Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “Thích Chân Quang”

TOẠ ĐÀM PHẬT GIÁO VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT -(Chùa Phật Quang)

Chùa Phật Quang

TOẠ ĐÀM PHẬT GIÁO VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT
31/03/2012

 

 

 

 

Nhân Lễ hội vinh danh danh nhân Nguyên phi Ỷ Lan từ ngày mùng 01 – 03/03/năm Nhâm Thìn (nhằm ngày 22 – 24/03/2012), tại chùa Sủi – Đại Dương (Phú Thị – Gia Lâm – Hà Nội), đã diễn ra nhiều hoạt động quan trọng nhằm tôn vinh văn hóa dân tộc. Một trong những hoạt động đó là chương trình toạ đàm chủ đề PHẬT GIÁO VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT được tổ chức vào sáng ngày mùng 3/03 al tại Giảng đường chùa Sủi.

 

 

Tham dự buổi tọa đàm có sự hiện diện của: ĐĐ.Thích Thanh Phương – Trụ trì chùa Sủi; TT.Thích Chân Quang – Trụ trì Thiền Tôn Phật Quang cùng Chư tôn đức Tăng Ni tại địa phương và vùng phụ cận.

Về phía quan khách đại biểu có: GS.TS Vương Lâm Lĩnh – nguyên  Thứ trưởng Bộ KHCNMT; Nhà báo Phương Đông – nguyên Ủy viên Ban Biên Tập Báo Nhân Dân; ông Lưu Thế Dần – Chủ tịch Hội Làng Nghề Việt Nam, và vị khách mời đặc biệt là ông Bùi Hữu Dược – Vụ trưởng Vụ Phật Giáo –  Ban Tôn Giáo Chính phủ.

Về phía chính quyền địa phương có sự tham dự của: ông Nguyễn Ngọc Thuần – Phó chủ tịch UBND huyện Gia Lâm; các đại biểu đại diện cho Chính quyền địa phương, chủ tịch HĐND, UBND xã Phú Thụy. Ngoài ra, còn có sự góp mặt của quý Phật tử gần xa cùng các tham dự  viên thuộc giới tri thức là Giảng viên trẻ, Nhà khoa học trẻ đang công tác, học tập, làm việc tại Hà Nội và những người quan tâm.

Đúng 9h00’ sáng, chương trình toạ đàm bắt đầu. Buổi tọa đàm diễn ra trong không khí ấm cúng, rất ấn tượng và thật ý nghĩa.

Mở đầu buổi tọa đàm, TT.Thích Chân Quang có bài phát biểu trên tinh thần phát huy các dòng Thiền Việt Nam qua chủ đề PHỤC CHẤN THIỀN PHONG. Nội dung bài phát biểu này nhằm tôn vinh Chư tổ Thiền tông ngày xưa, đồng thời ước mơ về Thiền phong Việt Nam trong tương lai. Thượng toạ khuyến tấn mọi người quyết tâm phục chấn Thiền phong cho đất kinh Bắc và cho Phật giáo Việt Nam, để sánh vai dẫn dắt dân tộc ta góp vào sự tiến bộ của loài người trên thế giới mai sau.

Vào đề, Thượng toạ giới thiệu khái quát về vùng đất linh thiêng Kinh Bắc (Bắc Ninh- Gia Lâm- Long Biên). Nơi đây thực sự là kinh đô của nước Việt thời Hồng Bàng; đồng thời dựa vào các ngôi chùa cổ còn lại để khẳng định cái nôi Phật giáo cũng nằm quanh vùng Luy Lâu, Kinh Bắc. Ví như Tổ Tỳ Ni Đa lưu Chi từ Trung Hoa đem Thiền tông đến Việt Nam, ở tại chùa Pháp Vân (nay là Thuận Thành – Hà Bắc). Sau này, có Ngài Vô Ngôn Thông đắc Pháp với Thiền sư  Bách Trượng Hoài Hải (TQ) cũng về phương Nam giáo hóa, tại chùa Kiến Sơ, ngày nay thuộc Hà Nội, thành lập phái Thiền Vô Ngôn Thông. Hoặc chùa Trấn Quốc nơi phát xuất Thiền phái Thảo Đường. Ngoài ra còn có dòng Thiền Trúc Lâm thời nhà Trần, giáo hóa mạnh ở chùa Báo Ân. Như vậy chúng ta có 4 dòng Thiền nhưng thực chất không có ý nghĩa sai biệt về giáo lý, pháp môn mà chỉ khác một điều là khi một người giáo hóa, uy lực lớn quá sẽ thu hút tín đồ Phật tử rất đông và tự nhiên thành Tông phái với ý nghĩa truyền thừa.

Tiếp theo, Thượng toạ phân tích vì sao Phật giáo miền Bắc trở thành tinh hoa của Phật giáo Dân tộc. Và gần đây do cơ duyên nào đó Tịnh độ tông phát triển mạnh nhưng tinh thần, sức sống của đạo Phật vẫn bàng bạc ở Thiền tông vì có những vị tu chứng, tạo nên cảm xúc lớn lao cho cộng đồng Phật tử. Điều này cho thấy sức sống, uy lực của đạo Phật (giá trị của đạo Phật) nằm ở chổ các vị tu chứng của nhà Thiền.

Bằng lối lập luận vững chắc Thượng toạ chứng minh cho thấy “Giáo lý nào sẽ thu hút được quần chúng đối tượng đó”. Có 4 Tông phái chính thu hút 4 đối tượng khác nhau:

-          Tịnh độ tông: thu hút người quan tâm về giai đoạn sau khi chết và thường là người lớn tuổi.

-         Mật tông: thu hút người quan tâm đến quyền năng huyền bí, những chuyện khoa học không giải thích được.

-         Giáo tông: người chuyên nghiên cứu giáo lý, nghĩa cú thì tìm đến Tông phái này.

-         Thiền tông: dành cho những người thích có kết quả tu chứng tâm linh cụ thể. Đây chính là sức mạnh của Đạo Phật. Nếu Pháp môn Thiền từ ngàn xưa được phục dựng lại thì bộ mặt của Phật giáo sẽ thay đổi toàn bộ. Thường những người đến chùa là lớp tri thức, lớp trẻ, những người không nghĩ đến cái chết mà tâm niệm sống là phải phụng sự.

Đạo Phật tồn tại, trường tồn được bởi 3 hạng người, đó là

  • người có tu chứng tâm linh;
  • người giữ được giới hạnh thanh tịnh mặc dù không tu chứng tâm linh,
  • và người biết thuyết pháp.

Nhưng điều chúng ta mơ ước là ba trong một, tức một vị xuất gia nào cũng phấn đấu có được đầy đủ 3 tính chất đó. Đặc biệt tính chất đầu tiên phải tu chứng tâm linh là điều mà người tu nào cũng đau đáu đi tìm. Có thể chúng ta chưa đủ duyên phúc để chứng ngộ (đắc đạo) nhưng bằng tất cả trái tim, cả cuộc đời ta đều hướng về tâm linh chứng ngộ đó.

 

Thượng toạ đặt vấn đề, vì sao Thiền tông thất truyền trong đạo Phật, kể cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Ngày nay đa số các chùa tu theo Tịnh độ trong khi Tổ của chúng ta vị nào cũng lả Thiền sư lừng lẫy, nổi tiếng. Ban đầu sức mạnh của đạo Phật Việt Nam bắt nguồn là từ miền Bắc, từ phía Bắc của sông Hồng lan xuống phía Nam sông Hồng, rồi tiến dần vào Nam và đi vào cả nước ta. Sau này, trong miền Trung có Thiền sư Liễu Quán là người đắc ngộ phi thường, mở một dòng Thiền riêng, ảnh hưởng rất lớn từ miền Trung tạt xuống hết cả miền Nam. Rồi dòng thiền lại vắng bóng. Gần đây, có những vị xuất sắc đứng lên khơi lại dòng Thiền, trong đó có Hoà thượng Thích Thanh Từ  – Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm (Đà lạt) là một biểu tượng nổi bậc. Hoà thượng đã mở mang giáo hoá rộng rãi, có tâm nguyện thiết tha phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (Thiền của Việt Nam).

Hệ quả vắng bóng Thiền Tông như thế không phải do Tăng Ni ngày nay kém dở mà vì khi vào chùa xuất gia là đã được dạy pháp môn Tịnh độ. Tăng Ni vì sự hiếu kính đối với những bậc Bổn sư tiền bối của mình nên cứ con đường đó mà đi. Chúng ta xem đây là một đạo đức đáng quý. Tuy nhiên, cũng với đạo đức đó xin hãy hướng về xa hơn nữa, thay vì chúng ta hiếu kính với các bậc tiền bối một hai đời gần đây thì hãy tìm về mấy mươi đời trước để gặp lại Chư Tổ xưa, dâng cái lòng hiếu kính về đến tận cội nguồn để thấy rằng “Ngày hôm nay chúng ta phục chấn lại Thiền phong cũng là biểu hiện của sự báo hiếu, đền ơn một cách đúng đắn đối với Chư Tổ”. Chúng ta không để cho cái tông phong của Chư Tổ bị tắt mất. Cái lòng hiếu kính của ta phải vượt xa cả nghìn năm trước để nối lại cho nghìn năm sau.

Bằng cả tấm lòng, Thượng tọa tha thiết kêu gọi chư Tôn Đức hãy cùng nhau phục chấn Thiền Phong! Thượng tọa tin chắc rằng Chư Tăng Ni đủ trí tuệ, năng lực, tâm hạnh để phục chấn lại Thiền phong ở vùng nôi Kinh Bắc này. Nếu được vậy! ánh đạo sẽ toả ra cho cả nước một lần nữa. Đây là điều chúng ta được quyền hy vọng.

Hòa chung dòng cảm xúc khi nhớ về Chư Tổ và nghĩ tới duyên phước mình đang được ngồi nơi đất Tổ để thính Pháp, trong thời khắc này cả Giảng đường lắng đọng, tất cả thính chúng chăm chú lắng nghe và nét ưu tư như phảng phất trên từng gương mặt…

Tiếp theo, như là một sự gợi ý, Thượng tọa đưa ra nhiều khía cạnh làm thế nào để có thể phục chấn lại Thiền phong, đó là:

  • -         Cần phải mở khoá tu Thiền cho Chư Tăng Ni và Phật tử. Phật tử tu rồi mới hiểu nỗi khó nhọc của việc tu, biết yêu quý những người tinh tấn tu.
  • -          Tìm lại những kỹ thuật về Thiền để thực hành cho chuẩn xác. Thiền tông ngày xưa thực hành thế nào không được ghi lại trong sách mà chỉ ghi những câu văn vấn đáp, những lời dạy chúng cô đọng cao siêu, vì thế chúng ta cần tìm thêm, bổ sung thêm kỹ thuật Thiền đã được ghi trong Kinh tạng nguyên thuỷ mà Phật đã dạy, vì suy cho cùng, Phật Giáo nào có hai ba lối khác nhau.

-         Ngày nay khi nói đến việc phục chấn Thiền phong thì không cần ta phải nhất thiết đi theo đúng với khuôn mẫu cả mấy nghìn năm trước của Chư Tổ mà phải đưa ra được một Thiền phong bao gồm 4 yếu tố:

1/ Mang tính tâm linh chứng ngộ của Chư Tổ;

2/ Thiền đó phải phù hợp với con đường Thiền mà Đức Phật đã dạy ở Ấn độ hơn 2.500 năm trước;

3/ Nếu đem những nguyên lý của khoa học, y học vào đối chiếu so sánh, khảo sát thì ta hoàn toàn hợp lý;

4/ Thiền của ta ngày hôm nay phải đáp ứng, hoá giải hoặc giái đáp được những thắc mắc, lý luận, tâm tình, triết học, trình độ của con người trong thời đại mới này.

 Như vậy, Thiền phong của chúng ta hôm nay phải hội đủ 4 yếu tố trên để nhìn ra thế giới, chứ không phải chỉ tìm cách làm sao cho giống Chư Tổ ngày xưa, bởi vì trong nhà Thiền có câu “Đệ tử thấy bằng Thầy là kém hơn Thầy nữa đức, đệ tử phải vượt hơn Thầy mới kham nhận truyền trao”. Không có người Thầy, người cha tốt nào mà muốn con phải bằng hoặc kém hơn mình, ngược lại luôn ước mơ con giỏi hơn.

Cho nên con đường Thiền chúng ta dựng lại nó phải bao quát và lớn hơn rất nhiều, tức là làm sao khi đưa Thiền của PGVN ngày nay bước ra với thế giới, ta không thua kém bất cứ nước nào mà còn dung nhiếp được cả ngàn xưa và ngàn sau. Ta dựa vào quá khứ cái chiều sâu tâm chứng của Chư Tổ, dựa vào những kỹ thuật tâm chứng của Phật đã dạy, nhưng ta vẫn tham khảo thêm kiến thức của khoa học, của y học hiện đại. Chúng ta dựng lại Thiền phong đủ để đáp ứng được tâm tình, ước mơ, khát vọng sống, triết lý sống của con người trong thời đại ngày hôm nay. Tuy nói “Dung nhiếp được hết”, nhưng không phải là trộn lẫn, mà ta có hệ thống. Hệ thống đó có cái chuẩn xác và toàn diện nên khiến điều gì liên quan tới Thiền, ta đều lý giải, ứng dụng, chắt lọc được hết.

 Một ngày nào đó, bất cứ Thiền phái nào từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa, Miến Điện, hoặc những nhà triết học, khoa học của hiện đại đến ta giao lưu tham khảo, tìm hiểu Thiền của Việt Nam là gì thì họ phải thấy Thiền của họ cũng nằm lọt trong Thiền của Việt Nam chứ không có khác. Còn nếu Thiền phong của ta ngày hôm nay dựng lên chỉ đứng ở một góc độ nào đó thì khi ta gặp gỡ các Phật giáo bạn tu Thiền trên thế giới, họ hỏi mà ta trả lời khác với họ thì họ sẽ có sự so sánh hơn thua, và như vậy ta chưa tròn trách nhiệm của mình. Để có thể làm được việc này thì ta tốn nhiều công sức, rất vất vả, và đây phải là sự quan tâm của tất cả mọi người.

  • -         Khi chúng ta mở khoá tu thì luôn nhớ rằng, bước đầu tu Thiền rất vất vả, nếu ai không đủ quyết tâm hay gọi là không đủ căn duyên thì sẽ từ bỏ. Cứ mỗi một người mà thoái lui khỏi Thiền là góp phần làm cho Phật giáo suy yếu, vì sức mạnh của Phật giáo nằm nơi sức sống của Thiền. Ngược lại, mọi người cố gắng tinh tấn một chút là góp thêm vào sức mạnh của PGVN này. Nên ta phải mở khoá tu, khuyến khích mọi người tu mặc dù ban đầu có khó khăn vất vả.
  • -         Muốn phục chấn lại Thiền phong bắt buộc trong chùa phải có thời khoá tu Thiền chính thức. Một ngày ít nhất phải có hai thời Thiền. Còn các thời khoá tụng niệm nên rút ngắn bớt, cái công phu cốt lõi trong ngày phải là tu Thiền.
  • -         Khi Tăng Ni tinh tấn tu tập Thiền định thì cái kết quả hiện ra rất rõ, đó là trí tuệ của toàn Phật giáo khởi lên hết. Trong Phật giáo sẽ xuất hiện rất nhiều Giảng sư lỗi lạc. Xưa nay những Giảng sư giỏi đều là người tu Thiền.
  • -         Bổ sung nghi thức tụng niệm của chùa có đạo lý Thiền trong đó, chứ nào giờ nghi thức tụng niệm của chùa thường nghiêng về Tịnh độ.
  • -         Để phục chấn Thiền phong được, chính Giáo hội phải yêu quý và tạo điều kiện cho các chùa tu Thiền. Đưa Thiền vào giáo trình dạy cho các trường Phật học từ sơ cấp cho tới cao cấp. Qui định khi thọ giới, ai ngồi thiền bao lâu đó mới được thọ giới. Ngoài ra, Giáo hội phải hỗ trợ các khóa tu Thiền bằng cách đến chứng minh, khuyến tấn.
  • -         Nhà nước cũng phải hỗ trợ việc phục chấn Thiền phong này, vì nhà nước thấy rõ đạo Phật đồng hành cùng dân tộc, mà sức mạnh của đạo Phật là nằm nơi Thiền. Ngày xưa các Vua chúa đều nhờ các Thiền sư cố vấn. Các Thiền sư đó đều là những người yêu nước phụng sự cho triều đại, làm lợi ích cho dân tộc và sức sống từ nơi đó toả ra. Cho nên khi nhà nước đóng góp hỗ trợ cho việc xây dựng Phật giáo thì nhà nước phải hỗ trợ việc phục chấn Thiền phong. Và cái Thiền phong đó nên nhớ không phải còn riêng của Chư Tổ mấy nghìn năm trước nữa mà Thiền phong của ngày hôm nay phủ trùm được cả Phật giáo của thế giới. Chúng ta phải có con mắt lớn như vậy để mở lại phong cách Thiền cho Việt Nam ngày hôm nay.
  • -         Chính Phật tử phải ủng hộ Tăng Ni tu Thiền. Ủng hộ bằng lời nói, bằng tâm hồn, bằng hành động và cả tài vật. Nơi nào có tồ chức khóa tu Thiền cho Tăng Ni, Phật tử phải đến ủng hộ.

Sau cùng, Thượng tọa cũng nói qua Thiền đem lại sự chứng ngộ tâm linh là như thế nào. Đó là toàn bộ nội dung bài phát biểu của TT.Thích Chân Quang trong buổi tọa đàm có chủ đề PHỤC CHẤN THIỀN PHONG.

Chia sẻ cùng chương trình, ông Bùi Hữu Dược – Vụ trưởng Vụ Phật giáo Ban Tôn Giáo Chính phủ, đã trình bày đôi nét về ảnh hưởng của Phật giáo đến cộng đồng người Việt và ông kết luận rằng

-         Qua buổi trao đổi về giá trị và ảnh hưởng của tinh thần Phật giáo, chúng tôi rất mong mỗi người bằng sự nhận biết, cảm mến, bằng trách nhiệm của mình, hãy nhân cái tính tốt của Phật giáo vào trong gia đình, trong xã hội, để mọi người cùng hiểu về giá trị đạo đức, tư tưởng văn hóa, đời sống Phật giáo. Qua đó, con người sống với nhau tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, như người xưa nói

Nhất nhân tác phúc thiên nhân hưởng

Độc thụ khai hoa vạn thụ hương”,

tức một người làm phúc, ngàn người được hưởng; giống như trong rừng một bông hoa thơm hàng vạn bông hoa được thơm lây.

Mỗi người ngồi trên đất kinh Bắc ngày hôm nay hãy là một người con Phật chân chính, tự rèn dũa mình, tự tu tâm dưỡng tính, tự làm mình trở thành người tốt, người phúc đức để giúp trước hết cho mình, sau cho gia đình và cho xã hội. Hy vọng xã hội ta sẽ tốt đẹp hơn nhờ tất cả mọi người đều tốt đẹp”.

Sau bài phát biểu của ông Bùi Hữu Dược, những tràng pháo tay không ngớt vang dội dành cho hai vị Diễn giả vừa trình bày cho buổi tọa đàm. Đây chính là nguồn động viên vô cùng lớn đối với Ban Tổ Chức.

Mong rằng kết quả của buổi tọa đàm sẽ là bước đầu để giới Tăng Ni Phật tử tìm được hướng đi cụ thể, thích hợp và có lợi cho Phật pháp trong thời đại ngày hôm nay. Đây quả thực là một cơ hội rất may mắn cho những ai ngồi lại học hỏi, chia sẻ và giúp nhau tìm về cội nguồn xưa, định hướng, dựng lại một dòng Thiền Việt Nam bao trùm, toàn diện để cho cả thế giới phải chấp nhận.

Để kết thúc chương trình, ĐĐ.Thích Thanh Phương – Trụ trì chùa Sủi, nói lời cảm tạ hai vị Diễn giả và toàn thể khách mời tham gia buổi tọa đàm đã có những ý kiến đóng góp trên tinh thần phục chấn Thiền phong, để từ đó mỗi người mở lòng ra nhiều hơn mà góp phần vào sự phát triển chung của đạo Phật Việt Nam.

ĐĐ.Thích Thanh Phương lúc nào cũng khắc khoải, trăn trở, tưởng nhớ tới Chư Tổ và tự hào về vùng đất linh thiêng của mình. Tâm nguyện của Đại Đức là làm sao làm sống dậy cái phong cách Thiền, đỉnh cao của Thiền nơi Phật giáo ở đất Bắc này.

Tại buổi tọa đàm, Đại đức phát biểu “Các khu vực phía Bắc của chúng ta, ở đây ngoài việc đón các Lễ tết của dân tộc thì còn rất nhiều Lễ hội khác diễn ra trong các khu Lịch sử Văn hóa và nhà nước ta lúc đó rất khó có sự quản lý, để cho sự phát triển lan tràn, khiến cho con người đến với Lễ hội – thông qua Lễ hội không cảm nhận được cái tinh túy văn hóa của dân tộc ta. Vì vậy, chúng tôi đã phối hợp với Ban Tổ Chức chương trình của Ban Thông Tin Văn Hóa, được Bộ Thông Tin chuyển sang Bộ Văn Hóa, Giáo Hội Phật Giáo VN, UBND thành phố Hà Nội cùng với các Ban ngành địa phương, UBND huyện Gia Lâm, mạnh dạn đứng lên tổ chức chương trình MÙA XUÂN TÔN VINH VĂN HÓA DÂN TỘC, nhằm giới thiệu điểm thách thức của Phật giáo Việt Nam.

Thông qua Lễ hội này, chúng tôi mong rằng các nhà quản lý nhà nước VN cần phải gắn bó, duyệt xét các chương trình lễ hội làm sao diễn ra một cách vừa văn minh lịch sự, đánh giá một thời đại con người của chúng ta. Những điều gì có thể phát huy lên được thì chúng ta phải trân trọng lưu giữ, những gì lạc hậu cổ hủ thì chúng ta cũng phải sắp xếp loại trừ. Đây là mục tiêu của chúng tôi tổ chức một chương trình của Bộ Thông Tin Văn Hóa Dân Tộc và đặc biệt hôm nay có TT. Thích Chân Quang, ông Bùi Hữu Dược cùng tất cả quý vị khách mời đã tới đây tham gia buổi tọa đàm nói về Phật giáo cộng đồng người Việt”.

Đến đây, buổi tọa đàm kết thúc bằng bài thơ NẮNG MỚI của Cao Bá Quát, ông người làng Phú Thọ, Gia Lâm, là nhà thơ xuất sắc của Việt Nam thế kỷ 19, nhằm nói lên dư vị để lại trong lòng mỗi người thật tốt đẹp:

Xuân về xua hết rét mùa đông.
Hoa nở sáng nay đủ tía hồng.
Việc đời giá được như cây cỏ,
Sau mưa trời lại sạch, xanh trong.

                                                                 TUỆ ĐĂNG

Dưới đây là hình ảnh của Lễ hội truyền thống quê hương Sủi (Đại Dương) và toàn cảnh buổi tọa đàm có chủ đề PHỤC CHẤN THIỀN PHONG tại chùa Sủi – Gia Lâm – Hà Nội:

 

 

 

http://nuidinh.com/

 

Chùa Phật Quang trân trọng giới thiệu biểu tượng Phật Giáo

Chùa Phật Quang trân trọng giới thiệu biểu tượng Phật Giáo

Đăng ngày 11-03-2011

 

 

 

 

 

 

 

 

Chùa Phật Quang

Trân trọng giới thiệu một biểu tượng Phật Giáo với hình ảnh như sau:

 

 

- Năm màu đã được sử dụng trong lá cờ Phật Giáo vẫn được sử dụng trong biểu tượng này như là sự bày tỏ lòng tôn trọng truyền thống đối với công ơn của các vị tôn đức đi trước đã góp phần phát triển Phật Giáo cho thế giới và cho Việt Nam.
– Năm màu cũng được hiểu là tượng trưng cho hào quang của Phật; hoặc suy diễn thêm là 5 châu của Trái đất…
– Năm màu được xếp theo hình tròn tượng trưng cho hào quang của Phật soi rọi thế giới này.
– Năm màu có khoảng cách chút xíu tượng trưng cho mỗi sắc thái của dân tộc, hay của tông phái vẫn được giữ bản sắc của mình, nhưng vẫn ở chung trong một quỹ đạo đại đồng.
– Hình hoa sen cách điệu vốn là biểu tượng của Phật Giáo, tượng trưng cho sự thanh khiết.
– Hình mặt trời phía trên hoa sen tượng trưng cho trí tuệ giác ngộ.
– Cả hình mặt trời và hoa sen cộng lại biến thành hình cách điệu của tư thế ngồi thiền đặc sắc trong đạo Phật, với hai bàn tay, hai bàn chân, trái tim khiêm hạ thấp xuống, và phần đầu.
– Ðầu và tay chân đồng màu tượng trưng cho thân và tâm đồng nhất trong thiền định.
– Vùng màu trắng có thể dùng để ghi tên cộng đồng Phật Giáo của mình, như World Buddhism, International Buddhism, Vietnam Buddhism, Phật Giáo Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo, vân vân…
Biểu tượng này đã được đăng ký bản quyền của chùa Phật Quang, nhưng sẽ không hạn chế sử dụng cho bất cứ đơn vị Phật Giáo nào trên khắp thế giới.
Bản quyền số: 336/2008/QPG, do Cục Bản quyền VN cấp ngày 21/2/2008 cho tác giả VƯƠNG TẤN VIỆT, quyền sở hữu mẫu biểu tượng Phật Giáo trên.

KHI DOANH NHÂN ĐẾN CHÙA

Đăng ngày 23-06-2011

 

KHI DOANH NHÂN ĐẾN CHÙA

Chiều ngày 18/06/2011, Tại Thiền Tôn Phật Quang (BRVT) đã diễn ra buổi Pháp thoại do TT.Thích Chân Quang đảm trách, dành cho hơn 200 Cán bộ – Công nhân viên Công ty TNHH sản xuất dầu nhớt Phúc Thành có yêu cầu được thính Pháp.

Ngoài ra còn có Chư tôn đức Tăng Ni các tự viện, hơn 500 Phật tử các nơi và hơn 200 em học sinh tham gia khóa sinh hoạt hè tại Thiền Tôn Phật Quang đồng tham dự.

Được biết, công TNHH sản xuất dầu nhớt Phúc Thành được thành lập năm 1992, có trụ sở chính đặt tại Cần Thơ và một chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua 20 năm có mặt trên thị trường, với trên 20 mặt hàng dầu nhớt các loại, mang thương hiệu NIKKO. Hiện nay huy tín thương hiệu đã được khẳng định trên thị trường.

Mở đầu buổi Pháp thoại, cô Mai Thanh Diệu – Chủ tịch HĐQT công ty Phúc Thành thay mặt cho nhân viên phát biểu thật cảm động. Cô nói bằng cả trái tim của mình, nên nước mắt giọt ngắn giọt dài tuôn theo với từng ý nghĩ. Cô trình bày những bức xúc, lo toan chung quanh hoạt động kinh doanh mà điểm nhấn là “Cuộc sống của doanh nhân luôn chứa đựng bao khó khăn, bất trắc, rủi ro. Doanh nhân phải lo xử lý biết bao vấn đề của doanh nghiệp, xã hội và của chính mình”. Vì vậy, để lấy lại sự quân bình của cuộc sống, để có được bình an sau những giờ, những ngày làm việc căng thẳng, mệt nhọc. Với mong muốn cho anh em trong công ty được viếng chùa và được nghe những lời dạy bảo của Thượng tọa Trụ trì. Nhìn lại cuộc đời mình là một quảng đường dài với biết bao thăng trầm khổ cực nên chúng con rất thấm thía câu dân gian thường nói “Tu là cội phúc, đời là khổ đau”.

Nếu giáo Pháp của Phật mà chúng con thấm nhuần rồi thì đó là điểm tựa tinh thần để vượt qua bao khổ đau, mọi phiền toái của cuộc đời. Đó như cái phao cứu vớt tâm hồn chúng con ra khỏi biển khổ trần ai này. Đây là lý do mà hôm nay con tạo mọi điều kiện cho anh em trong công ty được nghe Giáo Pháp của Phật. Qua lời dạy của Thượng tọa, chúng con được thấm nhuần đạo Pháp. Mong rằng sau thời Pháp thoại này, tâm hồn chúng con an vui, hạnh phúc hơn và sẽ giải thoát trong tương lai. Đây là món quà mà trong suốt hơn 20 năm dẫn đường – anh chị em đã gắn bó cùng đi với công ty – con xin kính tặng cho những người đồng hành với mình.

Thật bất ngờ khi thính chúng bắt gặp hình ảnh một doanh nhân thành công trên đường sự nghiệp lại khát khao Phật pháp, muốn tìm điểm tựa tâm linh nơi đạo Phật, nhằm giúp họ có niềm tin và hạnh phúc hơn trong cuộc sống. Những tràng pháo tay vang dội như tán dương tấm gương một người chủ tốt đã chăm lo cho nhân viên của mình từ đời sống vật chất đến tinh thần, sau lời phát biểu của cô Mai Thanh Diệu.

Một cách tổng quát, TT.Thích Chân Quang trình bày “Thông thường trong cuộc sống chúng ta có 2 cộng đồng quan trọng, đó là gia đình của ta và cộng đồng mưu sinh. Và sự bền vững, thành công của công ty cũng chính là sự tồn tại, thành công của đời sống mưu sinh riêng cho gia đình mình”.

Thượng tọa đặc vấn đề khi nào ta được hạnh phúc trong công việc của mình và phân tích 4 yếu tố để một người trong công ty được hạnh phúc, đó là:

1/ Ta được người chủ tốt.

2/ Công việc ta làm, ta cảm thấy ưa thích.

3/ Thu nhập tương đối.

4/ Có được những đồng nghiệp vui vẻ hòa thuận.

Nếu ai có đủ 4 điều này trong khi đi tìm sự mưu sinh thì họ thật sự hạnh phúc, may mắn. Đây là cái phước của mỗi người.

Người chủ tốt phải là người thương yêu được nhân viên của mình. Điều này không phải do luật pháp bắt buộc, hay công đoàn gây sức ép, hoặc dư luận buộc phải như thế, v.v… mà là đạo đức tự nhiên của người chủ. Khi họ chịu trách nhiệm với bao nhiêu con người này, họ cảm thấy họ phải yêu thương những con người như thế. Vì đây là những người đã cùng với họ tạo nên sự thành công cho doanh nghiệp.

Thượng tọa nhấn mạnh « Người bản lĩnh trên cuộc đời này, không phải là làm công việc mình yêu thích mà phải yêu công việc mình đang làm ». Nên hiểu rằng đợi công việc mình yêu, nó sẽ không bao giờ tới khi mình đã phụ bạc nó. Còn nếu với bất cứ công việc gì trên đời này là lương thiện, mình điều yêu nó để làm thì không bao giờ mình mất việc nữa.

Thu nhập ta có được lệ thuộc vào phước chung của công ty. Nếu mọi người đều có phước, công ty làm có lãi, người chủ thương nhân viên, nên ấn định mức lương hợp lý thì xem như ta may mắn.

Giữa người chủ và nhân viên cần đặt mình vào vị trí của nhau thì sẽ có sự đồng cảm, hòa thuận.

Khi ta hiểu rằng hạnh phúc của người đi làm phải có 4 điều đó, vậy bây giờ ta phải làm gì?

1/ Nếu ta là chủ thì hãy xin là người chủ tốt.

Những ai đang làm chủ, những ai tương lai sẽ làm chủ hãy suy gẫm thêm về điều này « Khi ta làm chủ, ta hãy là người bạn, người thầy của nhân viên mình, để ta đem thêm được hạnh phúc cho những người đang phục vụ cho cơ quan, cho công ty của mình vì hạnh phúc của nhân viên là có một người chủ tốt ».

2/ Nếu ta là nhân viên thì hãy là một nhân viên trung thành và có trách nhiệm với công ty. Không đứng núi này trông núi nọ, không bao giờ làm điều gì tổn hại đến người chủ của mình. Đây là đạo đức tự nhiên của cuộc sống, không cần xét lại. Bởi vì khi mà có mối liên hệ giữa người chỉ huy và người thừa hành thì ta phải trung thành với nhau. Chỉ tiếc rằng, cái đạo đức đó trong thời đại hôm nay ít nghe nhắc đến, nên con người ta đối xử với nhau chỉ trên tương quan quyền lợi. Nơi nào có lợi thì tìm đến, ngược lại thì ta bỏ đi, nên con người sống thực dụng và tầm thường.

Ngoài ra, một người nhân viên trung thành tận tụy, đầy trách nhiệm, còn là đạo đức đối với cả đất nước này nữa, chứ không phải chỉ với người chủ hay với công ty. Thấy như là vị trí hay công việc của người nhân viên là nhỏ nhưng từng những cái nhỏ của họ đã góp phần vào đại cuộc của quốc gia. Người nào sống được vậy thì xem như là một công nhân nhỏ mang một trái tim rất lớn. Nếu vậy ta tin chắc một điều, là người này rất hạnh phúc vì họ có được phần thưởng từ nơi cái nhìn lớn và trái tim lớn đó.

Thượng tọa đề cao sự trung thành « Nếu là nhân viên thì hãy là một nhân viên trung thành, vì sự trung thành của ta nó tạo thành đến 3 đạo đức: một là đạo đức đối với người chủ, một đạo đức đối với tập thể công ty và một đạo đức khác là trách nhiệm đối với cả đất nước mình. Do đó hễ ta là nhân viên trung thành rồi thì phước ta rất lớn.

3/ Nếu là đồng nghiệp thì hãy là đồng nghiệp hòa thuận, vui vẻ, đừng hiềm khích, đừng ganh tỵ, không nói xấu sau lưng, không chia bè phái. Nên nhớ công việc của một người nó có liên hệ tương tác với những người khác trong công ty. Khi phải tiếp xúc với nhau thì thái độ giao tiếp trở thành một cái đạo đức quan trọng.

4/ Hãy yêu thích công việc của mình và ta sẽ hạnh phúc vì điều đó.

Sở dĩ con người không bình đẳng vì phước con người sai biệt nhau. Người phước nhiều thì ở đẳng cấp trên, ngược lại người ít phước hơn thì ở đẳng cấp dưới. Ta hiểu vậy, để thay đổi thân phận, ta phải làm phước. Tuy nhiên phước thế gian không bền, cứ xoay dần thay đổi mãi. Nhưng có một cõi tâm linh trong thiền định, đó là nơi mọi người tìm thấy được sự bình yên và bình đẳng với nhau.

Nơi cái công ty, tuy rằng ta cố gắng xây dựng hạnh phúc cho nhau bởi 4 điều trên nhưng nó chưa bao giờ là hạnh phúc trọn vẹn nếu mọi người chưa biết đi vào cõi tâm linh giác ngộ. Do đó thượng tọa khuyến khích Lãnh đạo công ty hãy đem đạo đức tâm linh vào trong nội bộ của mình để cùng nhau tu tập. Khi con người lắng được trong THIỀN thì nó phát sinh ra hiệu quả trong cuộc sống, trong công việc và cả trong kinh tế.

 

Tuy nhiên, khai thác THIỀN để đi tìm hiệu quả cao trong các khía cạnh kinh tế, nó hơi nhầm lẫn. Nhưng ta thông cảm vì con người vốn cần sự phát triển kinh tế. Còn mục tiêu chân chánh là con người phải THIỀN để bình đẳng nhau, để yêu thương nhau, để diệt trừ bản ngã và đau khổ cho đời mình. Đây còn là yếu tố thứ năm của hạnh phúc công ty. Là cái ân nghĩa rất lớn, công đức rất lớn của người Lãnh đạo đối với nhân viên của mình. Hiện có một số công ty ở Hàn Quốc, Ấn Độ, họ cho nhân viên tập THIỀN rồi mới bắt đầu đi làm việc, vì thấy được công năng và lợi ích của THIỀN.

May mắn thay công ty TNHH sản xuất dầu nhớt Phúc Thành có người chủ biết yêu thương nhân viên mình thật tâm nên Thượng tọa mạnh dạn đề nghị hãy đem THIỀN ĐỊNH vào công ty để mọi người được hạnh phúc hơn.

Tiếp theo Thượng tọa cũng phân tích trên quan điểm nhân quả, tại sao sản phẩm ta làm ra, sáng kiến ta đưa ra lại được sự tiêu thụ, đón nhận nhiệt tình của khách hàng, của đối tác? Và khuyến khích mọi người làm phước « Khi ta hiều đạo rồi thì từng ngày đi qua phải là từng ngày làm phước. Ta có 2 cách tạo phước:

1/ Tạo phước trong công việc: trong công việc ta làm tận tụy, đầy trách nhiệm.

2/ Tạo phước ngoài công việc: bằng những hoạt động từ thiện, giúp đỡ mọi người chung quanh mình.

Cuối cùng, Thượng tọa kết luận, bất cứ ở vị trí nào (người chủ hay nhân viên), tâm ta cũng có 2 điều để hướng về, đó là « Dù làm việc gì cũng biết rằng góp phần xây dựng đất nước và dù làm bất cứ việc gì, dù bận rộn cỡ nào, vẫn hiều rằng ta còn một cõi để sống để đi vào, đó là tâm linh thiền định ».

Thời Pháp kết thúc trong sự hoan hỷ và cảm ơn nhiệt tình của Lãnh đạo công ty. Mặc dù trời mưa to, nhưng khung cảnh thuyết Pháp vẫn trang nghiêm trong sự chú ý lắng nghe của hội chúng.

Quang cảnh Thiền Tôn Phật Quang thật thu hút lòng người.

http://www.thichchanquang.com/news/KHI-DOANH-NHAN-c490EN-CHUA.aspx

 

CỘI NGUỒN TÂM LINH CỦA DÂN TỘC

CI NGUN TÂM LINH CA DÂN TC

TT.Thích Chân Quang – Vin ch Thin Tôn Pht Quang (BRVT)

Va qua, ngày 6/6/2011, TT.Thích Chân Quang – Vin ch Thin Tôn Pht Quang (BRVT) đã thăm Khu Di Tích Lch S 27/7 ti xóm Bàn C, xã Hùng Sơn, Th Trn Đi T, tnh Thái Nguyên và có bài Pháp thoi ti Đình Đn xã Cù Vân, huyn Đi T, theo li mi ca anh Trn Mnh Ninh và Chính quyn đa phương. Thượng ta đã trao đi mt s vn đ v CI NGUN TÂM LINH CA DÂN TC, vi s tham d ca gn 500 pht t t các nơi đến thính Pháp.

Được biết, ngày 27/7/1947 hơn 300 cán bộ, bộ đội, đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt  tại Khu Di Tích Lịch Sử này nghe công bố bức thư Bác Hồ ghi nhận sự ra đời Ngày Thương Binh Liệt Sĩ ở nước ta. Trong khung cảnh thiên nhiên cổ kính, nơi đây có ngôi đền thờ Bác Hồ, nhưng khác với các ngôi đền thờ Bác ở những nơi khác là khi đến đây lòng người mở ra với bao nhiêu anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trên cả nước. Ta biết ơn các anh đã nằm xuống cho quê hương ngày hôm nay. 

Một điều khác nữa là bên cạnh đền thờ Bác có một ngôi chùa nhỏ gọi là chùa Bàn Cờ (Chùa đã có từ lâu lắm rồi, không ai còn nhớ rõ). Sự liên kết này được Thượng tọa đã giải mã ẩn ý sâu xa của Bác Hồ khi chọn nơi đây để tuyên bố Ngày Thương Binh Liệt Sĩ, đó là hãy đưa các anh hùng liệt sĩ vào Chùa để các anh được ấm lòng, được nương tựa vào tâm linh của đạo Phật. Với ý nghĩa trên, chúng ta hãy mạnh dạn đề nghị với Nhà Nước rằng: Nơi nào có nghĩa trang liệt sĩ thì nên xây một nhà thờ Phật để liệt sĩ được nương tựa vào tâm linh Phật Pháp. Đây chính là chỉ đạo thiêng liêng, không thể hiện bằng lời mà Bác đã âm thầm gửi gắm cho hậu thế.

Thượng tọa cho rằng “Vùng đất này từ rất lâu vắng bóng Chùa, vắng bóng Sư nên chúng sinh hơi bị thiệt thòi”. Trong thời đại ngày nay, Giáo lý có thể đến bằng nhiều ngõ, mọi người cố gắng tiếp nhận Chánh Pháp của Phật để tu học, cho cuộc đời mình được tăng trưởng cả về công đức và phúc đức. Con người hơn nhau chỉ một chữ PHÚC mà thôi. Người khôn ngoan không phải là đi tìm thủ đoạn tranh hơn thua mà chính là người biết đi tìm cái phúc.  Tu làm sao để được nhiều phúc, hành làm sao để có được nhiều công đức. Chính nhờ có PHÚC ĐỨC như thế, đời mình sẽ hạnh phúc ở kiếp này và nhiều kiếp về sau, gia đình mình, con cháu mình lại phát đạt lâu dài.

Tuy nhiên con người ta không đủ trí tuệ để biết hết bí ẩn của trời đất, ta thường hay lễ kính Thần Thánh để cầu sự độ trì nên nhiều khi phạm sai lầm. Dân ta có 2 nguồn tâm linh để nương tựa, thờ kính đó là:

-  Đền, phủ thờ Thánh

-  Chùa thờ Phật

Nguồn tâm linh thờ Thần, Thánh gắn với lịch sử của dân tộc ta từ nghìn xưa, nên những vị Thần Thánh đó tượng trưng cho tâm linh của riêng dân tộc, của riêng địa phương ta. Còn Phật là một đạo lý trùm hết cả vũ trụ chẳng riêng của trái đất này.

Người Việt Nam rất khôn ngoan khi ta thờ kính cả 2 nguồn tâm linh này. Khi thờ Phật là ta chuẩn bị cho mình một sự giác ngộ cao siêu không cùng tận. Khi thờ Thần, Thánh ta được sự độ trì gần gũi trong cuộc sống, giữ gìn lòng yêu nước của ta. Chúng ta có hai nguồn tâm linh như con chim có đủ đôi cánh, thiếu một bên cánh nào ta cũng đều không bay được. Làng nào ở Việt Nam cũng nên có 2 nơi thờ tự là Đình và Chùa.

Thượng tọa nhấn mạnh, đôi khi do không biết rõ nên ta bắt đầu thờ kính sai lệch dẫn đến mê tín. Khi đã thành mê tín rồi ta thờ cúng một cách sai lầm, ta ứng xử một cách sai lầm, ta sống một cách sai lầm, vì vậy không đem lại phúc đức cho ta, ngược lại hao tiền, tốn của và bị lợi dụng. Điều này đem phiền phức cho xã hội, khiến Nhà Nước rất lo lắng và phải đi chống mê tín dị đoan.

Khi thờ MẪU ta phải hiểu Mẫu chính là Mẹ Âu Cơ của ta (Mẹ của Quốc tổ ta). Thờ Mẫu là thờ người khai sinh ra dân tộc ta, đó chính là ta tôn vinh lòng yêu nước. Khi ta quỳ lạy Mẫu, trước hết ta đừng nghĩ đến cái gì cao siêu mà trở thành mê tín. Ta lạy Mẹ là lạy hồn thiêng sông núi, lạy cả chiều dài của một dân tộc suốt 4 ngàn năm, biết bao anh hùng đã đứng lên xây dựng giang san này. Biết bao người đã ngã xuống, đổ xương, đổ máu xuống đất nước này để ngày nay cây cỏ xanh tươi. Để ngày nay con cháu có thể sánh vai cùng năm châu, bè bạn. Thờ Mẫu là nói đến TÌNH YÊU TỔ QUỐC. Khi hiểu được Mẫu như vậy sẽ không có mê tín. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, còn nhiều phụ nữ Việt Nam khác đã oanh liệt góp công bảo vệ đất nước này như Bà Trưng, Bà Triệu, các mẹ Việt Nam anh hùng. Xét trên ý nghĩa lớn “Mẫu” chính là tất cả những người phụ nữ Việt Nam đã anh dũng hy sinh, xây dựng đất nước này. Những tấm gương hy sinh không bao giờ nói hết đó, đã tạo thành hồn thiêng của dân tộc. 

Ta phải hiểu Mẫu linh thiêng chính là khí phách của con người khi còn sống, đã sống một cách oai hùng vẻ vang thì chết mới làm Thần, làm Thánh. Khi hiểu vậy, kính lễ Mẫu ta không rơi vào mê tín.Nếu không, mỗi lạy của ta là một lần mê tín chồng chất thêm. 

Thánh cũng vậy, một người sống vĩ đại thì khi chết mới làm Thần, làm Thánh. Nếu ai đưa ta đi lễ bái Thần Thánh mà không biết vị Thần Thánh đó là ai, tức là họ đã dắt ta đi theo con đường mê tín. 

Tín ngưỡng thờ THẦN THÁNH của ta đều xuất phát từ lòng yêu nước. Ta dắt con cháu ta đến các ngôi đền thờ Thần, thờ Thánh để nói với con rằng những vị được thờ đó là những vị anh hùng của dân tộc.  Khi đến lễ bái những vị này con hãy biết yêu non sông đất nước này. Không dẫn con đến lễ lạy Thần Thánh một cách mê muội để lớn lên chúng trở thành mê tín. 

Tiếp theo, Thượng tọa phân tích tâm lý của con người đối với việc nhập đồng, nhập cốt và giải thích  « Việc cầu xin Thần Thánh phù hộ để được hạnh phúc thì ta không vi phạm luật pháp, đạo đức nhưng về trí tuệ ta không sáng suốt.  Đó chỉ là sự vay mượn của Thần Thánh. Khi được rồi thì ta trả nợ bằng cách giết heo, gà mang cúng thần là ăn gian. Ta phải trả nợ bằng cách làm nhiều việc phúc đức trong đời, sống đời thiện lành, hay cứu giúp người hoạn nạn ».

Người theo đạo Phật thì tin nhân quả, muốn tìm sự sung sướng thì đi làm Phúc (Làm phúc, gieo nhân lành cả đời). Khi phúc báu đủ đầy thì ta được tất cả. Cách này rất chậm. Nhiều khi làm phúc kiếp này mà kiếp sau mới được hưởng. Đờì bố làm phúc mà đến đời con, đời cháu mới phát lên được. Cách làm phúc gieo nhân theo nhân quả rất là chậm nhưng rất bền, rất chân chính. Để thoát khổ cần phải làm 2 điều, đó là siêng năng làm phúc và cần kiệm làm ăn. 

Gần đây, có một đạo nổi lên là Ngọc Phật Hồ Chí Minh, cũng có soạn kinh, soạn kệ đầy đủ.  Lúc sinh thời Bác Hồ là anh hùng dân tộc, là Chủ tịch nước. Thế giới phong tặng người là danh nhân văn hóa, chiến sĩ giải phóng dân tộc.  Người là lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam, khi Bác mất ta gán cho Bác là Phật thì oan cho Bác, không có cơ sở. Các văn kiện, bút tích Bác để lại không có nhiều văn kiện liên quan đến tôn giáo. Bác không xưng là Phật. Việc xưng Bác Hồ là Phật là việc của người sau gán vào, không có thật. Bác là người trí tuệ nhưng không có nghĩa Bác là Phật. Chừng nào Bác hoạt động tôn giáo, đi giảng đạo thì ta nói Bác là Bồ Tát.  Nhưng ở đây, cả đời Bác chỉ chiến đấu chống ngoại xâm, giữ nước.

Một điều nguy hiểm, người ta kêu gọi khi theo Ngọc Phật HCM phải dẹp bàn thờ ông bà tổ tiên đi. Tổ tiên tức là Tổ Quốc. Dẹp bàn thờ ông bà, tổ tiên là quên Tổ Quốc. Đây là thủ đoạn họ muốn xóa lòng yêu nước trước khi xâm lăng ta. Ta hiểu điều này mà dứt khoát không theo lối tuyên truyền có hại đó.

Để kết thúc bài Pháp thoại, Thượng tọa nhắc nhở Phật tử phải hết sức sáng suốt chọn con đường tâm linh cho đúng mà đi theo. Mê tín làm phiền toái đất nước và có thể làm hủy diệt cả một dân tộc. Để chọn con đường Chánh Pháp ta dựa trên 4 điều:

-  Lòng yêu nước.

-  Yêu thương nhân loại.

-  Niềm tin vào luật nhân quả nghiệp báo.

-  Hướng về lý tưởng giải thoát giác ngộ của Phật.

Đó chính là con đường tâm linh chân chính của ta. Mong mọi người có chính kiến để tu tập.

DUNG HIỀN

http://www.vidaothieng.net/vidaothieng/details.asp?id=212

Nghi thức tụng rước vong (Chùa Phật Quang)

Những Bài Kinh Tụng Hàng Ngày

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

 

NGHI THỨC TỤNG RƯỚC VONG

(Đứng nơi cần rước vong,vài người cầm nhang, hoa, quả.Thầy chủ lễ đứng giữa, Tăng Ni đứng hai bên phía sau, Phật tử đứng kế theo đó)

THẦY CHỦ LỄ NIỆM HƯƠNG
CẦU TAM BẢO GIA HỘ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 Lần)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 Lần)
Nam Mô Quan Âm Hóa Thân Tiêu Diện Hộ Pháp Bồ Tát (3 Lần)
Kính lạy mười phương Phật
Chư Bồ Tát Thánh Hiền
Xin gia hộ chúng con
Được nương thần lực Phật
Để đưa các vong linh
Vất vưởng tại chốn này
Về an trú Già Lam
Tu hành chờ siêu thoát
Nguyện trên chư Hộ Pháp
Dẫn dắt và chở che
Khiến cho các hương linh
Được thấm nhuần pháp Phật
Nguyện Phật lực vô biên
Với Từ Bi vô tận
Khiến tâm các hương linh
Được hiền lành mát mẻ
Xin mười phương chư Phật
Giúp cho các hương linh
Từ bỏ sự buồn phiền
Tham lam hay thù hận
Xin cho các hương linh
Biết thương yêu mọi loài
Biết sám hối tội khiên
Để thiện căn tăng trưởng
Nam Mô Quán Âm Hóa Thân Tiêu Diện Hộ Pháp Bồ Tát (10 Lần)

THỈNH VONG

Hỡi chư vị hương linh
Đang quanh quẩn nơi này
Xin hãy lắng lòng nghe
Lời gọi mời thân ái
Kể từ khi bỏ xác
Chư vị rất não phiền
Nghiệp lạnh đói triền miên
Hồn lang thang vất vưởng
Không ai người thân thích
Đủ công đức trợ duyên
Nên từ bấy lâu nay
Tâm hoang mang bất định.
Nay nhân duyên đã đủ
Chùa bày tỏ tâm thành
Thỉnh chư vị hương linh
Về ở chùa tu tập
Hãy kính tin chư Phật
Lòng từ ái vô biên
Cha lành của chúng sinh
Thầy hiền khắp ba cõi.

Hãy lắng nghe kinh kệ
Lời giáo huấn nhiệm mầu
Có năng lực sâu xa
Giải trừ đi đau khổ.
Hãy lìa xa buồn giận
Bỏ ác tâm hại người
Trừ ích kỷ tham lam
Quên kiêu căng tật đố.
Hãy khởi tâm từ ái
Thương tất cả chúng sinh
Kính tất cả Thánh Hiền
Khiêm cung như cây cỏ
Chùa là dòng suối mát
Tắt ngọn lửa khổ đau
Tăng là bóng cây cao
Chở che đời cô đôc
Thế gian nhiều tội lỗi
Có gì đáng vấn vương
Bụi trần lắm đau thương
Có gì nên quyến luyến.

Từ đây về với Phật
Tâm tĩnh hối tu hành
Vun bồi lại thiện căn
Đắp xây nền công đức
Từ đây về công quả
Lo gìn giữ chùa chiền
Ủng hộ chốn già lam
Giúp người yên tu tập

Như vậy là thoát khổ
Hết lạnh đói từng ngày
Cơm áo được đủ đầy
Lòng an nhiên thư thái
Khi công viên quả mãn
Sẽ sinh về một nơi
Sang quý giữa trời người
Hộ trì cho chánh pháp
Nam Mô Tiếp Dẫn Hương Linh quy hướng Già Lam Quán Âm Bồ Tát.

(Niệm mãi cho đến khi về đến chùa vào nhà thờ linh)

THỈNH HỘ PHÁP
NHIẾP HOÁ CHƯ HƯƠNG LINH

Kính lạy mười phương Phật
Kính lạy mười phương Pháp
Kính lạy mười phương Tăng
Cúi xin chư Hộ Pháp
Cùng chư vị Thiện Thần
Thường thủ hộ già lam
Hãy thương tưởng chúng sinh
Mà thọ trì nhiếp hoá
Nay chúng con triệu thỉnh
Hương linh ở các nơi
Về tu tập tại Chùa
Được nghe kinh thọ thực
Xin chư vị Hộ Pháp
Dạy dỗ các hương linh
Tuân thủ các giới điều
Sống trong vòng khuôn phép.
Dạy hương linh điều thiện
Tin Nhân Quả – Nghiệp Duyên
Rõ báo ứng công bình
Nên không làm điều ác
Dạy hương linh ích kỷ
Là gốc của khổ sầu
Chỉ nên sống vị tha
Để vượt ra đau khổ
Dạy hương linh kín đáo
Không bộc lộ hình hài
Làm người khác động tâm
Kẻo bị nhiều khổ báo
Hương linh không xâm nhập
Vào thân của mọi người
Làm rối loạn cuộc đời
Kiếp sau thành điên loạn
Dạy hương linh công quả
Bằng cách giữ cho chùa
Không ác tặc nhiễu xâm
Được bình an tu tập
Cúi xin chư Hộ Pháp
Nhiếp hoá các hương linh
Để họ được tiến tu
Đến một ngày siêu thoát.
Nam Mô Nhiếp Hoá Hương Linh Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát (10 lần)

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Nghi thức tụng kinh -(Chùa Phật Quang)

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

NGHI THỨC TỤNG KINH
                                                              ***
                                             (Dành Cho Khóa Tĩnh Tu)

NGUYỆN HƯƠNG
(Chủ lễ đốt 3 cây hương quỳ trước bàn Phật nguyện)
Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
(Xá 3 xá rồi đọc bài kỳ nguyện)

KỲ NGUYỆN
(Đọc thầm)
Hôm nay đệ tử chúng con tề tựu nơi Chùa ………… thành tâm thọ trì kỳ lễ tĩnh tu, lễ Phật sám hối, tu tập thiền định nguyện mười phương Chư Phật, Chư Bồ Tát từ bi gia hộ đệ tử chúng con tội diệt, phước sanh, thiện căn tăng trưởng, Bồ Đề tâm kiên cố tinh tấn tu hành cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
(Đọc tiếp bài niệm hương)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam Bảo tiền
Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát (3 lần)
(Đứng dậy cắm hương lên lư rồi chắp tay đứng thẳng, tụng bài tán Phật)

KHÚC TÁN CA TÔN KÍNH PHẬT
Kính lạy Đấng Vô Thượng
Người là cành Hoa Sen
Nơi biển đời nhân thế
Người là nguồn thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Là mặt trời ban mai
Đem ánh sáng cho đời
Dựng lại niềm tin sâu
Nơi tăm tối u sầu.

Quỳ lạy Bậc Chánh Giác
Thầy của khắp trời người
Lòng từ bi bao la
Cha lành chung bốn loài

Người là một đại dương
Mà con như giọt nước
Người là ngọn cao sơn
Mà con như hạt bụi.
Con xin đảnh lễ Người
Với trọn lòng thiết tha
Quy y và tôn kính
Xin đem trọn cuộc đời
Đi theo bước chân Người
Xa lìa bờ vô minh
Tìm về nơi giác ngộ
Xin theo trái tim Người
Để trải lòng thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (2 lần)
(Hoặc tụng bài này)
TÁN THÁN PHẬT
Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng.

Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

KHAI KINH
Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

LỄ PHẬT PHÁT NGUYỆN
( Dành cho khóa tĩnh tu)

1. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Chí thành đảnh lễ
Mười phương pháp giới
Trọn cả ba đời
Tất cả chư Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

2. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Từ tâm vô lượng
Tĩnh lặng an vui
Trải khắp muôn loài
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

3. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Bi tâm vô lượng
Thương xót chúng sanh
Trong kiếp luân hồi
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

4. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Hỷ tâm vô lượng
Khuyến hóa chúng sanh
Bỏ ác làm lành
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

5. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Xả tâm vô lượng
Thương cả chúng sanh
Si tối cang cường
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

6. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Công đức hy sinh
Hạnh phúc thế gian
Vì đạo quên mình
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

7. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Giới thể thanh tịnh
Phạm hạnh sáng trong
Như tuyết như gương
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

8. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Đại lực tinh tấn
Chí nguyện kiên cường
Hàng phục chướng ma
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

9. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Trải vô số kiếp
Đại hạnh vị tha
Cứu giúp muôn loài
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

10. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Định lực thâm sâu
Chứng đạt đạo quả
Vô thượng Niết Bàn
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

11. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Trí tuệ cao siêu
Biết rõ sáu đường
Suốt nhìn ba cõi
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

12. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Biện tài vô ngại
Giáo hóa chúng sinh
Hàng phục ma binh
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

13. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Giáo pháp nhiệm mầu
Chữa lành muôn bệnh
Phiền não vô minh
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

14. Đệ tử chúng con
Hết lòng kính ngưỡng
Thần lực vô biên
Ứng hiện tuỳ duyên
Hóa độ khắp miền
Của mười phương Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

15. Đệ tử chúng con
Chí thành cầu nguyện
Chư Phật gia hộ
Chánh pháp sáng soi
Mãi mãi lưu truyền
Không hề đoạn dứt
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

16. Xin Phật gia hộ
Tất cả chúng sanh
Thương kính lẫn nhau
Sống theo đạo lý.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

17. Xin Phật gia hộ
Tất cả chúng sinh
Trí tuệ quang minh
Thấm sâu lời Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

18. Xin Phật gia hộ
Tất cả chúng sanh
Trọn kiếp ngàn đời
Quy y Tam Bảo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

19. Chúng sanh tinh tấn
Dứt bỏ tham sân
Ái nhiễm muộn phiền
Oán hờn tranh đấu.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

20. Chúng sanh thoát khỏi
Kiêu mạn khoe khoang
Ích kỷ lợi mình
Gian tham đố kỵ.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

21. Chúng sanh tin hiểu
Nghiệp báo luân hồi
Nghĩ nói và làm
Hoàn toàn thuần thiện.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

22. Lòng thương rộng mở
Trùm phủ muôn nơi
Tận cõi vô hình
Cỏ cây cầm thú
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

23. Chúng sanh thắng được
Dục vọng thấp hèn
Làm chủ thân tâm
Sống đời trong sạch.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

24. Xin cho tà kiến
Rời khỏi chúng sanh
Để vững lòng tin
Mười phương Tam Bảo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

25. Bước vào thánh đạo
Nhu thuận khiêm cung
Từ ái bao dung
Buông dần chấp ngã.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

26. Dù cho tất cả
Biển cạn non mòn
Lòng vẫn sắt son
Kiên cường giữ đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

27. Nguyện cho thế giới
Mãi sống an lành
Khổ nạn chiến tranh
Thảy đều chấm dứt.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

28. Thuận hòa mưa nắng
Cây cỏ tốt tươi
Cuộc sống muôn nơi
Ấm no hạnh phúc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

29. Nguyện cho khắp cả
Cõi giới siêu hình
Thấm đượm lời kinh
Quay đầu giác ngộ.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

30. Chư Phật gia hộ
Tất cả chúng sanh
Đầy đủ duyên lành
Thiện căn lớn mãi
Vượt bao chướng ngại
Tỏ ngộ đạo mầu
Thiền định thâm sâu
Đồng thành Phật đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)

PHỤC NGUYỆN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Hôm nay đệ tử chúng con thành tâm quỳ dưới Phật đài tụng kinh Lễ Phật Phát Nguyện
Cầu nguyện:
Đạo pháp sáng soi giáo lý rộng truyền
Vì đạo quên mình bốn ân nặng nhớ
Thế giới hòa bình hết khổ đao binh
Mưa nắng thuận hòa, chúng sinh an lạc
Đại chúng tiến tu tĩnh rõ lỗi lầm
Rộng mở từ tâm, vì người làm gốc
Chốn chốn già lam tỏa hương đạo đức
Cho cả muôn loài quy phục tựa nương
Hết thảy vong linh trong cõi siêu hình
Bỏ ác làm lành, quy y Tam Bảo
Pháp giới rộng trùm ba cõi bốn loài
Đồng thoát luân hồi trọn thành Phật đạo
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

TAM QUY Y
• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sanh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển. (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sanh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

VÌ ĐẠO THIÊNG
(Đồng ca)
Đạo thiêng như ánh trăng soi trên ngàn thế gian
Từ bi ấm áp xua tan ưu sầu khóc than
Đời thôi bớt điêu tàn, tình thương sẽ tuôn tràn
Tiếng chuông dịu dàng lòng con trầm lắng
Từ đây cho đến vô biên vô tận kiếp sau
Nguyện đem chánh pháp, cho nhau quên ngàn nỗi đau
Lời Kinh rất sâu mầu, quỳ dâng những nguyện cầu
Trái tim xin vì Đạo thiêng khát khao.
Đời là những đắng cay vui buồn ghét thương
Kiếp nhân sinh lệ tuôn trên khắp nẻo đường
Rồi Phật Pháp giúp ta qua ngàn muôn hướng
Để hôm nay ta sống cho nhau đẹp ngời
Thân và tâm nguyện xin dâng đến Như Lai
Trọn cuộc sống bước chân vững vàng đi tới
Ánh Đạo mầu tỏa sáng tấm lòng muôn nơi.
Vì Đạo thiêng, xin thương mến cả nhân sinh
Vì Đạo thiêng xin đem hết lòng tôn kính
Trước đài sen mong khắp nơi vui thanh bình
Những ân tình như biển triều dâng sóng lên.
Vì Đạo Pháp ta đi gieo rắc ngàn nơi
Với con tim bao la như ánh mặt trời
Giữa cuộc đời Phật đạo bừng lên nắng tươi
Vui bên nhau hạnh phúc thênh thang rạng ngời. (2 lần)

Các bài giảng audio của TT Thích Chân Quang

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

11. Nhân và Duyên
Download

12. Kiếp Người
Download

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

19. Trưởng Thành
Download

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

22. Nhân Quả
Download

23. Như Thế Vẫn Chưa Đủ
Download

24. Triết Lý Bàn Tay
Download

25. Thực Tập Hạnh Phúc
Download

26. Mùa Xuân
Download

27. Tiền Bạc
Download

28. Trung Đạo
Download

29. Xây dựng cho kiếp sau
Download

30. Hạnh nguyên người trụ trì
Download

CHIẾN THẮNG CHÍNH MÌNH – TT THÍCH CHÂN QUANG

CHIẾN THẮNG CHÍNH MÌNH
                                                                                           THÍCH CHÂN QUANG

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Bài giảng của thầy ở Từ Tân lần này là lần cuối của năm này. Qua tới tháng giêng, mình lại tổ chức khóa thiền ngoài biển, đi ra biển mình vừa tu, vừa chơi, vừa tắm biển. Tới tháng 2, ta mới có bài giảng trở lại. Pháp Cú nhiều bài cũng hay, có những chuyện tích rất lý thú, qua những chuyện tích đó ta học được nhiều điều bổ ích.
Hôm nay, ta nghe bài Pháp Cú có sự tích câu chuyện cực kỳ lạ lùng. Hai bài kệ là như thế này:
“Dẫu nói trăm câu kệ
Mà không lợi ích gì
Tốt hơn chỉ một câu
Nghe xong được an lạc”

• “Dẫu tại bãi chiến trường
Thắng muôn ngàn quân địch
Sao bằng tự thắng mình
Là chiến thắng tối thượng”

Sở dĩ mà Phật nói 2 bài kệ liên tiếp vì liên quan đến câu chuyện như thế này:
Có một cô con gái tên là Kundalakesì = Bhadda Kundalakess. Có hai tài liệu ghi hai cái tên khác nhau một chút, nhưng cùng là một câu chuyện. Trưởng lão Ni Kệ nói đến tên bà là Bhadda Kundalakess, còn trong truyện tích Pháp Cú, cũng nhắc đến bà với tên là Kundalakesì. Bà là con gái duy nhất của một thương gia rất là giàu có. Bố mẹ thương cho con gái mình chỉ cho ở trên lầu cao.
Lần đó, cô đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ, thấy dưới đường phố xôn xao. Cô mới ghé ngang cửa sổ xem, thấy mấy người lính đang áp tải một tên cướp đi. Tên cướp vừa bị bắt này mặt trông rất ngầu, có râu quai nón, mặt trông lầm lầm lì lì, không nói tiếng nào, tỉnh queo, mặt không sợ hãi.
Bỗng nhiên trong giây phút đó, một tiếng sét ái tình đánh trúng cô gái một cái ầm… Cô tê tái lặng người, run rẩy toàn thân. Cô yêu tên cướp Satthuka đang bị bắt dưới đường, đang bị lôi đi. Chuyện thật khó tưởng tượng nổi. Đây cũng là một kỷ lục thế giới, một tình yêu ngu nhất thế giới, kỷ lục từ xưa tới nay.
Một tên cướp cướp ngay trước mặt mình, mới vừa bị bắt, cả đường phố ai cũng xôn xao hết, thế mà cô lại bị tiếng sét ái tình đánh, đem lòng yêu tên cướp đó. Đây là kỷ lục từ xưa đến nay ta chưa nghe chuyện này lập lại về việc một cô tiểu thư yêu một tên cướp vừa bị bắt. Tình yêu đến thật chớp nhoáng, và quả là một mối tình ngu nhất thế giới.
Tên cướp bị bắt xong, người ta xét xử rồi chuẩn bị đem ra pháp trường xử tội, chém luôn. Trong thời gian tên cướp bị bắt đem ra pháp trường, cô gái kia ở nhà đòi nhảy lầu tự tử, nếu không cho cô lấy tên cướp đó. Cô không chịu ăn uống nữa, bây giờ chỉ xin cho cô lấy được tên cướp mà thôi. Nếu không, cô dọa leo cửa sổ nhảy xuống lầu, chết theo tên cướp luôn.
Bố mẹ cô không biết tính sao, quá thương con mà không ngờ con gái mình nó ngu quá, nhưng cũng không biết làm sao vì chỉ có một đứa con gái duy nhất. Ở đây đừng ai là con gái duy nhất mà bắt chước kiểu này nha, tiêu cha mẹ mình hết.
Không biết sao, cuối cùng vì ông bố là một thương gia khôn ngoan, nên ông bí mật liên lạc với người coi ngục, trả hối lộ một số tiền rất lớn để tráo người. Tức là bữa đem ra pháp trường là người khác, một tử tội khác thế vô, che mặt cho khuất cho đừng ai thấy để đem ra chém luôn. Còn tên cướp thật sự thì lén đem đưa về nhà để làm chồng cô gái này. Chuyện rất là éo le.
Như vậy tên cướp có thương cô này không? Không, tất nhiên là đâu có thương. Tên cướp rất may mắn, vừa thoát chết vừa lấy được một cô gái đẹp, xinh và hưởng được một gia tài nữa. Không biết phước đây có từ đời nào, không hiểu nổi anh ta đã làm cái phước gì ngày xưa nữa.
Nhưng máu của anh ta là máu ác độc và tham lam. Bố mẹ vợ sợ người ta thấy mặt, không cho ra đường, cứ ở trong nhà yên đó với cô con gái. Tên cướp thầm nghĩ là tự nhiên sao mình chỉ sống quanh quẩn như vậy. Còn cô con gái thì rất hạnh phúc. Thấy con gái mình hạnh phúc, hai ông bà cũng chiều con. Chồng cô lại có máu giang hồ tứ chiến, rày đây mai đó, nay ăn nằm với cô này mốt ăn nằm với cô kia làm sao mà ở với một người được. Máu giang hồ nổi lên, hơn một tháng sau, anh ta chịu hết nổi. Một con người dong ruổi yên cương gặp đâu chém đó, gặp cô nào lấy cô đó, nay cứ ở một nhà, chung thủy với một cô gái, dù giàu đến đâu cũng không chịu nổi. Anh ta mới nảy ra một ý nghĩ rất là ác là phải giết cô này lấy gia tài, lấy gia sản rồi đi luôn. Nhưng trong nhà, nhiều gia nhân quá nên không thuận tiện ra tay. Anh ta mới nghĩ ra một kế, nói với vợ: “Hồi lúc bị bắt, anh có khấn với một ông thần ở một cái vực. Nếu thoát chết, anh sẽ tới cái vực đó để cúng. Hôm nay, em nên đi với anh tới đó để tạ lễ, mà em nhớ ăn mặc cho đẹp, mang nhiều nữ trang để trang nghiêm”. Cô vợ cũng “mê trai” rồi nên đâu có biết, đâu có suy xét gì, sai gia nhân lấy xe, đưa đến chân núi.
(Có những loại hành hình có khi là người ta chém bêu đầu giữa chợ, có khi người ta mang tử tội đến vực thẳm, xô tên cướp đó rớt xuống dưới chết, còn nếu sống thì thôi tha. Vực đó gọi là Vực Kẻ Trộm)
Vì phải leo lên dốc nên bỏ gia nhân ở lại hết, kêu gia nhân đứng đấy, anh ta dìu vợ lên. Đến nơi, anh ta trở mặt ngay, đổi thái độ khác liền. Người vợ liền nhận ra thái độ chồng bắt đầu biến đổi, sắc mặt từ từ trở nên lạnh lung. Bất cứ con người bình thường nào, từ chỗ thân thiện cho tới khi ra tay giết hại người khác, phải có một giai đoạn biến chuyển thái độ. Thật ra, cô gái không ngu, cô chỉ si tình thôi chứ cực kỳ thông minh. Cô bắt đầu nhận ra thái độ của anh ta vì trên đường đi, khi cô hỏi chồng những điều âu yếm, anh ta không còn nói những điều âu yếm nữa mà trở nên lạnh lùng, từ từ lộ mặt sát nhân ra.
Khi lên tới đỉnh vực rồi, anh ta ngoắc cô lại gần. Vì anh ta nghĩ mạng sống cô gái trong tay mình rồi, chẳng cần giấu diếm chi nữa. Anh ta ra lệnh: “Cởi đồ nữ trang ra đây”. Với bộ mặt tên cướp ra, anh ta nói “Chẳng tình nghĩa vợ chồng gì nữa. Nói thật hôm nay, ta giết ngươi, bởi vì ta không thể sống trong một gia đình hoài được. Máu ta là máu giang hồ tứ chiến”.
Cô gái kia ngỡ ngàng, nhưng cũng không ngạc nhiên lắm, vì trên đường đi, cô đã bắt đầu nhận thấy có cái gì lạ lạ, và bây giờ hiểu ngay cái lạ đó là đây: Người mà mình thương yêu, từng cứu mạng là người không hề thương yêu mình, chẳng hề biết ơn mình, bản chất chỉ là một tên cướp vô loại mà thôi”.
Ngay trong thoáng chốc, cô nghĩ ra một kế. Cô mới nói “Thôi thì đã lỡ là vợ chồng, một ngày cũng là vợ chồng, trước khi chết cho em được một lần bày tỏ tình thương đối với người chồng của mình trong một tháng qua”. Anh ta chấp thuận. Cô này mới từ từ cởi nữ trang ra rồi đi chung quanh, cũng giả vờ âu yếm nhưng rồi khi đi ngang tới lưng, cô mới xô mạnh một cái thì tên kia rớt xuống vực chứ không phải cô.
Khi xô tên kia rớt xuống vực rồi, cô mới gom hết nữ trang chạy xuống. Nhưng khi đang chạy xuống để gặp những gia nhân đang chờ mình, cô chợt nghĩ lại. Cô nghĩ “Bây giờ ăn làm sao nói làm sao đây vì cái ngu của mình với cha mẹ. Tự nhiên bây giờ làm cho cha mẹ mình khốn đốn khổ, sở lấy chồng về giờ chồng mình nó giết mình rồi bây giờ mình giết nó, không biết ăn sao nói sao”. Cô bỏ nữ trang giữa đường, rẽ con đường khác đi luôn. Cô đi tu.
Khi xuất gia cô gặp nhóm Ni Kiền Tử là nhóm khổ hạnh lõa thể. Nhóm khổ hạnh lõa thể này họ có lý luận rất là cao siêu. Thời đó giáo chủ của nhóm Ni Kiền Tử là Niganthaputta cũng gần như kẻ đắc đạo, chỉ thua Đức Phật thôi chứ khả năng nhập định, thần thông cũng rất là cao, lý luận cũng rất là dữ dội, và họ không hề mặc quần áo. Họ xem việc không mặc quần áo như là một sự tự tại. Mùa nắng họ không cần che mát. Mùa đông họ không cần giữ ấm. Và xem như việc mình bày cơ thể là một việc tự tại giữa cuộc đời, bất chấp dư luận. Họ xem đó là triết lý, đạo lý của họ. Họ cũng thuyết phục được khá nhiều người tin theo họ.
Không hiểu duyên như thế nào mà cô gái gia nhập vào, xin xuất gia theo nhóm đó. Mình không có tài liệu ghi rõ trong nhóm đó người nữ ăn mặc như thế nào mà chỉ biết rằng người nam của đạo lõa thể này thường ở trần ở truồng. Ví dụ như ở mức độ thấp nhất thì họ che một cái khố, che vừa đủ, còn lúc sống với nhau, họ chỉ ở truồng thôi.
Cô gái gia nhập nhóm này, cô tu hành tinh tấn, trí tuệ cô phát ra. Con người ngu nhất thế giới, si tình nhất thế giới không ngờ lại ẩn chứa một trí tuệ nhất nhì thế giới, nên đã chuyển tình huống bại thành thắng, rồi bây giờ vào đạo, trí tuệ phát ra. Cô ngồi thiền, học lý luận, trở thành người biện luận của giáo phái Ni Kiền Tử không ai qua nổi. Lúc đó cũng giống như có sự khuyến khích, vừa là niềm tự hào về mình, cô đi khắp nơi để thách thức mọi người biện luận đạo lý.
Theo phong tục của những người Ấn Độ thời xưa, khi muốn tranh luận họ sẽ đến một cổng thành hay một cổng làng, họ sẽ dựng lên một cái cây, một cái cành, một cái cây như một cây tre cao, trên đó họ treo một miếng vải hay một biểu tượng gì đó chứ thời đó chưa có chữ viết. Thời đó không có in hi-flex giống như mình bây giờ công bố: “Hôm nay có cuộc tranh luận của người nào, tên gì, ở đâu đó, mời mọi người đến tham dự”. Hồi đó không có chữ viết. Chữ viết chỉ dành cho những người rất quý tộc của Bà La Môn nên họ dùng biểu tượng cho người ta hiểu. Theo tập quán, họ thường cắm một cây nêu rất cao và treo trên đó một mảnh vải. Cô này thì không có vải vóc, cô chỉ đến cô đắp một đụn cát rồi bẻ một cành cây hơi dài dài cắm lên đó, ngay chính con đường đi vào, nghĩa là ai đi qua phải tránh né. Dấu hiệu đó người Ấn Độ họ hiểu là có một người thách thức tranh luận với tất cả mọi người trong làng này, trong thành này.
Và cô đi nhiều nơi như vậy cũng chưa ai biện luận nổi với cô về đạo lý. Khả năng cô thực đáng nể.
Một lần nọ, cô đến Xá Vệ. Xá Vệ là một kinh đô lớn nhất nhì của Ấn Độ thời đó. Thành Xá Vệ là lớn nhất đất nước Kosala, còn thành Vương Xá lớn nhất đất nước Ma Kiệt Đà. Cô dám đến thành Xá Vệ đắp một đụn cát, cắm một cành cây lên trên ngay giữa cổng thành như vậy, thách thức cả thành luôn dù nơi đó có biết bao giáo sư, học sĩ. Cô thách thức tất cả người trong thành, vì đi khắp nước, không ai tranh luận lại cô.
Không ngờ, hôm đó ngài Xá Lợi Phất đến đó. Ngài thấy cành cây, bèn sai người đạp lên cành cây đó. Bên Ấn Độ, người nào nhổ cái cành cây đó đi, bẻ cành cây đó đi hay đạp bỏ cành cây đó đi có nghĩa là người này chấp nhận lời thách thức tranh luận của mình. Thế là cô ra mặt và mời rất đông người đến chứng kiến buổi tranh biện này, với ý đồ cho thấy đây là lần đầu tiên thấy một người nữ của phái Ni Kiền Tử sẽ tranh biện, thắng một đại đệ tử của Sa môn Cồ Đàm.
Khi mọi người đến tập họp đông, ngồi nghe hai người tranh biện. Đầu tiên, tuy thời xưa người ta trọng nam khinh nữ, ngài Xá Lợi Phất lại lịch sự mời cô hỏi trước. Thế là cô hỏi, hỏi từ sáng cho tới chiều, hỏi câu nào ngài trả lời xong, cô hỏi tiếp câu khác ngay, hỏi dồn dập để dí ngài Xá Lợi Phất vào chỗ bí. Nhưng ngài không bí, nghe hỏi và trả lời các câu hỏi thong suốt từ sáng tới chiều.
Đến chiều, cô hết hỏi nổi nữa, ngài mới bắt đầu hỏi lại.
– “Bây giờ ta hỏi lại cô”.
Cô đành phải nói:
– “Dạ, xin ngài”
– “What is the One? – Một là cái gì?”.
Một câu đơn giản, câu nổi tiếng nhất thế giới, đơn giản nhất thế giới và khó nhất thế giới. “Một là cái gì?”
Hồi sáng, cô hỏi ngài câu hỏi rất dài, đủ thứ chuyện Niết Bàn, an lạc, giải thoát, tu tập,… đủ thứ chuyện trên đời câu nào câu nấy dài thòong. Bây giờ, ngài hỏi lại một câu ngắn gọn: “Một là cái gì?”
Ở đây, lần nữa, ta thấy trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất. Cô hỏi câu nào câu nấy phức tạp, ngài đều trả lời được hết, tới chừng ngài hỏi lại một câu cực kỳ ngắn gọn, cô bí liền, rời khỏi tòa, quỳ xuống đảnh lễ ngài:
– “Xin ngài dạy con “Một là cái gì?””
Đây là câu trả lời của ngài Xá Lợi Phất:
“Niết Bàn là duy nhất, đỉnh cao duy nhất của sự giải thoát, bình an tự tại không gì có thể so sánh được”.
Nghe xong, cô thán phục liền vì chỉ có người chứng được Niết Bàn thì mới nhìn thấy rõ, trả lời rất nhanh. Cô lạy một lạy.
Ngài mới nói tiếp:
– “Thế Tôn là duy nhất. Giữa Chư Thiên và loài người chỉ có một đấng Thánh cao nhất, không có người thứ hai có thể so sánh được”.
Cô quỳ xuống, lạy thêm một lạy. Ngài mới nói tiếp:
– “Sự hòa hợp của những vị Thánh tăng đệ tử theo Đức Phật là duy nhất, không ai có thể phá vỡ được tình thương yêu đoàn kết của Thánh tăng đệ tử theo Phật, bởi vì tất cả là Vô ngã, là một cái duy nhất”.
Cô quỳ xuống, lạy một lạy tiếp theo nữa.
Chúng ta nghe, mình không biết Một là cái gì, trong khi Ngài kể ra chừng 100 cái Một, không gì có thể so sánh được, cái nào cũng tuyệt đẹp, cũng cao cả như vậy.
– “Tứ Diệu Đế là Chân lý duy nhất, muôn đời và mãi mãi. Muôn đời trước và muôn đời sau, không có gì có thể cao hơn giáo lý Tứ Diệu Đế này, để đưa chúng sinh đạt được sự giác ngộ”.
Sau đó ngài mới đưa cô về đảnh lễ Phật xin cho cô được xuất gia. Lúc nghe kể lại câu chuyện tranh luận giữa hai người, Đức Phật mới nói bài kệ là:
Dẫu nói trăm câu kệ
Mà không lợi ích gì
Tốt hơn chỉ một câu
Nghe xong được an lạc”

Ám chỉ rằng cô hỏi ngài Xá Lợi Phất từ sáng tới chiều cả trăm câu nhưng mà rỗng, chẳng bằng ngài Xá Lợi Phất nói một câu là cô thay đổi liền, được lợi ích liền. Lúc đó, người biết chuyện của cô, mới kể cho Phật nghe chuyện của cô đã chuyển bại thành thắng, đã giết được tên cướp là chồng để thoát thân được. Đức Phật nói tiếp bài kệ thứ hai:
“Dẫu tại bãi chiến trường
Thắng muôn ngàn quân địch
Sao bằng tự thắng mình
Là chiến thắng tối thượng”

