Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Chúa Trời và Đức Phật – Ai “tối cao” hơn ai ? (1)

Chúa Trời và Đức Phật – Ai “tối cao” hơn ai ? (1)

 

 

Trong lúc tín đồ Thiên Chúa giáo xem Chúa Trời như là chúa tể và đấng sáng tạo ra họ, thì Phật tử lại nhìn Đức Phật như là kiểu mẩu và lý tưởng của mình . Mặc dù tín đồ Thiên Chúa giáo chưa hề thấy Chúa Trời, nhưng họ vẫn khẳng định biết Ngài bằng cách thông tri với Ngài qua cầu nguyện và cảm xúc được sự hiện diện của Ngài. Họ cũng khẳng định rằng họ có thể biết ý muốn của Chúa Trời bằng cách đọc các lời của Ngài mà họ xác nhận là được viết trong Kinh Thánh.

Vì các Phật tử không cầu nguyện mà cũng không công nhận Chúa Trời, nên cách duy nhất mà Phật tử có thể có được một ý niệm như thế nào về Ngài là bằng cách đọc Kinh Thánh. Tuy nhiên, khi Phật tử đọc những gì Kinh Thánh nói về Chúa Trời thì họ thường bị sốc. Họ nhận thấy rằng Chúa Trời như được mô tả trong Kinh Thánh là hết sức khác với những gì họ nghe tín đồ Thiên Chúa giáo mô tả về Ngài.

Trong khi Phật tử từ chối ý niệm Chúa Trời của Thiên Chúa giáo bởi nó có vẻ không hợp lý và vô căn cứ, thì họ cũng từ chối bởi vì nó có vẻ thấp kém hơn mẫu nhân vật lý tưởng của riêng họ là Đức Phật. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét điều mà Kinh Thánh nói về Chúa Trời, rồi so sánh điều đó với kinh Tipitaka (kinh của Phật tử) nói về Đức Phật, và từ đó chứng tỏ tính ưu việt về phẩm hạnh của Đức Phật.

 

Diện mạo và Ngoại hình

Chúa Trời  trông giống ra sao? Kinh Thánh bảo Ngài tạo ra con người theo hình tượng chính mình (Gen, 1:26) vì thế, từ điều này, chúng ta có thể hình dung ra rằng ngoại diện Chúa Trời  trông giống như một người đàn ông. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Chúa Trời có các bàn tay (Ex, 15:12), các cánh tay (Deut, 11:2), các ngón tay (Deut, 13:7). Chúa Trời không thích con người thấy mặt Ngài nhưng nếu nhỡ thấy lưng Ngài thì cũng không sao.

Và Ta sẽ lấy tay ta đi và các ngươi sẽ thấy phần lưng của ta nhưng các ngươi sẽ không thấy mặt.  (Ex 33:23). 

Tuy nhiên, mặc dù Chúa Trời  có vẻ có cơ thể của một con người, nhưng đồng thời Ngài cũng trông giống các yêu quái và những thần canh cửa dữ dằn mà chúng ta thường thấy tại các đền thờ ở Ấn Độ và Trung Quốc. Chẳng hạn, Ngài có các ngọn lửa bốc ra từ thân thể.

Một ngọn lửa phát ra từ thân thể của Ngài và thiêu đốt mọi kẻ thù khắp mọi phía (Ps, 97:3).

Chúa Trời của chúng ta đến và sẽ không giữ yên lặng, phía trước Ngài là các vầng lửa và chung quanh Ngài là giông tố nổi lên giận dữ (Ps, 50:3).

Bấy giờ, người ta kêu ca nỗi gian khổ cho Chúa nghe, và khi nghe xong, cơn giận của Ngài nổi lên. Thế rồi lửa của Chúa thiêu đốt họ và phá huỷ vài lều trại vòng ngoài của họ (Num, 11:1).

Khi Chúa Trời nổi giận, mà hình như Ngài thường nổi giận lắm, khói lửa phun ra từ thân thể của Ngài.

Trái đất run rẩy và rúng động, nền móng các núi non lay động, chúng run sợ vì Ngài giận dữ. Khói phì ra từ lổ mũi Ngài, lửa đỏ phun ra rất nhiều từ miệng Ngài, làm thoát ra những cục than hồng rực sáng (Ps, 18:7-8).

Khi nhà tiên tri Ezekiel thấy Chúa Trời và các thiên thần tuỳ tùng, ông đã mô tả họ như thế này.

Vào ngày mồng năm trong tháng – đấy là năm thứ năm của cuộc lưu đày của Vua Jehoiach, thì lời của Chúa đến với thầy tế Ezekiel, con trai của Buzi, gần bên sông Kebar trong xứ sở người Ba-by-lon. Này đây là tay của Chúa đặt trên vị tiên tri. Tôi nhìn, và thấy một cơn dông bão ào đến từ phương bắc – một vầng mây lớn với sấm chớp  tỏa rực và ánh sáng rực rỡ bao quanh. Ở trung tâm của ngọn lửa trông như kim loại lấp lánh, và trong ngọn lửa có cái gì trông giống bốn sinh vật dáng vẻ như con người, nhưng mỗi một sinh vật thì có bốn gương mặt và bốn cái cánh. Chân họ thẳng, các bàn chân như bàn chân của một con bê và lấp lánh như đồng thiếc được đánh bóng. Dưới các cánh ở bốn phía thì có các bàn tay như tay người. Cả bốn bọn họ đều có mặt và có cánh, và các cánh nầy tiếp xúc với nhau. Bọn họ đi thẳng về phía trước; họ không quay người khi chuyển động. Gương mặt của họ trông như thế này: Một trong bốn gương mặt là mặt người, và phía bên phải là mặt sư tử, phía bên trái là mặt bò đực, và có cả một gương mặt của chim ưng. Mặt của họ là như thế đấy. Các cánh họ dang rộng lên cao; mỗi người có hai cánh để tiếp xúc với hai cánh của sinh vật ở hai bên, và hai cánh để che phủ lấy cơ thể. Bọn họ đi thẳng về phía trước. Bất kỳ sinh vật siêu nhiên đó muốn đi đâu là họ cứ đi mà không phải xoay trở. Dáng vẻ các sinh vật đó như than rực đỏ hay như các ngọn đuốc. Lửa chuyển động tới lui giữa các sinh vật, lửa bùng sáng và sấm chớp loé ra từ đó. Các sinh vật tới lui như chớp giật. Khi  nhìn các sinh vật đó, tôi thấy một bánh xe trên mặt đất bên cạnh mỗi sinh vật bốn mặt nầy. Đây là hình vẻ và cấu trúc các bánh xe: chúng nhấp nháy như hoàng ngọc, và tất cả bốn bánh xe đều giống nhau. Mỗi bánh xe được sắp đặt để có vẻ như bánh này giao nhau với bánh kia (Ezek, 1:4-21).

Tín đồ Thiên Chúa giáo thường nhìn các thần linh nhiều cánh tay và gương mặt dữ tợn trong các đền thờ Ấn Độ giáo và Lão giáo rồi khẳng định rằng những thần đó là quỷ dữ chứ chẳng phải là thánh thần gì cả – nhưng như Kinh Thánh đã làm sáng tỏ, ngoại diện của Chúa Trời của Thiên Chúa giáo thì cũng rất tương tự như các thánh thần ở trên. Hơn nữa, nếu có một thần Ấn Độ giáo và Lão giáo  mang nhiều vũ khí khác nhau, thì Chúa Trời của Thiên Chúa giáo cũng thế thôi.

Vào ngày đó, Chúa sẽ trừng phạt bằng lưõi gươm của Ngài, lưỡi gươm cuồng nộ, to lớn và dũng mãnh của Ngài (Is, 27:1).

Mặt trời và mặt trăng đứng yên trên bầu trời vì tia sáng phát ra từ các mũi tên đang bay của Ngài, vì ánh sáng ngọn giáo nung nóng của Ngài. Trong cơn cuồng nộ, Ngài vượt xuyên qua địa cầu và trong cơn giận dữ Ngài trừng phạt các dân tộc (Haba, 3:11-12).

Từ trời cao, Chúa nổi sấm sét, giọng nói của Đấng Tối cao vang lên. Ngài bắn các mũi tên của Ngài làm kẻ thù tan lả tả (Ps, 18:13-14).

Nhưng Chúa sẽ bắn chúng bằng các mũi tên, thình lình chúng sẽ bị đốn ngã (Ps, 64:7).

Thế rồi Chúa sẽ xuất hiện trên đầu chúng, các mũi tên của Ngài loé lên như tia chớp. Chúa tối cao sẽ nổi kèn xuất quân (Zech, 9:14).

Một điều thú vị khác là dáng vẻ của Chúa Trời thì giống như các thần phi-Thiên Chúa khi Ngài di chuyển. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Chúa Trời di chuyển từ chổ này sang chổ khác hoặc bằng cách ngồi trên các vầng mây (Is, 19:1) hoặc cỡi trên lưng một thiên thần (Ps, 18:10). Rõ ràng là từ các trích dẫn này, Chúa Trời  có một dáng vẻ man rợ và kinh khiếp; một kết luận xác minh lần nữa bởi Kinh Thánh rằng trong đó con người được mô tả cực kỳ khiếp sợ bóng dáng của Chúa Trời.

Hãy thờ phụng Chúa với sợ hãi và run sợ, hãy hôn bàn chân Ngài nếu không Ngài sẽ nổi giận và các ngươi sẽ bị diệt vong, vì sự phẫn nộ của Ngài thì dễ bị kích động một cách nhanh chóng (Ps, 2:11).

 

Bởi thế, con khiếp sợ sự hiện diện của Ngài. Khi nghĩ đến Ngài là con kinh sợ Ngài, Chúa  Trời đã làm cho tim con yếu ớt. Đấng Thượng Đế đã kinh động con (Job, 23:15).

 

Giê-su thường nói rằng chúng ta phải kính sợ Chúa Trời (Lk, l2:4 -5). Kinh Thánh cũng nói một cách đúng đắn rằng nơi nào có sợ hãi thì nơi đó không thể có yêu thương (I Jn, 4:18) và vì thế, nếu Chúa Trời đã làm cho con người sợ hãi thì thật là khó hiểu làm sao mà đồng thời, con người có thể yêu thương Ngài một cách chân thành được.

 

Còn Đức Phật thì giống như thế nào? Là người, Đức Phật có thân thể của một con người bình thường. Tuy nhiên, Tipitaka (kinh của Phật tử) thường nói Ngài có vẻ đẹp cao cả riêng.

 

Ngài đẹp đẻ, xinh tươi, dễ nhìn, một hình sắc tốt đẹp nhất, hình thể và nét trang nghiêm của ngài như Brahma,  ngoại hình của Ngài đẹp đẻ (Digha Nikaya, Kinh số 4).

 

Ngài đẹp đẻ, gây được  niềm tin, với ý thức điềm tĩnh và tâm trí thanh tịnh, trầm tĩnh và tự chủ, như một con voi được thuần phục một cách hoàn hảo (Anguttara Nikaya, Kinh số 36).

 

Bất cứ khi nào người ta thấy Đức Phật, nhân dáng điềm tĩnh của Ngài bao trùm lấy họ bằng sự an lành, và nụ cười nhẹ nhàng của Ngài an ủi họ. Như chúng ta đã thấy, giọng nói của Chúa Trời vang to và khủng khiếp như sấm (Ps, 68:33), thì giọng nói của Đức Phật lại nhẹ nhàng và êm dịu.

 

Khi ở tu viện, nếu Ngài đang giảng Pháp, Ngài đã không đề cao hay xem thường cử toạ. Trái lại, Ngài làm cho họ vui thích, được nâng cao, được hứng khởi và làm họ sung sướng với bài Pháp. Âm thanh giọng nói của Phật có tám đặc điểm; đấy là dứt khoát và dễ hiểu, ngọt ngào và dễ nghe, lưu loát và trong sáng, sâu xa và âm vang (Majjihima Nikaya, Kinh số 19).

 

Chúa Trời mang vũ khí vì Ngài phải giết kẻ thù của mình và vì Ngài khống chế con người bằng bạo lực và đe doạ. Đức Phật, trái lại, chẵng tỏ ra thù hằn ai và có thể kiểm soát người khác bằng lý lẽ. Nói về Đức Phật, có lần Vua Pasenadi đã nói:

 

Ta là vua, có thể thi hành những gì cần thi hành, trừng phạt những ai cần trừng phạt, hay lưu đày những ai cần lưu đày. Nhưng khi ta đang ngồi ở một phiên toà, đôi lúc có người chận ngang cả ta. Ngay chính ta cũng không có cả  cơ hội để nói “Đừng cắt lời ta! Hãy đợi ta nói xong đã.” Nhung khi Đức Phật giảng Pháp, không có ngay cả một tiếng ho của thính chúng. Một lần nọ, trong khi ta ngồi nghe Ngài thuyết Pháp, bỗng có một môn đồ nào đó ho lên một tiếng, và một đồng môn đã gõ lên đầu gối kẻ nọ rồi nói, “Thưa bạn, hãy yên lặng, đừng làm ồn. Sư phụ chúng ta đang giảng Pháp”, và ta tự nghĩ, thật là kỳ diệu, thật là phi thường, các môn đồ đã được khéo dạy dỗ mà chẵng cần roi vọt hay gươm đao gì (Majjhima Nikaya, Kinh số 89).

 

Chúng ta có thể tưởng tượng Chúa Trời sẽ phản ứng thế nào nếu một ai đó dại dột chen ngang khi Ngài đang nói. Chúng ta cũng có thể hiểu từ những điều nói trên rằng vóc dáng Đức Phật đã phản ánh sự trầm tỉnh và tình thương sâu xa bên trong. Người ta luôn say mê hứng khởi do vầng hào quang bình an bao bọc quanh Đức Phật.

Bản chất Trí tuệ

Chúng ta đã thấy rằng Phật tử không tin vào Chúa Trời bởi vì đối với họ ý niệm về một vị “Chúa” là vô lý và trái ngược với hiện thực. Phật tử cũng bác bỏ “Chúa” của người Thiên Chúa giáo vì, nếu Kinh Thánh đúng, Chúa Trời có vẻ không được hoàn hảo lắm. Hầu hết những người có học thức không thể chấp nhận được những xúc cảm tiêu cực mà họ tìm thấy nơi Chúa Trời. Chúng ta hãy xem xét Kinh Thánh mô tả trí tuệ Chúa Trời như thế nào.

Tính tình nỗi bật nhất của Chúa Trời, hơn hẳn những tính tình khác, là tính ghen tị. Thậm chí chính Ngài còn thừa nhận Ngài là  kẻ tị hiềm.

Bởi vì Chúa là một ngọn lửa huỷ diệt, một Chúa Trời  tị hiềm (Deut 4:24).

 

Không gì làm Chúa Trời đố kỵ bằng người ta thờ phụng các thần linh khác, và thậm chí Ngài còn bảo chúng ta phải giết ngay con của mình nếu chúng theo các thần linh khác.

 Nếu anh em của ngươi, con trai con gái của ngươi, vợ ngươi hay bạn bè chí cốt của ngươi, bí mật dụ dỗ ngươi, bảo rằng, “ chúng ta hãy thờ phụng thần linh khác” mà ngươi hoặc cha ngươi chẵng hề biết các thần linh đó quanh ngươi dù  xa dù gần, dù đầu này hay đầu kia trái đất, thì ngươi  không được khuất phục hay nghe theo lời nó, cũng không thương xót, không tha thứ, không che dấu nó, nhưng ngươi phải giết nó mà thôi. Chính tay ngươi phải là bàn tay đầu tiên chống lại nó, giết nó và sau đó mọi kẻ khác có thể đánh đập nó (Deut, 13:6).

Kinh Thánh còn cho chúng ta biết rằng Chúa Trời thường mất bình tỉnh và nổi giận.

Hãy xem, ngày của Chúa đang đến – một ngày tàn bạo, với phẩn nộ và giận dữ ác liệt, để làm cho mặt đất hoang phế và huỷ diệt những kẻ tội lỗi trên đó (Is, 13:9).

Chúa Trời giận dữ hàng ngày (Ps, 7:11).

Chúa sẽ làm cho con người nghe giọng nói uy nghi của Ngài và sẽ làm cho họ thấy cánh tay Ngài giáng xuống với giận dữ điên cuồng va đầy lửa (Is, 30:30).

Cơn giận dữ của Ngài sẽ thiêu đốt các ngươi và Ngài sẽ huỷ diệt các ngươi trên mặt đất (Deut, 6:15).

Chúa Trời bảo chúng ta phải thương yêu, nhưng Ngài thì được mô tả như là kẻ hận thù và đầy ghê tởm.

Các ngươi phải ghét tất cả ai làm điều sai trái. Các ngươi phải huỷ diệt những ai nói dối, Chúa căm thù những kẻ khát máu và lừa lọc  ( Ps, 5:5-6).

Ngài còn được mô tả thêm nữa là ghét nhiều thứ cũng như ghét con người (xem 16:22, Mala, 2:16; Lev, 26:30). Chúa Trời đặc biệt ghét sâu xa các tôn giáo khác, điều nầy có lẽ giải thích tại sao Thiên Chúa giáo đã luôn luôn là một tôn giáo bất khoan dung như thế. Ngài thường được mô tả đặc biệt thù ghét những ai không thờ phụng Ngài.

Linh hồn ta thù ghét các lễ tiết và các lễ hội đã định của các ngươi (Is, 1:14).

Đức Phật có lòng trắc ẩn đối với những kẻ hung dữ, Ngài tha thứ những ai đã làm điều sai quấy, và tôn trọng các tôn giáo khác. Chúng ta thấy Chúa thì đố kỵ và căm ghét, có lòng thù hận, và chẵng ngạc nhiên khi Kinh Thánh thường đề cập đến sự trả thù của Chúa.

Coi chừng, Chúa của các ngươi sẽ đến với sự báo thù (Is, 35:4).

Chúa đang báo thù và phẩn nộ, Chúa báo thù các đối phương của Ngài và phẩn nộ với các kẻ thù của Ngài (Nahum 1:2).

Bởi vì chúng ta biết Ngài là người nói rằng “Chính ta phải báo thù, ta phải báo oán”, và thêm nữa “Chúa sẽ phán xét dân Chúa”. Đấy là một điều khủng khiếp khi rơi vào tay Chúa (Heb, 10:30-31). ( Xem cả ở Rom, 1:8, 2:5-6, 12:19).

Sẽ có ích gì khi tôn sùng một vị Chúa Trời tâm hồn đầy vẩn đục, một sự vẩn đục mà chúng ta đang cố gắng vượt qua?

Suốt bốn mươi năm sau khi giác ngộ, Đức Phật cố thuyết phục con người từ bỏ tính giận dữ, đố kỵ và bất khoan dung, và suốt đời  không một lần nào Ngài không làm theo những gì Ngài đã dạy kẻ khác.

Ngài làm điều Ngài dạy, và dạy điều Ngài làm, tri hành hợp nhất. Chúng ta không tìm ra một vị thầy nào khác hơn Ngài, người rất nhất quán về điều này dù chúng ta nghiên cứu trong quá khứ hay hiện tại (Digha Nikaya, Kinh số 19).

Trong toàn bộ kinh Tipitaka, chẳng có một chứng cớ nào nói về Đức Phật biểu hiện tình cảm giận dữ, căm giận, đố kỵ v.v., cho nên vì hoàn hảo, Ngài đã thoát ra khỏi mọi tình cảm tiêu cực.

 

Thái độ đối với Chiến tranh

Kinh  Thánh nói với chúng ta rằng có thời điểm cho hận thù và có thời điểm  cho chiến tranh (Ex, 3:8), và ngày nay, ai cũng biết rằng hai điều xấu xa lớn lao nầy, hận thù và chiến tranh, thì phụ thuộc vào nhau. Như chúng ta đã thấy ở trên, Chúa Trời rất có khả năng giận dữ, cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thấy Ngài dính líu đến chiến tranh.

Chúa là một chiến binh. (Ex, 15:3). 

Chúa ở trong ngươi, Chúa là một chiến binh mang lại chiến thắng (Zeph, 3:17).

Chúa tiến tới như một người phi thường, như một chiến binh, Ngài khích động điên cuồng, Ngài hét lớn , la to, Ngài tỏ ra dũng mãnh chống lại kẻ thù (Is, 42:13).

Khi Ta mài nhọn thanh gươm nung nóng và tay Ta siết chặt nó lúc phán xét, Ta sẽ báo thù đối phương và báo oán những ai thù ghét Ta, Ta sẽ để những mũi  tên của  Ta say máu trong lúc thanh gươm của Ta ngấu nghiến máu thịt kẻ đã bị giết và xác những tù binh , ngấu nghiến đầu của những kẻ lãnh đạo thù địch (Deut, 32:41-42).

Từ nhiều thế kỷ qua, tín đồ Thiên Chúa giáo được gợi hứng từ các đoạn văn đó trong Kinh Thánh, đã khuyến khích và thậm chí tuyên dương chiến tranh, đã sử dụng bạo lực để truyền bá tôn giáo của họ. Thậm chí cho đến ngày nay, Thiên Chúa giáo vẫn phảng phất mùi vị quân phiệt rõ rệt. Đội quân Thập tự chinh với phương châm “ Máu và Lửa”; các thánh ca hát về “Tiến lên, hởi các chiến binh Thiên Chúa giáo hãy xông ra sa trường”; “Vinh danh Chúa và hãy đưa đạn đây” v.v. Nội dung Kinh Thánh có hàng lô ví dụ về chuyện Chúa giúp những người mộ đạo chiếm đoạt các thành phố, tàn sát thường dân và đánh bại quân thù (ví dụ Num, 21:1-3, Num, 31:1-12, Deut, 2:32-34, Deut, 3:3-7, Josh, 11:6-11, v.v.).

Về vấn đề tù binh, Chúa  bảo:

Và các ngươi phải  huỷ diệt tất cả những người nào mà Chúa đã giao cho các ngươi, các ngươi không được xót thương họ (Deut, 7:16).

Khi Chúa giao họ cho các ngươi và các ngươi đánh bại được họ, thì các ngươi phải tiêu diệt toàn bộ và không được tỏ ra thương xót (Deut, 7:2).

 

Ngay cả tín đồ Thiên Chúa giáo cũng thường bị sốc khi đọc các đoạn này. Còn Phật tử thì cảm thấy rõ ràng những đoạn đó đã xác quyết cho lý do vì sao họ không chấp nhận Chúa Trời và vì sao họ tin vào Đức Phật.

 

Thái độ đối với chiến tranh của Đức Phật là gì? Chẵng hề có một ví dụ nào về Đức Phật tán dương chiến tranh, khuyến khích chiến tranh, hay tự gây chiến tranh. Ngược lại, Ngài được mô tả theo chủ trương sống trong hoà bình và hoà hợp. Và được mô tả như sau:

 

Ngài  là một nhà hoà giải những ai đang xích mích và cổ vũ những ai đang đoàn kết, hoan hỉ yêu thích vui thú trong hoà bình, Ngài là người đề cao hòa bình (Digha Nikaya, Kinh số1).

 

Ngài là một gương mẫu về con người hoà bình.

 

Từ bỏ giết chóc, thầy tăng Cồ Đàm sống không sát sinh, chẵng có gậy gộc gươm đao, Ngài sống với chăm lo, tình thương, và đồng cảm với người khác (Digha Nikaya, Kinh số 1).

 

Đức Phật không chỉ hài lòng với chuyện tuyên dương hoà bình hay tự làm cho mình an lạc. Ngài còn tích cực đẩy mạnh hoà bình bằng cách nỗ lực ngăn chặn chiến tranh. Khi các bà con thân thích của Ngài sắp bước vào cuộc chiến tranh vì tranh chấp gìòng nước sông Rohini, Đức Phật đã không đứng về phe nào, không động viên phe nào, không tư vấn chiến thuật cho phe nào, hay không bảo phe nào đừng thương xót kẻ thù như Chúa Trời đã làm. Thay vào đó, Ngài đứng giữa hai phe và nói “Máu hay nước, cái gì quý hơn?” Những người chiến binh bèn trả lời , “Thưa Ngài, máu quý hơn”. Thế rồi Đức Phật bảo “Thế thì đổ máu vì nước có đúng không?” Cả hai phe vội buông vũ khí và hoà bình được vãn hồi (Dhammapada Atthakata, sách số l5,l).

 

Đức Phật gạt hận thù sang một bên và tâm Ngài chứa đầy yêu thương và trắc ẩn, vì thế, đối với Ngài, tán đồng chiến tranh là điều không thể chấp nhận được.

 

Người dịch: T.T. 

[Trích từ Chương 4 của tác phẩm “Tin Không Nổi – Một Phê bình Thiên Chúa giáo Bảo thủ từ góc độ Phật  giáo” (Beyond Belief – A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity) của A.L. de Silva.] 

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Các luận cứ của tín đồ Thiên Chúa giáo về sự hiện hữu của Chúa Trời

Chương 3: Tại sao Chúa Trời không thể hiện hữu

Chương 5: Sự thật và Hư cấu trong cuộc đời của Giê-su

Chương 6: Một Phê bình về Kinh Thánh

Chương 8: Làm sao đối đáp với những nhà truyền đạo Công giáo và Tin Lành

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: