Châu đang khát nước, một loại nước để sống mà chỉ có Giê-su mới có thể cho họ” (The people of Asia need Jesus Christ and his gospel.  Asia is thirsting for the living water that Jesus alone can give.).

   Đây chính là một điều hoang tưởng vì ở trong thế giới  Âu Mỹ, cái nôi của Ki Tô Giáo nói chung, cái mà Ki Tô Giáo gọi là Tin Mừng của Giê-su đã đang rơi vào những cặp tai không còn muốn nghe, và các tôn giáo Á Châu, nhất là Phật Giáo, càng ngày càng được các dân tộc Âu Mỹ biết đến vì đã nhận ra chân giá trị của Phật Giáo, những giá trị nhân bản vượt xa giá trị thần học của Ki Tô Giáo.  Vậy Á Châu đâu có cần đến cái đồ phế thải của Âu Mỹ?  Phế thải vì những lời thú nhận của giáo hoàng về nguồn gốc vũ trụ, về thuyết tiến hóa, về thiên đường và hỏa ngục v..v.. ở trên đã đương nhiên bác bỏ thuyết sáng tạo, huyền thoại con người sa ngã nên cần đến sự chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su, cuộc sống đời đời trên thiên đường v..v..  Vậy thì Á Châu cần đến Giê-su để làm gì, và Tin Mừng của Giê-su là tin mừng như thế nào?  Tin mừng đối với ai?  Chắc chắn không phải là đối với những người như David Voas, giáo sư đại học, tác giả cuốn sách nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước (The Bad News Bible: The New Testament).  Phải chăng cái mà giáo hoàng cho là tin mừng chẳng qua chỉ là những luận điệu lừa dối và hứa hẹn không tưởng mà nền thần học của giáo hội đưa ra để khuyến dụ đám người đầu óc thấp kém? 

 

   Trong một bài diễn văn tại Maribor, Slovenia, ngày 19 tháng 5 năm 1996, giáo hoàng John Paul II đã kêu gọi các quốc gia phải bảo tồn nền văn hóa dân tộc, nguyên văn như sau: “Các quốc gia phải gìn giữ nền văn hóa của họ như là một biểu thị của phẩm cách quốc gia” (Countries must preserve their culture as an expression of national dignity).  Nhưng tới năm 1999 ông ta lại thúc dục thuộc hạ đủ các cấp của ông phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu, một hình thức xâm lăng văn hóa, vì nền văn hóa nhân bản, định cư, hòa bình của Á Châu hoàn toàn đối ngược với nền văn hóa qui thần, hiếu chiến và khát máu của Ki Tô Giáo như  lịch sử thế giới đã chứng minh.  Ở đây, có ai mà không nhận ra bộ mặt đạo đức giả của vị chủ chăn Ca Tô?

    Để biện minh cho sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của mình, Giáo hoàng còn nói: “Cải đạo là một nhân quyền” (The Pope said that religious conversion is a human right).  Vậy tại sao ông lại phỉ báng những nhà truyền đạo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu là “những con chó sói đói mồi”?  Vậy nhân quyền, theo quan niệm của ông là như thế nào?  Con người chỉ có quyền cải đạo vào Ca Tô Giáo Rô Ma chứ không có quyền cải đạo vào những tôn giáo khác?  Nhưng thực ra ông ta đã nhập nhằng quyền tự do cải đạo của con người với những thủ đoạn bất chính mà những nhà truyền giáo Ki Tô dùng để đi cải đạo tín đồ của những đạo khác.  Hai điều này hoàn toàn khác nhau.  Đúng vậy, con người, khi tìm hiểu về tôn giáo, muốn tin theo đạo nào thì đó là một nhân quyền.  Nhưng sách lược của một tổ chức quốc tế, dù là một tổ chức tôn giáo như Ca-Tô hay Tin Lành, dùng những thủ đoạn không chính đáng, lừa dối, phi tôn giáo để cải đạo người khác thì đó không phải là nhân quyền, nghĩa là quyền của con người, mà đó chỉ là một hình thức xâm lăng tôn giáo và văn hóa của một định chế có tổ chức (organized institution), ngụy trang đàng sau bộ mặt tôn giáo.  Thật là rõ ràng, chiêu bài Nhân Quyền hay Tự Do Tôn Giáo của Giáo hoàng chỉ để thực hiện âm mưu cải đạo người khác vì chính bản chất của cấu trúc  Ca Tô Giáo Rô Ma là không tôn trọng Nhân Quyền và không chấp nhận Tự Do Tôn Giáo.  Cho nên, không một nước nào có ý thức quốc gia dân tộc lại có thể chấp nhận sự xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ca Tô Giáo ngụy trang đàng sau bộ mặt Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.  Do đó, thật là dễ hiểu khi chúng ta thấy các nước trong khối Hồi Giáo, Do Thái, Trung Quốc,  Nga, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam v..v.. đều không chấp nhận sách lược truyền đạo với tính cách xâm lăng văn hóa của Ki Tô Giáo. 

    Trước những ngôn từ  không có đạo đức tôn giáo, và những hành động mâu thuẫn, lời nói không đi đôi với việc làm của giáo hoàng John Paul II, chúng ta thấy vị tự nhận là đại diện của Chúa Ki Tô trên trần (Vicar of Christ) rõ ràng là một con người xảo quyệt và đạo đức giả chưa từng thấy.  Theo rõi những hành động của giáo hoàng chúng ta thấy bộ mặt đạo đức giả của ông ta đã phần nào đánh lừa được thế giới, và với nhiều phương tiện truyền thông trong tay, giáo hội Ca Tô đã phần nào thành công trong việc đánh bóng giáo hoàng của họ.  Đi đến đâu, giáo hoàng cũng ngỏ lời xin lỗi, làm ra vẻ thành thực thống hối về cái lịch sử tàn bạo của giáo hội, cũng cổ súy đối thoại tôn giáo, làm ra vẻ tôn trọng các nền văn hóa và tôn giáo khác, và luôn luôn đề cao hòa bình.  Và gần đây, tháng 4, 2003, trong dịp mà người Ki Tô Giáo gọi là Phục Sinh, giáo hoàng đã lên tiếng trước 60000 tín đồ ở Vatican, sau vụ Mỹ dùng vũ lực tấn công Iraq bất kể sự phản đối của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc: “Xin Thiên Chúa giúp để tránh một cuộc xung đột bi thảm giữa các nền văn hóa và tôn giáo.”  (Chicago Tribune, Monday April 21, 2003, p. 4: The 82-year-old pontiff asked God’s help in avoiding a “tragic clash” between cultures and religions.). Ông ta thừa biết rằng Thiên Chúa của ông ta chưa bao giờ can thiệp vào bất cứ chuyện gì của thế gian vì lịch sử nhân loại đã chứng tỏ như vậy.  Nhưng đàng sau cái bộ mặt thánh thiện để trình diễn trước công chúng và báo chí này là những hành động trái ngược hẳn lại như chúng ta đã biết: dùng ngôn từ thiếu văn minh để gọi các nhà truyền giáo Tin Lành, tung ra tài liệu “Dominus Jesus” để khẳng định cái mà ông ta dùng để kéo những người không có đầu óc vào đức tin Ca Tô: sự “cứu rỗi” duy nhất của Giê-su qua trung gian Ca Tô Giáo Rô Ma, và bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) mà nội dung tất cả những bản văn này hoàn toàn có tác dụng gây va chạm, chia rẽ và thù nghịch giữa các nền văn hóa và tôn giáo.  Như vậy có phải là đạo đức giả hay không?  Người nào không đồng ý, xin lên tiếng.  Trong phần sau, tôi sẽ vạch trần sự lắt léo của giáo hoàng khi phê bình đoạn đầu trong bản “Tông Huấn..” của ông.