Phật vừa nói xong câu kệ đó, cô chứng A La Hán, và được ghi tên vào trong Trưởng Lão Ni Kệ luôn. Trong Tiểu Bộ Kinh, Trưởng Lão Ni Kệ ghi lại những vị Ni chứng A La Hán, trong đó, có tên cô này, là Baddha Kundalakess, với chuyện tích rất nổi tiếng này.
Ngày nay, học về lịch sử của Đức Phật mà ta không biết về những vị Thánh Tăng chung quanh Đức Phật vào thời đó thì quả là thiếu sót. Ta cứ tưởng rằng cuộc đời Đức Phật bình thường, chứ nếu ta biết có rất nhiều người rất đặc biệt, chung quanh Đức Phật vào thời điểm đó, ta mới thấy cuộc đời Đức Phật cực kỳ phong phú, cực kỳ đẹp.
Bây giờ ta phân tích một chút.
Ta nhắc lại kỷ lục mà cô đạt được đầu tiên là một tình yêu ngu nhất thế giới, yêu một tên cướp sắp bị đem ra chém. Có một lần, thầy đọc một câu chuyện, kể chuyện tình yêu của một cô gái. Cô gái đi trên đường, bị một đám cướp giật tấn công, có một người võ nghệ cao cường xuất hiện, đánh bay hết bọn kia cứu cô. Thế là cô đem lòng yêu thương người đó, yêu rất là si mê. Cho đến một ngày, cô mới vở lẽ ra người cứu mình cũng là một tên cướp. Lúc đó, anh ta nổi máu anh hùng, cứu một cô gái thôi, chứ bản chất anh ta cũng là một tên cướp, cũng du đãng, du côn chẳng ra gì. Nhà văn Vũ Hạnh đã viết câu chuyện đó, tựa là “Yêu nhầm”. Yêu xong rồi, mới biết đó là cướp! Còn ở đây, cô này đặc biệt hơn, biết cướp mà vẫn yêu. Rất là lạ! Tại sao như vậy? Ta có thể nói vì hai điều:
• Điều thứ nhất là trên yếu tố tâm lý học: Tình cảm thường thắng lý trí. Dù ta biết rất nhiều điều hay lẽ phải nhưng một khi tình cảm thương ghét nổi lên, ta vẫn bị tình cảm thương ghét sai khiến, còn những hiểu biết trước kia, dường như trở thành bất lực. Ví dụ ta thương một người, mà nhiều người biết họ là xấu, chính ta cũng biết họ là xấu nhưng mà tình yêu thương gì bí mật bên trong sai khiến, ta vẫn yêu thương vẫn bảo vệ, vẫn bênh vực mặc dù tận trong lý trí mình vẫn biết người này không tốt.
Hoặc là ta ghét ai cũng vậy. Ta ghét ai rồi, mọi người chứng minh cho ta biết rằng người đó là tốt mà ta vẫn không nghe, cứ luôn luôn tìm cách chứng minh người đó là xấu. Ta chỉ nói điều xấu, không nói điều tốt người đó ra mặc dù người đó vẫn có điểm xấu có điểm tốt, đâu phải hoàn toàn xấu. Nhưng mình cứ chửi và chỉ moi móc điểm xấu, gán điểm xấu, bóp méo sự thật để nói điều xấu, không bao giờ công nhận một điểm tốt nào của người ta. Đây cũng là một loại tình cảm thắng lý trí.
Ta thấy tâm lý con người ta như vậy: tình cảm thắng lý trí. Người ta hay bị như vậy.
• Điều thứ hai là nguyên nhân của nghiệp duyên từ quá khứ. Ta thương yêu ai vì ta mắc cái nợ gì từ kiếp xưa, mắc cái nợ gì đó. Nợ này có mấy trường hợp:
Trường hợp ta mắc nợ vì ân nghĩa. Trường hợp thứ hai là ta có lần nói dối như thế này.
Thí dụ như có một anh chàng đó tán tỉnh một cô gái vì cô đó giàu. Thật ra, anh ta cũng chẳng thương lắm, nhưng ngày đêm, cứ viết thư qua. Thời đó, chưa có nhắn tin thư điện tử, chưa có nhắn tin điện thoại, chỉ có viết thư hay gặp nhau nói: “Anh yêu em, anh yêu em mãi mãi, anh yêu em suốt đời, dù biển cạn non mòn tình yêu của anh đối với em không bao giờ thay đổi,…”. Nói dóc như thế thành cái nhân khiến cho đời sau, gặp lại, yêu si mê luôn mà không biết lý do gì.
Chỉ vì ta nói dối nên đã thành cái nhân, bắt ta phải thực hiện lời nói dối đó. Ai đã từng nói dối, qua kiếp sau sẽ gặp một người rồi thương si, thương mê chính vì lời nói dối này. Bởi vậy ta không nên bừa bãi, gặp ai, ta cũng nói “Anh thương em ghê!”.
Lời nói dối đó sẽ thành món nợ buộc ta phải thực hiện điều đó. Ai lỡ nói câu đó rồi, hãy kiếm gặp người ta, rút lại lời. Nói rằng: “Hồi tháng trước, em có nói là em thương anh đó, nhưng sự thật là em nói dối. Nay, em nghe giảng rồi em sợ, em xin rút lại, em hổng có thương anh”.
Còn trường hợp cô này si mê tên cướp một cách kỳ lạ như vậy, vì đời xưa, được người này có sức mạnh đứng ra cứu mạng cô trong lúc mình gặp nguy hiểm, như vô rừng bị cọp rượt hay bị cướp bao vây. Người ta cứu một lần rồi bỏ đi mất, nhưng cô chịu ơn này, cứ tơ tưởng suốt cả đời, mong được dịp mà đền ơn. Người đã cứu mình một lần chẳng phải là người tốt. Tình cờ, thấy ai gặp nạn rồi ra tay cứu một lần nên chưa chắc người đó là người tốt. Kiếp sau người này làm ăn cướp nhưng mà khi gặp lại, cô này do nợ xưa bùng khởi lên. Ơn cứu mạng ngày xưa khiến hôm nay cô nhất quyết cứu lại mạng người này. Vì vậy, bằng mọi giá cô thương yêu và cứu mạng người này. Cha mẹ do thương con, nghe lời con, giúp con cứu người này, chẳng qua để cô đền được ơn cứu mạng cô ngày xưa.
Nhưng rồi chính cô lại là người giết người này. Vì sao? Vì người này cứu cổ xong, lúc nào đó có chuyện gây gổ, rồi giết chết cô. Ai tốt với mình một lần cũng chưa bảo đảm. Cũng giống như kiếp xưa, tên cướp này cũng từng cứu cổ mà không yêu thương rồi quay lại giết cô. Và bây giờ cô gái cứu tên cướp xong, chính cô lại giết tên cướp đó. Nhân quả là như thế.
Nhân quả kỳ lạ chi phối tình cảm con người, nên ta phải hiểu một điều là tình cảm thương yêu trên đời không có thật lắm, chỉ do ân nghĩa mà thành. Ta sống với nhau có tình có nghĩa, có đạo đức thì tình thương mới được bồi đắp dần dần, rồi trở thành thiêng liêng, bền bỉ, trở thành đẹp như huyền thoại. Chứ sự thật tình thương không là gì hết. Con người thương nhau mà không vun đắp tình thương, chỉ sống giả dối hoặc không đối xử tốt với nhau, ân nghĩa xưa cũng tàn dần, tình cảm kia cũng phai nhạt dần. Cho nên tình yêu không phải là tuyệt đối như nhiều người đã tưởng. Ta phải hiểu tình thương chỉ là tương đối.
Nhân quả khiến cho cô gái xuất gia bên Ni Kiền Tử thì ta không hiểu. Nhưng việc chọn phái tu đều có nhân duyên. Trước khi tìm được một vị Minh sư, nhiều khi ta cũng phải đi qua nhiều giai đoạn, nhiều bậc thầy khác, nhiều phái tu khác cho đến khi cuối cùng ta gặp một phái tu thích hợp nhất với mình, một đường lối thích hợp nhất với mình, mới làm cho ta tiến đạo được. Còn trước đó, mọi điều chỉ là sự chuẩn bị. Hiểu được điều này rồi, ta sẽ không công kích ai nữa.
Ví dụ như có một người trước đây theo đạo Kitô, sau này gặp được đạo Phật, họ mến đạo rồi đi theo. Ta chớ nên nghĩ rằng trước kia, họ đi sai đường, về sau mới biết đi con đúng đường. Vì nhiều khi cái duyên của họ là trong bối cảnh đó, đạo Ki tô cho họ được một số điều thiện nào đó, giúp họ giữ mình trong điều thiện, không bị sa lầy, không vấp ngã trước khi họ gặp được đạo Phật. Khi gặp được đạo Phật, họ được thăng tiến tâm linh nhiều hơn nên theo. Ta nên nghĩ như vậy.
Hoặc có người tu Thiền, nhưng trước khi đến với tu Thiền, họ đã gặp pháp môn Tịnh độ, chuyên tâm niệm Phật. Mới ban đầu, họ nghĩ chuyên tâm niệm Phật là một pháp môn hiệu quả nhất. Cho đến bước sang Tu thiền, họ buông câu niệm Phật mà tìm được tâm linh chứng ngộ từng giờ, từng phút trong cuộc sống, chứ không muốn tìm sự hứa hẹn vào một cuộc sống nào đó sau khi chết. Dẫu cho người này nghĩ là qua tu Thiền hay hơn, ta cũng đừng cho rằng Tịnh độ là thấp. Ta phải nghĩ rằng, Tịnh độ là một giai đoạn. Chính vì nhờ người đó có một thời gian dài nhiếp tâm niệm Phật, mà nghiệp được tẩy rửa, tâm linh được nuôi dưỡng để chờ đợi, để chuẩn bị cho ngày gặp được Thiền, rồi đi sâu vào định luôn. Hiểu như vậy, ta sẽ dễ bao dung khi nhìn mọi điều trên đời này.
Bhadda Kundalakess cũng vậy. Triết lý phái Ni Kiền Tử cũng cao siêu, giáo chủ cũng vĩ đại lắm, cũng ảnh hưởng sâu rộng lắm, tồn tại mấy mươi thế kỷ qua bên Ấn Độ, cho tới bây giờ. Chỉ có điều giáo lý không rốt ráo lắm như đạo Phật. Vì giáo phái đó cũng không phải là dở, và cô gái đây là người có trí tuệ, không phải là người tầm thường, chọn đi theo giáo phái Ni Kiền Tử nên cô trở thành người biện luận đệ nhất của giáo phái đó, đi khắp nơi tranh biện mà không ai qua nổi. Chỉ đến khi cô gặp ngài Xá Lợi Phất là bậc thượng thủ tướng quân, một người trí tuệ đệ nhất, ngài đã nhiếp phục được cô. Trong kinh, không ghi lại cô có gặp một vị tỳ kheo nào của Phật trước đó hay không, nhưng ta có thể giả định rằng, cô đã từng gặp một số tỳ kheo đệ tử của Phật mà cũng chưa ai tranh biện lại với cô. Mãi đến ngày cô đến thành Xá Vệ, lúc đó nhân duyên gặp ngài Xá Lợi Phất rồi, cô mới bị nhiếp phục.
Phong cách ngài Xá Lợi Phất nhiếp phục một người giỏi lý luận và ngoại đạo làm cho ta phải ngạc nhiên và thán phục. Đầu tiên, ngài có thái độ rất trầm tĩnh, không vội vàng, không cần hơn thua, và nhường nhịn đối phương, nhường cho cô hỏi trước.
Khi cô hỏi, ngài trả lời từng điểm. Tiếc là kinh điển không ghi lại toàn bộ cuộc tranh luận đó. Nếu có phương tiện nào ghi lại hết câu chuyện hỏi – đáp thì thật là thú vị, ta sẽ biết cô nêu từng điểm nào, ngài Xá Lợi Phất trả lời từng điểm như thế nào để đưa cô dần đến gần chánh pháp.
Có một số điều thấp thấp ban đầu của Đạo Phật và giáo phái Ni Kiền Tử rất giống nhau, nên khi ngài trả lời, cô đồng ý ngay. Cô càng hỏi tiếp, ngài trả lời càng sâu dần, đưa cô đến càng gần Chánh Pháp. Tới buổi chiều, khi mà cô thỏa mãn hết mọi điều mà ngài trả lời, không còn gì để hỏi nữa, tâm cô đã mềm lắm rồi. Bản ngã đã xuống rất nhiều. Lần đầu tiên gặp một người ung dung, bình thản tự tại giải đáp hết mọi điều, mọi câu hỏi chất vấn của mình, mà trả lời cực kỳ sâu sắc, trả lời cực kỳ mới lạ, chứ không phải trả lời cái điều mà mình đã đoán trước, đã biết trước.
Ví dụ như bây giờ mình gặp một người, mình hỏi “2 với 2 là mấy?”. Mình đoán trước câu trả lời là mấy? Mình đoán trước là 4. Nhưng có một người không trả lời điều mà mình đã đoán trước. Người đó trả lời thế này: “Khi ta nhìn thấy 2 số 2 đặt gần nhau thì ta đừng nghĩ rằng đó là 2 cộng với 2 để thành 4. Ta cũng đừng nghĩ đó là 2 nhân với 2 để thành 4. Ta cũng đừng vội nghĩ rằng đó là con số 22, cũng đừng nghĩ rằng đó là con số 2 lũy thừa 2. Biết đâu rằng con số 22 nằm phía trước giấu đằng sau nó một con số khác, tạo thành một công thức toán học mới. Một con số ẩn sau lưng đó là gốc, con số 22 đó là con số mũ lũy thừa, tạo thành một con số lớn khủng khiếp không thể tưởng tượng được trong trời đất này”. Người mà dám trả lời một câu mà ta không lường trước được, đó là một con người làm cho ta thán phục. Chứ còn ai đưa con số 2 với 2, người kia trả lời là 4, và chính ta cũng đã biết trước câu trả lời là 4, nên câu hỏi này không có gì đặc biệt.
Cái hay của ngài Xá Lợi Phất là ngài không trả lời như cô này đoán trước, mà ngài trả lời theo cách rất đặc biệt, rất sâu sắc và rất mới lạ, làm cho cô thán phục.
Đến buổi chiều, cô mềm lòng, ngài mới nói rằng “Bây giờ cô không còn gì để hỏi thì ta bắt đầu hỏi nhé. Cô phải trả lời “Dạ, thỉnh ngài”.
Ngài chỉ hỏi một câu đơn giản ngắn ngắn thôi: “Một là gì?”. Cô đành im. Vì sao vậy? Vì chưa có tâm chứng. Khác nhau giữa một người giỏi biện luận và một người có tâm chứng là đây. Người có tâm chứng nhìn thấy rõ chuyện, như nắm hẵn vấn đề trong lòng bàn tay. Còn người không có tâm chứng mà chỉ giỏi biện luận là chỉ suy luận bằng đầu óc, qua tư tưởng, qua trung gian những sự kiện chứ không nhìn thẳng được vấn đề.
Ví dụ như có một thiền sư hỏi đáp với một đệ tử. Người đệ tử trả lời xong, ông thiền sư nói một câu: “Nửa đêm đi thả gà đen”. Người ngoài nghe không biết ông thiền sư ổng nói gì. Cuộc hỏi đáp giữa hai thầy trò ông thiền sư với thiền sinh hết. Chấm dứt, sau khi ông thiền sư ổng phê bình một câu “Nửa đêm đi thả gà đen – Bán dạ phóng kim ô”. Người ta nghe người ta không hiểu. Nhưng mà người có chứng ngộ họ nghe câu đối đáp trước kia họ biết người thiền sinh đã trả lời đúng toàn bộ câu hỏi của ông thầy, đúng hết rồi nên cuối cùng chắc chắn phải là câu khen ngợi. Khen ngợi kiểu gì mà “Nửa đêm thả gà đen”?
Nếu mà ta không tin chắc người học trò đúng thì sẽ không giải thích được câu “Nửa đêm thả gà đen”.
Nhưng nếu thiền sư chứng ngộ, ta cũng là người chứng ngộ, lắng nghe từ đầu tới cuối cuộc đối đáp giữa hai người mà ta biết người đệ tử đã đối đáp đúng hết rồi, ta biết rằng người học trò là người chứng ngộ. Vì từng câu người học trò đối đáp đúng hết, hợp hết, tâm chứng đúng hết. Người ngoài nghe không hiểu nhưng ta nghe ta biết là họ đúng hết. Ông thầy phán rằng “Nửa đêm thả gà đen”, ta biết ngay là một câu khen mà người ngoài không biết đó là một câu khen.
Khen ở chỗ nào? Thường, khen thì phải mặt trời sáng, hào quang chiếu. “Nửa đêm thả gà đen”. Ta nghe ta biết câu khen liền. Khen nghĩa là gì?
Màu của ban đêm là màu gì? Màu đen.
Con gà màu đen luôn nghĩa là sao? Hợp nhau.
Ý nói rằng tâm của người học trò này hợp với tâm của ông thầy. Vì ông thầy chơi chữ “nửa đêm thả gà đen”, ta chẳng biết lời khen hay lời chê. Thiền sư khen mà nghe tưởng như chê, nhưng sự thật đó là một lời khen.
Tại sao ta biết đó là lời khen? Bởi vì ta đã quan sát cuộc nói chuyện ta biết được.
Ở đây, ta phải hiểu là cô đó dù biện luận giỏi đến đâu nhưng chưa phải là người chứng ngộ nên không thấy được vấn đề. Còn ngài Xá Lợi Phất là người chứng ngộ nên ngài thấy vấn đề như nắm trái xoài trong lòng bàn tay.
Hỏi “Một là gì?” cô kia chịu thua liền vì cô không phải là người chứng. Vì mình không phải là người chứng nên trong đầu mình có 1000 chuyện trong đó, còn người chứng, trong đầu chỉ có duy nhất cái Một thôi: Niết Bàn, chứ không có gì khác nữa. Khi nghe hỏi “Một là gì?”, lấy cái Một duy nhất đó ra trả lời liền.
Còn mình bây giờ hỏi “Một là gì?”, mình không biết, vì trong đầu mình không hề có cái gì là Một cả. Trong đầu mình có cái gì ở trong đó? – Có một triệu thứ ở trong đầu mình.
Thứ nhất là gì? Tết sắp tới.
Thứ hai là gì? Tiền đang mất giá.
Thứ ba là gì? Ngân hàng sắp đáo hạn tới nơi. v.v.
Một triệu vấn đề trong đầu mình, nào là kinh tế thì khủng hoảng, mưa gió bão bùng, model đời này… Ta có một triệu vấn đề, nên khi hỏi cái gì là Một, ta không thấy. Còn người chứng đạo, trong tâm họ chỉ có duy nhất cái Một, nên hỏi “Một là gì?”, họ đã có sẵn câu trả lời.
Cũng vậy, đến khi cô Baddha Kundalakess quỳ xuống, xin ngài giải đáp, ngài nói Một là Niết Bàn; bởi vì trong tâm ngài, ngài thấy chỉ có Niết Bàn, một thứ duy nhất trong tâm. Và muốn hỏi nữa thì từ trí tuệ về Một trong Niết Bàn trong tâm ngài, ngài nói tiếp cho cô nghe: Phật là Một, một bậc Thánh duy nhất trên đời không ai có thể so sánh được, cả cõi trời và cõi người…
Cứ như vậy, ngài nói cả trăm điều Một, đều đẹp giữa đời này, trong đó có một điều làm ta cảm động: Tình thương yêu hòa hợp giữa những Thánh tăng đệ tử của Phật là duy nhất. Sự đoàn kết là một, không ai có thể chia rẽ hoặc phá vỡ được. Vì sao vậy? Vì các ngài là vô ngã.
Khi ta có bản ngã, mỗi người một ý, tình thương yêu đoàn kết có vấn đề. Người nào đến rỉ tai ta một chút xíu, ta nghe lời chút xíu, lòng của ta bớt yêu thương Tăng đoàn của mình, ta bớt yêu thương thầy mình. Bây giờ, ngay khi mình xuất gia, mình đi tu theo thầy mình, mình nguyện lòng thương yêu thầy mình cả đời nhưng vì bản ngã mình còn, ngày nào đó có người đến rỉ bên tai mình, nói “Ông thầy này ổng hổng có hay, ổng xấu, ổng bệnh, ở trên mạng người ta chửi ổng hoài…”. Nói một lát, mình nghe có lý, lòng mình phai nhạt liền, bị lung lay liền, vì mình chưa phải là Thánh tăng đệ tử. Còn những bậc Thánh đệ tử của Phật, tâm các ngài vô ngã không còn tư chấp riêng của mình nên không có ai thủ thỉ, vận động hành lang, nói gì mà làm các ngài lung lay được nữa. Nên ngài nói : Tình yêu thương hòa hợp đoàn kết của các vị Thánh tăng đệ tử Phật là duy nhất, không gì có thể phá vỡ được. Câu trả lời này của ngài cũng là bài học cho tất cả chúng ta.
Hiện nay, chúng ta ngồi ở đây, chúng ta đều là con của Phật. Nếu ta chưa thể yêu thương nhau bằng tình yêu thương duy nhất như là ngài Xá Lợi Phất nói, phải biết rằng việc tu của ta còn rất là kém. Từ hôm nay, trước Tam bảo, ta nguyện lòng sẽ tu thế nào để tất cả chúng ta trên trần gian này cùng hướng đến một tình thương yêu duy nhất như ngài Xá Lợi Phất đã ca ngợi tình thương yêu của chúng Tăng, đệ tử của Đức Thế Tôn là duy nhất. Được không? Ráng phấn đấu như vậy.
Bây giờ, câu hỏi “Thế nào là Một?” nghe khó quá, vậy ta hỏi “Thế nào là Hai?” cho dễ trả lời một chút.
Cái gì là Hai? Hai là cái gì? – Ta và người là Hai. Ta thấy ta khác với mọi người. Ta và người là Hai.
Chính vì có hai cái đối đãi này mà trần gian đã sinh ra lắm chuyện phiền não, thương đau, rắc rối, cho nên ta nguyện là sẽ vượt qua cái Hai này, cái Ta và Người thế này.
Cái gì là Hai nữa? – Động và Tĩnh là Hai. Tâm ta lúc nào cũng xao động, mà tâm của bậc Thánh lúc nào cũng yên tĩnh, cho nên ta phải ráng tu để vượt qua được cái này, để làm sao tâm ta, tâm chúng sinh thật sự là tĩnh lặng, nhất như.
Cái gì là Hai? – Phàm và Thánh là Hai. Chánh và Tà là Hai.
Nhiều lắm, nếu ta có thì giờ ta suy nghiệm. Ngài hỏi cái gì là Một, ta đùa ta đặt câu hỏi cái gì là Hai để ta biết rằng trên đời có nhiều đạo lý lắm.
Bây giờ, ta trở lại bài giảng. Học Pháp cú mấy năm nay ta mới gặp ở bài kệ với câu nói của Đức Phật rất nổi tiếng này: “Tự chiến thắng mình là chiến thắng oanh liệt nhất”. Vì sao? Vì “kẻ thù lớn nhất của mình là chính mình”. Tại sao?
Tại sao “kẻ thù lớn nhất của đời mình là chính mình”? Nghe câu đó mình có thấy hay không? Có cái gì đó mình cảm thấy rất là hay phải không?
Tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Vì ước mơ lớn nhất của người tu là vô ngã. Hạnh nguyện lớn nhất của người tu là sống một đời vị tha, nên để đạt được vô ngã, để sống được một đời vị tha, ta phải chiến thắng với những cái gì đó ở trong lòng mình. Chứ không phải nói kẻ thù lớn nhất của mình là chính mình, rồi mình cầm dao mình đâm ngược vào mình, gọi là thắng mình. Không phải như vậy. Mà kẻ thù là những cái gì ở trong mình sai sử mình.
– Thứ nhất là gì? Ích kỷ. Chỉ nghĩ xem mình là quan trọng nhất. Cái gì mình cũng chú ý mình phục vụ mình trước hết. Mọi điều trên đời này là mình ưu tiên mình lo cho mình hơn cả.
Bây giờ trong đời sống ta tập xoay ngược lại. Thí dụ ta bước vào trong Chánh điện lễ Phật, thay vì tìm một vị trí ngon nhất, một chỗ chính giữa, mình nhìn qua nhìn lại chung quanh xem có ai không, nếu không có ai, mình hãy vào, quỳ ở giữa, lễ Phật. Nếu có ai thì mình xin ngồi nép sang một bên, mình nhường cho người ta trước. Trước một việc rất nhỏ, mình đã nghĩ đến người chung quanh.
Khi bước vào một phòng ăn, thay vì mình ngồi xuống, ăn liền, hãy nhìn chung quanh xem còn có ai chưa ăn, họ ngại ngùng, họ là người lạ mới đến họ chưa ngồi được, mình hãy mời họ trước… Tập trong đời sống hằng ngày là vậy, biết từng chút từng chút nghĩ đến người chung quanh mình. Được như vậy, ta diệt được tâm ích kỷ của mình, sống một đời vị tha, lo cho người khác từng chút một. Và đó là chiến thắng chính mình. Cuộc đấu tranh để chiến thắng chính mình này chừng mấy tháng sẽ xong? Mấy tháng?
– Cả đời này và những đời sau. Đó là một cuộc đấu tranh rất là đẹp.
Ví dụ như vô chùa, ông thầy hỏi: “Trời, ai làm đổ nước đây?” mà mình không có làm đổ. Nếu mình nhận: “Thưa thầy con làm đổ” tức là mình nói dối. Thực ra, mình biết có một người huynh đệ đã làm đổ. Ta có 2 cách giải quyết thế này. Hoặc là mình im lặng, không nhận tội, vì mình không có làm đổ. Hai là mình nhận mình làm đổ, để người huynh đệ mình đừng bị la, chấp nhận thầy cứ la mình cho xong chuyện, rồi mình đi lau. Nhưng như vậy là mình nói dối. Vậy làm sao? Bài toán này khó đó vì là bài toán của lòng vị tha.
Nhiều điều trong cuộc sống này phức tạp. Nếu muốn xử lý được để có được một đời sống đạo đức vị tha, ta xử lý rất khó, chứ không phải dễ.
Thầy nêu một bài giải mẫu như thế này. Khi ông thầy hỏi ai làm bể cái ly làm nước chảy tràn đầy trên bàn Tổ như thế này, mà mình không phải là người làm đổ, và mình biết người kia làm đổ đang đứng nép mình sợ thầy la không dám nói, nói ra sợ thầy hết thương. Mình thì muốn nhận để thay cho bạn mình vì mình tập đời sống vị tha mà. Nhưng nếu nhận, là mình nói dối nên mình sẽ xử lý cách này.
Mình nghĩ trong đầu thế này: Thật ra việc mà người kia làm đổ bể có liên quan tới mình, vì lúc đó mình cũng đứng gần đó, mà mình đã sơ ý không nhích cái ly đó vô một chút. Mình đã hơi thờ ơ nên trách nhiệm này có phần của mình ở trong đó chứ không phải không. Thôi thì một phần trách nhiệm đó mình nhận được, mới thưa thầy: “Thưa thầy, con có làm bể cái ly này”. Tức là mình nói mình có phần đó. “Con có làm bể cái ly này”, thế là ông thầy ổng đập cho vài cây, la cho vài câu xong là mình đi dọn cái ly. Thế là mình nhận cái tội cho bạn mình mà không mắc tội nói dối, vì mình nghĩ rằng mình có liên đới trong đó. Không nói dối, mà nhận được tội thay cho bạn mình.
Với từng chút từng chút trong cuộc sống như vậy, trước nhiều điều phức tạp mà ta tập sống đời vị tha quả là không đơn giản. Những lúc khó như vậy, ta phải hết sức khôn khéo mới giữ cho được vẹn toàn nhiều mặt.
Hoặc là mình chiến thắng sự lười biếng. Tuy lười biếng không thành tội lắm nhưng làm cho mọi thứ đều trì trệ, đen tối và suy tàn. Mình không gắng đi chùa, không gắng lễ Phật, công đức mình mất dần. Không gắng ngồi thiền, tâm linh mình không tăng tiến. Không siêng giúp người, phước mình từ từ hết sạch. Không ráng đem giáo lý đến với người, thì Phật Pháp từ từ suy tàn. Lười biếng thoạt nghe không làm thành một cái tội nhưng mà là tội, nên cần phải quyết tâm chiến thắng cái lười biếng trong lòng mình.
Mình đang đạp xe qua đường, thấy có cục gạch, mình lách cục gạch mình đi luôn. Đó là lười biếng. Lát nữa sẽ có người u đầu sứt trán vì cục đá mình không chịu lượm trước đó. Thấy là không tội mà làm thành cái tội. Chiến thắng lười biếng mình dễ không? Khó đó.
Rồi chiến thắng những tâm lý đố kỵ, thấy ai thành công mình ghét. Chiến thắng tâm lý tham vọng, lúc nào cũng muốn làm cha thiên hạ. Chiến thắng tâm lý thù dai, ai làm gì mình mích lòng, ghét người ta suốt đời. Chiến thắng cái tật hay nói xấu người khác. Chiến thắng cái tật kiêu ngạo thấy mình hơn người. Chiến thắng cái tật khoe khoang, làm gì được chút nổ rân trời rân đất hơn pháo tết nữa. Chiến thắng cái tật tự mãn nửa chừng, mới vừa tốt tốt cái thấy mình ngon lành trong khi biết đường đi còn rất là xa, sự thành công trọn vẹn còn rất là khó…
Chiến thắng những tâm lý thầy vừa nói như ích kỷ, đố kỵ, tham vọng, thù dai, nói xấu, kiêu ngạo, khoe khoang, tự mãn không dễ chút nào. Đó mới là những kẻ thù nguy hiểm của ta.
Ví dụ bây giờ, người ta nói mình thế này: “Ủa, sao lúc này sao chị xấu quá vậy?”, thì lúc đó mình mới trả lời một câu: “Tại em giống chị”, tức là mình nói lại người kia cũng xấu. Mình nói một câu vậy là mình thắng người ta phải không? Đó là thắng người đó. Thắng người. Mà Đức Phật nói thắng người không ngon bằng thắng mình. Làm sao mà người ta nói mình “xấu quá vậy”, mình không giận, không phản ứng lại, không chê lại, không nói xỏ lại mà vui vẻ nhận lời nói xấu của người ta để mình thắng cái tâm giận của mình, tâm nhỏ nhặt của mình. Cái thắng đó mới ngon lành. Mỉm cười nói: “Dạ, lúc này chắc em tu dở. Cám ơn chị, em sẽ ráng tu”. Nói được câu đó là mình thắng mình, còn mình nói xỏ người ta lại một câu “Tại em giống chị” thì mình thắng người ta, nhưng chiến thắng đó không oanh liệt.
Rồi trong khi ngồi thiền, vọng tưởng cứ chập chùng, chập chùng cho ta không tu tốt được mà một ngày nào đó, với sự kiên trì ta vượt thắng được vọng tưởng, đó cũng là chiến công oanh liệt. Khi vọng tưởng lắng rồi thì ảo giác bắt đầu xuất hiện, ta thấy hào quang, ta thấy Chư Thiên và ta cũng phải vượt qua điều đó vì điều đó rất hấp dẫn trong thiền định. Rồi đến khi thần thông hiện ra, ta vứt bỏ thần thông không dùng đến luôn vì dùng thần thong, bản ngã tái trở lại làm ta ngã xuống liền, bỏ thần thông cũng là một chiến công cực kỳ oanh liệt, vì khi có thần thông thì thường ai cũng dùng đến, ai cũng đem ra khoe. Vì vậy, chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất.
Tuy nhiên, câu nói này cũng mang tính chất tương đối, vì nếu ngày nào đó, đất nước ta lâm nguy, đạo pháp ta lâm nguy, mà ta cứ nghĩ “Thôi ta cứ chiến thắng mình đã”, không lo bảo vệ đất nước mình, đạo pháp mình thì ta lại mang tội. Lúc này, cần phải bảo vệ đất nước, bảo vệ đạo pháp.
Giờ ta nghe một bài kệ khác:
“Thắng mình và thắng người
Thắng mình tốt đẹp hơn
Ai chiến thắng chính mình
Nội tâm luôn an tịnh”

Câu này rất giống bài trước nhưng chuyện tích thì hơi khác
“Dù Thiên Thần, Thát Bà
Ma vương hay Phạm Thiên
Không thể làm gì được
Người tự thắng như thế”

Người tự chiến thắng mình rồi thì không ai có thể chiến thắng mình được nữa.
Bài kệ này có chuyện tích ngắn ngắn thế này: Ở gần Kỳ Viên, có vị Bà la môn, ông này có tật hay triết lý. Khi nghe mọi người khen Phật, ông cũng hay đi dò nghe Phật nói những gì. Phật nói: “Người tu tốt sẽ được đạo quả thế này, được đạo quả thế kia, được bao nhiêu là điều lợi ích”. Ông ngồi suy nghĩ “Phật chỉ nói toàn những điều lợi ích, nhưng trên cuộc đời này còn nhiều thứ bất lợi mà không nghe Phật nói, hay ta đến ta hỏi thử, có thể Phật nói những điều có lợi để dụ người ta đến với đạo nên không biết những điều bất lợi”. Ông đã chủ quan thôi vì việc gì mà Phật không biết được! Ông đến hỏi Phật: “Thưa Ngài! Tôi nghĩ rằng Ngài chỉ nói những điều có lợi, tu được lợi này, lợi kia, tôi không nghĩ rằng Ngài nói những điều bất lợi, trên đời này còn nhiều điều bất lợi”. Đức Phật nói: “Có những điều bất lợi thế này:
“Thứ nhất là ngủ dậy muộn
Thứ hai là lười biếng
Thứ ba là ánh trăng soi
Thứ tư là giàu sang mãi
Thứ năm là thích đi du lịch hoài
Và thứ sáu là ngoại tình”

