Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Thế nào là “Quy Y Tăng” ? TT Thích Chân Quang

THẾ NÀO LÀ “QUY Y TĂNG”?

                                      Thích Chân Quang

  ( Giảng tại chùa Phật Quang vào đêm Trung Thu )

           Thực ra, hầu hết chúng ta ở đây đều đã quy y và có pháp danh . Khi quy y, chúng ta đã được giảng về “ Quy Y Phật – Quy Y Pháp – Quy Y Tăng “.  Ý nghĩa của Quy Y không chỉ có nghĩa là trở về nương tựa , mà là đem hết cuộc đời để tôn thờ , phụng sự , đi theo Phật – Pháp – Tăng .

           Chúng ta quy y Phật bởi vì Phật là một bậc thánh tuyệt đối trên đời nầy . Cả đến cỏi Trời và cỏi Người , cũng  không ai hơn Phật được . Cỏi Trời đầy những người có phước lớn , nhưng các vị Vua ở cỏi Trời vẩn phải xem Phật là Thầy của mình . Phật là một vị thánh tuyệt đối cho nên chúng ta tôn kính Phật tuyệt đối . Dù chúng ta có phải hy sinh thân mạng mình vì Phật , chúng ta cũng sẳn sàng chết không hối tiếc .

            Quy y Pháp là tôn thờ lời Phật dạy

            Quy y Tăng là tôn thờ các chư Tăng . Thực ra , khi chúng ta quy y , chúng ta được giảng là phải tôn thờ các bậc xuất gia , tức là những người từ bỏ gia đình , đi theo Phật , giử gìn giới hạnh ,  tu tập Thiền Định và bảo tồn Phật Pháp . Nhưng sự thật không phải vậy . Nếu nói ra sự thật này , thì nó sẽ động chạm đến tất cả giới Tăng – Ni , nhưng vẩn phải nói .

            Quy y Tăng là : chúng ta phải đem hết cuộc đời và tâm hồn chúng ta để tôn thờ các vị Thánh Tăng đắc đạo . Vào thời Đức Phật còn tại thế , Quy Y Tăng có nghĩa là tôn thờ Tăng như Phật bởi vì vào thời đó Tăng đoàn gồm toàn những vị A – La – Hán đắc đạo . Nếu chúng ta tôn thờ các vị đó , chúng ta sẽ được phước rất lớn . Ngoài ra , các vị đó rất xứng đáng để tôn thờ . Khi người được tôn thờ xứng đáng với sự tôn thờ và tín đồ tôn kính đúng nơi đúng chổ để tăng được phước duyên , Phật Pháp sẽ phát triển . Khi chúng ta tôn kính các bậc Thánh đáng kính , chúng ta sẽ được nhiều may mắn trong cuộc đời và khi tái sinh , chúng ta sẽ được sinh trong trong gia đình quyền quý , giàu có  và có nhiều thuận lợi hơn người khác .

             Nhưng khi chúng ta phải sống trong thời đại vắng bóng hết các vị Thánh , chỉ còn lại các vị Tăng bình thường . Nếu theo cơ chế , thì chúng ta cũng vẩn  phải tôn kính tuyệt đối . Nhưng xuất hiện sự kiện không tương xứng : các vị Tăng thường không xứng đáng với sự tôn kính tuyệt đối của chúng ta . Nếu các tín đồ tôn kính tuyệt đối quá mức , các vị Tăng đó sẽ bị tổn phước . Một vị Tăng – Ni xuất gia và nhận được sự tôn kính quá mức so với phẩm hạnh hay đạo hạnh mà mình có được . Qua đời sau ,vị đó không còn có sự thuận lợi tốt đẹp để tiếp tục tu hành . Đó là một điều có thật . Bởi vậy , những vị đạo cao đức trọng và biết nhân quả đều khiêm đức nghĩa là không muốn nhận sự tôn kính quá mức của người khác . Chúng ta đã gặp những vị hòa thượng , các vị tôn túc có trí tuệ đều giống nhau ở điểm nầy . Các vị đó rất dè dặt khi đón nhận sự  tôn kính vô hạn , bởi vì những vị nầy biết rằng kết quả tu hành và phẩm hạnh của mình vẩn còn có giới hạn , nên không thể đón nhận sự tôn kính và cúng dường một cách thoải mái từ các tín đồ . Cho nên hôm nay chúng ta nói ra điều nầy để chúng ta có sự cư xử đúng đắn nhằm tránh cho chư Tăng – Ni không bị tổn phước và từ đó Phật Pháp được phát triển .

        Có nhiều nguyên nhân giải thích tại sao có nhiều thời kỳ đạo Phật của chúng ta không được phát triển thậm chí suy thoái . Trong những thời kỳ suy thoái , tín đồ không đi theo đạo Phật bởi vì họ  không còn tôn trọng giới tu sỉ nửa và các vị Tăng – Ni có làm những việc tổn phước . Ngược lại , nếu các vị xuất gia không bị tổn phước và cứ từ từ tu tiến lên dần dần mặc dù  có thể người phước nhiều người phước ít , người bên ngoài gặp quý Thầy sẽ có tấm lòng nể trọng thực sự và sẽ đi theo ít nhiều . Một người xuất gia sẽ có vài trăm tín hay vài ngàn tín đồ . Khi tín đồ đổ xô theo quý Thầy đông , đạo Phật sẽ phát triển . Vì vậy , phước của Tăng – Ni rất quan trọng trong việc phát triển Phật Pháp . Phước của Tăng – Ni lại lệ thuộc vào mối quan hệ giửa Tăng – Ni và Phật Tử . Mối quan hệ nầy lại bị chi phối bởi cơ chế đã có từ xưa “ kính Phật , trọng Tăng “. Chúng ta kính trọng tất cả những người xuất gia “ đầu tròn , áo vuông “, nhưng có những vị rất xứng đáng cho Phật Tữ kính trọng và có những vị kém xứng đáng hơn . Vì lợi ích chung của Phật Giáo , ta không bao giờ được phép moi móc lổi của chư Tăng vì điều đó là chính mình bôi xấu đạo mình . Mình chỉ có thể có thái độ cư xử thích hợp với mổi trường hợp riêng biệt mà thôi . Mình sẽ có cách đóng góp sửa đổi thích hợp : hoặc là qua trung gian hoặc là gặp gở trực tiếp hoặc im lặng khi chưa đủ duyên , nhưng không được nói rộng rải lổi của Tăng – Ni ra ngoài .

        Trong vấn đề nầy , quan điểm căn bản là chúng ta thương yêu quý trọng người xuất gia . Nhưng thương quý theo mức độ nào ? Nếu chúng ta thương quý theo đúng mức độ thì Tăng – Ni không bị tổn phước và  nếu Tăng – Ni không bị tổn phước thì Phật Giáo sẽ phát triển . Lâu lâu một số vị Thánh Tăng  xuất hiện và cũng được tín đồ sùng bái như Phật . Một số thiền sư  như ngài Ngưởng Sơn đắc đạo và có thần thông đến nổi một vị sư từ Ấn Độ gọi ngài là Tiểu Thích Ca .Chúng ta đã nghe truyện về Phật sống chùa Kim Sơn đắc đạo .Còn  Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên đã dùng thần thông chửa bệnh và giáo hóa . Vào thời Pháp thuộc , Phật giáo chính thống bị đàn áp và suy đồi nên xuất hiện các vị thánh tăng đem đạo Phật vào dân gian lập nên nhiều đạo mới . Những nhân vật như Đức Phật Thầy Tây An hoặc Đức Huỳnh Giáo Chủ của đạo Hòa Hảo cũng được các tín đồ tôn sùng và coi như Phật. Nếu có một vị thánh tăng đắc đạo xuất hiện , chúng ta vui mừng và đạo Phật lại có cơ hội hưng thịnh trở lại . Ngày nay, không có một vị thánh tăng nào xuất hiện , nhưng theo cơ chế chúng ta vẩn tôn kính người xuất gia . Người tín đồ tôn kính thì nhận được nhiều phước cho chính mình , nhưng nếu sự tôn kính vượt quá mức , hơn hẳn đạo hạnh thực sự , thì uy đức  cũng như sự thu hút của người xuất gia giảm dần và đạo Phật bị suy tàn .Nếu người xuất gia cho rằng mình có quyền hưởng sự tôn kính , cúng dường của người khác vì mình là người xuất gia thì hoàn toàn sai .

          Vì vậy , chúng ta phải có sự phân biệt đối với người xuất gia để có thái độ thích  hợp để không rơi vào lổi làm cho vị ấy bị tổn phước và vì thế Phật Pháp bị suy tàn theo .

       Thứ nhất ,  tiêu chuẩn thời gian : chúng ta phân biệt người xuất gia theo năm tháng . Theo tương đối , thì những người xuất gia lâu năm đáng cho ta kính trọng , tin tưởng hơn những người mới xuất gia .

       Thứ hai , tiêu chuẩn về giới phẩm : Chúng ta vẩn thương yêu những người mới xuất gia nhưng sự tôn kính của chúng ta tăng theo giới mà người xuất gia thọ như sa di , thức xoa ,  tì kheo , tì kheo 25 năm , tì kheo 40 năm.

       Thứ ba , tiêu chuẩn về lý tưởng : Chúng ta phân biệt những người xuất gia có lý tưởng nhiều hay ít . Hầu hết những người xuất gia đều có lý tưởng , nhưng cũng có những người không có lý tưởng . Nếu không có lý tưởng , người xuất gia sẽ không làm tăng tiến phẩm hạnh của mình . Nếu người xuất gia có lý tưởng nhiều , chúng ta tôn kính  nhiều . Nếu người xuất gia có lý tưởng ít , chúng ta tôn kính ít . Tiêu chuẩn này khó nhận xét hơn vì lý tưởng nằm sâu thẳm trong nội tâm người xuất gia . Mình phải sống gần và tiếp xúc nhiều mới đánh giá được . Những người có lý tưởng tuyệt đối sẽ trở thành cây đại thụ che mát người trong thiên hạ và chúng ta có phước lớn mới gặp được những người như thế . Những người nầy sẽ tăng tiến đạo hạnh  dần dần và là chổ dựa dẩm vửng chắc cho chúng ta .

          Người có lý tưởng tuyệt đối là người như thế nào? Đó là người quyết tâm tu hành nhằm đạt đến giác ngộ giải thoát . Vị đó hết lòng tôn kính Phật thậm chí sẳn sàng chết vì Phật . Bình thường , vị đó rất quý trọng thân mạng , nhưng khi cần thiết vị đó sẳn sàng hy sinh thân mạng  vì Phật Pháp . Vị đó nguyện lòng thương yêu chúng sinh vô hạn , thương yêu cả những người lầm lổi.

          Thứ tư , tiêu chuẩn đạo đức . Chúng ta sẽ xét coi vị xuất gia đó có nhiều ưu điểm như : từ bi , dể thương , can đảm hoặc còn có nhiều nhược điểm như : kiêu mạn , nóng nẩy , cố chấp chút ít . Từ đó , chúng ta có lòng tôn kính thích hợp . Ví dụ , nếu vị đó còn quá cố chấp , ta vẩn thương yêu vị đó nhưng thương yêu vừa phải . Ngược lại , nếu vị đó vị tha , độ lượng , hiền lành , khiêm tốn ,  dủng cảm thì vị đó xứng đáng cho chúng ta đặt niềm tin yêu kính trọng lớn lao .

          Thứ năm , tiêu chuẩn về giới . Chúng ta sẽ xét coi vị đó có giử được những giới quan trọng hay không ? Nếu vị đó giử được những giới quan trọng chúng ta đặt nhiều niềm tin yêu kính trọng , bằng không chúng ta giảm bớt .

         Thứ sáu , tiêu chuẩn phật sự . Chúng ta xét coi vị đó có đóng góp được nhiều công lao phật sự hay không ? Ở trong chùa , vị đó phụ với thầy mình làm được nhiều phật sự và công quả . Ở ngoài chùa , vị đó tạo được tình đoàn kết , nối đạo tình đến với mọi người ,  truyền bá được  Phật Pháp . Những vị nầy xứng đáng cho chúng ta yêu thương kính trọng sâu sắc . Ngược lại , chúng ta nhận thấy nhiều vị chỉ lo chuyên tu , trong chùa cũng ít công quả , đối với quần chúng cũng ít tiếp xúc để giáo hóa . Đối với những vị nầy , lòng kính trọng của chúng ta cũng giảm bớt .

           Thứ bảy , tiêu chuẩn thiền định . Chúng ta xét coi vị đó có thực hành và thân chứng được thiền định hay không ? Trong đạo Phật , người tu hành phải thực hành Bát Chánh Đạo và phải đi tới chánh định nghĩa là đạt được một định lực tương đối cao . Nếu vị đó có nội tâm thân chứng được thiền định , chúng ta có thể tin tưởng  nhiều hơn những vị có nội tâm chưa chứng được gì nhiều.

            Cuối cùng , tiêu chuẩn thánh quả . Chúng ta xét coi vị đó có chứng được thánh quả hay chưa ? Người chứng được thánh quả thường không cho chúng ta biết , vì thế rất khó biết ai chứng được thánh quả . Người chứng được bốn mức độ thánh quả : tu đà hoàn , tư đà hàm , a na hàm , a la hán đều có trí tuệ và thần thông . Nếu chúng ta có duyên may biết được vị đó có trí tuệ và thần thông , chúng ta suy đoán là vị đó có chứng được thánh quẩ , chứ chúng ta không biết đích xác là thánh vị nào . Nhiều khi chính vị đó cũng không biết . Vị đó chỉ suy đoán là mình có đắc.  Nhiều vị thiền sư hay mắc lổi này: chứng thấp mà tưởng là cao . Chỉ có Phật mới biết chính xác . Thời Đức Phật còn tại thế , khi các đệ tử chứng được điều gì đều đến trình với Phật . Phật cho biết chính xác đó là mức độ nào . Nhờ biết như vậy nên ráng tiến tu không dám chủ quan . Nếu gặp những vị đã chứng thánh quả , thì đó là duyên lành , chúng ta có thể tôn kính vô hạn như tôn kính Phật . Tuy nhiên , nếu gặp những vị tăng chưa chứng thánh quả , chúng ta có thể xét theo những tiêu chuẩn khác đã nói trên đây .

           Cho nên , khi chúng ta nói “ Quy Y Tăng “, điều đó có nghĩa là chúng ta đều thương quý các vị xuất gia mà chúng ta gặp ở những chùa khác nhau , nhưng chúng ta có sự tôn kính ủng hộ thích hợp là do các tiêu chuẩn trên đây để các vị không bị tổn phước . Nếu một vị thấy phẩm hạnh  mình còn kém và không được Phật tử ủng hộ , vị đó sẽ ráng tu và trau dồi phẩm hạnh . Điều đó có lợi cho vị đó và cho Phật Pháp . Còn nếu theo cơ chế , ai cũng như ai , vị đó nghĩ rằng tôi đã đi tu rồi tôi đương nhiên hưởng sự cung kính cúng dường như những người khác và vị đó sẽ không cần tinh tấn để  được tín đồ cung kính ủng hộ nhiều hơn . Vị đó sẽ chỉ giử hình thức bên ngoài mà thiếu nổ lực bên trong.

          Từ đây về sau , khi nhận thấy Phật tử cung kính chính xác các tăng ni theo phẩm hạnh , các tăng ni sẽ cố gắng trau dồi phẩm hạnh và tinh tấn tu hành. Chúng ta sẽ không đặt sự cung kính theo hình tướng nửa . Điều đó buộc người xuất gia phải thăng tiến  về phẩm hạnh . Phật tử chính là người giám sát . Chư tăng sẽ tinh tấn hơn và Phật Pháp sẽ hưng thịnh .

          Có nhiều người xuất gia tệ hại nhận thấy : trong cơ chế nầy , họ mang hình thức tu sỉ sẽ được nhiều ưu đải . Cho nên họ không chịu từ bỏ hình thức xuất gia mặc dù tâm hồn họ rổng tếch và không còn lý tưởng nửa . Chính vì những người nầy mà đạo Phật bị suy tàn và thần thánh rời bỏ không ủng hộ người xuất gia . Đạo Phật muốn phát triển phải được chư Thiên và chư Bồ Tát ủng hộ . Chư Bồ Tát ủng hộ chính xác từng con người chứ không ủng hộ chung chung . Chư Bồ Tát ủng hộ ông thầy nào , ngôi chùa nào và nếu ông thầy đó , ngôi chùa đó không xứng đáng , chư Bồ Tát sẽ quay lưng liền và mọi điều sẽ dần dần tệ hại . Con người có thể che dấu với nhau , nhưng không ai che dấu được thần thánh .

           Đạo Phật đặc biệt hơn các tôn giáo khác là lệ thuộc rất nhiều vào các vị Hộ Pháp , Bồ Tát  và Chư Thiên .Các tôn giáo khác thì nhờ vào tài tổ chức và cơ cấu tổ chức . Họ có bộ phận truyền đạo hoạt động rất mạnh , họ biết làm kinh tế ,  họ tung tiền , họ móc nối lôi kéo tín đồ , nên họ có số tín đồ rất đông . Đạo Phật ta dở ở điểm đó , nhưng ta sống được là nhờ ở sự ủng hộ của thần thánh . Vì vậy , khi đạo hạnh của chư tăng phát triển , thần thánh sẽ ủng hộ che chở chúng ta .

           Bây giờ , nói về chư tăng ni . Nếu chư tăng – ni không muốn bị tổn phước thì đừng nghỉ mình hơn người . Thường thì lúc mới đi tu , tăng ni thường vì lý tưởng giác ngộ giải thoát chứ không ai đi tu vì muốn hơn người  Nhưng sau khi trở thành tăng – ni một thời gian , ý niệm giai cấp phát triển rất mạnh . Người xuất gia nhận thấy mình vượt hơn người cư sỉ , được người cư sỉ  tôn kính , cúng dường ,  ủng hộ . Ý niệm được người khác tôn trọng chi phối rất mạnh trong tâm hồn người xuất gia . Đây chính là ý niệm đổ vở , thất bại . Nếu người xuất gia vẩn giử mải những ý niệm ban đầu lúc mới đi tu , không thấy mình hơn người , thì đạo pháp sẽ phát triển . Còn nếu mình mặc bộ đồ tỳ kheo rồi , nhận thấy mình hơn hẳn người chưa thọ giới  gì hết , thì đó là nguyên nhân của mọi đổ vở của tâm hồn , đức  hạnh và phước .

           Vậy thì ,có cách nào giúp tăng ni đừng nghỉ mình hơn người khác ? Tăng ni phải nghĩ mình là người chịu ơn thiên hạ . Trước nhất là ơn Phật . Nhờ có Phật khai sáng đạo mà mình mới có chổ để tu . Kế đó là ơn các vị Tổ , các vị tôn túc , các vị Thầy đã giử đạo đến ngày nay . Sau đó , là ơn cha mẹ đã cho mình hình hài nầy . Ơn đà na tức là các Phật tử đã cúng dường giúp đở mình tu hành . Ơn quốc vương thủy thổ đã gìn giử yên lành cho mình . Chính nhờ có một nhà nước bảo vệ luật pháp , giử gìn an ninh , nên mình mới không bị giặc cướp , yên ổn tu hành . Nghĩa là , mang ơn tất cả người đời  kể cả mang ơn một người quét rác đã giử cho con đường sạch sẽ . Trong tâm mình phải nghĩ tất cả mọi người đều là ân nhân , còn mình mới là người chịu ơn . Khi đó , mình sẽ không còn “ lên mặt “ coi rẽ người đời nửa . Người tu sẽ khiêm cung , cố gắng tu , làm việc cho đạo và hoằng truyền giáo lý . Mình đã chịu ơn những người đã mang đạo đến cho mình và mình đền ơn bằng cách đem đạo đến cho người khác . Chính cái tâm quý trọng hết mọi người , coi mọi người đều là ân nhân khiến cho chư tăng khiêm hạ và không bị tổn phước . Khi đó thì chư Thiên sẽ tìm về ủng hộ và Phật pháp được hưng thịnh .

        Đây là yếu tố rất quan trọng . Khi người tu kiêu mạn thì thần thánh quay lưng , còn khi người tu khiêm hạ thì thần thánh ủng hộ . Từ nay người tu phải lật ngược suy nghĩ của mình lại. Mình phải là người phụng sự người khác chứ không phải là người ngồi yên để người khác phục vụ lại . Khi phụng sự , thì phải phụng sự không có sự phân biệt . Người xuất gia không được nghĩ là mình chỉ cần phụng sự chúng sinh bằng cách thuyết giáo , truyền giới , làm thầy mà phải chấp nhận làm bất cứ công việc “ hèn kém “ nào như rửa chén , quét nhà . Khi nghĩ là người phụng sự chúng sinh rồi thì việc gì làm cũng được . Chẳng hạn , khi thấy nền nhà dơ , không ai quét , nếu có cây chổi ở đó thì mình cầm lấy quét liền . Đã đến giờ thuyết pháp , nếu không có ai thuyết pháp được thì mình lên thuyết pháp liền . Dù công việc hèn kém hay cao quý , nếu điều đó có ích cho chúng sinh , người xuất gia cũng sẳn sàng làm . Vì thế , chúng ta mong tăng ni dù mới xuất gia hay xuất gia đã lâu luôn luôn có tâm niệm phụng sự mọi người như mình là một người nhỏ , nên việc nhỏ hay lớn cũng vẩn làm .Chính người có suy nghỉ như thế sẽ dần dần làm được những việc lớn lao hơn nhiều . Nhưng về sau , dù có lo được trăm ngàn công việc vỉ đại khác , tâm vẩn không tự hào .  Nếu người nào đợi cho đến khi có việc lớn mới chịu làm thì sẽ không còn có việc để làm nửa . Công việc mất dần mất dần . Còn nếu người nào không nề hà công việc lớn hay nhỏ . Công việc tự tìm đến mình .

          Về phần người cư sỉ , chúng ta thương yêu người xuất gia , vì nếu không có người xuất gia , ai sẽ giử gìn Phật Pháp ? Dù nhìn người mới xuất gia còn trẻ , mình vẩn thương , vì đây là những người giử gìn Phật Pháp cho  đời sau . Dù nhìn vị hòa thượng già lọm khọm không còn đóng góp gì cho Phật Pháp nửa , mình vẩn thương , vì đây là người đã gìn giử Phật Pháp truyền thừa đến ngày hôm nay . Chính cái đạo tình , người cư sỉ thương yêu người xuất gia , làm cho đạo Phật phát triển . Chính vì thương , người cư sỉ mới sẳn sàng ủng hộ cho người xuất gia tiến tu . Ví dụ , biết được một ngôi chùa mới được thành lập còn nghèo , các vị xuất gia còn mới , đạo hạnh cũng chưa cao , chưa thuyết pháp được gì nhiều , nhưng mình vẩn phải cúng dường , bởi vì nhờ sự ủng hộ của mình , các vị đó mới có cơ hội tiến tu . Nếu không , các vị đó phải làm quần quật suốt ngày để kiếm sống , không có thì giờ nghiên cứu kinh điển , ngồi thiền , giúp đạo Phật phát triển . Điều đó có nghỉa là mình phải đầu tư , dù chưa thấy vị đó làm gì nhiều , nhưng sau nầy vị đó sẽ làm được rất nhiều việc . Kế đó , nếu thấy vị đó là chân tu , có giới hạnh , thì lòng tôn kính tăng lên dần . Còn đối với những vị đạo cao ,  đức trọng thì mình hết lòng tôn kính .

         Còn đối với những vị xuất gia chỉ có hình tướng , bên trong hư rổng , dù đã tu lâu , mình nên tránh xa để cho vị ấy biết là : nếu vị ấy mới đi tu thì được quyền có khuyết điểm nhỏ , nhưng nếu tu lâu thì không được quyền có khuyết diểm lớn . Thái độ đó giúp cho vị đó không ỷ lại : tôi có mang hình tướng nầy thì người khác phải kính trọng . Vị đó phải trau dồi phẩm hạnh để xứng đáng với hình tướng của mình . Nếu vị ấy mới đi tu , mình có thể dể dải , nhưng nếu vị đó tu lâu , mình phải nghiêm khắc . Nếu có cơ hội , mình có thể đóng góp xây dựng , nhưng mình không nên nói lổi của vị đó rộng rải ra bên ngoài .

         Từ đây , cư sỉ đối xử với tăng ni tùy theo đạo hạnh , chứ không còn tùy theo hình tướng nửa . Lòng tôn kính tăng hay giảm tùy theo đạo hạnh người xuất gia cao hay thấp . Lối cư xử này công bằng , buộc người xuất gia luôn trao dồi đạo hạnh , có lợi cho Phật Pháp . Điều gì công bằng , điều đó sẽ phát triển . Điều đó đúng trong mọi trường hợp , ở mọi nơi . Đó là lý do chúng ta phải tôn thờ luật Nhân Quả , bởi vì đó là luật của sự công bằng tuyệt đối .

          Tại sao ta gọi đó là tuyệt đối ? Bởi vì ta có 3 loại luật công bằng khác nhau :

          Thứ nhất , sự công bằng do luật pháp mà con người tạo ra . Sự công bằng nầy chỉ có tính cách tạm thời , bởi vì con người có thể mua chuộc làm nghiêng lệch cán cân luật pháp . Có những người đã hối lộ che dấu tội lổi của mình . Có những người gài bẩy lợi dụng luật pháp để hại kẽ khác . Luật pháp được đặt ra do thiện chí của con người nhằm thiết lập công bằng , nhưng đã bị phá vở do chính những âm mưu của con người .

          Thứ hai , sự công bằng của thần linh . Thần thánh trên cao sẽ phù hộ những người tốt và phạt những kẽ xấu . Nhưng con người cũng mua chuộc luôn cả thần thánh . Thần thánh bị mua chuộc bằng cách nào ? Nếu con người muốn mua chuộc luật pháp , họ sẽ gỏ cửa sau của ông quan để đút lót và năn nỉ . Nếu con người muốn mua chuộc thần thánh , họ sẽ quỳ lạy và năn nỉ . Thần thánh vẩn còn cảm tình nên vẩn bị mua chuộc . Điều nầy có thật . Có một ông quan đó khi sống đã tạo nhiều công lao cho cuộc đời , khi chết trở thành thần , được nhân dân lập đền thờ để sùng bái . Đền thờ nầy rất thiêng . Ai cầu xin điều gì cũng được linh ứng kẻ nào hổn xược sẽ bị bẻ lọi giò . Đây cũng là sự cầm cân nẩy mực .Nhưng có một tay đó mua gian bán lận , tháng nào cũng đến cúng và năn nỉ . Vị thần đó vẩn bị xiêu lòng độ cho tay đó . Nhiều người xấu nhưng mộ đạo , hay cầu nguyện cầu xin , vẩn được tai qua nạn khỏi . Kiếp nào đó sẽ phải trả quả xấu , nhưng kiếp này vẩn được che chở . Sự công bằng của thần thánh cao hơn sự công bằng của luật pháp nhưng vẩn chưa tuyệt đối .

         Thứ ba , sự công bằng của luật Nhân Quả . Luật này không bao giờ bị mua chuộc bởi vì không có con người nào cầm cân nẩy mực để bị mua chuộc . Đó chỉ là sự vận hành khách quan bàng bạc khắp vủ trụ . Ai làm tốt thì được hưởng sung sướng , ai làm xấu thì sẽ bị quả báo đau khổ . Ai làm xấu vẩn có thể che đậy đối với luật pháp thế gian , che đậy đối với thần thánh , nhưng  vẩn bị Luật Nhân Quả lật tẩy và chịu sự trừng phạt tương xứng trong tương lai . Cho nên , Luật Nhân Quả chính là sự công bằng tuyệt đối . Ngày nào trên Trái Đất nầy , mọi người đều tin Luật Nhân Quả , đây sẽ là cỏi Tịnh Độ

               Hể cái gì công bằng , thì cái đó sẽ phát triển tốt đẹp. Hôm nay , chúng ta nói về “ Quy Y Tăng “ , chúng ta muốn dành cho quý vị tăng ni sự kính trọng chính xác, tương xứng , công bằng . Được như vậy , Phật Pháp sẽ phát triển .

                       Long Xuyên, ngày 11/6/2009

                                                 Liểu Đạo

                (chép lại theo bài giảng thu được)

MOT SO BAI GIANG AUDIO CUA TT THICH CHAN QUANG

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: