Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

NĂM TRĂM KIẾP CHỒN:(4)

                   NĂM TRĂM KIẾP CHỒN:(3)

                       Nhân Quả Bồ Tát Đạo 

 

 

Bậc Bồ Tát giác ngộ đã áp dụng luật Nhân Quả để hóa độ chúng sinh rất là lý thú. Với vô số phương tiện tuyệt vời, Bồ Tát nhiếp phục và hướng dẫn chúng sinh đi dần đến giác ngộ.

Giáo hóa là điều vô cùng khó khăn. Từ vô lượng kiếp chúng sinh quen nhìn theo ngũ dục, tham lam sân hận ngút trời, bây giờ bảo họ bỏ ngũ dục dứt tham sân để thoát khỏi luân hồi, chứng Niết Bàn an lạc, họ không thể nào tin nghe theo được. Muốn nói những giáo pháp cao cả cho chúng sinh nghe theo tin hiểu và thực hành, nếu không có sức mạnh kỳ diệu nào khác, sẽ không bao giờ thành mãn. Sức mạnh nào đã khiến chúng sinh tin nghe Bồ Tát giáo hóa?

¯ Ông trưởng giả Cấp Cô Độc cùng với gia đình trọn lòng thừa  sự Phật và chúng Tăng không mệt mỏi, trong khi bà giữ kho của ông không bao giờ muốn trong thấy Phật. Ông Cấp Cô Độc rất khổ tâm vì  chuyện này, giải thích mọi điều mà bà vẫn khăng khăng ghét Phật. Đức Phật biết rõ và không hề nhắc đến bà già khó khăn đó. Một hôm Phật bảo La Hầu La đến độ cho bà. Tôn giả vâng lời Phật đắp y ôm bát đi một mình về phía nhà ông Cấp Cô Độc.

Hôm nay rổi việc, bà lão ngồi chơi trước nhà trông thấy dạng tôn giả La Hầu La, lòng bà chợt khởi lên niềm thương mến kỳ lạ. Và không kềm được bà ân cần đi đến mời tôn giả vào nhà, hỏi han, cúng dường đủ điều, khi được hỏi vì sao xuất gia, tôn giả liền thuyết pháp cho bà và bà lão từ đó quy y theo Tam Bảo.

Phật đã giải thích sự kiện này rằng trong một đời quá khứ, La Hầu La từng làm con của bà, một người con hiếu thảo, săn sóc cho bà tận tụy. Tình thương và ân nghĩa cũ không mất, nay gặp tôn giả lòng thương sống dậy và chịu nghe lời giáo hóa của tôn giả.

 

TÌNH THƯƠNG và ÂN NGHĨA là sức mạnh nhiệm mầu của Bồ Tát giáo hóa chúng sanh.

Người ta chỉ nghe theo ai khi họ đã thọ ân và thương mến vị đó. Áp dụng tính cách này, Bồ Tát luôn luôn ban ân và rãi lòng từ bi đối với vạn loài trong vô lượng kiếp, Phật dạy Tứ Nhiếp Pháp là phương tiện để Bồ Tát gieo ân nghĩa tình thương với chúng sinh.

*                     Bố thí (ân nghĩa)           Ban cho tài vật

*                     Ái ngữ (tình thương)     Nói lời dịu dàng

*                     Lợi hành (ân nghĩa)      Làm lợi cho người

*                     Đồng sự (tình thương)  Gần gũi hòa mình với người

Khi chúng sinh đã chịu ân và thương quý mình rồi, Bồ Tát liền tùy căn cơ thuyết pháp cho họ. Thông thường những chúng sinh sơ cơ chỉ nghe được thập thiện, Nhân Quả thế gian là quá rồi. Tuy nhiên như thế cũng khiến họ bớt khổ. Những lời dạy thập thiện như :

Con hãy yêu cả kẻ thù  của con

hoặc:

Nếu họ tát con bên má phải, hãy đưa má trái cho họ tát”

hoặc:

Không, không phải chỉ tha thứ cho kẻ đã xúc phạm con đến bảy lần, mà phải tha thứ  đến bảy mươi bảy lần bảy”

 

hoặc:

“Đừng phê phán ai để không ai phê phán mình”

hoặc:

“Để con đem yêu thương vào nơi oán thù

  Đem tha thứ vào nơi lăng nhục

  Đem an hòa vào nơi tranh chấp

  Đem chân lý vào chốn lỗi lầm

“Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm

  Đem ủi an đến chốn u sầu

. . . Vì chính khi thứ  tha là khi được tha thứ.