Những cái như ngủ dậy muộn, lười biếng và ngoại tình thì mình dễ hiểu, nhưng có 3 cái làm mình hơi thắc mắc mà Phật nói bất lợi đó là ánh trăng soi, giàu sang mãi, và thích đi du lịch.
Tại sao nói ánh trăng soi là bất lợi? Vì người Ấn Độ thời xưa không có đèn điện như mình bây giờ, đêm xuống, người ta đi ngủ để dành sức khỏe hôm sau ra đồng áng làm việc tiếp. Khi đêm xuống, cuộc sống dừng lại hết, người ta đi ngủ sớm thì ánh trăng soi không có lợi cho ai hết.
Còn về giàu sang mãi? Điều độc đáo mà Phật nói giàu sang mãi là một điều bất lợi. Điều này cực kỳ hay. Người mà giàu hoài, giàu từ đời cha sang đời sang đời con, đời cháu thì rõ ràng là một bất lợi lớn, bởi vì mình không hiểu rõ nỗi khổ của người nghèo, bản ngã mình sẽ tăng lên cao, coi thường mọi người. Và chính vì bản ngã tăng lên cao, xem thường người khác là điều khủng khiếp, nhanh chóng đưa mình xuống địa ngục. Vì vậy giàu sang mãi là một điều bất lợi! Cho nên ai là giàu sang thì xin hãy cư xử như một người nghèo, mới giữ được cái Đức của mình bền bỉ, còn mình giàu sang rồi mà cứ cư xử như một người giàu sang, ăn cơm phải có người cung phụng, bước ra là phải có xe hơi, ăn trên ngồi trước, mặc đồ đẹp… Đức của mình sẽ sớm mất đi. Cho nên khôn ngoan nhất là nếu mình có được Nghiệp giàu sang thì hãy cư xử như một người nghèo. Nghĩa là mình tìm việc tay chân gì mà làm, như quét đường, nhặt rác, đi về miền quê đắp đường,… làm những điều như một người hèn mọn, mặc đồ bình thường, không mặc đồ hàng hiệu, gặp ai cũng tôn trọng, cũng cung kính dù là với một người nghèo trong xóm.
Ví dụ có bà già trong làng rất nghèo, lâu lâu con cháu mới mang tiền về cho bà, nhưng khi gặp bà ấy, mình cũng phải khoanh tay, cúi chào cung kính như mình là con cháu của bà. Nếu mình cư xử được như vậy, Đức của mình lớn hoài và không bị mắc lỗi.
Một điều bất lợi nữa Phật nói là thích đi du lịch hoài! Vì sao? Vì đi du lịch nhiều, mất thời gian, nên mình cũng bị mất phước, chứ không phải “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” đâu, đi hoài mất phước hết.
Ông khen Phật nói sáu điều bất lợi hay, Phật mới hỏi ông làm nghề gì, ông mới nói ông làm nghề đánh bài. Đọc bài này, ta mới phát hiện ngày xưa bên Ấn độ cũng có đánh bài, mà ông này là giai cấp Bà la môn mà làm nghề đánh bài. Vậy ta hiểu thế này: giai cấp là một chuyện mà nghề nghiệp là một chuyện khác. Ông này sinh ra trong giai cấp Bà la môn, nhưng không phải tất cả những người Bà la môn đều làm giáo sĩ, họ cũng làm đủ thứ nghề trong đời này kể cả nghề đánh bạc như ông này.
Đức Phật mới hỏi: “Với nghề đánh bạc này ông luôn luôn thắng hay sao?”. Ổng mới trả lời rằng: “Thưa Ngài, với nghề đánh bạc này có khi tôi thắng, có khi tôi thua, người khác thắng”. Đức Phật mới nói: “Khi ông thắng thì ông vui, người khác thắng thì người đó vui. Việc mình thắng người không hay, nếu mình chiến thắng chính mình, mới là hay”. Người thắng được mình mới là người vĩ đại, người đã chiến thắng mình rồi, từ trên trời đến cõi ma, không ai xâm phạm đến mình được nữa. Từ chuyện tích này mà có bài kệ như vậy.
Qua bài này, thầy nhắc lại hai điều làm ta yếu đuối: điều thứ 1 là cái ta muốn, điều thứ 2 là cái ta sợ.
Một người nào đó muốn khống chế ta họ thường điều tra xem ta sợ điều gì, tâm lý ta muốn điều gì. Họ điều tra biết ta như thế nào, họ tấn công vào 2 điều đó làm cho ta chịu thua liền. Vì vậy, là đệ tử Phật, tuy sống trong đời mình không cần phải làm anh hung, nhưng tu làm sao để không còn muốn điều gì và không còn sợ điều gì. Được như vậy, không còn ai thắng nổi mình nữa, vì mình đã chiến thắng chính cái ngã của mình, vượt qua cái muốn, vượt qua cái sợ.
Ở đây, mình muốn điều gì? – Muốn đẹp, muốn giàu.
Họ sẽ lấy những thứ đó ra dụ mình. Chẳng hạn, họ nói “tu theo họ, trong 3 tháng, họ sẽ làm cho mình đẹp lên” hoặc “nghe lời họ ra lệnh, họ sẽ giúp cho mình giàu lên”. Đánh đúng vào cái muốn của mình rồi, mình sẽ nghe theo liền!
Và mình sợ điều gì? – Mình sợ chết! Khi người ta kề dao vào cổ mình, nói: “không theo họ thì sẽ phải chết” nhưng nếu mình không sợ và nói: “có giết thì cứ giết đi”, sẽ không ai xâm phạm mình được nữa, mình mới nói tiếp “ai muốn nói chuyện gì với mình, chỉ được đem chính nghĩa đạo lý ra mà nói, đừng bày đặt hù dọa”, mình không sợ.
Ta nghe bài kệ khác:
“Mỗi tháng tốn nghìn vàng
Hoặc tế lễ trăm năm
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”

Hoặc 1 bài kệ khác:
“Dù suốt cả trăm năm
Thờ lửa trong rừng sâu
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”

Sở dĩ Phật nói hai bài kệ này là vì có hai câu chuyện về hai người, một là chú của Ngài Xá Lợi Phất, người còn lại là cháu của Ngài Xá Lợi Phất.
Ngài Xá Lợi Phất có cái hay là Ngài Phật hóa gia đình rất là quyết liệt. Khi Ngài đắc đạo rồi, Ngài cứ về nhà kéo từng người, từng người theo Phật. Ngài có một người chú rất giàu. Ông chú này theo giáo phái Ni kiền tử, mỗi tháng ông chú bỏ rất nhiều tiền cúng dường những vị bên giáo phái đó. Ngài Xá Lợi Phất biết chú mình làm một điều không phải, nhưng ở cương vị một người cháu mà nói ra thì không hay, nên Ngài rủ chú mình đi đến gặp Đức Phật.
Đức Phật hỏi: “Thường thường ông làm hạnh nghiệp gì?”. Ông này trả lời: “Thưa Ngài, mỗi tháng con bỏ ra rất nhiều tiền để cúng dường cho những vị tu hành bên Ni kiền tử”. Đức Phật mới nói bài kệ:
“Mỗi tháng tốn nghìn vàng
Hoặc tế lễ trăm năm
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”

Các bậc tự thắng là đệ tử Phật, là những người vô ngã, những bậc đó mới đáng cho ta cúng dường. Nếu ta tốn tiền cho những người không phải tự thắng mình, phước đó không nhiều.
Khi ta nghe câu chuyện ta sẽ hiểu thế này: nếu giáo phái kia nghe được, họ sẽ rất tức giận vì lời khuyên này giống như Ngài phá bỏ nồi cơm của họ, chặn đứng nguồn kinh phí tài trợ của họ. Vì vậy, Đức Phật thời đó bị công kích rất dữ dội. Bây giờ, trong kinh điển ghi lại, ta chỉ còn nghe một số trường hợp công kích Đức Phật. Ví dụ như: có một bà độn bụng, phao tin có bầu với Đức Phật hoặc có xác chết một cô gái chôn trong Kỳ Viên được đào lên và Đức Phật bị vu khống là đã dan díu với cô gái này rồi giết cô để thủ tiêu…
Ông chú của Ngài Xá Lợi Phất sau khi nghe Đức Phật thuyết phục, không còn cúng dường bên Ni kiền tử nữa. Và bên kia rất tức giận, cho nên phong trào công kích, nói xấu Đức Phật tràn ngập và kéo dài.
Còn người cháu của Ngài Xá Lợi Phất lại có một tín ngưỡng khác là đốt lửa trong rừng sâu. Vì nói trong rừng sâu không một bóng người nào mới linh thiêng, và nơi ngọn lửa đang bùng cháy đó, người này đổ dầu thơm vào để cho dầu thơm đó mang hương thơm lên cõi trời, mang theo ước nguyện thế này, thế kia. Ngài Xá Lợi Phất cũng đưa người cháu này về gặp Đức Phật và Phật cũng nói như vậy:
“Dù suốt cả trăm năm
Thờ lửa trong rừng sâu
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”
Qua câu chuyện, ta mới thấy một điều như thế này: tôn giáo nào cũng giống nhau là đều hứa hẹn một cái gì cao đẹp ở phía sau và cũng yêu cầu sự hiến cúng. Tôn giáo nào cũng bảo nếu theo tôn giáo tôi, bạn sẽ được cái này, cái kia, trong thời gian được cái này, cái kia, bạn cúng cho tôi cái này…
Người làm chính trị cũng nói: Khi tôi lên làm tổng thống, tôi sẽ làm thế này, thế kia hay thậm chí còn hứa riêng “tôi lên làm tổng thống, sẽ cho ông làm bộ trưởng liền; nhưng trước khi tôi làm tổng thống, anh lo tiền cho tui để ứng cử, bầu cử”…
Chính trị và tôn giáo đều giống nhau ở sự hứa hẹn và sự đóng góp cũng giống hệt! Bây giờ, giữa những tôn giáo giống nhau như vậy, ta phải chắt lọc ra được những gì được xem là chân chính để ta đem cả cuộc đời mình đi theo, mà không lầm đường, không uổng phí, chứ tôn giáo nào cũng giống nhau, cũng hứa hẹn cả!
Khi ta theo đạo Phật, ta cũng được hứa hẹn sẽ giải thoát giác ngộ, nhưng cái hứa trong đạo Phật là hứa mà không hứa. Vì sao? Vì hứa giải thoát giác ngộ là gì, có ai biết không? Nên đạo Phật hứa rất kỳ lạ, hứa mà như không hứa! Hoặc trong đạo Phật nói cái gọi là Vô Ngã, ta đau khổ vì ta có bản ngã, ta gây tạo tội lỗi vì ta có bản ngã, ta tu theo đạo Phật, ta không còn bản ngã nữa. Như vậy, đạo Phật hứa ta một điều không có gì trong khi các tôn giáo khác đều hứa một cái gì có!
Ví dụ như bên Hồi giáo hứa “khi một chiến binh Hồi giáo ra trận không trở về được mà chết vì đạo thì Ala sẽ giữ cho các ngươi một chỗ trên thiên đường, nơi đó có sẵn 74 trinh nữ chưa có người đàn ông nào đụng đến da thịt, đang chờ người đó”. Điều này dễ hiểu, vì đó là điều của trần gian được đem lên trên thiên đường để ở đó, nên người ta dễ cảm nhận, chấp nhận mang bom lao vô chỗ đông người, chịu chết, mà không cần biết mình kéo theo bao nhiêu người khác cùng chết theo mình. Có phải họ lên cõi trời có 74 trinh nữ có chờ ở trên đó hay không, điều này, ta không biết nhưng ta chỉ biết một điều là sau đó, có rất nhiều tiếng khóc than, những người vô tội đã chết đầy, cơ thể tan nát, máu me tung tóe… Vậy tại sao đạo Phật hứa với ta một cái không có gì, không còn là ta mà ta lại đi theo?
“Không còn là chính mình
Người đã là tất cả”

Vì sao? Ta đi theo đạo mà hứa với ta không có gì bởi vì ta thuộc một trong hai hạng người.
Một, ta là người cực kỳ trí tuệ, ta tin rằng nơi cái không còn là ta nữa, mới thật sự là bến bờ hạnh phúc, an vui, giải thoát. Ta tin điều đó, trong từng giờ từng phút ta đi trên con đường đó, ta thấy cái đúng hiện ra trong từng bước chân ta đi, mỗi một lời ta nói đúng, ta thấy an lành, mỗi một việc ta làm ta thấy an lành, và ta đi dần đến chỗ không còn là ta nữa, ta thấy đây là lẽ phải, là chân lý.
Còn nếu ta không thấy những điều đó mà ta vẫn đi theo thì ta thuộc dạng khùng khùng, vì hứa cái không có gì mà cũng đi theo.
Đó là điều khác nhau giữa đạo Phật và các tôn giáo khác!
Ở đây, Đức Phật nói với bà con những người Xá Lợi Phất là cúng chỗ đó không nên, mà cúng dường những bậc tự thắng như đệ tử của Ngài mới là đáng quý. Thoạt nghe, mình tưởng như Phật cũng hơn thua với các đạo khác, nhưng tâm ý của Phật là khen ngợi ngài Xá Lợi Phất với thân quyến ngài Xá Lợi Phất, tức là những người này có được một người bà con vĩ đại như vậy mà không biết, cứ đi cúng ở đâu mà không quan tâm đến vị Thánh bậc nhất trong hàng đệ tử Phật. Ý của Phật nói là để tôn vinh Ngài Xá Lợi Phất trước bà con của ngài để những người này trở về, sẽ nói lại “trong bà con chúng ta có một bậc thượng thủ tướng quân siêu việt”. Chúng ta nên hiểu như vậy.
Ta nghe bài kệ cuối của kỳ này:
“Suốt năm cúng tế vật
Để cầu phước ở đời
Không bằng một phần nhỏ
Kính lễ bậc chính trực”

Bài kệ này cũng giống bài kệ trên, nhưng câu chuyện hơi khác một chút. Lần này ngài Xá Lợi Phất, sau khi độ hết bà con rồi, chuyển sang độ bạn bè của mình. Người bạn này cứ mỗi tháng giết một con vật để cúng tế thần linh. Ngài Xá Lợi Phất cũng đưa bạn của ngài đến gặp Phật, sau khi nghe ông khoe công đức là mỗi tháng cắt cổ một con vật cho đổ máu ra để cúng lên trên thần linh. Đức Phật nghe vậy mới rầy:
“Suốt năm cúng tế vật
Để cầu phước ở đời
Không bằng một phần nhỏ
Kính lễ bậc chính trực”
Điều này ta nghe cũng dễ hiểu, cũng giống như lúc nãy thầy vừa nói, có một loại tôn giáo xem sự giết hại như là một điều tốt, họ tạo nên một tà kiến nguy hiểm vào trong lòng chúng sinh. Nếu ai nghe như vậy, bị nhiễm ác kiến đó, rồi đi giết hại chúng sinh lại tự cho là điều tốt. Đây là điều hoàn toàn ngược với chân lý. Đây là Tà đạo, làm chúng sinh đau khổ lại tự cho là điều tốt.
Nhân Quả không cho phép ta làm điều này! Đây chính là điểm khác nhau giữa Đạo Phật và các tôn giáo khác. Khi nào ta đem an vui, lợi ích lại cho chúng sinh, ta sẽ được an vui, hạnh phúc trở lại; còn nếu ta đem đau khổ đến cho chúng sinh thì chắc chắn rằng chỉ có đau khổ chờ đợi ta mà thôi. Đó là điều khẳng định!
Tuy nhiên, cũng có những giáo sĩ, những giáo lý dám lật ngược vấn đề, họ nói gây đau khổ cho chúng sinh nhưng làm đẹp lòng thần thánh vẫn được phước lành. Đây là một điều gian dối trắng trợn, bẻ ngược vấn đề!
Là đệ tử Phật, ta phải giải thích cho bạn ta nghe khi bạn ta lỡ theo một tà đạo. Ta bắt chước như ngài Xá Lợi Phất giúp bạn thoát khỏi tà kiến khi biết bạn mình rơi vào ác kiến.
Chính vì bạn của ngài Xá Lợi Phất, nghe sự xúi giục của một giáo sĩ nào đó, giết, cắt cổ con vật mỗi tháng để cúng thần thánh mà cho rằng đây mới là phước lành nên Ngài mới đem người kia về, nhờ uy đức Phật hóa độ. Cho nên ngày hôm nay, ta nghe được lời Phật hóa độ này, ta phải trang bị cho chính mình lý luận này để ta giải thích cho bạn bè ta: “Sống trên đời là có Nhân có Quả, ta không thể mong cầu thần thánh bởi một ít lễ vật mọn, một con vịt quay, một nải chuối mà cầu về trúng số bao nhiêu triệu, làm ăn khấm khá quanh năm,… nó không công bằng, không có Nhân Quả”.
Ta kính trọng những bậc thần thánh nhưng ta chỉ cúng tế những vị đó với lòng kính trọng, vì ta tin chắc, ta biết chắc vị này cũng có hiện thực. Ví dụ nói có bà mẫu. Hỏi bà mẫu này lý lịch ở đâu, sinh năm nào, mất năm nào, làm được công hạnh gì ở đời? Ta không biết, chỉ nghe nói bà này ở trên trời, không được sinh ra ở dưới trần gian nhưng thấy nhiều người tin quá nên ta lỡ dại cũng tin theo. Cho nên, trong đạo Phật, khi ta bày tỏ sự kính trọng đối với một vị Thần Thánh, vị đó phải có lý lịch rõ ràng, tức là trong lịch sử người đó đã sinh ra năm nào, mất năm nào, khi còn sống đã làm được điều gì có ích lợi cho quốc gia, cho xã hội, cho dân tộc, cho thế giới thì mới là người cho ta kính trọng. Ta biết rõ, mới tin vị đó với công đức như thế, sau khi chết an trú trong cõi thần linh, và tiếp tục sự linh thiêng, huyền nhiệm, đáng nhận được sự kính trọng của mọi người. Nếu ta không biết lý lịch người đó, ta chỉ tin là người đó linh lắm, chỉ là một niềm tin đầy mê tín, điều đó không phải đúng đạo Phật, phi Nhân Quả, là một ác kiến, tà kiến. Nếu ta cứ đi trên con đường đó, ta dễ gây nên nhiều tội lỗi.
Ví dụ bây giờ có một ông giáo sĩ nào đó đến nói với ta:
– Ngươi hãy giết đủ 10 người ta sẽ phong cho ngươi chức này, và khi chết, ngươi sẽ được lên cõi trời.
Mình ngạc nhiên, mới hỏi:
– Ủa sao kỳ vậy?
Ông giáo sĩ mới nói rằng:
– Tối hôm qua ổng ngủ thấy ông trời xuống nói với ổng như thế”
Và như vậy là mình tin theo và đi giết 10 người.
Hành động như vậy có đúng không? – Sai hoàn toàn! Vì mình có trực tiếp nghe ông trời dạy như thế không? – Không ai trực tiếp nghe ông trời nói hết. Chỉ có ông giáo sĩ đó nói mà thôi. Ông nói lời bậy bạ, xúi giết người, xúi làm hại nhân loại. Khi mình làm như vậy, mình chỉ phục vụ theo ý đồ, sắp xếp của tay giáo sĩ đó, chứ không có ông trời nào trực tiếp dạy mình làm điều xấu xa, ác độc ấy cả.
Nếu như ta điểm lại giáo lý của các tôn giáo từ xưa tới nay, không hề có ai được trực tiếp nghe ông trời nói cái gì, toàn là nghe trung gian giáo sĩ thôi, và qua trung gian các tay giáo sĩ thế này, bao nhiêu điều ác độc đã xảy ra nơi chốn trần gian. Tay giáo sĩ như thế, với ác kiến của mình, với tư kiến riêng tư của mình, với thành kiến méo mó của mình, dám mệnh danh là nghe từ Thượng đế, đã đem đến cho loài người biết bao là giáo điều, bao nhiêu là tín điều cực kỳ độc ác.
Vừa rồi, ở Mumbai Ấn Độ, một nhóm chiến binh nào đó thản nhiên cầm súng xả thẳng vào người ta, cầm súng ria ria ria ria, nhóm người vô tội ngã gục xuống. Họ đặt bom, làm chết mấy trăm người, bị thương cả nghìn người. Người ta là những người hiền lành vô tội, không hề bị tòa án tuyên án về bất cứ tội gì. Người ta đang đi mua sắm, sống cuộc đời bình yên lặng lẽ và hạnh phúc, vì quyền của con người là được hạnh phúc như vậy, được sống như vậy.
Vì vâng lời một giáo sĩ nào đó, cầm súng bắn xối xả cho người ta ngã xuống, thật là phi lý. Chỉ có tay giáo sĩ nào đó nói chứ chẳng ai nghe Thượng Đế sai sử chuyện tàn ác như thế bao giờ.
Sau này, khi ta có gặp bạn bè ta thì hãy nói như thế này “Bạn chỉ nghe lời từ tu sĩ, giáo sĩ của bạn nói. Chưa bao giờ bạn trực tiếp nghe thần thánh. Bạn có bảo đảm là giáo sĩ này nói đúng lời của Thượng Đế nói hay không?”.
Các vị thầy theo đạo Phật không nghe lời Đức Phật nói nhưng cùng nói giống như nhau “Không bao giờ gây đau khổ chúng sinh mà mình gặt hái hạnh phúc được. Chúng ta chỉ đem hạnh phúc đến cho chúng sinh, rồi nhân quả sẽ đem hạnh phúc đến cho ta.”
Những lời công bằng như thế, tốt đẹp như thế, dù chúng ta không được nghe trực tiếp từ Đức Phật, chúng ta cũng biết rằng đây là lẽ phải, là chân lý.
Từ lâu ta thường nghe câu này “Đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành”. Nhưng từ nay câu đó xưa rồi vì không phải là đạo nào cũng tốt.
Hôm trước, cách đây không bao lâu, có một ông người Đức lên trên núi chơi. Hôm đó, thầy có nói chuyện với ông người Đức này. Ông nói rằng, ông đi nghiên cứu qua nhiều tôn giáo, làm ăn qua nhiều quốc gia, bây giờ về Việt Nam đầu tư một ngành gì đó. Ông cho biết ông không tin nhiều vào tôn giáo lắm, vì ông chỉ tin vào những gì mắt thấy, tai nghe. Ví dụ như đạo Phật nói nhân quả, luân hồi, ông không tin, vì không thấy. Cũng giống như một số đạo nói Thượng Đế, ông không tin, vì ông không thấy.
Lúc đó thầy mới nói thế này: “Có những điều anh không thể nhìn bằng mắt nhưng mà nó vẫn có mặt, vẫn hiện hữu. Ví dụ như sóng điện từ trong không gian. Mở ti vi lên ta thấy là nhờ sóng điện từ lan trong không gian mà ta bắt được. Mắt anh đâu có thấy, nhưng mà nó hiện hữu. Hoặc là những hoạt động của một microchip trong máy tính điện tử, hoạt động đó cực kỳ phức tạp, anh không thấy được nhưng nó tạo thành bao nhiêu điều kỳ diệu cho cuộc đời ngày hôm nay. Nó là trí tuệ nhân tạo. Nên có những điều anh chỉ nhìn bằng trí tuệ, chứ không thể nhìn bằng mắt được. You must see by your wisdom, not by your eyes”.
Ông ngồi, gật gù một chút. Mình đem khoa học ứng dụng vào trong đạo học, sẽ thuyết phục được những người đi vào cực đoan không tin gì hết.
Có hai cực đoan: không tin gì hết và cái gì cũng tin không cần suy xét.
May mắn giữa hai cực đoan đó, đạo Phật cho ta một trung đạo, một trung đạo là ta tin. Chữ tin ở đây chúng ta không dùng chữ tin – believe – tin một cách không suy xét, mà chữ tin ở đây là accept – sự chấp nhận. Ta chấp nhận một điều gì sau khi ta đã suy xét thấy rất là hợp lý, ta đã kiểm nghiệm bằng tất cả lương tâm, ta thấy điều đó hợp lý, chứ không phải ta believe without wisdom, tin không có trí tuệ. Ta chỉ chấp nhận một giáo điều sau khi ta đã suy xét rất kỹ.
Ví dụ như luật Nhân Quả là sự công bằng, đem lại đạo đức cho con người, làm cho loài người ổn định, ta chấp nhận. Phật cho ta một giáo lý mà ta được quyền suy xét kỷ lưỡng trước khi ta chấp nhận. Vì vậy ta yên tâm đi theo con đường mà Phật đã dạy, cũng giống như ta đã cho rằng mình may mắn khi ta được làm đệ tử của Đức Phật. Giữa thế giới rối ren nhiễu nhương, phức tạp, hỗn loạn, mê mờ này, bao nhiêu tín điều, giáo điều cạnh tranh như thế này, ta có một nơi chốn bình yên, có một con đường sáng để ta vững chân ta bước đi từng ngày, ta an lòng sống cuộc sống hạnh phúc này. Dù phải đi qua rất nhiều khó khăn vất vả nhưng ta có ánh sáng, có trí tuệ trong tim ta, ta có Đức Phật trên đầu ta, trong lòng ta. Đức Phật cho ta một giáo lý đi đến một nơi không còn ta nữa. Ta đi trên con đường mà ta biết đó là con đường của nhân quả, của sự công bằng.
Hôm nay, ta có một câu hỏi để ta hỏi các bạn của ta: “Bạn nghe những điều này trực tiếp từ thượng đế hay qua trung gian giáo sĩ?” Và một lời khuyên các bạn của ta: “Hãy suy nghĩ lại (think over) trước khi bạn đem đau khổ đến cho nhiều người khác.” Vì hôm nay, sau vụ thảm sát ở Mumbai, đã đến lúc thế giới bị đặt trước một thử thách khốc liệt, một câu hỏi khốc liệt: “Tôn giáo nào là chân chính nhất?”.
Thầy cảm ơn mọi người đã lắng nghe. Xin chúc cho mọi người một mùa xuân hạnh phúc, an vui và thăng tiến.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                                                            THÍCH CHÂN QUANG (Chùa Phật Quang)

MỘT SỐ BÀI GIẢNG AUDIO CỦA TT THÍCH CHÂN QUANG

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

NỘI TÂM VÀ NGHIỆP BÁO – TT THÍCH CHÂN QUANG

NI TÂM VÀ NGHIP BÁO

                                                                            THÍCH CHÂN QUANG

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Hôm nay nhân ngày hiệp kị chư vị tổ sư tiền bối của tổ đình Phước Lâm. Kính thưa chư vị tôn túc đang ngồi phía sau quan sát, con xin phép chư vị cho con trao đổi với quí Phật tử một vài đạo lí đơn sơ, căn bản để các Phật tử có thêm hành trang để tu học.

Bây giờ Thầy hỏi quí Phật tử: “Cái gì là cái quí trên đời này?!”

Ví dụ khi chúng ta nghe một bài hát trữ tình, hay một bài thơ tình, chúng ta sẽ thấy người thi sĩ thường ca ngợi người yêu của họ ở điểm nào? Thường ca ngợi sắc đẹp.

Tóc em dài em cài hoa thiên lý, miệng em cười anh để ý anh thương… Tức là hình dáng bên ngoài.

Khi trưởng thành, người ta yêu thương nhau thì điểm người ta quí chính là hình thức bên ngoài. Nhưng khi sống lâu với nhau thì bắt đầu người ta thấy hình thức hết quan trọng mà tiền mới quan trọng. Vì có tiền mới có thể mua gạo, mua thức ăn, xây nhà,…

Có một cô gái lấy được một ông chồng rất đẹp trai nhưng sau này khi tâm sự với người bạn gái của mình rằng cái đẹp của chồng không tạo ra cơm được mà chỉ làm cô bận tâm ghen. Lúc ban đầu thì mừng vì lấy được một ông chồng đẹp nhưng khi lấy ông về rồi, có nhiều người đem lòng yêu ông. Thế là đau khổ, ghen tức. Nghĩa là cái đẹp đó chẳng làm được gì hết, chỉ thấy tiền quan trọng hơn. Tài sản là cái quan trọng thứ hai.

Sống trên đời này cái gì quí nữa? Mới ban đầu là hình thức rồi đến sức khỏe, tiền bạc, bản lĩnh, tài năng,… Đó là những cái quí trên đời.

Và người có hiểu biết lại quí nhau về tâm hồn.

Ví dụ khi gặp một người bạn, mình thương họ. Hỏi thương vì cái gì? Nếu trả lời: “Tôi thương vì đẹp trai”. Tình bạn như thế sẽ không bền vì sắc đẹp sẽ phôi pha theo thời gian.

Nếu nói: “Tôi thương vì anh ấy đàn hay, hát giỏi”. Chẳng lẽ hôm nào anh ấy té lọi tay hết đàn hay miệng bị đớ hết hát được thì hết thương sao? Nghĩa là đàn hay, hát giỏi cũng mong manh và vô thường.

Nếu nói: “Tôi thương vì anh giàu”, chẳng lẽ đến khi nghèo, lại hết thương nhau?

Nên mình nói mình thương ai vì tâm hồn người đó đẹp, mới là lí do chính đáng nhất, đẹp nhất.

Cũng vậy, một người con gái, lớn lên đến khi chọn vợ gả chồng được hỏi: “Bạn thương thằng đó ở chỗ nào?” Nếu cô gái nói thương vì tâm hồn của người đó đẹp, vì ảnh mộ đạo, ảnh yêu kính Phật pháp vì ảnh hay đi chùa Phước Lâm, vì ảnh suýt tí nữa là xuất gia… thì cái thương là chính đáng. Chứ thương một người vì có râu quai nón, có một ruồi duyên là thua, vì những cái đó không bền, không chính đáng.

Cho nên con người chấp nhận tâm hồn là cái đáng quí nhất hơn bất cứ gì trên cuộc đời này. Nhà cửa, tài sản, danh vọng, sắc đẹp đều là chuyện phù phiếm. Cái mà chúng ta phải chú ý, phải xây dựng, phải trân trọng, phải giữ gìn chính là tâm hồn của mình.

Nhưng không phải ai cũng có một nội tâm đẹp. Trong chúng ta còn có rất nhiều người ẩn chứa trong nội tâm của mình những điều không tốt. Và chúng ta không bao giờ chấp nhận để cho nội tâm chúng ta còn nhiều góc tối, còn nhiều bóng đen trong đó. Vì sao? Vì các góc tối, các bóng đen trong nội tâm chúng ta, sẽ dắt ta, đưa ta đi về nơi đọa lạc, nơi đau khổ. Cho nên chúng ta không bao giờ thỏa mãn với nội tâm đang có của mình. Ai mà nghĩ: “Tôi tu như vậy là được rồi, tâm tôi như vậy là được rồi”. Thì người đó hiểu nhầm, chủ quan. Theo lời Phật dạy, người này rơi vào ngu si bởi vì cứ tưởng tâm mình như vậy là tốt, là được rồi.

Tâm ai mới là được rồi? Chỉ có tâm Alahán và tâm Phật thôi. Ngoài Phật và Alahán ra, chưa có tâm ai gọi là được hết. Nếu lỡ một lúc nào, ai đó nghĩ trong tâm mình rằng: “Tâm mình như vậy là được rồi, vì mình biết đi chùa, không hại ai. Như vậy là được rồi”. Đó là một điều sai lầm. Chưa có được gì hết.

Vì vậy, để có thể xây dựng một nội tâm tốt lành, để cho nội tâm tốt lành đó đưa cuộc đời chúng ta về nơi cao cả, trong sáng thì phải biết về nó và biết phương pháp. Vì vậy hôm nay chúng ta nói với nhau đề tài là: “NỘI TÂM VÀ NGHIỆP BÁO”. Đây là đề tài chúng ta trao đổi với nhau ngày hôm nay.

Tâm là khởi điểm của nghiệp mà tâm cũng là kết cuộc của nghiệp. Tâm cũng là khởi điểm và cũng là kết cuộc. Có nghĩa là sao?

-              Chính tâm ta nghĩ ra cái gì đó rồi, chúng ta mới làm; khi ta làm, việc ta làm sẽ thành cái nghiệp; và nghiệp đó đưa chúng ta đến quả báo và quả báo đó lại hình thành trở lại cho chúng ta một nội tâm khác. Rất là lạ. Cho nên, khi một người tâm xấu tạo được một nghiệp tốt, những quả báo lành của họ đạt được giúp cho tâm họ bỗng nhiên chuyển từ xấu thành tốt. Ngược lại cũng vậy, nhiều khi tâm ta tốt, nhưng chúng ta lỡ gây nghiệp xấu, hình thành quả báo xấu và chính quả báo xấu đó khiến cho tâm ta xấu thêm một chút.

Đó là lý do ta nói tâm là khởi điểm của nghiệp mà cũng là kết cuộc của nghiệp.

Ví dụ như, hôm nay chúng ta đi đến chùa Phước lâm đây, chúng ta thấy con đường vào chùa như thế nào? May mắn là hôm nay trời nắng, nếu trời mưa sẽ thê thảm hơn nữa! Đường vào chùa hẹp, đường đất chưa tráng nhựa và có nhiều ổ gà. Ban đêm, không thấy đường đi, rất dễ bị té. Nếu té ở trên đường không sao, ngộ nhỡ té luôn xuống sông thì quả thật không may!

Có người khi đi vào chùa thấy đường khó khăn như vậy, trong đầu nghĩ: “Ước gì con đường bằng phẳng để cho Phật tử đi chùa dễ dàng.”

Người nghĩ như vậy có khi họ chưa phải là người tốt, cũng còn sân si, hơn thua, ích kỷ nhưng hôm nay, nhờ đi chùa nên thiện tâm mở ra một chút, và khởi nên ý niệm lành là ước gì con đường đó tốt hơn.

Nhưng ngồi ước như vậy con đường có tốt hơn không? Không. Và lần sau, đi chùa, con đường đâu còn nguyên đấy. Thế là người này bắt tay làm, tự mình lấy cuốc sửa con đường lại. Chỗ nào gồ ghề thì cứ ban ra cho bằng. Và kiếm tiền mua đá, cát. Chỗ nào lầy lội quá thì đổ đá, đổ cát vào để cho bớt sình. Từ ý niệm muốn cho con đường nó tốt dẫn đến hành động là cầm cuốc đi đấp đường. Và người thực hiện được việc đó rồi, việc làm trở thành phước in trong nhân quả luân hồi của mình.

Quả báo vẫn chưa hiện ra liền nhưng phước đã có rồi. Vì đã tạo được nghiệp lành cho nên phước dính vào cuộc đời mình, dính vào nhân quả luân hồi của mình và không biết khi nào trổ ra. Có khi ngay kiếp này, quả báo đó trổ ra. Có khi khoảng mười năm sau, người này tự nhiên gặp nhiều may mắn, có xe, làm ăn được thuận lợi…

Nhưng có người bị nghiệp che nặng quá, làm hết con đường này, bắt hết cái cầu kia mà đến khi chết cuộc đời vẫn đầy khổ sở. Lúc chết, người này vẫn tỉnh táo nhưng chết trong nghèo khổ vì nghiệp đời xưa. Và những nghiệp lành do mình đấp đường, bắt cầu vẫn còn nguyên đó. Mãi lúc đầu thai kiếp khác, lập tức được sinh vào nhà giàu, được người ta bồng bế, chìu chuộng, đẩy xe đi, đi đâu cũng có xe đưa xe rước… Cái phước người này đã đấp đường bắt cầu trong kiếp này không hưởng ngay trong kiếp này; phải qua kiếp sau mới hưởng. Đó cũng là tâm khởi điểm của nghiệp và tạo nghiệp rồi mới đưa đến quả báo. Ban đầu, người đó muốn làm đường; sau đó, ý muốn đưa đến hành động đấp đường, bắt cầu cả đời và đưa tới cái phước và quả báo mới bắt đầu hiện ra. Như vậy, ta có thể nói tâm là khởi điểm của nghiệp.

Hoặc là chúng ta thấy trong xóm mình, có một gia đình, khi người bố chết đi rồi, những người con giành chia gia tài, cầm dao rượt nhau chạy vòng vòng khắp xóm, suýt nữa gây án mạng nếu mọi người không chận lại kịp. Lúc đó, chúng ta mới suy nghĩ: “Tại sao tình anh em cốt nhục, chung một dòng máu huyết thống như vậy mà chỉ vì một rẻo đất có thể giết nhau, bất chấp cả việc tù tội?! Tại sao lòng người ác độc như vậy?! Trong cuộc sống, ngoài những người trong gia đình này, còn biết bao con người, nếu ai cũng ác độc như vậy thì cuộc sống này quả là cực kỳ đau khổ. Người ác thì chính họ đã bất an rồi, nhưng họ cũng gây khổ và gây bất an cho người khác”.

Cứ nghĩ như vậy, lòng chúng ta khởi lên một ước muốn: muốn làm sao ai cũng đạo đức. Mong rằng trong cuộc đời này ai cũng biết thương nhau, ai cũng sống có đạo đức. Đó mới chỉ là cái muốn thôi, là ý niệm thôi, tâm chỉ mới khởi lên thôi. Niệm của tâm khởi lên là muốn cho ai cũng có đạo đức, ai cũng đều thương nhau. Sau đó, ta mới nghĩ tiếp: “Làm cách nào để gieo rắc đạo đức, thương yêu giữa cuộc đời này?!”.

Trong lúc suy nghĩ như vậy, không biết làm cách nào, ta đi lang thang, cuối cùng đến chùa Phước Lâm, gặp Thượng Tọa trụ trì Thích Minh Trí. Thượng Tọa đem giáo lý của đạo Phật dạy cho. Sau khi người này nhận được giáo lý rồi, đem những giáo lý đó truyền bá trong làng trong xóm làng của mình: “Sống trên đời là có nhân có quả, mình gieo nhân gì mình gặt quả đó. Sống trên đời mình phải biết thương yêu”.

Thương yêu là điều khó vô cùng. Từ lúc biết đạo Phật, chúng ta nghe chữ từ bi ít nhất cả ngàn lần, có đúng không ạ? Nhưng hãy nhìn lại mình đã từ bi được chút nào chưa?! Chưa!

Cho nên ta cứ đem nhân quả nói với mọi người, khuyên con người thương nhau, cứ đem tình thương yêu gieo rắc mãi; như vậy sẽ tạo thành một cái phước. Cái phước đó có thể trong đời này người đó chưa hưởng, nhưng khi chết, chắc chắn người đó lên cõi trời. Thật vậy, những ai cả một đời đem nhân quả và đạo đức reo rắc vào lòng người, khi chết chắc chắn lên cõi trời. Rồi khi mãn kiếp ở cõi trời, người này có duyên hay do phát nguyện sinh xuống lại cõi đời này, chắc chắn người này có tư cách của một bậc Thánh.

Cái nhân đem đạo đức reo rắc cho đời, quả báo sẽ thành một bậc Thánh. Vì vậy, ai muốn làm Thánh thì suốt đời của mình hãy đem thương yêu, đem đạo đức gieo rắc giữa cuộc đời này.

Ví dụ, một người làm nghề chăn nuôi, nuôi heo, nuôi bò, nuôi dê, nuôi cá,… những người chăn nuôi như vậy trong đầu họ muốn cái gì? Muốn con vật mình nuôi đẻ nhiều. Bò đẻ một lần một con thì trách: “ Sao con bò không sanh đôi dùm cho tôi một lúc được hai con?!”.

Với cái tâm muốn cho con bò, con dê hay con heo đẻ cho nhiều đó thì bắt đầu ta nghĩ việc cho thụ tinh nhân tạo cho chúng đẻ nhiều, để ta có lợi nhiều. Và quả báo là như thế nào? Ai biết? Quả báo là chính mình chui vô bụng con bò, con dê đó để sinh ra lại! Nghĩa là nếu ta từng muốn cho chúng đẻ nhiều thì mình sẽ được đầu thai làm con của chúng để  chúng có thể đẻ ra nhiều!!! Mình sẽ bị đọa làm thú và làm giống cái để phải đẻ nhiều. Ý của mình đối với chúng sinh thế nào thì nó sẽ trở lại như vậy. Cho nên, ta nói ý là khởi điểm của nghiệp, rồi từ cái ý đó, chúng ta bắt tay làm và khi ta làm, việc làm sẽ tạo ra quả báo. Đó là ta nói về tâm khởi điểm của nghiệp.

Và tâm cũng là kết quả của nghiệp.

Như vừa nói, chúng ta giúp người, thương người, đắp đường, bắt cầu,… qua kiếp sau khi quả báo hiện ra, nó hiện ra trên rất nhiều phương diện. Chúng ta hãy nhớ, gieo một là hưởng một ngàn. Nhân quả là như vậy, gieo một là hưởng một ngàn, một triệu. Tại vì một nhân không bao giờ ra một quả mà cho ra rất nhiều quả báo.

Từ cái nhân đắp đường, qua kiếp sau người này có đôi chân khỏe mạnh, có phương tiện đi lại, làm việc gì cũng suôn sẽ, may mắn, đi trên đường không bị tai nạn xe, học rất giỏi và thích làm nghề cầu đường. Đặc biệt người này vừa thông minh lại vừa tốt bụng.

Chúng ta thấy quả báo hiện ra từ hoàn cảnh mình sống, từ cơ thể của mình và cả tâm trí. Như về dung mạo, ta sẽ đẹp trai hơn. Ví dụ kiếp trước, mình xấu, mình gieo nhân lành và tuy nhân lành mình gieo là không có ý làm cho đẹp trai. Nhưng khi quả báo lành hiện ra rồi, ta trông cũng đẹp trai hơn.

Một nhân thường cho ra nhiều quả. Quả là hoàn cảnh, dung mạo, sức khỏe, bản lĩnh, trí tuệ và của tâm ý của mình luôn. Cho nên, ta nói một nhân cho ra nhiều quả và trong nhiều quả đó có nội tâm trong đó – một nội tâm mới không còn giống như nội tâm cũ.

Đời trước, khi chúng ta đắp đường, bắt cầu, sự thật tâm ta cũng chưa tốt hết, nhưng đến kiếp sau, khi quả báo trổ ra rồi, tâm ta đẹp ra: ta trở nên tử tế, tốt bụng, hi sinh, tận tụy, chịu khó, sống vì người. Cho nên, chúng ta thấy nội tâm của chúng ta cũng là kết cuộc của nghiệp.

Từ cái tâm chúng ta tạo nghiệp, rồi từ cái nghiệp nó tạo lại cái tâm của chúng ta. Chúng ta nhắc lại, từ cái tâm tạo nghiệp, rồi từ nghiệp nó tạo lại tâm của chúng ta.

Lúc đầu, chúng ta đã đồng ý với nhau tâm hồn là cái quí nhất trên đời. Nếu có ai hỏi: “Anh cần cái gì?”. Chúng ta trả lời: “Tôi không cần tiền, không cần tài sản, danh vọng. Tôi chỉ cần một điểu là có được nội tâm tốt lành, thánh thiện, đạo đức, biết thương người, biết nhẫn nhục, biết khiêm hạ. Vì chính nội tâm này sẽ cho tôi tất cả mọi điều trên cõi đời này. Nếu tôi không có cái tâm tốt như thế dù tôi có tiền muôn bạc vạn rồi tất cả cũng đều sẽ sụp đổ. Cho nên nội tâm là quí nhất”.

Nhưng chúng ta phải hiểu rằng: Để có một nội tâm tốt như vậy, chúng ta phải dựa vào luật nhân quả. Chứ không phải nói, tôi muốn tâm tôi tốt là lập tức tâm tôi tốt liền. Không bao giờ có chuyện đó.

Chúng ta nhắc lại, đây là điểm chủ yếu của bài nói chuyện hôm nay. Đừng tưởng rằng tôi muốn tâm tôi tốt là ngay lập tức tâm tôi tốt liền. Không có chuyện đó. Câu nói này là để gở đi những hiểu lầm của vô số người học Phật.

Vô số người học Phật, sau khi đọc một bài kinh Phật, sau khi nghe xong một bài giảng đạo lí, thấy hay quá và lúc đó cứ tưởng rằng mình đã tốt như lời Phật dạy, tưởng rằng tâm mình đã tốt như bài giảng mà ông giảng sư đã nói. Cứ tưởng như vậy. Không ngờ ít lâu sau, mình làm nhiều chuyện tồi tệ, xấu xa. Lúc đó có nhiều người ngạc nhiên nói: “Ủa, ông đó ổng hay đi chùa, tôi thấy ổng đọc kinh Phật, nghe bài giảng. Sao bây giờ ổng lại làm nhiều chuyện tệ bạc như vậy? Ổng nghe kinh, nghe giảng, rồi ổng nói lại, tôi nghe ổng nói chuyện như là ổng rất tốt trên đời. Tại sao bây giờ ổng lại là một con người hơn thua, nham hiểm, thủ đoạn, ích kỷ như vậy?!”. Mình thắc mắc.

Cũng chỉ bởi vì một điều: một người muốn có tâm tốt phải có nhân quả tốt, chứ không phải ta hiểu được đạo lí là tâm ta tự tốt đẹp. Không phải khi mình muốn mình là người hiền lành, lập tức mình trở thành hiền lành. Không có chuyện đó.

Đây là điều gây nên sự hiểu lầm bấy lâu trong vô số Phật tử. Rất nhiều Phật tử đến chùa đọc kinh, nghe giảng, hiểu được, thích thú và cứ tưởng rằng kể từ đó mình đã tốt rồi. Nhưng sự thật nếu nói theo nhân quả chưa tốt chút nào hết. Chưa hề tốt chút nào hết.

Hôm nay, chúng ta nói với nhau bài này để chúng ta biết hai điều.

  • Điều thứ nhất, tâm là cái quí nhất trên đời. Cái vô hình, cái không ai thấy nhưng là cái quí nhất trên đời.
  • Điều thứ hai, muốn cho tâm chúng ta tốt, chúng ta phải kiên trì, tích cực làm tốt bằng cả một công trình, một công lao dựa theo nhân quả. Chứ không phải chỉ cần ta muốn tốt, hay ta hiểu được đạo lí tốt, là tâm ta lập tức trở thành tốt liền.

Xin quí Phật tử hãy nhớ dùm, yếu chỉ của bài giảng hôm nay là hai điều này.

Một, tâm là cái quí nhất.

Hai, muốn cho tâm tốt là cả một công phu cực khổ.

Nếu chúng ta nghe qua một đoạn đạo lí, nghe một đoạn kinh Phật, chúng ta hiểu được, thích được, rồi tưởng rằng, từ đây mình là người tốt rồi : đó chỉ là sự hiểu lầm nghiêm trọng. Phải nhớ rằng tâm ta vẫn còn rất xấu, muốn cho tâm ta tốt đó là cả một công phu tu hành rất cực khổ.

Người hay xây cầu, bắt cầu, đời sau tự nhiên có nội tâm giỏi về xây dựng và thông minh.

Người hay lễ kính Phật tự nhiên có nhiều nhân quả hiện ra, dung mạo đẹp dẽ, trang nghiêm, đi đâu ai cũng thương mến, có chất Thánh trong người mình và tự nhiên tâm mình hay xét nét, kỷ lưỡng về đúng sai, tội phước. Trước kia, khi chưa biết lễ Phật, làm việc gì, ta cũng làm bừa, không để ý tội phước. Nhưng khi mình lễ Phật được rồi, trí tuệ phát ra, làm điều gì cũng cân nhắc tội phước rất kỹ, không dám tùy tiện nữa. Đó là khi tâm mình đã trở nên tốt.

Còn một nhạc sĩ hay viết nhạc tình yêu, hay một ca sĩ quen hát nhạc tình sướt mướt, sẽ tạo nên cái tâm chứa tình cảm đa đoan, dễ dãi, lăng nhăng. Đó quả là điều không hay.

Những bài nhạc tình tràn lan hiện nay cho chúng ta biết một điều là người viết nhạc bị rơi vào nghiệp tình ái lăng nhăng, không ra gì. Và cả người hát nhạc đó cho mọi người nghe, cũng cùng chung một nghiệp, cũng tình ái lăng nhăng, không ra gì. Vì âm nhạc, nghệ thuật dễ gây ảnh hưởng vào lòng người. Ta gieo rắc vào đời thế nào thì tâm mình sẽ trở nên thế ấy.

Người mà sống trên đời hay giữ lời hứa. Ví dụ mình hứa: “À, nhà tôi có lọ hoa này đẹp lắm, hôm nào tôi đem cho chị”. Vẫn giữ lời, nhiều khi bận công việc gần hai tháng, không đem cho được; nhưng qua tháng thứ ba, cố đem cái lọ đến cho, không có nuốt lời. Nghĩa là hứa với ai điều gì đều thực hiện, đều giữ lời hứa. Thì người này đươc nội tâm gì? Quả báo gì? Quả báo thì sẽ rất nhiều, nhưng trong đó, có một quả báo rất đáng quí – đó là không bao giờ bị lú lẫn, bị quên, bị mê mờ, mà sẽ tỉnh táo cho đến chết. Nghĩa là khi chết, gọi con cháu lại hết dặn dò xong rồi mới chết. Là vì sao? Mình biết ngay người này trong suốt cuộc sống này giữ lời hứa rất kỷ.

Những vị tu theo đạo Nho thời xưa họ tôn thờ năm điều đạo lý là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Chữ tín là giữ lời hứa rất kỷ. Vì thế hầu hết những vị tu theo đạo Nho mà giữ được năm điều đó họ tỉnh táo cho đến giờ chết. Đây là nhân quả rất rõ. Nếu chúng ta hay quên lời hứa thì sao? Thì ngược lại, mọi người tự hiểu.

Nếu một người hay dùng rượu hay ma túy để gây cảm giác, có nhân quả gì? Nhân quả sẽ rất nhiều nhưng mà trong đó, nhân quả chi phối nhiều nhất là đầu óc mê mờ, đau đớn và khổ sở. Những người hay dùng thuốc để tạo ra ảo giác sung sướng thì phải bù lại, khi quả báo đến, mình sẽ rơi vào buồn thảm, khổ sở, đau đớn vô cùng. Đó là nhân quả. Cho nên người mà lỡ nghiện rượu hay nghiện ma túy phải giải nghiệp của mình bằng cách lao động công ích. Đây là nhân quả rất rõ.

Ở miền bắc, vùng Nam Định, có một câu chuyện như thế này. Có một thanh niên không có nghề gì, bỏ quê đi đãi vàng. Trong khu vực những bãi vàng, có đầy những người xã hội đen và tội phạm, nên anh bị ảnh hưởng, nghiện ma túy. Đến khi vàng hết, phải bỏ đi, trong túi anh không còn đồng nào. Đã khổ sở vì ‘thiếu thuốc’, khi xét nghiệm, lại biết mình đã bị nhiễm HIV. Đời coi như bỏ. Khi anh quay về quê, mọi người xa lánh. Cả làng nghe tên anh là sợ, nói với nhau: Thằng đó vừa bị nghiện vừa bị si đa nên không ai dám đến gần, không ai dám chơi. Hầu hết những người rơi vào hoàn cảnh đó rồi, chỉ còn chờ chết thôi. Có những người trước khi chết, quậy phá, đi cướp vài trận, rồi cũng bị bắn chết.

Thường thì cuộc đời người nghiện rơi vào bế tắc. Nhưng anh này không biết có phước gì từ đời xưa, bỗng nhiên có một cô gái đem lòng thương yêu dù biết anh vừa nghiện ma túy, vừa bị HIV. Đây là điều chúng ta không thể lí giải nổi. Cô gái này thương ảnh và đây chính là cái phao cuối cùng trong đời vì cả gia đình đã ruồng bỏ anh. Cô gái chấp nhận làm vợ anh. Thật là lạ, không hiểu nổi, anh còn cái phước gì sót lại.

Cô khuyên anh cai nghiện, giúp anh quyết tâm cai nghiện. Dù cai nghiện được nhưng HIV vẫn còn nằm trong người. Mà anh này vì quá thương vợ, quá cảm động, cả cuộc đời không còn ai thương mình ngoại trừ cô gái, nên anh nguyện sống trọn cuộc đời còn lại vì người con gái ấy. Anh quyết cai nghiện. Khi cơn nghiện lên, anh trói tay chân mình lại, những lúc lên cơn, đau đớn như là ai đóng đinh vào trong xương, như muôn ngàn con vòi ở trong xương bò ra. Chịu không nổi anh phải bứt dây ra, chạy đi kiếm thuốc thật là khổ sở.

Anh đau buồn vì thấy cai nghiện quá khó, một khi dính vào ma túy rồi, rất khó gở ra. Một lần nọ, buồn quá, anh đi lang thang dọc bờ sông, anh nhìn thấy con sống nó uốn dòng, đâm thẳng vô làng và dòng nước mỗi khi lũ lên làm cho làng bị ngập, phá tan nhà cửa hoa màu và mọi người phải chạy lũ và có nhiều người bị chết. Anh đứng nhìn dòng sông và nghĩ tại sao mình không nắn dòng chảy lại để khi lũ lên không đâm vào làng mình? Anh nói ý nghĩ của mình với nhiều người, và chỉ nhận được những nụ cười chế giễu anh là thằng điên, thằng khùng, thằng bị si đa sắp chết mà nghĩ chuyện đội đá vá trời. Không ai tin anh.

Lúc đó, anh hối hận vì trước đây, anh đã làm những chuyện sai lầm, bây giờ, anh muốn chuộc lại bằng một việc tốt cho cuộc đời. Thế là lủi thủi một mình, anh lấy cuốc, đào đất nắn dòng sông lại. Chỉ một mình anh làm. Cứ đào đất, đào đất. Khi đào, đất lòi ra những lớp sỏi. Anh sàng lấy sỏi đem đi bán cho những người xây dựng để có được ít tiền về phụ với vợ. Trong khi anh đang nắn dòng chảy, vợ anh có bầu và sinh được một đứa con. Điều kì lạ là anh bị HIV dương tính còn vợ anh và con anh là HIV âm tính, có nghĩa là không hề bị si đa. Hai vợ chồng ôm nhau mừng rỡ. Đây chính là một phép lạ. Khoa học không thể giải thích được chuyện này, bởi vì chồng bị si đa, thì chắc chắn vợ và con đều bị si đa. Nhưng anh bị si đa mà vợ con anh lại không bị. Đến bây giờ người ta vẫn không giải thích được. Anh vẫn đào đất, nắn dòng sông cho đến năm vừa rồi, dòng chảy anh nắn lại vẫn chưa hoàn tất.

Theo thường năm, cơn lũ đổ về, mọi người thấy dòng lũ kéo đến cuồn cuộn, đoán chừng mực nước lũ để chuẩn bị chạy. Nhưng kì lạ thay, con sông đó nó không đâm vào làng nữa mà nó lách đi đường khác theo như anh thanh niên kia đã nắn dòng. Cả làng vui mừng, từ đây xem ảnh là ân nhân.

Từ một con người không còn giá trị gì trên cuộc đời, bị nghiện ngập và bị si đa nhưng bởi lao động công ích của mình đối với cuộc đời đã biến thành một người hùng, một người ân nhân, một người có giá trị trong cuộc sống, khỏe mạnh, cơn nghiện cũng bay mất luôn, vợ con cũng không bị nghiệp đó. Đây rõ ràng là một phép lạ.

Chúng ta thấy phép lạ này là từ tấm lòng cao đẹp: muốn làm điều công ích cho đời. Cho nên phép lạ đã xảy ra. Chúng ta thấy người bị cai nghiện dù có trói lại, nằm một chỗ bơm thuốc nhưng vẫn không hết. Chỉ có lao động công ích, làm những việc gì mà đem lại lợi ích cho đời thì nó mới phá được nghiệp ghiền ở trong não. Vì thế, chúng ta cũng nên góp ý điều này với Nhà Nước, và những cơ sở cai nghiện. Phải lao động vất vả, đổ mồ hôi, đem lại kết quả, tạo phúc lợi xã hội mới chuyển được nghiệp nghiện, mới phá tan thuốc trước đây làm cho đầu óc mê mờ.

Chúng ta có hai trạng thái tâm trái ngược hẳn nhau: một là sự sáng suốt cực độ của Thánh – hai là sự mê mờ của những người bị tâm thần.

Người bị tâm thần thì quá mê mờ, không còn biết gì nữa. Họ tưởng đúng khi họ làm, nhưng sự thật là sai, có người thích đốt nhà, cả đêm tru tréo, chửi mắng cả làng cả xóm, có khi giết người, … Ngược lại là sự sáng suốt của một bậc Thánh. Một bậc Thánh nhìn suốt hết cả nhân quả ba đời, nhìn con người, nhìn sự việc hiểu được hết tất cả, xử sự việc gì là đúng việc đó.

Hai trạng thái tâm hồn trái ngược đó bởi hai nhân quả trái ngược nhau. Nhân quả của một người luôn luôn làm điều tốt, mãi mãi làm điều tốt thì sẽ tạo nên tâm hồn của một bậc Thánh cực kì sáng suốt. Còn một bên là một người cứ hay làm chuyện sai lầm, cứ hay nói bậy, phỉ báng, làm điều ác thì kết cuộc cuối cùng là tâm hồn mình tan vỡ để trở thành bệnh tâm thần. Đó là hai trạng thái cực độ.

Còn chúng ta không phải bệnh tâm thần mà cũng không phải là Thánh. Chúng ta lưng chừng ở giữa. Nghĩa là sao? Chúng ta không có làm gì quá đáng. Nếu nói làm tốt, chúng ta chưa đạt chỗ tốt cực độ; nếu nói làm ác, chúng ta không làm ác cực độ. Chúng ta lưng lửng, có tốt có xấu, cho nên bây giờ chúng ta còn ngồi đây để làm một người phàm phu. May mắn cho chúng ta là tuy làm người phàm phu nhưng ta còn biết quí kính Tam bảo, có nghĩa là chúng ta đang cố gắng hướng về vị trí Thánh. Nhân quả của chúng ta là như vậy. Hi vọng một ngày nào đó công viên quả mãn, chúng ta làm được vô số điều tốt cho đời này rồi, tâm hồn của chúng ta bỗng nhiên nở hoa, kết trái, để ta biến thành một vị Thánh chói sáng giữa cuộc đời này. Mong sao mọi người đều được như vậy.

Sau khi luận đi luận lại, chúng ta thấy nội tâm đúng là cái quí nhất trên đời này. Cho nên người trí tuệ là người chú ý xây dựng cho mình một nội tâm hoàn hảo trước, trước hết, lo xây dựng nội tâm của mình làm gốc.

Như Đức Phật đã dạy:

Tâm làm chủ các pháp

Tâm là người chủ tạo tác

Khổ não hay an lạc bước theo sau, và nghiệp theo ta như bóng không rời hình.

Nên vì vậy, khi được hỏi chúng ta đi tìm cầu những gì, mỗi người sẽ có một câu trả lời khác nhau. Hỏi: “Anh đi tìm cái gì?”.

-        Tôi đi tìm bằng cấp,

-        tôi đi tìm danh vọng,

-        tôi đi tìm mái ấm gia đình hạnh phúc,…

Nhưng nếu là một người có trí tuệ, sẽ trả lời:

-        Trước hết, tôi đi tìm nội tâm hoàn hảo trước.

để có được một nội tâm hoàn hảo, chúng ta phải biết sửa mình, biết tu tập, biết làm các công đức – đó là điều quan trọng mà ông bà mình thường hay nói là làm gì làm cũng phải biết “tu tâm dưỡng tánh”.

Tâm, tánh là cái gì đó vô hình, khó thấy nên rất khó tu, khó dưỡng.

Trong khi, con đường bị méo, ta có thể thấy rõ, có thể lấy cuốc ban, đắp được. Nhà dột, ta nhìn thấy, ta sửa được. Mũi ta xẹp, ta đến bệnh việc phẩu thuật kéo lên được. Lông mày ngay, ta vuốt cho cong được. Tóc ta bạc, ta đi nhuộm đen được,… Nhưng tâm ta như thế nào thì ta không thể thấy được.

Tâm ta, tánh ta là cái gì vô hình, nhưng ông bà, cha mẹ ta cứ dặn đi, dặn lại, “Con làm gì làm nhớ tu tâm dưỡng tánh nghe con”. Ông bà mình cứ mãi nói như vậy, nhưng tâm tánh là cái gì ta không thấy.

Chính cái không thấy đó mới là cái quí nhất. Cái tuy không thấy đó mà buộc chúng ta phải ráng tu, ráng sửa, ráng nâng niu, quí trọng, uốn nắn để làm cho trở nên sáng chói giữa cuộc đời này.

Thưa Thầy, tâm tánh không thấy được vậy làm sao sửa?

-                  Đúng vậy, tâm tánh là cái không thấy được nhưng ta phải biết cách làm cho nó hiện ra. Chúng ta phải tìm cho ra để sửa, ta phải biết nó như thế nào, để biết ta tốt xấu ở mức độ nào mà ta sửa.

Dựa vào đâu mà biết tâm ta tốt xấu?

-                  Giống như những nhà thiên văn nhìn lên trời cao. Trong vũ trụ, có một vật thể người ta gọi là những hố đen. Hố đen là những vật thể cực kì lớn, cực kì nặng mà không bao giờ lộ ra, không có hình dáng, không ai nhìn thấy, cả kính viễn vọng không bao giờ nhìn thấy. Các nhà khoa học biết chắc là có những cái hố đen nhưng không bao giờ nhìn thấy hố đen. Như vậy làm sao các vị biết là có? Bởi vì ảnh hưởng của nó tỏa ra làm những thiên thể xung quanh nó chuyển động, bị thay đổi. Nhìn vào những thiên thể bị chuyển động, bị thay đổi đó, nhà khoa học biết ở nơi đó, có một vật thể hoàn toàn tối không nhìn thấy được nhưng đang hiện hữu.

Cũng vậy, bây giờ ta nói tâm vô hình, vô tướng thì làm sao thấy được? Thấy ở chỗ nào? Thấy ở lời nói và việc làm của mình. Không thấy tâm con người, nhưng nghe người đó nói một câu, mình biết tâm người đó ra sao. Nhìn người đó sống, nhìn việc người đó làm, ta biết tâm người đó ra sao. Ta cứ nhìn việc làm và nghe lời nói của một con người, chúng ta biết tâm người đó ngay.

Nên bây giờ, chúng ta hãy tự đánh giá lại việc làm và lời nói của mình, để ta thấy được chính tâm của mình.

Ví dụ, ta gặp một người đáng kính mà ta không kính, ta bỡn cợt thì tâm mình là tâm gì? Tâm kiêu mạn! Hoặc chúng ta thấy một người tàn tật, tật nguyền đi cà nhắc, tay cà vẹo. Đáng lẽ ta thương họ nhưng ta không thương ta còn buông lời trêu cợt thì ta biết ngay là tâm ta không có từ bi.

Nhìn lời nói việc làm, ta biết tâm ta liền. Vậy ở đây có ai thấy người tật nguyền mà trêu cợt không?

-        Hầu hết chúng ta đều không vì chúng ta là Phật tử, ta biết thương người.

Còn khi thấy một bậc đáng kính mình có kính không? Kính. Như vậy mình không có kiêu mạn.

Khi thấy người Phật tử huynh đệ bạn đạo, cũng đi chùa như mình, nhưng không hiểu tại sao ông thầy lại thương người đó hơn mình. Tâm mình ganh tị. Ai hỏi đến người này, mình nói: “Ông thầy đó thiên vị quá, tôi đi chùa lâu hơn ông đó, tại sao ông thầy không thương tôi mà lại thương ông đó. Ông thầy này thiên vị, tu hành không có trí tuệ”. Vì không vừa lòng mình, mình sẵn sàng kết tội thầy mình.

Như vậy tâm ta là tâm gì? Đúng là tâm ganh tị. Khi ganh tị, ta sẵn sàng chà đạp tất cả, đổ lỗi cho người khác để không thấy lỗi của mình. Đáng lẽ ra ta phải thấy rằng, người huynh đệ kia có những ưu điểm gì mà mình không có, nên thầy thương quí hơn. Không hiểu được như vậy mà ta lại kết tội ông thầy là người xấu, vô tình ta phủi hết đạo đức của mình, phủi hết phước của mình luôn. Cho nên khi mở miệng nói lời nói như thế, ta phải biết rằng tâm mình còn xấu.

Đi chùa, ta thấy huynh đệ ta được thầy thương, bạn mến, ta phải mừng. Ta sẽ nói rằng: “À, vì bạn tốt như thế, mới được thầy thương, bạn mến. Thầy mình là người có trí tuệ, còn bạn mình là người có đạo đức”. Khi nói câu đó ra, ta mới là người có tâm tốt.

Bởi thế, ta nói: Qua lời nói, qua việc làm, ta biết được tâm mình, chứ tâm ta vô hình, vô tướng không sao thấy được. Và từ đây về sau, ta phải nhìn thẳng vào tâm mình trước khi nói hay làm điều gì, để ta không phải nói và làm những việc không hay do tâm xấu ác của ta sai sử.

Một điều quan trọng trong việc tu tâm dưỡng tánh nữa là ta phải nghiêm khắc với chính mình. Nghiêm khắc với chính mình là sao? Nghĩa là cương quyết không tha thứ khi mình sai lầm. Người khác sai, ta cho họ cơ hội làm lại, chứ chính mình sai thì không thể tha thứ, buộc chính ta phải sửa chứ không nuông chìu, bỏ qua.

Ví dụ hôm đó, mình gây gỗ với ai, mình nóng giận, mình cầm cái ly đập xuống bể tan nát hết trước mặt mọi người. Hành động đó rất thô tháo. Lẽ ra, ta phải nghiêm khắc với chính mình, phải đến trước Phật sám hối và đi xin lỗi mọi người.  Nhưng không, ta cố biện hộ, cho rằng: “Lúc đó tôi không thể kiềm chế được, nghe nói câu đó rồi, tôi không thể nào nhịn được. Tánh tôi là như vậy đó”. Một câu nói tự biện hộ như thế có nghĩa là mình tự tha thứ cho mình, nghĩa là mình không dám nghiêm khắc với mình. Và một người sẵn sàng tự tha thứ cho mình, không nghiêm khắc với mình được, lại là người không thể tu tâm dưỡng tánh được.

Còn người nghiêm khắc với bản thân, nhất định không tha thứ cho mình. Đã lỡ cầm cái ly đập bể trước mặt mọi người rồi, người này hối hận, ăn năn, buồn khổ, lạy Phật sám hối rồi đi xin lỗi từng người. Xin lỗi xong rồi, mà lòng vẫn ăn năn, ray rứt, không vui, vì người này biết nghiêm khắc với chính mình. Như vậy, chúng ta  phải chọn lựa để có thể tu tâm dưỡng tánh được.

  • Một là chúng ta cứ tiếp tục bênh vực cho mình cho đến khi chết, rồi xuống địa ngục.
  • Hoặc là ta không bao giờ tha thứ cho mình, luôn luôn rầy quở trách chính mình. Cứ mãi mãi suốt đời như vậy thì sau khi chết sẽ lên cỏi trời.

Thế thì, chúng ta chọn cách nào? Bênh vực mình thì rất sung sướng trong hiện tại. Làm bất cứ việc gì, ta cứ tự bênh mình là đúng, còn người khác là sai thì rất sung sướng, thoải mái vô cùng và khi chết rồi, ta phải xuống địa ngục. Còn ta tự trách cứ chính mình, ăn năn, ray rứt, không tha thứ cho mình thì cảm giác khó chịu lắm, mang mặc cảm tội lỗi, thấy mình nhỏ bé lại, thấy mình thua kém hẳn mọi người. Điều đó làm ray rứt cả đời ta, nhưng sau khi chết, ta có cơ hội lên cõi trời.

Chúng ta chọn cách nào? Ta nên dễ dãi hay nghiêm khắc với chính mình? Cách nào đây? Nếu muốn sung sướng hiện tại, cứ dễ dãi và bênh vực cho bản thân. Nếu ta muốn hạnh phúc lâu dài ở những kiếp về sau, mình phải nghiêm khắc với chính mình, không tha thứ cho mình, khi mình biết mình phạm sai lầm.

Nhưng để có thể nghiêm khắc với bản thân, có dễ hay không? – Không dễ chút nào hết. Bởi vì sao? – Vì đòi hỏi một sự can đảm phi thường.

Ví dụ bây giờ, trong đêm tối mờ mịt, có người nói rằng: “Ở xóm kia, có một bà đang đau đẻ, anh băng qua nghĩa địa đến nhà, chở bà ấy vô bệnh viện dùm, vì chồng bà đi vắng, không ai đưa bà đi. Rất là tội nghiệp”.

Là Phật tử, mình cũng muốn làm phước lắm nhưng kẹt cái nghĩa địa giữa đường.

-        “Thôi mà, sợ ma rồi bỏ người ta chết làm sao? Ráng đi đi”.

-        “Thôi mà, ai đi với con, chứ một mình con đi không dám. Bả đẻ thì cho bả đẻ ở nhà đi, nghĩa địa ghê như vậy, đừng bắt con đi qua”.

Chỉ vì mình sợ ma, cũng muốn làm điều phước nhưng không thể can đảm băng ngang qua nghĩa địa.

Hoặc lúc đó, có ba bốn đứa gây lộn với nhau, mình thấy có một người nhỏ bị đánh.  Thế là mình đứng ra bênh vực, bảo vệ người đang bị cô thế, không để mấy người kia ăn hiếp nữa. Về nhà, ai cũng nói: “Trời, thằng này nó gan ghê! Mấy đứa kia cô hồn các đảng như vậy mà nó dám đánh để bảo vệ người cô thế.” Mọi người sẽ khen ta có lòng can đảm, khi trong đêm, ta băng qua nghĩa địa để cứu giúp người gặp nạn hoặc ta dám đối đầu với những đứa du côn để bảo vệ người cô thế.

Nhưng can đảm này không ăn thua gì so với sự can đảm mình tự trách mình, tự nghiêm khắc với chính mình - vì khó thực hiện hơn rất nhiều. Mình có thể đi qua khó khăn, đi qua dầu sôi lửa bỏng để làm một việc gì đó bên ngoài một cách dễ dàng. Nhưng ngồi một chỗ, tự trách cứ mình, tự nghiêm khắc với mình điều đó khó vô cùng – dù không tốn một giọt mồ hôi vẫn khó hơn việc chinh phục Hi Mã Lạp Sơn.

Ta có thể nói, người nào có thể nghiêm khắc với chính mình, không tha thứ cho mình, không bao giờ cho phép mình làm điều bậy, hoặc sau khi lỡ làm điều sai quấy, lòng ăn năn không nguôi, chính là những người vừa có trí tuệ và vừa có can đảm. Những người được như vậy, chắc chắn khi chết sẽ lên cõi trời.

Nãy giờ chúng ta nói nhiều về một nội tâm tốt, về tu tâm dưỡng tánh bây giờ chúng ta sẽ xây dựng một số hạng mục tốt trong tâm mình. Những hạng mục tốt trong tâm thì chúng ta đã nói với nhau rất nhiều ở những bài giảng khác, vì đề tài hôm nay nói về nội tâm, chúng ta nhắc lại một vài điểm một chút. Quí Phật tử cố gắng nghe.

Kho báu thứ nhất là lòng từ bi. Phải làm sao đạt được từ bi trong tâm mình, phải cài đặt từ bi sẵn trong tâm mình. Ở đây ai giỏi vi tính? Có biết việc cài đặt chương trình phần mềm không? Ta phải cài chương trình từ bi bỏ vào tâm mình, set up nhấn enter cho nó chạy trong tâm mình. Có dễ hay không? – Rất khó bởi vì chúng ta đụng đến tập khí ích kỷ nhiều đời của mình. Từ nhiều đời, mình chỉ biết thương mình, chỉ biết lo cho mình, gia đình, vợ con, quyến thuộc. Chúng ta không thể mở lòng từ bi thương yêu đối với người dưng nước lã được. Nhưng bây giờ, chúng ta theo Phật rồi, bắt buộc chúng ta phải thương được nhiều người, kể cả những người dưng nước lã.

Ví dụ ta vào trong chùa, gặp toàn những người lạ mặt, có những người nhìn mặt thấy dễ ưa nhưng cũng có những người mặt mũi đăm đăm, ngầu ngầu nhìn thật khó ưa. Vậy mà, chúng ta buộc mình phải thương cho được tất cả mọi người.

Những người rất lạ, có phước từ nhiều đời trước, chúng ta nhìn mặt, thấy mến thương liền. Khi gặp một người như vậy mình thương rất dễ. Chung quanh chúng ta là những Phật tử có gương mặt khả ái do phước từ đời trước chiêu cảm, khi ta nhìn thấy, lòng khởi thương liền. Đồng thời, cũng có những người gương mặt rất khó ưa, bởi vì họ bị nghiệp gì đó, như hay nghĩ xấu người khác, hoặc còn ích kỷ,…khiến ta không thương được. Nhưng đây chính là điều thử thách lòng từ bi của chúng ta. Chúng ta phải nguyện lòng, xin Phật cho con thương hết những người này. Xin cho con thương hết những huynh đệ như thế này. Mình cứ nói đi nói lại và cầu xin Phật như vậy.

Một chút nữa đây, rời khỏi chùa, trên đường đi về nhà, mình gặp những người khả ái, dễ mến và cũng có những người khó ưa. Hễ chúng ta thấy ai khó ưa, mình kêu Phật liền, “xin Phật gia hộ cho con được lòng từ bi thương yêu được hết tất cả những chúng sinh như thế này”. Cứ kêu Phật như vậy chừng ba năm. Ba năm sau, tự nhiên mình thành một con người có lòng từ bi tràn đầy và khi đó mình thành tựu được một điều quí giá ở trong tâm mình.

Đây là điều vô giá. Khi từ bi cài đặt được vào trong tâm hồn của mình rồi, chính là ta đã sở hữu một kho tàng quí hơn mọi kho tàng trên đời. Từ đây, ta không cần đi tìm bản đồ kho báu nào nữa, tốn công mà thôi. Chỉ cần chúng ta cài đặt lòng từ bi của Phật vào trong tâm mình sau ba năm là trong tâm ta đã có một kho báu, xài hết đời này qua đến những đời sau mà không bao giờ hết.

Kho báu thứ hai là tâm khiêm hạ. Khiêm hạ là mình thích tôn trọng mọi người. Khi đến đây, chúng tôi gặp Thượng Tọa Thích Minh Trí, trụ trì tổ đình Phước Lâm đây, vừa gặp là thấy mến ngay, vì khuôn mặt thầy phúc hậu dễ mến. Cũng không biết do nhân quả gì, bởi vì không có chứng đạo cho nên không biết thầy đây gieo nhân gì đời trước. Đến lúc nghe thầy nói hai câu, chúng tôi chợt hiểu ra nhân quả ngay. Thầy đây quả là một con người cực kì khiêm tốn, đối với bất cứ ai thầy luôn luôn giữ lòng tôn trọng. Chính do lòng khiêm tốn và từ bi cho nên hiện ra dung mạo khả ái, ai gặp cũng cảm mến. Một con người khiêm tốn là luôn luôn thích tôn trọng người khác. Cho nên quí Phật tử muốn mình có một gương mặt khả ái ai gặp cũng thương thì mình phải tu hạnh khiêm tốn. Cài đặt khiêm tốn trong tâm mình, luôn luôn tôn trọng mọi người, không muốn nói một lời nào để hạ thấp giá trị của người khác, không muốn nói một lời nào xúc phạm làm tổn thương người khác mà chỉ luôn nói những lời để thương quí, tôn trọng, nâng cao phẩm giá của mọi người mà thôi. Và như vậy chúng ta thành tựu được tâm khiêm hạ trong lòng mình. Đó là kho báu thứ hai.

Kho báu thứ ba là lòng tôn kính Phật đà. Chúng ta có một bậc Thánh tuyệt đối của vũ trụ đã sinh về với loài người hơn 2500 năm trước, mở ra một chân lý sáng ngời cho thế giới này. Một con người với nhân cách tuyệt đối, hoàn chỉnh, với trí tuệ, từ bi tuyệt đối, hoàn hảo, là một con người đến với cuộc đời này là điểm son, là ánh mặt trời không bao giờ tắt giữa cuộc đời này. Nếu chúng ta không biết yêu kính Người thì chúng ta là thứ vứt đi. Cho nên, là Phật tử, chúng ta phải nguyện hết lòng yêu kính Người. Khi nào quỳ trước Phật đài, ta nên lễ Phật tha thiết, ít nhất ba lễ đến mười lễ. Còn chúng ta đi trên đường hay đi làm ăn xa không có dịp vào chùa hay gặp bàn thờ lễ Phật, nên thường hay niệm Phật. Niệm Phật như một lời tâm sự. Ví dụ như ta đang đi trên sông, ngồi ghe đi buôn ở Xã Tân Phú Đông, Thị Xã Sa Đéc, Đồng Tháp. Ta đi thâu đêm suốt sáng, đi buôn từ nơi này đến nơi kia. Trong lúc ghe chạy, ta ngồi trên ghe, không có việc gì làm, hãy nhớ đến Phật, niệm danh hiệu Phật.

Ta niệm danh hiệu Phật để làm chi ? Ta không kêu tên Phật một cách vô ích. Ta kêu tên Phật ra và mình tâm sự với Phật. Ta sẽ nói thế này: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, câu thứ hai mình nói là: “Hơn hai ngàn năm trước, Đức Phật đã đến với trần gian này, nhưng con vì nghiệp chướng nặng nề nên con không sinh ra được vào đời có Phật. Đến bây giờ, con mới biết được Phật pháp, xin Phật hãy thương con, hãy soi rọi tâm hồn con, hãy dìu dắt cuộc đời của con, để cho từng giây từng phút của cuộc sống này, con được tắm trong hào quang của Phật, được Phật hướng dẫn soi lối cho con đi, để con không nói một điều gì, để con không làm một điều gì mà sai với đạo lí Phật dạy. Xin Phật gia hộ cho con để bất cứ lúc nào, con cũng thương yêu được tất cả chúng sinh, lúc nào con cũng hiểu rằng đời là vô thường và chỉ có sự giác ngộ giải thoát là vĩnh viễn, là vĩnh hằng, cao quí. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”.

Khi không có Phật để lễ lạy, ta cứ niệm Phật, tâm sự với Phật như vậy thì tâm hồn chúng ta thăng hoa lên từng ngày. Chúng ta nuôi dưỡng được chất Thánh trong lòng mình. Đó là kho báu thứ ba.

Kho báu thứ tư là sự nhẫn nhục. Từ nhiều kiếp qua, có những lúc chúng ta nóng giận, tham lam, si mê, và đã làm khổ người khác. Chắc chắn là trong vô lượng kiếp qua, nhiều người phải chịu đau khổ vì chúng ta. Bây giờ oan gia sẽ gặp lại và người đó sẽ xúc xiểm ta, mưu hại ta, đánh đập ta, thậm chí giết hại ta và kho báu thứ tư trong tâm ta cần phải có là sự nhẫn nhục. Khi đối mặt oan trái và nghiệp chướng, lòng ta bình an, không giận hờn, không đau khổ, không buồn bực. Dù người hại ta, xúc xiểm ta, nói xấu ta, ta không giận họ, vẫn thương họ. Ta chỉ cầu mong cho ta trả nghiệp sớm, đồng thời, mong cho người đó biết được Phật pháp để người đó đừng phạm điều sai quấy như ta đã cư xử không phải với họ. Cầu mong như vậy cho nên lòng ta không ghét họ, vẫn bình an, thản nhiên, vui vẻ hoan hỉ và chịu đựng.

Nhờ sự nhẫn nhục này, oan trái nhiều đời được hóa giải, chấm dứt. Còn nếu ta không nhẫn nhục được, ta phản kháng, ta mưu hại lại, trả thù lại, làm ác lại, oan trái ấy đời đời cứ tái đi tái lại mãi, không hết được và ta không thể giải thoát được. Cho nên muốn giải thoát, muốn vượt khỏi cuộc đời tầm thường này, chúng ta cần phải có một đức hạnh rất lớn trong tâm và điều thứ tư đó là chịu đựng những thử thách, những khó khăn gian khổ, ác độc của cuộc đời này với nội tâm thương yêu và bình thản. Đó là hạnh nhẫn nhục và là kho báu thứ tư cần phải có.

Và kho báu thứ năm, ta cần phải có, đó là sự can đảm. Can đảm là gì? Là không sợ bất cứ điều gì, không sợ bất cứ điều gì thi ta mới có thể giữ vững mình được trong chính nghĩa.

Trong đời, có hai điều để làm cho ta rời bỏ chính nghĩa, rời bỏ đạo lí là một cái gì đó ta thèm muốn và một cái gì đó ta sợ hãi. Khi trong tâm ta có một cái gì đó để thèm muốn, trong tâm ta có điều gì đó để sợ hãi, ta  lập tức bị lôi kéo rời xa chính nghĩa, xa đạo lí ngay.

Ví dụ ‘muốn giàu’, chính cái muốn sớm đưa ta rơi vào tà đạo. Cũng vậy, ‘muốn có quyền chức lớn’, chính cái muốn đó sẽ làm cho ta rơi vào tà đạo.

Hoặc là một người có điều gì đó để sợ. Ví dụ sợ người ta nói nặng mình, nói xấu mình. Lúc nào cũng sợ: “Thôi, thôi có gì, họ nói xấu mệt lắm”. Hoặc có khi sợ người ta đánh mình, giết mình hoặc mưu hại gia đình mình. Khi có điều để sợ, chính là lúc chúng ta dễ rơi vào tà đạo.

Để làm một người đệ tử Phật chân chính, chúng ta phải trang bị cho mình một tấm lòng không muốn bất cứ điều gì và không sợ bất cứ điều gì dù phải chết. Không ai có thể uy hiếp mình bằng bất cứ điều gì khiến mình phải từ bỏ chính nghĩa, đạo lí kể cả việc họ đe dọa giết sạch cả nhà mình. Phải có lòng can đảm tột độ, và tuyệt đối như vậy, ta mới giữ mình được trong chính nghĩa, trong đạo lí. Cái can đảm phi thường như vậy, không sợ bất cứ điều gì trên đời đó là kho báu thứ năm rất hiếm có. Rất hiếm có!

Kho báu thứ sáu là sự siêng năng tận tụy. Siêng năng tận tụy là gì? Nghĩa là khi làm việc gì cho đạo, làm việc gì cho đời, cho xã hội, cho quốc gia chúng ta làm thấu đáo, làm đến nơi đến chốn, làm cho kỷ lưỡng, làm cho thành công vượt bậc để đem lại lợi ích tối đa cho mọi người. Phải chịu cực, chịu khó, chi ly, sâu sắc làm đến nơi đến chốn đó gọi là siêng năng, tận tụy. Điều này không phải ai cũng có.

Ví dụ một vị Thầy nói: “Chùa dơ quá, con dẫn các bạn vào phụ Thầy dọn dẹp vệ sinh vì chùa sắp có lễ”. Mình kêu các bạn vào dọn dẹp, người đi hái trái, nhặt củi, người đi lượm rác, hốt rác. Mình cũng làm công quả theo lời Thầy dạy, mình đã làm mọi việc xong rồi. Nhưng người có tính siêng năng, tận tụy không nghĩ như vậy là xong, là đủ.

Sau khi mọi người quét rác hết rồi, mình mới nhìn kỹ, mới suy nghĩ thêm: Thầy sai mình như vậy là xong rồi đó, nhưng đối với mình vẫn chưa xong. Khi ngày lễ đến, sẽ có rất nhiều người đến đây, nhà vệ sinh sẽ không đủ, lối đi chỗ đó người ta sẽ bị vướng, khi mọi người đến ở chỗ này sẽ bị nắng v.v… Thế là mình xin Thầy cho làm tiếp thêm một số việc nữa, làm cho đến nơi đến chốn, cực kì thấu đáo, cực kì hoàn hảo. Người làm công viêc mà phục vụ đời, phục vụ đạo mà làm hơn cả yêu cầu, mới gọi là người siêng năng tận tụy.

Người đó phước phi thường, đời đời vượt lên hơn mọi người hết bởi vì sao? Bởi vì họ luôn luôn làm nhiều hơn cái mà họ được yêu cầu. Người đó sẽ được phước vượt bậc và đó chính là kho tàng thứ sáu. Mai mốt gia đình mình kêu làm chuyện gì, mình phải làm nhiều hơn ba mẹ mình sai. Thầy mình sai mình làm cái gì, mình phải làm kỷ hơn, nhiều hơn điều Thầy mình sai để rèn luyện phẩm hạnh thứ sáu này.

Nói về những vấn đề tâm lí đạo đức thì có vô số điều để nói. Hôm nay, chúng ta không có thời gian để nói nhiều, chỉ điểm sơ qua mà thôi. Ít nhất trong tâm mình phải có sáu kho tàng như thế để xây dựng nội tâm này. Và từ nội tâm có sáu kho tàng đó chắc chắn nội tâm mày sẽ đưa chúng ta đi qua nhiều kiếp luân hồi chỉ đi trong vinh quang, trong ánh sáng, trong hạnh phúc và trong sự giác ngộ mà thôi.

 

Tâm mà có đạo đức rồi, trí tuệ, bản lĩnh, tài năng sẽ xuất hiện kế theo sau. Đây là nhân quả. Người tốt rồi ắt người đó sẽ giỏi.

Còn người giỏi rồi mà không tốt, từ từ sẽ dở trở lại. Chúng ta hãy nhớ như vậy. Ví dụ chúng ta chưa giỏi nhưng cứ ráng tốt, ráng có sáu điều trong tâm mình thì từ từ ta sẽ giỏi lên, bản lĩnh, trí tuệ sẽ xuất hiện. Đó là nhân quả. Vì người ta làm việc kĩ hơn, chu đáo hơn tự nhiên tài năng nảy nở liền, trí tuệ mở ra liền. Còn người đáng lẽ làm công việc thành công viên mãn nhưng hời hợt, chỉ làm tám phần thôi. Ví dụ Thầy bảo mình làm mười phần, mình dư sức làm mười nhưng mình chỉ làm tám phần thôi. Quả báo là tài năng của mình sẽ bị tuột xuống một chút. Mai mốt cơ quan mình kêu mình làm mười, mình chỉ làm bảy tám phần thôi thì mai mốt tài năng của mình cũng tuột xuống. Ví dụ thủ trưởng cơ quan giao công việc mười mà mình làm chu đáo đến mười một, mười hai thì nhân quả là mai mốt tài năng của mình vượt lên trên khỏi khả năng hiện tại. Đó là nhân quả. Nhân quả giống như khả năng thứ sáu chúng ta vừa nói, làm rất chu đáo tận tụy, làm được nhiều hơn người trên mình yêu cầu thì chúng ta vừa có phước và vừa có tài năng nảy nở, trí tuệ sẽ thăng hoa cao hơn.

Một điều quan trọng nữa là khi làm được việc đừng có chấp công, kể công, hãy quên công của mình đi để không bị kiêu mạn và không bị thất bại trở lại. Đáng sợ nhất là người có tài, làm được việc, kể công thì sau này sẽ thất bại, tài năng cũng sẽ mất đi.

Thường thường người có tài là gì? Là khi gặp việc, đụng chuyện, tự nhiên trong đầu của họ lóe lên nhiều sáng kiến, mà bình thường họ không có.

Ví dụ một người thợ đang bắt đường dây điện, tự nhiên trong đầu lóe lên ý kiến, phải gắn chỗ này thay vì gắn chỗ kia thì đường dây điện sẽ rẻ hơn, an toàn hơn. Hay lúc đóng ghe, mình có những sáng kiến bất ngờ làm cho ghe xuồng tốt hơn, chắc hơn, bền hơn. Hoặc khi xây cất, phải chuyển vật liệu lên chùa, mình nghĩ cách mở một con đường nào đó tiền vận chuyển rẻ hơn, an toàn hơn.

Người có sáng kiến mà nó lóe lên như vậy được gọi là người có tài. Nhưng nếu hỏi ở đâu anh lóe ra sáng kiến đó, mình sẽ không biết từ đâu mà trả lời. Tại sao vậy? Vì sự thật do cái phước, chính cái phước làm cho tâm ta cứ lóe lên hết sáng kiến này đến sáng kiến kia trong cuộc sống làm cho ta thành công. Người ngoài nhìn vào nói ta có tài chứ chính ta không biết được.

Ví dụ như Thầy, Thầy là người biết soạn nhạc, thỉnh thoảng Thầy cũng soạn nhạc đạo để hát cho vui, cũng có bài nghe cũng hay. Có người mới hỏi: “Tại sao Thầy lại nghĩ ra giai điệu hay như vậy?”. Câu trả lời của Thầy là không biết, không biết. Lúc muốn soạn tự trong đầu nó khởi ra dòng nhạc như thế, mình chấp nhận được thì mình viết ra thành một bài nhạc, không chấp nhận thì bỏ, lựa dòng nhạc khác.

Nhưng ở đâu sáng kiến hiện ra? Cái lóe lên đó từ đâu hiện ra? Sự thật đó là phước chứ không phải là tài. Người ngoài thường khen mình có tài, nhưng khi hiểu kĩ trong tâm mình, ta biết do phước mà có. Nghĩa là, người mà tâm có đạo đức rồi sẽ có trí tuệ, có tài năng.

Trong nhiều tâm tốt, có một tâm quan trọng là tâm thiền định. Tâm thiền định là gì? Đức Phật thị hiện ngồi thiền 49 ngày nhập định rồi đắc đạo thành Phật. Điều này có ý gì? Là Ngài muốn dạy cho chúng sinh rằng người nào muốn giác ngộ thì phải tu tập thiền định. Cho nên tâm thiền định là đỉnh cao của tâm hồn.

Chúng ta đã đồng ý tâm là quí hơn mọi điều trên đời. Nhưng cái quí nhất trong tâm là gì? Chính là tâm thiền định. Ví dụ một người nói: “Tôi không màng tài sản, danh vọng, sắc đẹp, tôi không màng gì hết, tôi chỉ cần tâm hồn”. Người nói câu đó là người rất hay, rất chuẩn. Nhưng có người khác nói rằng: “Trong tâm hồn, cái quí nhất của tâm chính là tâm thiền định” thì người này là số một. Đúng như vậy, nội tâm là điều quí hơn cả mọi điều trên đời, và trong nội tâm đó, có nhiều thứ đáng quí, có nhiều đạo đức đáng quí – và quí nhất chính là tâm thiền định. Vậy tâm thiền định là tâm gì?

Tâm thiền định là tâm vô niệm và vô ngã. Vô niệm là gì? Vô niệm là trong tâm mình trống hoàn toàn không suy nghĩ gì hết. Bây giờ chúng ta thử ngưng bặt ngay, không suy nghĩ gì hết.

Chắc chắn không bao giờ nghe đếm một, hai, ba vừa dứt tiếng mà ta dứt hết niệm, dứt hết suy nghĩ liền, và đạt được vô niệm vì Đức Phật còn phải nhập định 49 ngày mới dứt niệm. Nếu người nào vừa đếm xong một, hai, ba mà hết suy nghĩ, nhập định liền tức thì, người này quả là siêu xuất, hơn cả chư vị Hòa Thượng đấy !

Việc tu để đạt được vô niệm, không còn suy nghĩ gì hết là một công trình rất lớn. Có khi suốt kiếp này chúng ta vẫn chưa xong mà phải qua nhiều kiếp, mặc dù tu rất tinh tấn, phải hẹn qua nhiều kiếp sau. Nhưng đừng bỏ, bỏ sẽ không bao giờ được. Đó là tâm thứ nhất, vô niệm.

Tâm thứ hai là vô ngã. Vô ngã rất sâu xa, khó nói được trong một hai lời vì thời gian cũng không có nhiều. Vô ngã là không có cái ta. Thế giới sắp tới là hướng về thiền định. 2500 năm trước Phật đã dạy về thiền định. Từ đó đến nay, đã có một số người biết tu thiền định. Nhưng cuối cùng, phải làm sao cả thế giới này, mấy tỉ con người này, ai cũng phải biết tu tập thiền định vì thiền là nền văn minh tương lai của nhân loại.

Mong sao những nhà lãnh đạo chân chính của thế giới phải hướng loài người đi về thiền định. Nếu nhà lãnh đạo nào chỉ lo kinh tế, chiến tranh, chính trị, giáo dục, người này chỉ lo những cái thấp, những cái bình thường. Nếu nhà lãnh đạo nào mà nhìn ra được giá trị của thiền định, dùng quyền lực của mình để đưa loài người đi về thiền định, chúng ta biết đó là một vị minh quân, một vị Thánh quân, một vị Thánh vương, một người nêu được chính nghĩa rực rỡ nhất cho thế giới này.

Ta hãy chờ đợi một ngày nào đó, thế giới có một lãnh tụ phi phàm, dùng quyền lực của mình đưa hết loài người đi về con đường thiền định để cho trái đất này trở thành cõi tịnh độ, trở thành chốn thiên đường. Và bấy giờ, thiền định không còn là sắc thái riêng của đạo Phật nữa, mà trở thành tài sản chung cho cả nhân loại.

Chúng ta hôm nay còn đau khổ, còn mê mờ vì ta không biết tâm thiền định vô niệm và vô ngã. Nếu chúng ta tu tập để đạt được vô niệm và vô ngã, nội tâm của ta vượt bậc, cao siêu, không còn vướng mắc ích kỷ, tham lam, oán hận, ganh ghét của kẻ  phàm phu bình thường nữa mà lòng ta chỉ có thể đầy ấp từ bi, độ lượng, thương yêu, trí tuệ mà thôi. Cho nên ta nói với nhau, thiền định là đỉnh cao là con đường để chúng ta đi đến Thánh vị. Là đệ tử Phật, tất cả chúng ta phải biết tu thiền.

Thiền là tương lai mà tất cả loài người đều phải hướng về. Nhân loại sau này buộc phải đi về con đường thiền định, trẻ em từ nhỏ phải được học thiền. Bổn phận ta là đệ tử Phật, ta phải đi trước nhân loại một bước.

Từ bây giờ, chúng ta phải biết tu tập nội tâm thiền định, tu tập tâm vô niệm và vô ngã. Từ bây giờ, quí Phật tử phải đi tham cầu học đạo, nghe vị nào biết thiền định chúng ta đến để học hỏi, tu tập. Tuy nhiên Thầy cảnh báo một điều, dạy thiền thì rất nhiều nơi dạy nhưng để dạy cho đúng thì rất hiếm nơi dạy đúng. Vì vậy phải cẩn thận. Để lựa được nơi nào dạy thiền chuẩn nhất, đúng nhất thì ta phải cầu Phật gia hộ. “Xin Phật gia hộ cho con tìm được người dạy thiền chân chính nhất, đúng ý Phật nhất”.

Một điều nữa là tâm sẽ qui định nơi chúng ta đến sau khi bỏ thân này. Khi được hỏi con người sau khi chết sẽ sinh về nơi đâu, chúng ta trả lời : hãy xem nội tâm của người đó, sẽ biết người đó sinh về nơi đâu. Nếu tâm một người nặng nề, người đó sẽ rơi xuống địa ngục, và nếu tâm một người nhẹ nhàng, người đó sẽ về cõi trời. Chỉ vậy thôi.

Thế nào là tâm nặng? Thế nào là tâm nhẹ? Tâm nặng là tâm có đeo đá nên nó nặng. Còn tâm nhẹ là tâm có cột bong bóng bay nên nó nhẹ.

Tâm nặng sẽ làm cho ta khi chết rồi rơi xuống địa ngục liền. Cái gì làm tâm ta nặng? Vì tâm ta bị đeo bởi một cục đá to. Cục đá to đó là cục đá gì? Ác độc, tham lam, ích kỷ, sân hận, câu mâu, si mê, nói điều sai trái, mưu hại người khác,… chính là những cục đá. Lúc sống, tâm ta đã nặng nề, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng không giãn ra được. Mình nhìn gương mặt một người, mình thấy nặng nề thì biết ngay tâm người đó nặng nề, người này khi chết sẽ rớt xuống dưới.

Còn cái gì làm tâm ta nhẹ? Đó là tâm vô ngã, không thấy có ta, tâm không có suy nghĩ, chỉ có từ bi, chỉ có độ lượng, vị tha. Nhìn gương mặt một người, ta thấy sáng rỡ và hân hoan, ta biết người này chết bay lên. Vì thế, muốn biết một người chết đi về đâu, ta hãy nhìn gương mặt, qua gương mặt ta biết nội tâm, và biết nội tâm họ năng nhẹ rồi, ta sẽ biết khi chết, họ sẽ đi về đâu.

Chúng ta tu như thế nào mà nhìn gương mặt ta thấy sáng, nhẹ nhàng và thanh thoát, ta biết mình sẽ bay lên. Còn ta tạo tội, gây nghiệp gì đó, khi nhìn gương mặt ta, thấy nặng như đeo đá, chầm dầm, ngầu ngầu, chắc chắn khi chết, ta chỉ rơi xuống mà thôi. Đơn giản vô cùng.

Như vậy, ai hiểu được nguyên tắc này rồi, có thể về mở một văn phòng coi bói, để đoán xem người chết đi về đâu.

Đa phần chúng sinh chết đi về đâu? – Đa phần chúng sinh chết không đủ ác để xuống địa ngục mà cũng không đủ thiện để bay lên cõi trời, nên thường vất vơ vất vưởng ở cõi này. Có rất nhiều chúng sinh không có chỗ đầu thai đang vất vơ vất vưỡng chúng quanh chúng ta, và trong số đó, tương lai sẽ có chúng ta. Tình trạng chết rồi vất va vất vưởng không có chỗ đến, không có chỗ đầu thai, không xuống địạ ngục, không lên cõi trời, không ai cúng cho ăn, cứ đi lang thang đầu đường xó chợ, lâu lâu có ai cúng thí thực, chạy đến giựt, đúng là rất nhiều người gặp phải.

Vì sao vậy? Vì lúc sống, nếu những người đó làm điều ác thì xuống chỗ địa ngục hoặc làm việc thiện thật nhiều sẽ được lên cõi trời. Hay thương yêu, giúp đỡ con người để mai mốt chết, đầu thai lại vào nhà người đó làm con cho người ta nuôi mình. Còn ở đây chúng ta không như vậy. Chúng ta không quá thiện để lên cỏi trời, không quá ác để xuống địa ngục, chẳng thương yêu ai lo lắng cho ai nên cũng chẳng có ai chịu nhận mình làm con để mình đầu thai vô, thế là cứ phải vất va vất vưởng.

Chúng ta thử xét lại xem mình có đúng “ba không” hay không?

Nếu mình đạt được ba không, đó là không quá ác để xuống địa ngục –  không quá thiện để lên cõi trời – cũng chẳng thương quí chăm sóc ai cả đời để có thể đầu thai được, thì chúng ta sẽ đạt được tình trạng chết rồi vất va vất vưởng ở ngoài đường. Biết thế, chúng ta tránh « ba không » đó !

Suốt cuộc đời của mình, sống chỉ làm điều thiện, từ bi, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tận tụy, chu đáo để khi chết rồi, bất cứ nhà nào cũng muốn mình đầu thai vô làm con, mình sinh vô nhà nào cũng được hết, mình được quyền tự do lựa chọn. Còn người không đủ phước, không ai cho mình vô đầu thai hoặc chỉ được duy nhất một gia đình nghèo chấp nhận mình vô đầu thai mà thôi. Lúc đó, mình tìm nhà nào khá khá xin đầu thai, nhưng Diêm Vương nói: “Trước giờ nhà ngươi đâu nuôi ai, đâu thương ai, chỉ có cái nhà đó nhà ngươi có chút ân nghĩa, hãy đầu thai đại đi”. – “Nhà đó nghèo quá, làm sao con đầu thai?”. – “Phước nghiệp nhà ngươi có bấy nhiêu thôi, đòi hỏi cái gì? Muốn làm người, nhà ngươi chỉ có thể đầu thai vô đó làm con nhà nghèo thôi”.

Trong khi đó, người có phước, muốn đầu thai có hàng trăm gia đình đang chờ, vì họ có nhiều duyên lành. Trước kia, người này có gieo nhân nghĩa với cả trăm người, bây giờ cả trăm gia đình đó sẵn sàng chấp thuận, người này muốn đầu thai vào nhà nào cũng được. Người này bắt đầu mới lựa chọn. Ví dụ, vô nhà này được gene đẹp nhưng nhà kia được gene cao, gene nhà nọ thì có râu quay nón, nhà kia thì có năng khiếu âm nhạc, mình tùy thích mà lựa chọn. Cuối cùng, ta chọn gia đình nào biết tu, biết Phật pháp xin đầu thai vô.

Đến khi chết, nếu chưa lên cõi trời được, để được tự do lựa chọn nơi đến, tự do chọn lựa gia đình mình đầu thai vào, lúc sống trên đời, ta nên gieo ân nghĩa với rất nhiều người, giúp đỡ rất nhiều người. Vì vậy, ta nên ráng từ đây cho đến ngày chết, nguyện trọn cuộc đời còn lại ta sống cực kì tử tế với con người, với chúng sinh, và xây dựng nội tâm mình hoàn hảo.

Bây giờ, Thầy nói về bản chất vô ngã của tâm. Vấn đề này lớn nhưng ta không còn nhiều thời gian.

Chúng ta thường lầm tưởng có một cái ta bên trong, tưởng có một cái ngã bên trong. Bởi ta nói: tôi suy nghĩ, tôi biết, tôi nghe, tôi tưởng tượng, tôi mơ mộng. Dường như có một cái ta để biết, có một cái ta để suy nghĩ, mơ mộng nhưng – Xin thưa, sự thật không hề có cái ta ở trong đó.

Tất cả là một khối tâm niệm ta quyện chặt với nhau ở trong đó. Khi tâm ta khởi điều này khi tâm ta khởi điều kia, làm cho chúng ta tưởng như có một bản ngã trung tâm nhưng kỳ thật không có cái ta trung tâm nào hết. Đó là bản chất vô ngã của tâm mà Phật đã dạy.

Nếu ai thường nhớ rằng cái ta này không có thật thì đó là người đã gieo nhân giác ngộ rất sâu xa. Bài giảng ý vẫn chưa hết nhưng thời gian thì đã hết và cũng không thích hợp để Thầy trình bày sâu hơn.

Hôm nay chúng ta nói với nhau đề tài “Nội tâm và nghiệp báo” để chúng ta thấy một điều nội tâm là cái quí hơn tất cả mọi điều trên đời này. Mà muốn xây dựng, thể hiện một nội tâm tốt đẹp, hoàn hảo, ta phải làm phước rất nhiều.

Không phải mình muốn tốt là nội tâm ta tốt liền. Không phải ngồi nghe một bài pháp xong là tâm mình tốt liền.

Ta phải tu tập rất vất vả mới có một nội tâm tốt. Và khi đã có một nội tâm tốt rồi, chính nội tâm ấy sẽ đưa chúng ta đi trên những nẻo luân hồi, tìm đến những nơi tươi sáng, tốt đẹp và cuối cùng là đi về nơi Thánh vị cao siêu.

Xin tất cả mọi người, chúng ta hãy chấp tay, cùng cầu nguyện cho tất cả chúng sinh đều đạt được một nội tâm hoàn hảo, thánh thiện để cho ai cũng được giác ngộ giải thoát.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

                                                               THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

Tại sao có các tin đồn nói xấu TT Thích Chân Quang

        Tại sao có các tin đồn nói xấu Thượng Toạ Thích Chân Quang?

                                               LÊ NGUYỂN

 

          Nhiều người đọc những bài giảng của Thượng Toạ Chân Quang đều công nhận trong tất cả các bài giảng Thầy đều khuyên các Phật tử tôn kính Tam Bảo,tin hiểu Nhân Quả,đi theo Chánh Đạo của Phật,đoàn kết với các tông phái khác,khuyên các Phật tử sống đạo đức,vị tha nhân ái.Rất nhiều người tu theo lời dạy của Thầy đã có kết quả rất tốt,cuộc sống của họ thay đổi thấy rõ so với trước khi tu.
          Gần đây có rất nhiều các tin đồn nói xấu Thượng Toạ Thích Chân Quang gây hoang mang nghi ngờ trong lòng một số Phật tử.Chúng tôi cũng đã nghe những lời nói xấu đó trên mạng,chẳng hạn như họ bảo Thầy chống Tịnh độ tông,phủ nhận kinh đại thừa…thậm chí có những lời bịa đặt nói xấu nghe khá ngô nghê như đồn rằng Thầy đi nhậu bia ôm,Thầy có…9 tỷ đồng,Thầy có vợ bé,Thầy bị … pede, vậy mà vẫn có người tin.Hôm nay chúng ta sẽ từ từ xem lại những âm mưu gì ẩn chứa sau đó.
Thầy Thích Chân Quang có phủ nhận kinh điển Đại thừa không ?

     Kinh điển Đại thừa xuất hiện sau Phật là điều mà tất cả các học giả trên thế giới đều biết cả.Các bậc Hoà thượng tôn túc ở Việt Nam,các vị bên Nam tông cũng công nhận như thế và Thầy Chân Quang chỉ nhắc lại thôi.Các nhà học giả ,sử học trên thế giới khi nghiên cứu đã chứng minh rất rõ ràng , bản kinh Nguyên thuỷ Nikaya do đích thân Đức Phật thuyết ,được viết bằng tiếng Pali,truyền sang Tích Lan (Srilanka) và được Phật giáo Nam tông gìn giữ đến tận ngày nay.Các bản kinh Đại thừa ,ra đời sau Phật vài trăm đến hàng nghìn năm,đều được viết bằng tiếng Sancrit  rồi dịch ra tiếng Hán,trong kinh Đại thừa có nhiều nhân vật không hề có thật thời Đức Phật,và không hề được nhắc đến trong Kinh Nikaya.
      Như vậy là Thầy Chân Quang chỉ nói ra sự thật chứ Thầy không hề chống gì cả.Thầy cũng không hề chê bai kinh điển Đại thừa,ngược lại Thầy rất trân trọng nhiều bộ kinh Đại thừa và đã giảng nhiều bộ Đại thừa như Kinh Kim Cang ,Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Pháp Hoa…
   Nhiều bộ kinh Đại Thừa tuy không phải Phật thuyết nhưng là do các vị Bồ Tát sau này thị hiện,các vị Thánh viết ra,rất đúng ý Phật và hợp đạo lý.Vì vậy chúng ta vẫn tôn kính và học theo các bộ kinh Đại Thừa đó là vì thế.Chính Thầy Chân Quang cũng đã từng nói “kinh Đại thừa có nhiều ý rất hay”.
        Nhưng vấn đề là không phải 100% các bộ kinh sau này đều do các vị Bồ Tát các vị Thánh viết,có những bộ của người thường viết theo kiến giải chủ quan của riêng mình,lẫn cả tà kiến ngoại đạo ở trong đó,rồi lại ghi là do Phật thuyết ,làm cho chúng ta nào giờ vẫn tin mấy bộ đó là do Phật thuyết thật và cứ tụng theo.Chỉ những vị có trí tuệ mới nhận ra thật giả,đâu là chân kinh Phật thuyết,đâu là chân kinh của các vị Bồ Tát các vị Thánh,đâu là kinh “dỏm” của người bình thường,ngoại đạo trà trộn vào.

Thầy Chân Quang có chống Tịnh Độ tông và Mật tông không ?

     Có nguồn tin cho rằng ,Thầy Chân Quang bảo Mật tông là “dâm đãng” ?
Thầy không hề nói vậy.Chỉ có một số ít hệ phái trong Mật tông hoàn toàn xa rời Phật giáo khi đi ngược lại giới luật căn bản của Phật,họ cổ xuý cho việc sinh hoạt tình dục như là một phép tu.Họ là ngoại đạo giả dạng,trà trộn vào Mật tông trà trộn vào đạo Phật chứ Đức Phật không bao giờ dạy như vậy.Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng lên tiếng phê phán lối tu kì quái của họ.Còn với những hệ phái tu Mật tông chân chính mà đúng với Bát Chánh Đạo thì ai cũng phải tán thán.Chính Thầy Chân Quang trong một bài giảng cũng nói “có một điều khiến chúng ta đều ấm lòng vì Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay giảng Phật pháp rất hay”
          Thầy Chân Quang nói rằng Thầy vẫn hay niệm Phật những khi rảnh rang.Thầy cho rằng các pháp môn có tính bổ xung cho nhau và pháp môn nào cũng nên phù hợp với Bát Chánh Đạo để Đạo Phật có mẫu số chung trên con đường tìm lại một đạo Phật duy nhất.Thầy cũng góp phần truyền bá pháp môn Tịnh Độ ví dụ như bài giảng Tiến trình niệm Phật.

Thầy Chân Quang đề cập đến vấn đề tình dục trong một số bài giảng ?

Chúng ta biết rằng người bình thường chúng ta chưa chứng Thánh thì ai cũng có tình dục cả,có thể chúng ta muốn tránh né nói về vấn đề nhạy cảm này,nhưng hàng ngày chúng ta vẫn phải đối mặt với nó,và vẫn có thể phạm giới tà dâm nếu không hiểu biết.Trong bài giảng về Ái dục Thầy có giảng :4 điều nên tránh :quan hệ quá sớm(quá trẻ tuổi),quan hệ trước hôn nhân,quan hệ ngoài hôn nhân(ngoại tình),quan hệ quá nhiều(vô độ). Tình dục đưa đến 4 điều : mất sức khoẻ,mất tư cách,mất trí tuệ,mất phước(vì hưởng thụ khoái cảm).Tất cả những điều đó đều rất đúng.Những người cư sĩ nghiệm lại về đời sống tình dục của mình đều thấy chính xác.Chúng ta phải hiểu rõ thế nào là tà dâm để mà tránh,có một cuộc sống hôn nhân lành mạnh.
Vậy sự thật đằng sau những chuyện bịa đặt nói xấu Thầy Chân Quang là gì ?

         Trần Văn Nhật,trước năm 1975 là người phiên dịch cho các mục sư đạo Tin lành của Mỹ.Ông ta theo các mục sư đi khắp nơi truyền đạo,sau một thời gian ông ta quen với công việc và bắt đầu trực tiếp giảng Tin lành thay cho các mục sư của Mỹ.Ông ta học được cách chửi rủa mạt sát các tôn giáo khác,học được cách gài bẫy xúi giục quần chúng chán ghét đạo Phật,đạo Nho để đi theo Tin Lành.
           Năm 75 ,Nhật chạy sang Mỹ.Khi Hoà thượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh nổi tiếng ở châu Âu thì Nhật đến xin quy y có pháp danh là Tâm Kiến Chánh.Không biết là quy y thật lòng hay được lệnh trà trộn vào đạo Phật mà sau vài năm,ông ta quay sang chê bai bài xích Hoà thượng Nhất Hạnh đủ chuyện
         Trần Văn Nhật có chút nghề về audio và video,ông ta kinh doanh bằng cách lấy những cuốn sách Phật giáo nào được nhiều người ưa thích,đọc,thu vào băng catxet bán kiếm lời không trả tiền bản quyền.Năm 98,Nhật bắt gặp các băng đĩa giảng của Thầy Chân Quang được nhiều người ở Mỹ thích nghe.Nhật copy lại để bán rộng rãi với giá 3.5 USD và nhờ đó tạo được quan hệ rộng rãi với các bạn đạo ở Mỹ.
           Khi về Việt Nam ,Trần Văn Nhật gặp xin Thầy Chân Quang cho ông ta độc quyền phát hành băng đĩa của Thầy ở hải ngoại nhưng Thầy không đồng ý.Sau đó ông ta dùng thủ đoạn quen thuộc khi còn là trợ giảng Tin lành,ông ta bài bác đạo Phật,ca ngợi Hoà Hảo,vừa lấy lòng Hoà Hảo vừa ly gián chia rẽ đạo Phật giáo với Phật giáo Hoà hảo.Ông ta thiết lập một số đầu mối quen biết để nhờ vả sai khiến sau này.Nhận thấy ý đồ nguy hiểm của ông ta trong việc chia rẽ dân tộc và tôn giáo,Thượng Toạ Chân Quang đã viết một bức thư qua email khiển trách Nhật nghiêm khắc.
        Quay về Mỹ ,Nhật bắt đầu viết một loạt bài đặt điều,chửi rủa,nói xấu Thầy Chân Quang.Đầu tiên Nhật đặt điều trắng trợn rằng Thầy là tay sai cộng sản,là cháu…Bác Hồ để các Phật tử hải ngoại(nhiều người vốn không thích cộng sản) ghét Thầy.Nhiều khả năng ông ta cũng là thành viên một tổ chức lưu vong chống nhà nước Việt nam
        Ông ta đã sửa chữa,edit,xử lý âm thanh,cắt xén làm thay đổi nội dung các bài giảng của Thầy,lấy một số câu nói của Thầy,bớt đầu bớt đuôi đổi hẳn ý nghĩa đi để làm bằng chứng kết luận rằng Thầy chống lại Tịnh Độ và Mật tông.Đây cũng chính là thủ đoạn quen thuộc của Tin Lành khi muốn bao vây cô lập,hạ uy tín các vị Thầy trong các tôn giáo khác.Quả nhiên một làn sóng chống đối Thầy Chân Quang bùng lên lan rộng khắp nơi
      Nhật cho in các bài viết công kích Thầy Chân Quang thành một tập tài liệu có tên rất kêu là Chướng ma thời mạt pháp,in thành đĩa CD để dễ dàng phổ biến.Nhật chuyển các tài liệu đó về Việt Nam,gửi tiền về cho các tay sai của mình sao chép tài liệu đưa đến các nơi nhạy cảm như các chức sắc tôn giáo,các Thầy trong các Tông phái.Nhiều người cả tin chưa biết nếp tẻ ra sao vội quay ngay ra chửi Thầy Chân Quang,vô tình tiếp tay cho Nhật khi chuyền các tài liệu đó đi.

          Vậy là đã trúng kế của Tin Lành : Các Thầy,các vị tôn túc trong đạo Phật hiểu lầm chỉ trích chống đối nhau.Đạo Phật mất đoàn kết,suy yếu thì ngoại đạo sẽ nhảy vào truyền giáo lôi kéo tín đồ!

         Trần Văn Nhật là kẻ ham tiền,kiếm lời từng tí một qua bán đĩa CD,catxet,ông ta lấy đâu ra một đống tiền để nuôi đám tay sai đi làm chuyện đó nếu không phải là cái tổ chức kia lót lưng.Xét cho cùng Nhật cũng là con rối mà thôi.
       Một số Phật tử hoang mang về việc Hoà thượng Thích Thanh Từ cũng quay sang chỉ trích Thượng Toạ Chân Quang.Thượng Toạ biết Hoà thượng chỉ là hiểu lầm nên có nói “các Phật tử thương kính Thầy 1 thì phải thương kính Hoà Thượng gấp 1000 lần” (xem trong loạt bài giảng Tứ Diệu Đế)
     Chúng ta đã biết rõ những thủ đoạn thâm hiểm gây chia rẽ chống phá đạo Phật của Tin Lành.

        Họ chống đạo Phật bằng cách triệt hạ những vị Thầy nào giảng hay đúng đạo lý,triệt hạ những vị Thầy nào có uy tín,đức độ vì những vị đó đang chấn hưng được Phật pháp.Họ còn triệt phá đạo Phật bằng cách dùng tiền bí mật mua chuộc lôi kéo một số thầy thiếu đạo tâm,ly gián nói xấu để các Thầy,các Tông phái hiểu lầm chống lẫn nhau,đặt điều vu khống để các Phật tử giảm lòng tin vào quý Thầy quý Cô,giảm lòng tin vào Chánh Đạo.Thậm chí chúng còn tính đến khả năng ám sát các Thầy.Chúng ta hãy chờ xem,các thế lực xấu sẽ còn giở nhiều trò nữa chứ không chỉ gây chia rẽ không.
        Chúng ta biết rằng thời xưa chính Đức Phật cũng bị ngoại đạo chống phá ghê gớm.Họ nói xấu,xúi giục nhiều người phỉ báng chỉ trích Đức Phật,có người còn lăn đá xuống muốn giết Phật.Trong kinh Pháp cú phẩm Hiền trí Đức Phật cũng có nói ” Những người hay khuyên răn dạy dỗ,can ngăn tội lỗi của kẻ khác,được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu”

                                                                          Lê Nguyển 11-11-2009

Post Navigation

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.