   Cho nên chúng ta cũng không lấy gì làm lạ khi thấy giới trí thức Âu Mỹ đã đưa ra những lời nhận định không mấy tốt đẹp  về ông, dù ông là vị chủ chăn của gần 1 tỷ tín đồ trên khắp thế giới,  và ngay cả nhiều tín đồ của ông cũng coi thường ông, không coi những tông huấn của ông ra gì.  

   Mac Kher đã phê bình đạo đức tôn giáo của giáo hoàng như sau:

 

   “Trong khi tham gia một cuộc họp đa tôn giáo, Giáo hoàng nói đến đối thoại, sự hiểu biết, và sự đoàn kết giữa các tôn giáo.  Ngày hôm sau, ông ta quay trở lại nhấn mạnh Ki Tô Giáo là tôn giáo chân thật duy nhất, và kêu gọi tín đồ đi cải đạo Á Châu.  Đây là sự đạo đức giả và lừa dối cố ý  tệ mạt nhất.

    (While attending an inter-faith meeting, the Pope talked about dialogue, understanding, and solidarity between religions. The next day he reverted back to his insistence on Christianity  as the only true religion, and gave a call to convert Asia. This is hypocrisy and duplicity at its worst.)

 

   Và trước đây, khi được hỏi ý kiến về vị thế cao cả của Giáo Hoàng John Paul II trong lãnh vực chính trị quốc tế và ảnh hưởng những ý kiến của Ngài đối với các tín đồ (What is your opinion of Pope John Paul II’s high standing in the world’s political affairs, and effect his opinions make on  his followers?) ,  Tiến Sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người Mỹ không tin có Thiên Chúa, đã trả lời như sau:

    “Những phương tiện truyền thông trong các xứ Ca-Tô đều phụ thuộc Giáo Hoàng và dựng ông lên như là một lãnh tụ danh tiếng của thế giới.  Ông  ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm.  Nên lên án ông trước tòa án thế giới về những tội ác chống lại nhân loại vì những thái độ độc đoán đối với giới phụ nữ trong mọi quốc gia.  Ông ta đã tái áp đặt chế độ kiểm duyệt, tái lập văn phòng có tính chất xử dị giáo, kêu gọi phụ nữ sinh sản nhiều và lệ thuộc phái nam,  tố cáo khoa học và giáo dục,  và không có nỗ lực nào ngăn chặn sự  phát triển vũ khí hạt nhân.. Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.

   Ảnh hưởng những ý kiến của ông trên tín đồ có thể thấy rõ trong nước Mỹ, nơi đây giới phụ nữ CaTô dùng thuốc ngừa thai nhiều hơn là những phụ nữ Tin Lành.  Giới phụ nữ trong giáo hội của ông ta coi thường ông ta trên những vấn đề như kiểm soát sinh sản và mang thai.  Trong triều đại của ông số  người chọn nghề linh mục ít hơn bao giờ hết, và số phụ nữ vào nghề nữ tu cũng ít hơn.

   Giáo hội Ca Tô Rô Ma  cho rằng có nhiều tín đồ đông thứ nhì trên thế giới… Vì số tín đồ đông đảo như vậy nên thế giới biết tới ông ta chứ không phải là vì trình độ trí thức hay nhân cách của ông ta.”

    (The media in the Catholic nations is subservient to the Pope and builds him as a world leader of renown.  He is a medievalist, a reactionary and dangerous man.  He should be charged in the world court for crimes against humanity for his attitude towards and dictates to women of all nations.  He has reimposed censorship, reinstated the inquisitional office, called women to the bearing of more children while subjecting her to the domination of men, denounced science and education, and made no effort to halt the spread of nuclear buildups…This is a thoroughly despicable man and history will judge him as that.

   The effect that his opinions have on his followers is amply demonstrated in the United States where there are more Roman Catholic women on the Pill than there are Protestants.  The women of his church defy him in matters of birth control and pregnancy.  There are fewer men taking up the priesthood in his reign than in any other and fewer women committing themselves to the nunnneries…

 The Roman Catholic Church alleges that it has the second largest religious group in the world… It is the power of this many figures which gives the Pope the attention of the media, not his intellectuality or his personality.)

 

   Nhận định của Tiến sĩ  Madalyn O’hair không xa với thực tế là bao.  Một người ở địa vị giáo hoàng mà có nhân cách thì không bao giờ phê bình các nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu là “những con chó sói đói mồi”, không bao giờ nói một đàng làm một nẻo.  Một người theo kịp được đà tiến bộ trí thức của nhân loại thì không bao giờ lại tái khẳng định (reassert) tín điều Maria luôn luôn còn trinh, trước cũng như sau khi sinh ra Giê-su (virgin before and after the birth of Jesus), và trước những bằng chứng tràn ngập của các học giả cũng như của linh mục John Meier đưa ra là Giê-su có ít ra là 4 người em trai và 2 người em gái do Maria sinh ra, lại ngụy biện rằng những danh từ như em trai (brothers) và em gái (sisters) của Giê-su trong Phúc Âm là những danh từ có ý nghĩa lỏng lẻo (loose meanings).  Một người có trình độ trí thức thì không bao giờ viết cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng để xuyên tạc với mục đích hạ thấp các tôn giáo khác.

   Do đó, đối với các tín đồ Ca-Tô, họ muốn tôn vinh giáo hoàng của họ ra sao thì tôn vinh, muốn tung hô ca tụng giáo hoàng của họ ra sao thì tung hô ca tụng, nhưng đối với những người ngoại đạo thì tư cách vô đạo đức tôn giáo, đạo đức giả, vô nhân cách v..v.. của ông ta không đáng để cho ai phải kính trọng.  Một người thường mà không có đạo đức thì người đời đã không kính trọng rồi, huống chi là người chủ chăn của một tôn giáo lớn mà lại không có đạo đức tôn giáo, đạo đức giả, xảo quyệt, lời nói không đi đôi với việc làm v..v.. thì lại càng đáng khinh bỉ hơn nữa, khoan nói đến chuyện kính trọng và tôn vinh.  Tiến sĩ Madalyn O’Hair đã nhận định rất đúng: “Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.” va “Vì có số tín đồ đông đảo nên thế giới biết tới ông ta chứ không phải là vì trình độ trí thức hay nhân cách của ông ta.”

    Có dấu hiệu là một thiểu thiểu số tín đồ Ca-tô Việt Nam cũng không chịu thua sự tiến bộ trí thức trên thế giới.  Giáo dân Trương Tiến Đạt đã viết sách lên án John Paul II là Ngụy Giáo Hoàng.  Hội Ki Tô Học của một số giáo dân ở Houston cũng lên tiếng phê bình giáo hoàng và giáo hội. Đông Dương Thời Báo của giáo dân Nguyễn Hữu Tạo ở Houston cũng đã vạch ra những tín lý đã lỗi thời của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Và nhất là nhà trí thức đạo gốc Charlie Nguyễn, alias Nguyễn Chấn, đã xuất bản hai cuốn sách thuộc loại động trời có tên là “Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác”“Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm”, cùng viết một số bài, đưa ra những sự thật về Ca Tô Giáo Rô Ma mà giáo hội không bao giờ muốn cho tín đồ biết đến.

 

   Trước lệnh truyền của Giáo hoàng John Paul II cho các thuộc hạ phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu, Mac Kher đã phê bình và vạch trần âm mưu bành trướng Ca-Tô Giáo sang Á Châu của John Paul II như sau, trong www.nycny.com :

 

   Sự du nhập của Ki Tô Giáo vào Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu, và phần lớn Phi Châu và vùng Thái Bình Dương đã đưa tới sự hủy diệt một cách có hệ thống, toàn bộ những tôn giáo và nền văn hóa đa thần có trước thời đại KiTô.  Thật vậy, cuốn thánh kinh, với sự hỗ trợ của súng ống, đã dùng để trao đổi lấy đất đai của các thổ dân địa phương.

  Phát ra từ giáo hoàng, chức sắc cao nhất của Ca Tô Giáo, lời kêu gọi cải đạo này là một lời Tuyên Chiến chống nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ Giáo nói riêng.  Sách lược cải đạo quần chúng vào Ki Tô Giáo mưu toan phá hủy linh hồn của Á Châu, cấy ghép vào đó một triết lý mà Á Châu không cần đến.  Á Châu không cần đến bất cứ một bài học nào về tôn giáo và lòng mộ đạo từ bất cứ ai.

   (The advent of Christianity in Europe, Americas,  Australia, and large parts of Africa and the Pacific led to the systematic and complete elimination of the pre-Christian polytheistic religions and cultures. Truly, the bible was exchanged for the native lands with the help of the gun.

   Coming from Pope, the highest official of Catholicism, this call to conversion is a Declaration of War against Asian culture, Asian religions, and Asian society in general, and Hinduism in particular. Mass-conversion to Christianity seeks to destroy the soul of Asia, transplanting an un-needed philosophy. Asia does not need any lesson in religion or piety from anybody.)

 

   Để đối phó với sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican, đại cương cũng là sách lược của những nhà truyền giáo Tin Lành, chúng ta cần biết rõ Vatican sẽ dùng những thủ đoạn nào để thực hiện âm mưu đen tối của mình.  Trước khi đưa ra những nhận định về sách lược cải đạo Á Châu của Vatican, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu những nguyên nhân đã khiến cho Ca-tô Giáo Rô-ma phải toan tính tăng gia nỗ lực “đội đá vá trời” để cải đạo Á Châu. 

 

   Có hai nguyên nhân chính.  Thứ nhất, sự tiến bộ trí thức và đời sống vật chất tương đối thoải mái đã khiến cho con người Tây phương thức tỉnh, không còn mê đắm trong những ước vọng hão huyền vào những điều hoang đường, mê tín, đã không còn hợp thời của Ki Tô Giáo. Ảnh hưởng của Ki Tô Giáo trên con người Tây phương đang dần dần suy thoái, cho nên Ki Tô Giáo phải tìm kiếm những miền đất mầu mỡ khác, lợi dụng những hoàn cảnh kinh tế và xã hội đặc biệt ở những nơi đây, hi vọng con người sẽ có thể dễ bị khuyến dụ vào Ki Tô Giáo bằng những hứa hẹn chỉ có trên mặt văn tự.  Thứ nhì, Tây phương càng ngày càng biết nhiều đến những giá trị nhân bản của các tôn giáo Đông phương.  Điều này đã khiến cho Ki Tô Giáo lo sợ và do đó tìm cách đối phó với những tôn giáo này ở ngay trong nội địa Á Châu qua những sách lược xuyên tạc bôi đen, hạ thấp các tôn giáo Á Châu, đồng thời tô hồng quảng cáo cho Ki Tô Giáo, dùng bả vật chất kiếm thêm tín đồ để làm hậu thuẫn cho những mưu đồ chính trị.  Vậy trước hết chúng ta hãy lược duyệt về Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương Đưa Đến Sự Suy Thoái Của Ki Tô Giáo, sau đó chúng ta sẽ tìm hiểu sách lược Cải Đạo Á Châu xuyên qua bản Tông Huấn của Vatican.

KITÔ GIÁO – KẾ HOẠCH CẢI ĐẠO Á CHÂU – Trần Chung Ngọc

KITÔ GIÁO – KẾ HOẠCH CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

Trần Chung Ngọc

 

 

Bài viết “Công giáo, Tin Lành và Sách lược cải đạo Á châu” dưới đây của tác giả Trần Chung Ngọc là một trong ba bài viết của Tuyển tập “Kitô giáo – Kề hoạch Cải đạo Á châu” do Nhà xuất bản Á Châu phát hành vào năm 2005.

Hai bài kia là Phê bình “Thần học Ky-tô giáo theo Cung cách Á châu” của Mục sư Choan Seng Song  của Đại Đức Thích Nhật Từ và Nhận Định Về Văn Kiện “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á của tác giả Ngô Triệu Lịch.

GDOL đăng lại ba bài nầy, và Lời Nói đầu của tác phẩm đó, để làm sáng tỏ thêm ý đồ tương lai của Vatican trong nỗ lực đàm phán hiện nay để thiết lập bang giao với Việt Nam.

   

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

       Qua những thống kê về số linh mục, mục sư và tín đồ Ca Tô cũng như Tin Lành bỏ đạo, số tín đồ đi lễ nhà thờ ngày thứ Tám, số tiền thu vào của các giáo hội Ki Tô giảm sút, số nhà thờ được rao bán và được biến đổi thành kho chứa hàng, hộp đêm, phòng ngủ cho thuê v..v.., số trường học Ca Tô phải đóng cửa vì không có đủ sĩ số, và trước những vấn nạn của Ki Tô Giáo như linh mục và mục sư loạn dâm, nghiện rượu, đồng giống luyến ái, tỉ số bị bệnh AIDS gấp 4 lần dân thường v..v…, hiện tượng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo Rô Ma nói riêng, ở trong các phương trời Âu Mỹ, là một hiện tượng đã rõ rệt.

Giám mục Tây đi thăm các xứ đạo tại Đông Dương

      Sự suy thoái của Ki Tô Giáo là điều tất nhiên phải xảy ra vì nhiều lý do.  Những thời đại Lý Trí, Khai Sáng, Phân Tích v..v.. đã đưa con người ra khỏi vòng đen tối và man rợ trí thức  (Intellectual darkness and barbarism) của Ki Tô Giáo, một tôn giáo đồng hành với súng ống của các thế lực thực dân Âu Châu với chính sách diệt chủng dân da mầu của Tin Lành ở Mỹ châu và Phi châu, một tôn giáo với 200 triệu nạn nhân trên bờ vai của Ca Tô Giáo Rô Ma.  Ngày nay, bó củi để thiêu sống người và gươm giáo để chém giết người đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Ki Tô Giáo nên Ki Tô Giáo không còn khả năng dùng bạo lực để cưỡng bách con người vào đạo cũng như tàn sát người ngoại đạo như trong quá khứ.  Sự tiến hóa trí thức của nhân loại đã đưa đến sự phá sản của nền Thần học Ki Tô Giáo, phản ánh qua những tác phẩm nghiên cứu về lịch sử, về những luận cứ thần học ngụy biện mà ngày nay đã không còn giá trị v..v..  Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của chính những bậc trí thức trong các giáo hội Ki Tô Giáo, điển hình là của các nhà thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann, các giám mục linh mục như Peter de Rosa, Malachi Martin, John P. Meier, Leonardo Boff, Joseph McCabe, James Kavanaugh, John Dominic Crossan v..v.., các giám mục mục sư Tin Lành như John Shelby Spong, Ernie Bringas, Ruben Alves, các học giả KiTô như Karen Armstrong, Joseph L. Daleiden v..v..các bậc trí thức như Robert G. Ingersoll, Bertrand Russell v..v.., các khoa học gia như Carl Sagan, Stephen Hawking, Paul Davies v..v.. Mặt khác, trí tuệ của người dân thường, trừ những người sống trong những ốc đảo của Ki Tô Giáo, đã mở mang, đời sống vật chất của con người đã cải tiến, cho nên Ki Tô giáo không còn đất dụng võ.

         Cái hồ nước ngu dốt và nghèo khổ mà trong đó con cá Ki Tô đã bơi lội vẫy vùng trong nhiều thế kỷ ở Tây phương nay đã cạn, cho nên Ki Tô Giáo phải đi tìm một hồ nước khác để có thể sống còn.  Và Ki Tô Giáo nghĩ rằng, Á Châu chính là cái hồ nước ngu dốt và nghèo khổ đó để Ki Tô Giáo có thể bơi lội trong thiên niên kỷ thứ ba của thường lịch.  Từ niềm hoang tưởng này, Ki Tô Giáo đã sáng chế ra cái gọi là “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu”, khoác bộ áo Á Châu để cải đạo Á Châu.  Nhưng dù cho có khoác bộ áo Á Châu với những chiêu bài như “Giê-su là người Á Châu”, “hội nhập văn hóa Á Châu” v..v.. , Ki Tô Giáo cũng không thể che đậy được cái ruột thần học Tây phương đã mọt rỗng qua nhiều thế kỷ.  Chứng minh sự kiện này chính là nội dung của tác phẩm mà quý độc giả đang cầm trên tay, một tác phẩm qui tụ ba bài phân tích rất trí thức, rất khoa học, về bản chất sách lược Cải Đạo Á Châu của Ki Tô Giáo, của ba tác giả: Tỳ kheo Thích Nhật Từ, nhà trí thức Ngô Triệu Lịch, và cư sĩ Trần Chung Ngọc.

      Sách lược Cải Đạo Á Châu bản chất ra sao và có thể thành tựu được không?  Câu trả lời nằm trong nội dung cuốn sách quý vị đang cầm trên tay.  Đây là một tác phẩm với sự đóng góp của ba trí thức Việt Nam, ở trong nước (Thích Nhật Từ) ở trên trang nhà Giao Điểm (Ngô Triệu Lịch) và ở Mỹ (Trần Chung Ngọc), ba nhân vật đã được giới độc giả biết đến nhiều, ở trong cũng như ở ngoài nước, mà giá trị nghiên cứu trong những tác phẩm của họ không ai có thể nghi ngờ về tính lương thiện trí thức, về kiến thức rộng rãi và sâu sắc, về lý luận chặt chẽ và khoa học.

     Sách lược cải đạo Á Châu của Ki Tô Giáo chẳng qua chỉ là sách lược xâm lăng các nền văn hóa và truyền thống Á Đông qua những thủ đoạn bất lương trí thức gian xảo như một số phê bình gia Tây phương, Ấn Độ, Thái Lan v..v.. đã nhận định.  Thực chất của sách lược này, người Việt Nam chúng ta sẽ thấy rõ qua ba bài nghiên cứu và phân tích rất công phu của ba trí thức Việt Nam nêu trên mà Giao Điểm có được cơ duyên góp thành một cuốn sách và xuất bản để cống hiến bạn đọc.  Sau đây Giao Điểm xin giới thiệu sơ lược cùng quý độc giả ba tác giả trên.

      Tỳ Kheo Thích Nhật Từ là một vị Tăng trẻ, hiện trụ trì tại Chùa Giác Ngộ, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.  Với học vị Tiến Sĩ Phật Học, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ hiện là trang chủ của trang nhà Đạo Phật Ngày Nay (Buddhismtoday.com) và là tác giả của nhiều bài biên khảo về Phật Giáo rất công phu.  Tỳ kheo cũng là tác giả cuốn Kinh Tụng Hằng Ngày, một cuốn có thể nói là có giá trị nhất trong những cuốn Kinh Nhật Tụng hiện hữu.  

     Cách đây 12 năm, năm 1991, ở Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã gây chấn động dư luận quốc nội qua bài thuyết trình tại  2 ngày hội thảo do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, phê bình “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” của Mục sư Tống Tuyền Thịnh, chủ đề của cuộc hội thảo.  Đây là bài đầu tiên trong cuốn sách này mà Giao Điểm được hân hạnh in lại và xin có lời cảm tạ tác giả.

      Bài thứ hai trong cuốn sách này là bài của Ngô Triệu Lịch, một trí thức đạo gốc như Charlie Nguyễn, với tựa đề “Nhận Định Về Văn Kiện “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) của Giáo hoàng John Paul II.  Ngô Triệu Lịch là tác giả của một số bài nghiên cứu sâu sắc, đúng đắn về Ki Tô Giáo, rất được tán thưởng trên trang nhà Giao Điểm (giaodiem.com) như: “Ki Tô Nguyên Thủy! Họ Là Ai?”; “Tản Mạn Noel”; “Đôi Điều Về “Thánh Truyền”, “Huấn Quyền Hội Thánh” và “Đấu Tranh Cho Quyền Tự Do Tôn Giáo Hay Đấu Tranh Cho Sự Bành Trướng Của Nhà Nước Vatican?”.

      Bài sau cùng là của Giáo sư Trần Chung Ngọc viết về đề tài  “Công Giáo, Tin Lành Và Sách Lược Cải Đạo Á Châu”.  Giá trị của những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo trước đây của Giáo sư Trần Chung Ngọc khó có ai có thể phủ nhận nên Giao Điểm không thấy cần thiết phải giới thiệu thêm nữa.

     Cũng như tất cả những cuốn sách do Giao Điểm xuất bản trước đây đã được đánh giá cao, chúng tôi tin rằng quý độc giả sẽ không thất vọng với tác phẩm mới này.

 Giao Điểm, Hè 2005

GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

Giới toán học thế giới coi ông là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”, người mở đường cho một chuyên ngành toán học mới.
 >> GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Nhân sự kiện tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục vừa trao tặng Giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” cho GS Hoàng Tụy, xin trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Hàm Châu trên báo Khoa học và Đời sống Online về “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.

Nổi tiếng trên thế giới, rồi mới được trong nước chú ý tới

Một ngày đầu năm, tôi đến thăm GS Hoàng Tuỵ tại nhà riêng ở phố Đội Cấn, Hà Nội. Ông đã “ngoại bát tuần” nhưng vẫn khoẻ, sáng suốt, dồi dào sức sáng tạo. Tờ Journal of Optimization Theory and Applications (Tạp chí Tối ưu hoá lý thuyết và ứng dụng) trong những số gần đây vẫn đăng các công trình mới của ông. Ông vẫn được mời sang Pháp, Mỹ cộng tác nghiên cứu…

Cứ mỗi lần gặp GS Tuỵ, tôi lại nhớ đến câu nói của anh bạn tôi, một tiến sĩ khoa học toán học: “Ông Tuỵ nổi tiếng ở nước ngoài có phần còn hơn ở trong nước; nổi tiếng trên thế giới, rồi mới được trong nước chú ý tới!”

Năm 1990, Tiến sĩ Neal Koblitz, cựu sinh viên Đại học Harvard, giáo sư Đại học Washington, sang thăm Việt Nam. Trở về Mỹ, ông viết một bài báo tiếng Anh dài tới 30 nghìn từ, chiếm 19 trang tạp chí, kèm theo 10 bức ảnh, 1 tấm bản đồ và 3 bức biểu đồ, đăng trên tờ The Mathematical Intelligencer (Người đưa tin toán học). Đây là tờ tạp chí của nhà xuất bản lớn bậc nhất thế giới về khoa học và kỹ thuật Springer – Verlag (mà bạn đọc chủ yếu là các nhà toán học chuyên nghiệp ở tất cả các nước). N. Koblitz đặt tên cho bài báo: Hồi ức về toán học ở một đất nước bị phong tỏa.

Tác giả dành phần lớn bài báo để kể tỉ mỉ về quê hương, dòng họ, thời niên thiếu, thanh niên cũng như quá trình học tập, sáng tạo của nhà toán học Hoàng Tuỵ mà nhiều kết quả trong lĩnh vực lý thuyết tối ưu toàn cục được coi là kinh điển, được thừa nhận rộng rãi ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…

Bài báo lớn của một giáo sư toán học Mỹ làm cho tên tuổi Hoàng Tuỵ càng trở nên nổi tiếng trong giới toán học quốc tế. Cho đến lúc đó, ở nước ta, chưa hề có một bài báo nào bằng tiếng Việt viết về GS Tuỵ dài và sâu như thế!

Đó là một “luận cứ” khiến anh bạn tôi cho rằng “ông Tuỵ nổi tiếng ở nước ngoài có khi còn hơn ở trong nước!…”. Và còn nhiều “luận cứ” khác nữa.

 

GS Hoàng Tụy làm việc tại nhà riêng.


Hội thảo quốc tế mừng thọ “cha đẻ của tối ưu toàn cục”

Hoàng Tuỵ sinh ngày 27/12/1927, vậy mà, ngay từ mấy tháng đầu năm 1997, giới toán học quốc tế trong chuyên ngành của ông đã sốt sắng chuẩn bị một hình thức đầy ý nghĩa mừng ông thọ 70 tuổi: tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế ở Thụy Điển.

Đầu năm 1997, tôi được anh bạn tiến sĩ khoa học kia đưa cho xem bản thông báo sau đây mà anh nhận được qua Internet:

Nhân dịp mừng sinh nhật lần thứ 70 của GS Hoàng Tuỵ, người đã có công trình tiên phong trong lĩnh vực tối ưu toàn cục và quy hoạch toán học tổng quát, một cuộc hội thảo ba ngày sẽ được tổ chức tai Viện Công nghệ Linkoping, Thuỵ Điển với chủ đề: Tìm tối ưu từ địa phương đến toàn cục.”

Bản thông báo cho biết đây là cuộc hội thảo nhằm vinh danh GS Hoàng Tuỵ (Workshop in Honor of Prof. Hoang Tuy) diễn ra tại Thuỵ Điển từ ngày 20 đến 22/8/1997. Các nhà toán học muốn dự cần gửi bản tóm tắt công trình của mình chậm nhất vào ngày 1/6/1997 để kịp tập hợp in thành một cuốn sách đề tặng GS Hoàng Tuỵ (dedicated to Prof. Hoang Tuy).

Sau khi hội thảo kết thúc, cuốn sách được Kluwer Academic Publishers, cũng là một nhà xuất bản lớn về khoa học và kỹ thuật trên thế giới, ấn hành ở Boston (Mỹ), London (Anh), Dordrecht (Hà Lan) và nhiều nơi khác.

Năm 2007, mừng GS Hoàng Tuỵ 80 tuổi, giới toán học quốc tế lại tổ chức tại Pháp một cuộc hội thảo về tối ưu toàn cục để vinh danh ông một lần nữa.

Hoàng Tuỵ được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục” (the father of Global Optimization). Ngày nay, bất cứ ai trên thế giới muốn đi vào chuyên ngành này, đều phải học những điều đã trở thành kinh điển như Tuy’s cut (lát cắt Tuỵ), Tuy-type algorithm (thuật toán kiểu Tuỵ), Tuy’s inconsistency condition (điều kiện không tương thích Tuỵ…

Cuốn sách toán tiếng Anh do GS Hoàng Tuỵ viết chung với GS Reiner Horst (CHLB Đức) nhan đề Global Optimization – Deterministic Approches (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) dày 694 trang, được nhà xuất bản Springer – Verlag in lần đầu năm 1990, lần thứ hai năm 1993, lần thứ ba (có sửa chữa) năm 1996.

Đây là cuốn sách chuyên khảo đầu tiên có hệ thống về chuyên ngành này. Do vậy, GS Hiroshi Konno, người Nhật Bản, mới nhận xét: Cuốn sách ấy “được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là cuốn Kinh thánh của chuyên ngành tối ưu toàn cục” (was appreciated by many researchers as the Bible of global optimization), và, trên thực tế, nhiều người bắt đầu các công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về tối ưu toàn cục là nhờ “được cuốn sách mở đường ấy cổ vũ” (motivated by this path-breaking book).

Cách đây mấy năm, tờ báo điện tử Operation-Research Bulletin (Bản tin Vận trù học), diễn đàn của các nhà vận trù học châu Á – Thái Bình Dương, số tháng 9/2002, đã ra một chuyên đề về GS Hoàng Tụy, gồm nhiều bài và ảnh: bài của TS Takahito Kuno phỏng vấn GS Hoàng Tuỵ; bài hồi ức của TS Taketomo Mitsui nhan đề Prof. Hoang Tuy – A Prominent Applied Mathematician (GS Hoàng Tuỵ – Nhà toán học ứng dụng lỗi lạc); bài hồi ức của GS Hiroshi Konno nhan đề A Tribute to Prof. Hoang Tuy (Để tỏ lòng tôn kính GS Hoàng Tuỵ); cùng một số bức ảnh GS Tuỵ chụp chung với các nhà toán học Nhật Bản, do TS Takahito Kuno chọn và giới thiệu dưới tiêu đề Santa Claus Coming from a Southern Country (Ông già Noel đến từ một đất nước phương nam). Chẳng là vì GS Tuỵ có mái tóc trắng như tuyết và cứ mỗi lần đến Nhật Bản lại mang tới cho các nhà toán học xứ sở hoa anh đào nhiều ý tưởng mới hấp dẫn như những món quà mà Ông già Noel mang lại. Qua số báo, các nhà toán học Nhật Bản muốn tỏ bày lòng ngưỡng mộ đối với nhà toán học Việt Nam lão thành.

Vượt Trường Sơn tầm sư học đạo

Đối với thế hệ trẻ trước đây và hôm nay, cuộc đời GS Hoàng Tụy luôn là một tấm gương sáng chói về lòng say mê khoa học, về ý chí kiên cường vượt qua mọi trở lực, khắc phục khó khăn để thực hiện cho kỳ được ước mơ tha thiết từ thuở thiếu thời.

Xuất thân từ dòng họ vị Phó bảng yêu nước Hoàng Diệu, ngay khi còn học trường làng ở Xuân Đài (Quảng Nam), cậu bé Tuỵ đã tỏ ra rất thông minh, học rất giỏi cả văn và toán. Ra Huế, vào Trường Quốc học, anh Tuỵ vẫn giỏi cả văn và toán. Nhưng, về sau, anh dành nhiều thời gian hơn cho môn toán vì bắt đầu mơ ước trở thành nhà toán học.

15 tuổi, anh mắc phải chứng tức ngực, khó thở, liệt một phần cơ thể, phải bỏ học hơn một năm ở Trường Quốc học Huế. Khi khỏi bệnh, không muốn lưu ban, anh đành ra học trường tư. Nhưng rồi anh “nhảy” hai lớp, “liều” thi tú tài toán. Nào ngờ chàng thư sinh “nhảy cóc” kia lại đỗ và, hơn nữa, đỗ… thủ khoa Trung Bộ!

Tháng 9/1946, anh ra Hà Nội học Đại học Khoa học lúc bấy giờ do GS Nguyễn Thúc Hào làm Quyền Giám đốc và trực tiếp giảng dạy môn toán. Nhưng rồi lính mũ đỏ gây hấn ở phố Hàng Bún; xe Jeep nhà binh Pháp lồng lộn trong đêm. Trước ngày tự vệ sao vuông thành Hoàng Diệu nổ súng đánh trả quân xâm lược, anh Tuỵ dạo khắp phố hè Hà Nội, tìm mua những cuốn sách toán bằng tiếng Pháp mang về quê ở Quảng Nam để tự học dần.

Năm 1951, đang dạy tại Trường trung học Lê Khiết trong vùng tự do liên khu 5, được tin GS Lê Văn Thiêm đã rời Thuỵ Sĩ trở về bưng biền Nam Bộ, và rồi ông đã đi bộ ra Việt Bắc, anh Tuỵ liền khẩn khoản đề nghị Sở Giáo dục cho phép anh ra Tuyên Quang thụ giáo thầy Thiêm.

Tuyến đường dọc Trường Sơn ngày ấy còn là một lối mòn nhỏ hẹp len lỏi giữa rừng sâu, xe cơ giới chưa thể qua lại như đường Hồ Chí Minh sau này. Thế nhưng đã được tổ chức rất tốt. Cứ mỗi chặng 30 kilômét lại có một trạm nghỉ đêm và hôm sau có giao liên dẫn đường cho cán bộ, bộ đội đi tiếp.

Trong balô, anh Tụy chỉ mang theo gạo, muối, sách toán, và thuốc. Quý nhất là quinakrine chữa sốt rét và vitamin B chống phù nề. Ăn cơm với muối, rau rừng. Ba mối nguy hiểm chết người lúc đó là: bị quân Pháp phục kích, bị hổ vồ, và bị sốt rét ác tính. Ở miệt U Bò, Ba Rền có “ông ba mươi” đã ăn thịt mấy chục anh cán bộ, bộ đội! Thế nhưng, ta không dám nổ súng bắn hổ vì sợ lộ, máy bay địch tới ném bom. Một anh đi cuối đoàn, tụt quai hậu dép lốp, dừng chân rút lại quai, thế là bị hổ vồ, tha vào rừng!…

Ròng rã nửa năm trời cuốc bộ, anh mới ra đến Tuyên Quang. Tới nơi thì GS Thiêm đã sang Trung Quốc! Thế là anh vượt biên giới Việt – Trung đi tiếp tới Khu Học xá trung ương lúc bấy giờ đóng nhờ trên đất Trung Quốc, tại ngoại thành Nam Ninh.

Hà Nội giải phóng. Anh trở về nước, giảng bài tại Trường Đại học Khoa học. Tháng 7/1957, anh được cử sang Liên Xô thực tập.

Chỉ sau hơn một năm đến Moskva, anh viết xong luận án tiến sĩ – quãng thời gian ngắn đáng ngạc nhiên đối với một người tự học chương trình đại học.

Nhưng anh đã không mãn nguyện với tấm bằng tiến sĩ cùng lèo tèo vài ba công trình đầu tay! Chính vì vậy mà ngày nay chúng ta mới có một nhà toán học lớn với hơn 130 công trình sâu sắc, bề thế, hầu hết được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín cao.

Có thể nói, bên cạnh tư chất bẩm sinh thông minh vượt trội, thì ý chí sắt đá bất chấp mọi hiểm nguy, quyết vượt Trường Sơn tầm sư học đạo, coi học tập và nghiên cứu là lẽ sống đã giúp nhà toán học ấy đạt tới đỉnh cao vinh dự: Giải thưởng Hồ Chí Minh.

GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, nhận xét: “Hoàng Tuỵ và Ngô Bảo Châu là hai ngôi sao của toán học Việt Nam”.

Theo Hàm Châu

Khoa học và Đời sống Online

http://dantri.com.vn/c25/s25-520751/GS-Hoang-Tuy-va-bo-Kinh-thanh-cua-toi-uu-toan-cuc.htm

Thế giới vinh danh GS Hoàng Tụy

Thế giới vinh danh GS Hoàng Tụy

GS Hoàng Tụy được coi là nhà toán học khai sơn phá thạch mở đường cho một chuyên ngành toán học mới, là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.
 >> GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Cho nên, thật là công bằng và hợp lý khi ông là người đầu tiên trên thế giới nhận Giải thưởng Constantin Caratheodory do Đại hội Quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011

 

Giáo sư Hoàng Tụy sinh ra trong một dòng họ trí thức nho gia danh vọng lớn ở Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam.

 

Thuộc dòng họ cụ Phó bảng Hoàng Diệu

 

Ông bác (anh ruột ông nội) của giáo sư là nhà nho Hoàng Diệu (1832-1882) thông minh xuất chúng, đỗ Phó bảng năm 20 tuổi, về sau, được triều đình Huế bổ nhiệm làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Bắc Ninh) vào năm 1880. Chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ Hà thành, không đủ sức chống lại quân Pháp có súng ống tối tân, nhưng quyết không chịu để cho kẻ thù bắt sống, cụ đã tuẫn tiết bên cổng thành Cửa Bắc sáng 25-4-1882. Cụ được các văn thân yêu nước thời sau ca ngợi là “cựu lục thiên thu truyền tiết liệt” (sử sách ngàn thu còn truyền tiếng thơm tiết liệt).

 

Truyền thống yêu nước thể hiện rõ qua cuộc đời nhiều người họ Hoàng ở Xuân Đài. Hai ông anh ruột của GS Hoàng Tụy là họa sĩ Hoàng Kiệt và GS Hoàng Phê đều tham gia kháng chiến chống Pháp. Họa sĩ Hoàng Kiệt sớm qua đời. Còn GS Hoàng Phê thì từng giữ chức viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, chủ biên nhiều bộ từ điển tiếng Việt. Em ruột của GS Hoàng Tụy là GS Hoàng Chúng từng giữ chức hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM.

 

 

GS Hoàng Tụy (bìa phải) tiếp chuyện nhà báo Hàm Châu. (Ảnh tư liệu)

 

Lát cắt Tụy

 

Những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết tối ưu trở thành một hướng toán học mới có nhiều ứng dụng. Nhưng khi ấy, các nhà toán học chỉ mới chú ý tới tối ưu địa phương, còn những bài toán tối ưu toàn cục thì được coi là quá khó! D. Dantzig, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ, coi đó là những bài toán “khó về bản chất” (intrinsically difficult). Bởi thế, trước năm 1964, chưa ai trên thế giới thu được một kết quả nào đáng kể.

 

Thế rồi, Hoàng Tụy đến Phân viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô ở Novosibirsk, trình bày tại hội thảo của L. V. Kontorovitch cách giải một trong những bài toán cơ bản nhất của tối ưu toàn cục: Bài toán tìm cực tiểu một hàm lõm trên một tập đa diện lồi giới nội. L. V. Kontorovitch là nhà toán học Liên Xô được tặng giải thưởng Nobel Kinh tế.

 

Kết quả ấy của Hoàng Tụy được công bố trên tạp chí Báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Công trình đưa ra một lát cắt độc đáo. Lát cắt thật giản dị nhưng lại có khả năng ứng dụng rộng, không chỉ đối với nhiều bài toán tối ưu toàn cục mà còn đối với những bài toán quy hoạch tổ hợp. Phát minh ấy, về sau, được giới toán học thế giới gọi là “lát cắt Tụy” (Tuy’s cut), trở thành một kết quả kinh điển.

 

Hoàng Tụy được coi là nhà toán học khai sơn phá thạch mở đường cho một chuyên ngành toán học mới, là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.     

 

Định lý Hoàng Tụy, thuật toán kiểu Tụy và cuốn Kinh Thánh trong chuyên ngành

 

Năm 1972, Hoàng Tụy công bố công trình Tính không tương thích của bất đẳng thức tuyến tính trên tạp chí Toán học của Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan. Định lý mới do Hoàng Tụy đưa ra được coi là ngang hàng với những định lý nổi tiếng của Farkas, Helley, Brouwer… và được giới toán học quốc tế nhắc tới nhiều và thường nêu lên những ứng dụng mới.

 

Những năm 80 của thế kỷ trước, lý thuyết tối ưu toàn cục phát triển mạnh. Trường phái Hà Nội (Hanoi School) do Hoàng Tụy đứng đầu, đóng vai trò nổi bật. Một nhà toán học nước ngoài có uy tín cho biết ông rất vinh dự và sung sướng khi được đặt chân đến “địa danh nổi tiếng thế giới về tối ưu hóa” (world famous place in optimization). Nhiều người nước ngoài khi nhắc đến Viện Toán học ở Hà Nội cũng coi đó là “một viện nổi tiếng”.

 

Nhiều lớp bài toán quan trọng nhất được Trường phái Hà Nội tập trung nghiên cứu và giải quyết thành công. Các lớp bài toán khác nhau được tiếp cận một cách hệ thống thông qua một bài toán chuẩn do Hoàng Tụy đề xuất. Thuật toán giải bài toán chuẩn được xây dựng thích hợp với từng bài toán gốc sinh ra nó. Các thuật toán khác nhau đó đều tuân theo một lược đồ tổng quát dựa trên phương pháp phân hoạch không gian theo kiểu “chia nón”, kết hợp với phương pháp “xấp xỉ ngoài” để nâng cao hiệu quả. Thuật toán chia nón (conical algorithm) rất nổi tiếng trong giới chuyên môn quốc tế hồi đó, về sau, được gọi là “thuật toán kiểu Tụy” (Tuy-type algorithm).

 

Cuốn sách toán tiếng Anh do Hoàng Tụy viết chung với­ Reiner Horst (CHLB Đức) Global Optimization-Deterministic Approches (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) dày 694 trang, đ­ược Nhà Xuất bản Springer – Verlag in lần đầu năm 1990, lần thứ hai năm 1993, lần thứ ba (có sửa chữa) năm 1996. GS­ Hiroshi Konno, ng­ười Nhật Bản, nhận xét: Cuốn sách ấy “được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là cuốn Kinh Thánh của chuyên ngành tối ­ưu toàn cục” (was appreciated by many researchers as the Bible of global optimization) và trên thực tế, nhiều người bắt đầu các công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về tối ưu toàn cục là nhờ “đ­ược cuốn sách mở đường ấy cổ vũ” (motivated by this path-breaking book).

 

Nổi tiếng trong giới toán học toàn cầu

 

Năm 1990, TS Neal Koblitz, cựu sinh viên Đại học Harvard, giáo s­ư Đại học Washington, sang thăm Việt Nam. Trở về Mỹ, ông viết một bài báo dài 30.000 từ tiếng Anh, chiếm 19 trang tạp chí, kèm theo 10 bức ảnh, 1 tấm bản đồ và 3 biểu đồ, đăng trên tờ The Mathematical Intelligencer (Người đ­ưa tin toán học). Đây là tờ tạp chí do nhà xuất bản lớn nhất thế giới về khoa học và kỹ thuật Springer – Verlag ấn hành. N. Koblitz đặt tên cho bài báo là Hồi ức về toán học ở một đất n­ước bị bao vây.

Tác giả dành phần lớn bài báo để kể tỉ mỉ về cuộc đời và sự nghiệp của nhà toán học Hoàng Tụy mà nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết tối ­ưu toàn cục đ­ược coi là kinh điển, đ­ược thừa nhận rộng rãi ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Bài báo lớn của một cựu sinh viên Harvard làm cho Hoàng Tụy càng nổi tiếng hơn trong giới toán học toàn cầu hơn 2 thập niên qua. Cho nên, thật là công bằng và hợp lý khi ông là người đầu tiên trên thế giới nhận Giải thưởng Constantin Caratheodory do Đại hội Quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011.

 

Theo Hàm Châu

Người Lao Động

http://dantri.com.vn/c25/s25-521032/the-gioi-vinh-danh-gs-hoang-tuy.htm

GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Thứ Sáu, 23/09/2011 – 07:07

GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

(Dân trí) – Tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục vừa trao tặng Giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” cho GS Hoàng Tụy. Ông là người đầu tiên trên thế giới được nhận giải thưởng do Tổ chức quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011.
 >>  GS Hoàng Tụy: Viện Toán là viện khoa học thành công nhất ở Việt Nam
 >> GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

Giải thưởng mang tên nhà toán học lừng danh Constantin Caratheodory người Hy Lạp (1873-1950) đặc biệt vinh danh những cống hiến đã qua được thử thách của thời gian.

Tiêu chuẩn người nhận giải thưởng này bao gồm tính xuất sắc, độc đáo, ý nghĩa, chiều sâu và ảnh hưởng của cống hiến khoa học.

 

 

GS Hoàng Tụy.

 

Giải thưởng được trao tặng hai năm một lần dành cho cá nhân hay tập thể xuất sắt có cống hiến căn bản cho lý thuyết, lập trình và ứng dụng trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.

 

Trao đổi với Dân trí, GS Hoàng Tụy cho biết: “Khi được nhận giải thưởng này tôi cảm thấy là chuyện rất bình thường vì lâu nay mọi người vẫn coi tôi là người lập ra “Tối ưu toàn cục”. Những đóng góp của tôi về lĩnh vực này không ai phủ nhận. Giải thưởng này chính thức một lần nữa khẳng định thành quả nghiên cứu của tôi và xác định vị trí của Việt Nam trong nghiên cứu lĩnh vực “Tối ưu toàn cục” trên thế giới”.

GS. Hoàng Tụy là tác giả của gần 150 công trình khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín về nhiều lĩnh vực khác nhau của Toán học như: Hàm thực, Quy hoạch toán học, Tối ưu toàn cục, Lý thuyết điểm bất động, Định lý Minimax… Cuốn chuyên khảo gồm phần lớn những thành tựu nghiên cứu của GS. Hoàng Tụy và học trò của ông mang tên “Global Optimization – Deterministic Approaches” (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) được Springer (nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới) in lại ba lần từ năm 1990 đến năm 1996, được coi là kinh điển trong lĩnh vực Tối ưu toàn cục.

Từ giữa thập niên 80 thế kỷ XX, GS. Hoàng Tụy đề xuất và xây dựng Lý thuyết tối ưu DC (hiệu hai hàm lồi) và mới gần đây, từ năm 2000, ông lại đề xuất và xây dựng Lý thuyết tối ưu đơn điệu. Năm 1997, ông cùng với H. Konno (Nhật Bản) và Phan Thiên Thạch, là đồng tác giả cuốn chuyên khảo “Optimization on Low Rank Nonconvex Structures” (Tối ưu hóa trên những cấu trúc không lồi thấp hạng), do nhà xuất bản Kluwer (sau này đã sát nhập với Springer) in. Năm 1998, ông lại cho ra cuốn chuyên khảo “Convex Analysis and Global Optimization” (Giải tích lồi và Tối ưu toàn cục), cũng do Nhà xuất bản Kluwer in, nay được Springer in lại. Trong nước, ông đã chỉnh lý và in lại lần thứ 5 cuốn giáo trình “Hàm thực và Giải tích hàm” (Giải tích hiện đại) đã được sử dụng rộng rãi để giảng dạy cho sinh viên ngành Toán từ 1959 đến nay.

GS Hoàng Tụy là Tiến sĩ danh dự trường Đại học Linköping, Thụy Điển (1995). Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996, giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2010.

Hồng Hạnh

http://dantri.com.vn/c25/s25-520638/GS-Hoang-Tuy-duoc-trao-giai-thuong-toan-hoc-Constantin-Caratheodory.htm

Post Navigation

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.