Chính lúc quên mình là lúc tìm lại bản thân.

Vì chính khi hiến dâng là khi được nhận lãnh.

Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời…” đều khiến chúng sinh trở nên cao thượng.

Đến một lúc mà ân nghĩa và tình thương đã ban phát quá nhiều, Bồ Tát sẽ đủ phước thị hiện vào ngôi quốc vương. Ở cương vị quốc vương được toàn dân kính mến tuân phục, Bồ Tát sẽ giáo hóa đạo lý thập thiện hơn nữa.

Khi những người hành thập thiện được phước sinh lên cõi trời, Bồ Tát lại đủ phước làm vua cõi trời cai quản nhiều thế giới và công hạnh giáo hóa lớn lao gấp bội lần.

 

 

 

TỰ TRANG NGHIÊM

Vì biết chúng sinh vốn chuộng hình thức, kính trọng những ai có dung nghi rực rỡ đẹp đẽ, giọng nói thanh tao, trầm ấm, vang xa, nên Bồ Tát đã tự  trang nghiêm thân hầu dễ gần gũi giáo hóa chúng sinh. Bồ Tát sẽ làm các công đức tôn kính chư Phật, đắp vẽ hình tượng Phật, tán thán ca ngợi oai nghi chư Phật và như thế khi hiện thân ở đời, Bồ Tát có dung mạo kỳ tuyệt rạng rỡ như ánh trăng rằm khiến chúng sinh vừa trong thấy là cảm mến.

Bồ Tát thường ủng hộ chư Phật giáo hóa duy trì giáo lý chư Phật đã tuyên thuyết, cúng dường xây dựng Pháp hội của chư Phật, và quả báo sẽ trở lại khi Bồ Tát thị hiện giáo hóa được chúng sinh ủng hộ giữ gìn một cách bền vững.

Do Bồ Tát thường cúng dường chư Phật, ban phát giúp đỡ chúng sanh nên khi thị hiện vào sinh tử, Bồ Tát luôn được sung mãn tài vật, muốn thực hiện công đức gì liền đủ duyên tụ hội. Cũng do công đức giáo hóa làm lợi ích chúng sanh nhiều kiếp, Bồ Tát cảm quả báo thành tựu  trí tuệ thần lực quãng đại không thể nghĩ bàn. Trí tuệ của đại Bồ Tát biết nhiều phương tiện thù thắng để giáo hóa hơn lúc mới vào Bồ Tát vị. Thiên nhãn của đại Bồ Tát thấy suốt nhiều cõi nước xa xôi. Đại Bồ Tát có thể hóa vô số thân vào các loài, vào các cõi nước khác biệt để độ chúng sinh. Đang khi có thân làm thiên chủ, vẫn đang có thân ở cõi người, có thân ở loài thú, có thân nơi pháp hội chư Phật. Bản Thể đã đồng với Phật, chỉ có công hạnh, phước đức, trí tuệ, thần lực diệu dụng dần dần thành tựu vô số kiếp lên các địa vị Bồ Tát, đến thập địa thì viên mãn, tùy nguyện bổn xứ thành Phật.

 

Có khi để gieo duyên với một xóm làng, Bồ Tát đắp sửa con đường đầu làng, gát lại chiếc cầu đã mục…

Phương tiện truyền bá giáo lý cũng là môi trường kết duyên rộng rãi với chúng sinh.

NHẪN NHỤC

Khi còn phàm phu chưa thông đạt thánh đạo Bồ Tát cũng lỡ gây oan trái với chúng sinh, bây giờ hành Bồ Tát đạo đi vào sinh tử, sẽ gặp lại những oan gia xưa và phải nhận những đối xử tệ bạc. Trước nghịch cảnh đó, bậc Bồ Tát vẫn nhẫn nhục bình thản trả nghiệp và luôn tiện kết duyên mới để hóa độ kẻ thù ngày trước. Trường hợp Ca Lợi Vương chặt cắt thân thể vị tiên tu hạnh nhẫn nhục (Tiền thân của Phật Thích Ca) cũng là như vậy. Ngay đó vị tiên nhơn phát thệ khi thành Phật sẽ độ Ca Lợi Vương trước hết. Ca Lợi Vương chính là tiền thân của tôn giả Kiều Trần Như, đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

Trong Kinh Bổn Sanh có kể lại rất nhiều tiền thân của Phật, khi hành Bồ Tát đạo. Nhưng phẩm Nhập Pháp Giới trong kinh Hoa Nghiêm diễn tả công hạnh của các vị Bồ Tát với các phương tiện rất thù thắng kỳ lạ, khó thể nghĩ bàn. Có vị hiện thân làm vua hóa hiện rất nhiều hình phạt thảm khóc để hăm dọa kẻ ác đừng làm ác. Có vị hiện thân nữ để giáo hóa chúng sanh…

Những đệ tử của Phật cũng từng nhiều đời là đệ tử khi Phật còn hành đạo Bồ Tát, cũng đã được Phật dạy thiền định tư duy, cùng quây quần ở chung nơi rừng sâu núi thẳm.

 

      NĂM TRĂM KIẾP CHỒN

PHI ĐẠO

Vì lòng từ bi lớn, Bồ Tát cũng hiện thân vào các loài thú, loài thần… để gần gủi ban ân cho chúng sanh ở loài đó, và khéo léo ngăn chận chúng sinh ấy không tạo ác hầu có cơ hội được thân người. Hoặc Bồ Tát làm sư tử chúa, nai chúa, chó chúa… thống lãnh cả bầy để che chở và hướng dẫn bầy thú phát tâm hướng thượng tăng trưởng phước  duyên. Khi bầy thú đó được thân người, Bồ Tát lại hiện thân người để tiếp tục gần gũi giáo hóa khiến thiện duyên họ không dứt mất.

Trong thế gian phức tạp này không có việc gì hoàn toàn thuận tiện một chiều cả. Đối với những chúng sinh ác tâm quá lớn, khinh chê đạo đức, tham lam hiềm trá đầy lòng, Bồ Tát đôi khi phải dùng những nghịch hạnh phi đạo đức như trừng phạt, trách mắng, để chận đứng họ khỏi tạo nghiệp. Dĩ nhiên Bồ Tát phải cảm quả báo không tốt, nhưng vì sự nghiệp độ sinh là tối thượng, Bồ Tát vẫn thản nhiên chấp nhận, miễn sao chúng sinh đừng rơi vào ác đạo là đủ.

                                       ¶     ¶

Phạm vi bài tiểu luận về Nhân Quả này không cho phép chúng ta đi sâu vào mọi khía cạnh. Chúng tôi góp chút ý kiến thô thiển về một giáo lý nền tảng của  Phật pháp mà nếu thiếu hiểu biết về nó, chúng ta sẽ rơi vào chấp không, lạc vào tà kiến. Ngoại đạo có định lực rất sâu, cũng có một số thần thông, nhưng trong cái thanh tịnh đó họ chưa thấy sự chi phối trùm khắp của Nhân Quả. Họ sẽ thành lập những giáo lý không biết đến Nhân Quả, hoặc họ cho đã thoát ngoài Nhân Quả. Chỉ có những bậc giác ngộ chân thật như Tổ Bá Trượng mới bảo:

 

Không lầm Nhân Quả”

Hoặc như Thiền sư Tổ Giác Hoa Nghiêm trình Viên Ngộ bài kệ sau khi đã triệt ngộ:

“Ra rừng như cũ vào bồng hao

Lồng lộng trời cao trốn được nào

Vì tin nghiệp duyên không thể trốn

Trở về chẳng sợ lời nói cao

               (Thiền sư Trung Hoa 3)

Với trí tuệ Nhân Quả, chúng ta dần dần chuyển đổi nghiệp lực của mình theo bản nguyện đổi tội thành phước, chuyển dở thành hay, biến xấu thành tốt, hóa mê ra ngộ, từ phàm lên thánh một cách tự chủ. Biết Nhân Quả chúng ta không chán nản khi thất bại, tự cao khi thành công.

Biết Nhân Quả chúng ta quan sát lại công đức trong Phật pháp của mình và kiên trì tu tập. Không nóng nảy vội vàng  ham mau, bình tĩnh gieo duyên sâu dày với đại chúng, tích cực tạo lập công hạnh phước đức lâu dài về sau.

Biết Nhân Quả, chúng ta biết hóa độ người một cách đúng đắn, vẫn kiên nhẫn khi họ không nghe theo mình, vẫn trầm tĩnh khi được mọi người vâng phục và mãi mãi ban phát ân nghĩa tình thương khắp chúng sinh. Y

                                                                        THÔNG HUYỀN (Thường Chiếu)

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: