Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Chúa Trời và Đức Phật – Ai “tối cao” hơn ai ? (2)

Chúa Trời và Đức Phật – Ai “tối cao” hơn ai ? (2)

 

Ý tưởng về Công lý

Công lý là phẩm chất của công bằng, và con người phải hành xử một cách công bằng và phù hợp với điều đúng. Tuy nhiên, ý tưởng về công bằng và đúng thì tùy thời và tùy người. Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng Chúa Trời của họ thì công bằng, vậy chúng ta thử xem các hành vi của Chúa Trời để thông qua đó mà biết ý tưởng về công lý của Ngài ra sao.

Chúa Trời bảo chúng ta rằng ai không vâng lời Ngài sẽ bị  phạt đi phạt lại “bảy lần”  (Lev, 26:18), có nghĩa là một tội sẽ bị phạt bảy lần. Dĩ nhiên Chúa xem cách phạt này là công bằng và đúng. Ngài lại còn bảo chúng ta rằng Ngài sẽ trừng phạt con, cháu, và cả chắt của kẻ phạm tội .

Ta là vị Chúa đố kỵ, ta sẽ trừng phạt những đứa trẻ vì tội  của  cha chúng, phạt cho đến thế hệ thứ ba thứ tư những ai dám khinh ghét ta (Deut, 5:9).

Điều nói trên được biết như một cách trừng phạt tập thể: trừng phạt toàn gia tộc hay toàn nhóm chỉ vì một thành viên trong nhóm đó phạm tội. Ngày nay, trừng phạt tập thể đã bị lên án là không công bằng và không đúng đắn, nhưng hình như Chúa Trời thì vẫn xem biện pháp đó là hoàn toàn đúng.

Chúa Trời bảo chúng ta là ngay các vi phạm nhỏ cũng phải phạt tử hình. Ví dụ, những ai làm việc ngày Chủ nhật đều phải bị ném đá đến chết. Có lần, có một người đàn ông bị bắt gặp đang nhặt củi ngày Chủ nhật, Chúa bèn phán cùng Moses và những người đã bắt được người đàn ông đó rằng:

“Người đàn ông đó phải chết. Toàn bộ các ngươi phải ném đá hắn bên ngoài lán trại.” Thế là tập thể đó đưa người đàn ông ra ngoài lán trại và ném đá y đến chết như lời Chúa đã phán cho Moses (Num, 15:32-36).

Quan niệm về công lý của Chúa Trời hình như không chấp nhận ý niệm rằng hình phạt phải tương xứng với tội phạm. Chúng ta đã nghe rằng tất cả những ai không kính yêu Chúa Trời thì sẽ bị trừng phạt trong hoả ngục đời đời. Tuy nhiên, có nhiều người tốt bụng, trung thực, độ lượng, nhưng chỉ vì không tin Chúa Trời nên tất cả đều sẽ bị sa vào địa ngục. Như vậy có công bằng và đúng không? Có vẽ như Chúa Trời nghĩ rằng như thế là công bằng và đúng !.

Thế Đức Phật có công bằng không? Đức Phật đã đạt được sự tự do giác ngộ và Ngài dạy những kẻ khác làm thế nào để có thể cũng được giác ngộ như Ngài. Không như Chúa Trời, Đức Phật chủ yếu không phải là một người làm luật, không phải là một quan toà, hay không phải là người thi hành hình phạt: Đức Phật là một vị Thầy. Trong mọi đối xử của Ngài với người khác, Ngài đều công bằng, dịu dàng và nhân từ, và Ngài thúc giục những môn đệ hành động theo cách thức đó. Nếu ai đó phạm lỗi lầm, Ngài dạy ta không nên vội vã trừng phạt người đó.

Khi các con đang sống hoà thuận với nhau, một vị sư đồng môn có thể phạm giới. Nhưng các con không được vội vã quy tội người này, trước hết, vấn đề đó phải được xem xét thật thận trọng đã (Majjhima Nikaya, Kinh số 103).

Thêm nữa, khi khảo xét một ai, Phật dạy ta không được để cho xu hướng hay thành kiến ảnh hưởng, mà phải nhìn trường hợp đó từ hai phía.

Đừng phán xét vội vã, con người  chỉ trở thành sáng suốt khi họ nghiên cứu tỉ mỉ cả hai phía. Người mà không phán quyết tùy tiện  kẻ khác, nhưng phán quyết không thiên vị và phù hợp với các sự kiện, người đó là kẻ bảo vệ pháp luật và được đúng đắn gọi là công bằng (Dhammapada 256-257).

Đối với hình phạt, Đức Phật cho rằng ném đá ai đến chết hay bất cứ hình thức xử phạt tử  hình nào cũng đều tàn nhẫn cả. Bản thân Ngài luôn luôn sẵn sàng tha thứ. Có lần, có một người tên là Nigrodha đã lăng nhục Đức Phật, và sau đó nhận biết lỗi lầm của mình nên thú tội với Đức Phật. Đầy tình thương và khoan dung, Đức Phật nói với người nầy rằng:

Nầy Nigrodha, lỗi lầm đã thắng con vì chính sự ngu dốt, mù quáng và ác tính đã làm cho con nói xấu  ta như thế. Nhưng vì con đã nhận thức được lỗi lầm của mình và đã sửa đổi lại cho đúng, ta chấp nhận  lời thú tội của con (Digha Nikaya, Kinh số 25).

Đức Phật tha thứ tất cả dù họ chấp nhận việc truyền dạy của Ngài hay không, và thậm chí nếu Nigrodha  có không tạ tội chăng nữa thì Đức Phật cũng sẽ không đe doạ trừng phạt Nigrodha. Đối với Đức Phật, phản ứng đúng đắn với tội lỗi không phải là đe doạ trừng phạt mà là giáo huấn và tha thứ. Như Ngài đã nói:

Ta có thể biết được một người có khôn ngoan hay không là nhờ ba điều. Ba điều gì ? Thứ nhất, họ có thấy được đúng lỗi lầm của họ không. Thứ nhì, khi họ đã thấy lỗi lầm, họ có sửa chữa không, và thứ ba, khi một kẻ khác đến thú tội, họ có làm điều đáng làm là tha thứ cho kẽ phạm tội không (Anguttara Nikaya, Book of Threes, Kinh số 10).

 

Thái độ đối với Bệnh Tật

Bệnh tật, ốm đau, dịch bệnh đã là thảm hoạ cho loài người từ nhiều thế kỷ nay, gây ra đau đớn và thống khổ không kể xiết. Nhưng Kinh Thánh lại trình bày cho chúng ta thấy rằng Chúa Trời luôn luôn xem bệnh tật như một cách thức hữu hiệu để bày tõ sự giận dữ của Chúa, và dùng chúng để thực hiện sự báo thù của Ngài. Khi vua Ai Cập từ chối thả người Do Thái, Chúa đã gây ra ung nhọt mưng mủ  khởi phát nơi “tất cả người Ai Cập” (Ex 9:8-12). Chúa Trời đã dùng tai ương này để trừng phạt đàn ông, đàn bà, con nít và trẻ sơ sinh vì tội lỗi của một người. Sau này, Chúa Trời còn khiến cho mọi bé trai đầu lòng đều bị chết. Ngài nói:

Mọi đứa con trai đầu lòng ở Ai Cập đều phải chết, từ con trai đầu lòng của vua Ai Cập đang trị vì trên ngai vàng, cho đến con trai đầu lòng của người đàn bà nô lệ ngồi ở cối xay. Khắp Ai Cập sẽ vang rền tiếng kêu than – tệ hại hơn như chưa từng bao giờ đã có và sẽ có (Ex, 11:5-6).

Đấy là một thí dụ điển hình khác về ý tưởng công bằng và tình thương của Chúa. Hàng ngàn đàn ông, con trai và trẻ sơ sinh vô tội đã bị Chúa Trời giết vì vua Ai Cập không vâng lời. Ở nhiều nơi trong Kinh Thánh, Chúa Trời tuyên hứa rằng sẽ gieo rắc bệnh tật khủng khiếp xuống những ai không theo các điều răn của Ngài.

Chúa sẽ gây bệnh dịch cho đến khi Ngài tiêu diệt được các ngươi …Chúa sẽ giáng xuống các ngươi bệnh tật huỹ hoại, với sốt và viêm nhọt…(Deut, 28:21-22).

Chúa sẻ giáng xuống các ngươi loại ung nhọt của Ai Cập và  ung bướu, sưng tấy ngứa ngáy, mà các ngưoi chẳng thể chữa khỏi (Deut, 28:27).

Chúa sẽ mang đến cho các ngươi và hậu duệ những dịch bệnh đáng sợ, tai ương khắc nghiệt và dai dẳng, và sự đau ốm nặng nề kéo dài. Ngài cũng sẽ giáng xuống các ngươi những  tai ương của Ai Cập làm các ngươi phải sợ hãi, và chúng sẽ bám dính vào thân thể các ngươi. Chúa cũng sẽ đem đến cho các ngươi đủ thứ ốm đau và tai họa (Deut, 28:59-61).

Đôi lúc, thậm chí Chúa Trời còn gieo rắc bệnh tật ghê gớm lên con ngừơi chỉ để thử thách lòng tin của họ. Để thử thách ông Job, Chúa Trời khiến tất cả con cái ông ta đều bị giết hết (Job, 1:18-19) và chính ông Job cũng mắc phải một chứng bệnh ghê gớm (Job, 2:6-8).  Đau khổ quá sức chịu đựng, ông Job đã ước mong đừng sinh ra làm gì (Job, 3:3-26). 

 

Thậm chí Chúa Trời còn tạo ra những người mù để họ kéo lê cuộc sống ăn xin và mò mẫm trong bóng tối chỉ để cho Giê-su có thể chữa lành họ một cách kỳ diệu, hầu chứng tỏ quyền năng của Chúa Trời (Jn, 9:1-4). Rõ ràng rằng Chúa Trời chỉ thấy bệnh tật, đau ốm như là những phương tiện hữu hiệu để trừng phạt con người, và để chứng tỏ quyền năng bao trùm của Ngài.

 

Bây giờ chúng ta hãy nhìn thái độ của Đức Phật đối với bệnh tật. Đức Phật thấy bệnh tật và đau ốm là một phần của đau khổ nói chung, mà vì vậy Ngài đã đến để dạy cách giải thoát chúng sinh. Ngài được gọi là vị “Thầy thuốc của tình thương”. Chẵng có một ví dụ nào mà trong đó Đức Phật gây ra bệnh tật cho con người để trừng phạt họ hay vì giận dữ họ. Đức Phật hiểu đúng đắn rằng chừng nào chúng ta còn thể xác thì ngày đó chúng ta còn chịu đựng bệnh tật. Ngài thúc dục mọi người đạt đến cõi Niết bàn và giải thoát vĩnh viển khỏi đau khổ. Trong lúc Ngài cố cắt bỏ vấn đề tận gốc rễ, Ngài cũng thực hành việc xoa dịu nổi đau và phục hồi sức khoẻ cho họ. Thay vì gieo rắc bệnh tật lên con ngưòi như Chúa Trời đã làm, Ngài dạy các lời khuyên thực dụng để làm sao giúp đỡ và an ủi nổi đau.

 

Có năm phẩm chất để một người xứng đáng chăm sóc bệnh nhân. Năm phẩm chất gì? (1) Người có thể chuẩn bị thuốc men đúng;  (2) người biết cái gì tốt cho bệnh nhân và cung cấp cho họ, và cái gì không tốt để không cung cấp; (3) người chăm sóc kẻ ốm vì tình thưong chứ không phải vì mong chờ lợi nhuận; (4) người không ngại ngùng với phân, nước tiểu, chất nôn mửa và nước dải; và (5) người đôi lúc có thể chỉ dẫn, truyền cảm hứng, làm vui và thoả mãn bệnh nhân bằng cách nói Pháp (Anguttara Nikaya, Book of Fives, Kinh số 124).

 

Ngài không chỉ dạy điều này mà còn thực hành theo những gì Ngài truyền dạy. Có một lần Ngài gặp một thầy tăng bị ốm, nhếch nhác và nằm trên đống phân của mình, Ngài bèn tắm rữa cho ông ta, an ủi ông ta và gọi các thầy tăng khác đến để Ngài nói với họ rằng, “Nếu các con đã có thể chăm sóc ta, thì cũng hãy chăm sóc nhũng ai ốm đau” (Vinaya  Mahavagga , 8).

 

Khi Chúa Trời tức giận, Ngài gieo rắc bệnh tật lên con ngưòi và nhìn họ đau khổ. Khi Đức Phật thấy con người đau khổ vì bệnh tật, từ lòng thương, Ngài đã làm tất cả những gì có thể được để phục hồi sức khoẻ cho họ.

 

Tạo ra cái Xấu

Tuy Chúa Trời tạo ra mọi điều tốt, nhưng vì Ngài tạo ra mọi thứ, nên chính Ngài cũng tạo ra mọi điều xấu. Đích thân Chúa Trời đã bảo rằng:

Ta là Chúa tể và ngoài ta ra không có vị Chúa tể nào khác. Ta tạo ra ánh sáng và bóng tối, ta làm ra cái tốt và cái xấu (Is, 45:7-8). (Xem cả ở Rom, 11:32).

 

Khi chúng ta nghĩ về thiên nhiên và chúng ta nhớ rằng Chúa Trời được cho là đã sáng tạo ra mọi thứ trên đời nầy thì chúng ta phải hiểu cho đúng ý nghĩa của nó. Vi trùng phong cùi gây ra thống khổ không kể xiết là do Chúa Trời tạo ra. Vi trùng lao giết hại và làm biến dạng hàng triệu người mỗi năm cũng do Chúa Trời tạo ra.. Chúa tạo ra vi khuẩn dịch bệnh, chấy rận và chuột bọ, những con nầy đã cùng nhau gây ra dịch hạch, và qua hàng thế kỷ có lẽ đã giết hại hàng trăm triệu người. Năm 1665, chỉ riêng ở Luân đôn đã có 68.000 người chết vì dịch. Không nghi ngờ gì nữa, đấy là điều Chúa Trời muốn nói khi Ngài bảo Ngài tạo ra bóng tối và xấu xa.

 

Nhưng Chúa Trời cũng tạo ra các dạng xấu xa khác nữa. Ngài nói:

 

Khi tai hoạ ụp xuống một thành phố, đó không phải là do Chúa gây ra ư? (Amos, 3:4).

 

Chẵng còn gì phải nghi ngờ nữa rằng “tai họa” mà Chúa đề cập đến chính là động đất, hoả hoạn, xung đột xã hội, chiến tranh và các hình thức xấu xa khác thỉnh thoảng lại ụp xuống đầu các đô thị hay thành phố của loài người. Chúng ta đọc được cả ở trong Kinh Thánh rằng thậm chí ma quỹ cũng đến từ Chúa Trời. Trong 1 Samuel, 16:14-16,  chúng ta được kể chuyện Chúa Trời đã cho ma quỹ đến hành hạ ông Saul.

 

Đức Phật có tạo ra sự xấu không? Vì Ngài không phải là một vị Chúa sáng tạo, ngài không thể chịu trách nhiệm về “bóng tối và xấu xa” nào cả. Cái độc nhất Ngài “tạo” ra là Pháp, mà Ngài đã khám phá và công bố cho toàn thế giới. Và Pháp của Ngài chỉ mang lại ánh sáng, điều tốt lành và sự nhân hậu đến bất kỳ chổ  nào mà Pháp được truyền bá đến.

 

Sự Hiến Tế

Trong thời Cựu Ước, khi người ta vi phạm các điều răn của Chúa Trời, Ngài sẽ nổi giận và kẻ phạm tội chỉ có một cách để chuộc tôi và xoa dịu cơn giận của Chúa Trời là hiến tế một súc vật còn sống. Chính Chúa Trời đã hướng dẫn tỉ mỉ cho chúng ta cách giết các con vật như thế nào.

 

Nếu là loài chim bị nướng để hiến dâng cho Chúa, thì chúng sẽ phải là bồ câu hay bồ câu non. Thầy tế sẽ mang bồ câu đến trước bàn thờ, ngắt đầu và thiêu nó trước bàn thờ, máu của nó sẽ được bóp chảy ra một bên bàn thờ. Thầy tế thu gom tất cả và ném về phía đông bàn thờ, là nơi đổ tro. Thầy tế xé cánh chim nhưng đừng xé hết, và thiêu nó trên đống lửa củi bên cạnh bàn thờ (Lev, 1:14-17).

 

Chúa Trời còn bảo cho chúng ta biết rằng khi thịt, mỡ, da và xương của con vật bị hiến tế được ném vào lửa và cháy nóng lên, Ngài thích mùi thơm đó lắm (Lev, 1:9, 1:17). Nhưng không phải tất cả vật hiến tế nào Ngài yêu cầu cũng là súc vật, đôi lúc Ngài còn đòi hiến tế cả con người. Có lần Chúa bảo Abraham rằng:

 

Hảy đem con trai Isaac của ngươi, đứa con trai độc nhất mà ngươi yêu thương, đến vùng Moriah. Ngươi sẽ thiêu nó để hiến dâng cho Ta trên một ngọn núi mà Ta sẽ cho ngươi biết (Gen 22:2).

 

Abraham đem con trai của mình đến nơi, Chúa Trời bèn chỉ dẫn cách lập một bàn thờ, đặt đứa con trai lên đó rồi rút dao ra. Ngay khi ông ta vừa tính cắt cổ đứa con trai mình, thì một thiên thần đã ngăn Abraham lại (Gen, 22:12). 

 

Abraham được xem là người ngoan đạo vì ông ta mù quáng, chẳng thắc mắc, và tự nguyện làm bất cứ điều gì Chúa Trời bảo, ngay cả việc tàn sát đứa con trai của mình để hiến tế cho Chúa.

 

Các thế kỷ về sau, vì tội lỗi con người càng tệ hại hơn nên nếu chỉ hiến tế súc vật mà thôi đã không làm cho Chúa Trời nguôi giận . Chúa đã đòi phải hiến tế một nạn nhân lớn lao hơn, giá trị hơn – đó là Giê-su, con ruột của Ngài. Một lần nữa, máu của một nạn nhân lại đổ ra để chuộc tội lớn nhất nhằm hoà giải giữa Chúa Trời và những kẻ có tội. Do đó, những tín đồ Thiên Chúa giáo hiện đại thường nói rằng “tội lỗi của họ đã được rửa sạch bằng máu của Giê-su”.

 

Đức Phật đã nghĩ gì việc hiến tế súc vật hay con người? Vào thời Đức Phật, những thần Ấn Độ giáo cũng được hiến cúng súc vật như Chúa Trời của người Thiên Chúa giáo vậy, và vì thế Đức Phật cũng đã quan tâm đến lề thói này. Tuy nhiên, Ngài xem việc hiến tế là thông tục, tàn nhẫn và vô ích.

 

Việc hiến tế ngưòi hay ngựa, Nghi lễ Ném Heo, tục Dâng Rượu lễ, Nghi lễ Chiến thắng, lễ Rút Then, tất cả các nghi lễ đó  chẵng đáng một xu nhỏ so với con tim tràn đầy yêu thương, cũng như các vì sao bị lu mờ  trước ánh sáng rực rở  của mặt trăng.  (Anguttara Nikaya, Sách số 8, Kinh số 1).

 

Tín đồ Thiên Chúa giáo tin rằng máu hiến dâng của Giê-su sẽ rửa sạch tội lỗi cho họ cũng như tín đồ Ấn Độ giáo thời Đức Phật tin rằng tắm trong các giòng sông linh thiêng thì có thể rửa sạch tội lỗi. Đức Phật đã phê phán ý tưởng đó của Ấn Độ giáo như Ngài cũng sẽ phê phán ý tưởng của Thiên Chúa giáo nếu Ngài biết trước được điều đó. Tin rằng máu, nước hay bất cứ ngoại vật nào có thể thanh tẩy con tim, một vật nội tâm, thì thật là điên rồ.

 

Trong giòng sông Bakura ở Adhikka, tại Gaya, trong giòng sông Sarassati, Payaga hay Bahumati, người ngu xuẩn có thể tắm gội liên tục nhưng không thể nào họ rửa sạch được những hành vi xấu xa của mình. Sông Sundrika , Payaga hay Bahumati có thể làm được gì? Chúng không thể tẩy rửa một con người giận dữ, tội lổi vì đã chủ định làm những việc xấu xa. Vì giữ cho con tim trong trắng hằng ngày là may mắn, và giữ cho con tim trong trắng hàng  ngày là linh thiêng. (Majjhima Nikaya, Kinh số 7).

 

Như vậy, tắm mình trong máu lễ hay trong các giòng sông linh thiêng thì không bằng tự mình thanh tẩy bằng hành động trong sáng. Cách hiến tế duy nhất mà Đức Phật đòi hỏi chúng ta thực hiện là từ bỏ lòng vị kỷ và thay bằng tình thương, trí tuệ và tâm từ bi.

 

Tình Thương

Chúng ta thường nghe nói rằng Chúa Trời là tình yêu và Kinh Thánh đôi lúc cũng đề cập đến tình yêu như là một thuộc tính của Chúa Trời. Tuy nhiên, có nhiều loại tình yêu. Một người có thể yêu thương con cái của mình nhưng lại ghét con cái láng giềng. Kẻ khác có thể yêu tổ quốc mình mãnh liệt nhưng thù ghét kịch liệt một nước khác. Dù chúng ta có yêu thương ai đó một cách sâu đậm, nhưng do hoàn cảnh thay đổi, chúng ta vẫn có thể trở thành vô tình hay thậm chí ghét bỏ họ. Đấy là loại tình thương hạng thấp, ít phát triễn mà người bình thường cảm nghĩ – nhưng có một loại tình yêu cao cả hơn, phổ quát hơn tình yêu ở trên. Loại tình yêu cao cả hơn này được gọi là metta trong Phật giáo và agape trong Thiên Chúa giáo và được mô tả kỹ trong kinh Phật và cả trong Kinh Thánh nữa. Trong Corinthians chúng ta đọc:

 

Tình thương là kiên nhẫn, tình thương là nhân từ, không ham muốn, không khoe khoang, không kiêu hãnh, không tư lợi, không giận dữ, không ghi giữ lại các điều sai quấy (1 Cor, 13:4-5).

 

Nhưng Chúa Trời có biểu lộ tình thương cao thượng này không? Chúng ta hãy thử xét xem. Chúng ta đã nghe nói tình thương là kiên nhẫn. Kiên nhẫn được định nghĩa như khả năng chờ đợi một cách điềm tĩnh trong một thời gian dài, kiềm chế khi nóng giận, đặc biệt là kiểm soát được sự ngu xuẩn và chậm chạp.  Chúng ta đã thấy rằng Chúa Trời nổi giận mỗi ngày (Ps, 7:11) và nổi giận rất nhanh (Ps, 2:11). Như  vậy rõ ràng là Chúa Trời ít kiên nhẫn.

 

Chúng ta nghe nói rằng tình thương là nhân từ. Chúa Trời có nhân từ không? Hãy đọc Deuteronomy (28:15-68) trong đó chính Chúa Trời đã mô tả lời của Ngài độc ác như thế nào. Đoạn văn gây sốc này chứng tỏ Chúa Trời quá dữ tợn tàn ác. Rõ ràng Chúa Trời không phải lúc nào cũng nhân từ. Chúng ta nghe nói tình thương là không ham muốn. Dĩ nhiên, ham muốn thì dẫn đến ganh tỵ, mà Chúa Trời thì luôn luôn tự nhận mình là ganh tỵ dữ dội. Ngài bảo:

 

Vì Chúa của các ngươi là một ngọn lửa tàn phá, một Chúa ganh tỵ (Deut, 4:24).

 

Chúng ta nghe nói tình thương thì không khoác lác kiêu căng. Chúa Trời có thế không? Chắc chắn rằng những điều viết trong Kinh Thánh đã chẳng cho ta ấn tượng rằng Chúa Trời thì khiêm nhường và kín đáo chút nào. Chúa đã bỏ nhiều thì giờ để nói với Job rằng Ngài hùng vĩ dường nào (Job, 40:41) và, để kết thúc, Ngài tự khoác lác rằng:

 

Ngài khinh thường những kẻ kiêu kỳ, Ngài là vua đứng trên tất cả những kẻ hãnh tiến (Job, 41:34).  

 

Kế tiếp, chúng ta cũng nghe nói tình thương làm cho ta khó nóng giận. Tuy nhiên, chúng ta lại đã từng thấy Chúa Trời rất dễ nổi giận.

 

Hãy phụng thờ Chúa với sự kính yêu và run sợ, hãy hôn chân Ngài nếu không Ngài sẽ nổi giận và các ngươi sẽ vì thế mà bị tiêu diệt, vì sự phẫn nộ của Ngài thì rất dễ bị khích động (Ps, 2:11).

 

Cuối cùng, chúng ta nghe nói rằng tình thương làm cho ta không để tâm đến những sai phạm cũ, tình thương là tha thứ và quên đi. Chúa có để tâm đến những sai lầm cũ không?

 

Chúa Trời bảo chúng ta rằng Ngài sẽ trừng phạt con, cháu và cả chít của ai lầm lỗi (Deut, 5:9). Để làm được điều này, chắc là Ngài phải giữ lại một hồ sơ các tội cũ và ghi nhớ chúng rất lâu trong đầu. Giê-su nói với chúng ta rằng Chúa Trời sẽ không bao giờ tha thứ cho những ai xúc phạm đến Chúa Thánh Thần (Lk, 12:10).

 

Chúng ta nghe nói Chúa Trời khắc tên những kẻ tội đồ và những ai không tin Chúa lên trên một cái chuông vĩnh cửu. Nói khác đi, Ngài chẳng bao giờ tha thứ cho họ. Vắn tắt lại, Ngài vĩnh viển giữ một hồ sơ các tội cũ. Thật rõ ràng Chúa Trời đã không  biểu lộ một loài tình thương cao cả nhất.

 

 

Thế Đức Phật thì sao? Ngài có biểu lộ một tình thương cao cả không?

 

Đặc tính thứ nhất của loại tình thương cao cả này là nhẫn nhục, và trong kinh Tipitaka chẳng ghi lại một tình tiết nào chứng tỏ  rằng  Đức Phật thì không nhẫn nhục cả. Ngay cả khi bị phỉ báng, Ngài vẫn giữ được điềm tĩnh. Mọi hành vi của Ngài đều biểu lộ một sự điềm tĩnh, một sự nhẫn nhục vững chãi. Khi Asurinda nguyền rủa và phỉ báng Đức Phật, Ngài bình tĩnh trả lời:

 

Người chửi rủa kẻ lăng mạ mình, cả hai đều xấu. Tự chế không trả đũa lại mới là thắng được một cuộc chiến cam go. Nếu ai biết người khác giận mình mà chính mình không nổi giận lên, thì như thế mới làm điều tốt cho nhau. Một người phải là kẻ chữa bệnh vừa cho chính mình vừa cho người khác (Samyutta Nikaya, Chương 7, Kinh số 3).

 

Vì Ngài luôn nhẫn nhục, nên Ngài không còn giận dữ nữa. Ngay cả khi người em họ Devadatta cố giết Ngài, thì Đức Phật cũng chỉ tỏ ra khoan dung và độ lượng.

 

Chúng ta cũng nghe nói tình thương là nhân từ. Đức Phật có nhân từ không? Một lần nữa, chẳng có một dấu vết cỏn con nào cho thấy Đức Phật thì có tâm gì khác ngoài tâm từ bi  và hỉ xả.- Mà Ngài hành xử như thế không phải chỉ  đối với ai chấp nhận lời dạy của Ngài mà còn cả với những người theo tín ngưỡng khác, không chỉ với người tốt mà còn cả với người xấu, không chỉ với con người mà còn cả với thú vật nữa. Ngài bảo rằng:

 

Đừng làm điều gì không tử tế khiến cho hiền nhân lên án và ta phải tự nhủ rằng “ Sao cho mọi sinh vật đều an ổn và hạnh phúc. Dù sinh vật đó là gì, đang di động hay đứng yên, cao trung bình hay thấp, lớn hay nhỏ, thấy hay không thấy, sống ở xa hay gần, đã  ra đời hay chưa sinh ra, mong rằng tất cả đều có hạnh phúc”. Không được hại kẻ khác hay khinh miệt kẻ khác dù bất cứ lý do gì. Đừng mong cho kẻ khác đau đớn tại vì mình giận dữ hoặc ganh tỵ. Giống như một người mẹ bảo vệ đứa con độc nhất của mình dù nguy hiểm ngay đến cả bản thân mình, ngay cả  trong trường hợp như thế,  hãy phát huy tình thương bao la hướng đến mọi chúng sinh trên thế giới (Kinh Nipata, Câu thứ 145-149).

 

Không những Đức Phật dạy điều này mà Ngài còn thực hành tất cả mọi điều Ngài đã dạy. Chúa Trời bảo với chúng ta rằng Ngài đố kỵ, Ngài muốn nói rằng Ngài ganh tỵ với các vị Thần linh và các tôn giáo khác. Ngài muốn mọi người chỉ phụng thờ và tôn kính một mình Ngài thôi. Vì quá đố kỵ như thế nên Ngài đã bảo những con chiên sùng đạo phải giết ngay cả con cái của họ nếu chúng tôn thờ các thần linh khác (Deut, 13:6) và cũng vì quá đố kỵ như thế nên Chúa Trời ghét những kẻ theo tôn giáo khác.

 

Ta ghét những ai dính dáng đến các thần tượng không ra gì (Ps 31:6).

Ta hiểu biết giới luật của các ngươi, vì thế ta ghét mọi tà đạo.  (Ps 119:104).

 

Đức Phật có ganh tỵ với các tín ngưỡng khác không? Ngài quả thực không. Có một người tên là Upali theo đạo Jain được Đức Phật thuyết Pháp, và sau đó quyết định muốn trở thành Phật tử.  Đức Phật không hân hoan mà cũng không bận tâm “cải đạo” Upali. Ngược lại, Ngài đã khuyên răn người đó hãy suy nghĩ thận trọng trước khi quyết định một việc quan trọng như vậy:

 

Này Upali, hãy nghiên cứu cho thật kỹ lưỡng trước đã. Nghiên cứu kỹ lưỡng thì  tốt cho một người nổi tiếng như ngươi (Majjhima Nikaya, Kinh số 56).

 

Thế rồi Đức Phật khuyên Upali cứ giữ việc cúng tế đối với đạo Jain. Ngài khuyên như thế vì Ngài có thể thấy được điều tốt trong mọi tôn giáo khác và bởi vì Ngài không đố kỵ và ganh ghét.

 

Vacchogatta thưa với Phật rằng “Tôi nghe nói rằng Ngài dạy chỉ bố thí cho một mình Ngài, không cho các vị thầy  khác, không cho các môn đệ của Ngài, không cho các môn đệ của tôn giáo khác.” Ngài bèn đáp, “Những ai nói điều này là không kể lại đúng lời của ta, họ diễn sai ý của ta và nói dối”. Thực ra, bất cứ ai cản ngăn người khác bố thí là đã ngăn cản ba cách. Họ ngăn cản người bố thí làm việc thiện, họ ngăn cản người nhận không được giúp đỡ, và họ tự ngăn cản mình qua chính sự bần tiện của mình.” (Anguttara Nikaya, Chương số 3, Kinh số 57).

 

Thậm chí cho đến nay, nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo, đặc biệt những người theo khuynh hướng chính thống và rao giảng phúc âm, không muốn dính líu gì đến người phi-Thiên Chúa giáo và chắc chắn là không bố thí cho người phi- Thiên Chúa giáo.

 

Đức Phật không khoác lác và kiêu căng, Ngài không khiếm nhã hay tự tư tự lợi, Ngài cũng không dễ nỗi giận và không giữ lại hồ sơ những điều sai quấy đã làm với Ngài. Từ ngày Ngài giác ngộ, mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của Ngài là một biểu hiện từ bi hỉ xả. Như một trong những người cùng thời với Ngài đã nói:

 

Tôi từng nghe nói như thế này, “Tôn trọng tình thương là thực sự cao cả”, và Ngài là bằng chứng của điều này bởi vì chúng ta có thể thấy Ngài tôn trọng tình thương (Majjhima Nikaya, Kinh số 55).

 

Các đoạn trong Kinh Thánh mà chúng ta vừa xem thì thật là kinh dị nhưng những người Thiên Chúa giáo sẽ phản bác bằng cách nói rằng “Sách Cựu Ước không trình bày Chúa như Ngài vốn thật như thế mà gần như chỉ phản ảnh hiểu biết của con người về Chúa vào thời đó”. Thật buồn cười khi phải thảo luận thần học với tín đồ Thiên Chúa giáo. Khi thích hợp thì họ sẽ trích dẩn Cựu Ước như là lời nói bất diệt của Chúa, còn khi không thích hợp thì họ sẽ rời khỏi vị trí này và bảo rằng Cựu Ước chỉ phản ảnh nổ lực của con người để hiểu về Chúa. Nhưng người Thiên Chúa giáo đã từng khẳng định rằng Kinh Thánh là do Chúa thiên khải không thể sai lầm, thì điều đó phải có nghĩa là phần Cựu Ước cũng phải đúng như phần Tân Ước, và phải là do cùng một Chúa phán ra trong cả hai phần chứ.

 

Người dịch: T.T. 

[Trích từ Chương 4 của tác phẩm “Tin Không Nổi – Một Phê bình Thiên Chúa giáo Bảo thủ từ góc độ Phật  giáo” (Beyond Belief – A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity) của A.L. de Silva.] 

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Các luận cứ của tín đồ Thiên Chúa giáo về sự hiện hữu của Chúa Trời

Chương 3: Tại sao Chúa Trời không thể hiện hữu

Chương 5: Sự thật và Hư cấu trong cuộc đời của Giê-su

Chương 6: Một Phê bình về Kinh Thánh

Chương 8: Làm sao đối đáp với những nhà truyền đạo Công giáo và Tin Lành

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: