Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Hiểm Họa Tin Lành

HIỂM HỌA TIN LÀNH 


Trần Chung Ngọc 


Toàn tập: 4  


HIM HA TIN LÀNH 


Trần Chung Ngọc


(Phần IV)


Mục Sư Tin Lành Trần Long


 


Trong ba phần trên viết về Hiểm Họa Tin Lành qua ba bộ mắt của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật, chúng ta đã thấy thực chất trình độ hiểu biết của những Tin Lành trên là như thế nào. Nhưng Tin Lành ở Việt Nam còn cuồng tín và ngu xuẩn hơn nhiều. Chúng ta hãy lấy một trường hợp điển hình.


Một chuyện khôi hài nhất thế kỷ vừa xảy ra ở Việt Nam: Mục Sư Tin Lành Trần Long thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm Việt Nam, lấy tư cách của một “môn đồ của Chúa Jesus” để gửi một “Thông Điệp Phước Lành” cho “Nhà Cầm Quyền Việt Nam”, một thông điệp, xin lỗi quý độc giả vì tôi không kiếm được từ nào thích hợp hơn, có thể nói là ngu xuẩn và mê tín nhất thế gian, [ngu không có nghĩa là ít học hay thất học, mà là không biết rõ sự thật, không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân, và xuẩn là hành động một cách vô ý thức vì cái ngu của mình] để kêu gọi nhà cầm quyền hãy từ bỏ nền văn hóa dân tộc để theo nền văn hóa Tin Lành, cũng là nền “văn hóa thiên đàng”, theo Trần Long (Ở trên thế giới này làm gì có cái gọi là “văn hóa Tin Lành” hay “văn hóa thiên đàng”, có chăng chỉ là nền văn hóa mù quáng, hay văn hóa mê tín, hay văn hóa hoang tưởng của các con cừu Tin Lành) mà mục sư Trần Long cho là nền văn hóa của cả nhân loại, có nghĩa là biến nước Việt Nam thành nước Tin Lành [Trần Long: Phục hồi bản sắc văn hóa của dân tộc là để văn hóa Tin Lành tuôn chảy trong lòng dân tộc- vì đây là văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng là văn hóa toàn thế giới.] Đây là một hành động của một kẻ không có đầu óc, cuồng tín cực đoan, muốn mang niềm tin thuộc thời bán khai của mình mà ngày nay thế giới văn minh Âu Mỹ đang dần dần loại bỏ, để áp đặt trên toàn thể đất nước. Mục sư Trần Long theo Tin Lành, tin tất cả vào cuốn Tân Ước, nhưng chưa hề đọc đến cuốn “The Bad News Bible: The New Testament” [Cuốn Kinh Thánh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước] của Giáo sư đại học David Voas. David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), đã viết như sau, trg. 1 – 2:


“Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (nghĩa là Jesus. TCN) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Jesus không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin dữ


(The problem is that people think they know what’s in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn’t all good news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)


Như vậy, cái mà mục sư gọi là “Phước Lành” hay “Tin Lành”, thực ra chỉ là “Hiểm Họa” hay “Tin Dữ”. Tin Dữ thì tất nhiên mang họa dữ đến cho nhân loại. Điều này đã thật là rõ ràng nếu chúng ta đọc qua cái lịch sử đẫm máu của Ki-tô Giáo, những hành động ác ôn của Ki-tô Giáo, tất cả đều nhân danh “Tin Lành”. Mục sư Trần Long muốn biến người Việt Nam thành những con cừu đi theo sự dẫn dắt của một đám gọi là Mục sư, đầu óc kém cỏi, cuồng tín như Trần Long, để tin nhảm tin nhí vào một người Do Thái đã chết mà bản chất là vô đạo đức, đạo đức giả, ác độc và lòng đầy thù hận: Jesus. Thủ đoạn truyền tà giáo của các mục sư như Trần Long là viết láo lếu về Kinh Thánh, Lịch Sử nhân loại, và trích dẫn lắt léo Kinh Thánh , làm như không ai biết đọc Kinh Thánh. [Những nhận định này sẽ được chứng minh trong một đoạn sau].


Cho tới nay, cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư Trần Long gồm có 6 phần dài mấy chục trang nhưng không có một trang nào có thể đọc được. Bởi vì trong đó chỉ có toàn là một thứ thuộc loại mê tín hoang đường như “Chúa sáng tạo”, “Kính sợ Chúa”, “Biết ơn Chúa”, “Thờ phượng Chúa” “Nước Thiên Đàng vinh hiển”, “Đức Chúa Trời sẽ giáng họa” và vô số những điều tin nhảm nhí khác về Jesus, phản ánh một đầu óc mê muội chưa từng thấy. Nếu phê bình hết cả thông điệp này thì chắc đủ để thành một cuốn sách. Ngoài ra, trong thông điệp, có đầy rẫy những câu bất thành văn, sai văn phạm, ý tưởng rất lộn xộn và mâu thuẫn, chứng tỏ tác giả là một người có trình độ văn hóa và hiểu biết rất kém cỏi v…v… Do đó, tôi chỉ lướt qua vài điểm điển hình của mục sư Trần Long để chúng ta thấy đầu óc của ông ta thuộc loại nào.


Trước hết, chúng ta hãy thử đọc một đoạn trong cái thông điệp quái gở này mà Nhà Nước phải kiên nhẫn chịu đựng sự lạm dụng quyền tự do một cách ngu xuẩn để viết bậy, viết nhảm nhí nấp sau bình phong tự do tín ngưỡng. Nhà Nước nên nghe lời đề nghị của Charlie Nguyễn trước đây, không nên nhân nhượng với loại người coi thường chính quyền và dân tộc này.


Trần Long: Với tư cách là người Việt Nam và là môn đồ [sic] của Chúa Jesus; với tư cách là người của Đức Chúa Trời trong đất nước được gọi là tự do tín ngưỡng, tôi có trách nhiệm trên đất nước mình đang ở, tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời.


Với tư cách là một người Mỹ gốc Việt, không phải là môn đồ của Chúa Jesus, tôi xin có vài lời ngỏ cùng mục sư Trần Long. Đất nước Việt Nam quả là một đất nước có tự do tín ngưỡng, cho nên ai muốn làm môn đồ [sic] của Chúa Jesus thì cứ việc làm, không có ai ngăn cản. Nhưng môn đồ của Chúa Jesus thì không có tư cách gì ngoài tư cách của một con chiên. Tại sao? Vì đối với mục sư Trần Long thì Jesus là Chúa, là Đức Chúa Trời, nhưng đối với những người ngoại đạo như chúng tôi, chiếm hơn 90% dân số Việt Nam, và cả những người trí thức trong đạo Ki-Tô, những người đã từng nghiên cứu kỹ Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, thì Jesus không có cái gì xứng đáng để gọi là Chúa hay Đức Chúa Trời. Khoan kể đến hơn 4 tỷ người trên thế giới không biết hay không muốn biết Jesus là ai. Do đó ông Trần Long chỉ có thể lấy tư cách của một công dân Việt Nam chứ không thể lấy tư cách của một môn đồ của Chúa Jesus, một người Do Thái đã chết tám hoánh từ 2000 năm nay, để bàn quốc sự Việt Nam. Chỉ có một điều sơ đẳng này mà mục sư Trần Long cũng không hiểu, tưởng rằng mang cái nhãn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” ra là vinh hạnh lắm, và có thể làm bất cứ điều gì. Nếu mục sư biết rõ Jesus là ai thì cái nhãn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” chẳng có gì là vinh hạnh mà rất có thể là một biểu hiện của sự ô nhục (a badge of shame). Chứng minh?


Ngày nay trên thế giới không thiếu những tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Jesus, về cuốn Kinh Thánh, cũng như về chính đạo gọi là Tin Lành. Tin vào Jesus là niềm tin cá nhân, tự nhận là môn đồ của Jesus là quyền tự do cá nhân, nhưng mục sư Trần Long không thể lấy tư cách của một môn đồ Jesus để gửi thông điệp cho Nhà Nước Việt Nam cũng như cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới. Tại sao? Vì đó là một hành động vô cùng ngu xuẩn, cho rằng tiếng nói của một môn đồ Jesus tất nhiên phải là có giá trị, niềm tin của một môn đồ Jesus phải là niềm tin của mọi người khác. Mục sư Trần Long mù quáng tin bướng tin càn vào một người Do Thái mà nền thần học Ki tô Giáo đôn lên làm Chúa cho những dân tộc bán khai, khai thác sự mê tín của quần chúng thấp kém, phù hợp với lịch sử và xã hội Do Thái trước đây 2000 năm, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng quyền tự do cá nhân này không cho phép mục sư Trần Long ăn nói bừa bãi về cái đạo Tin Lành của mình và xúc phạm đến nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, và xúc phạm đến tuyệt đại đa số người dân không phải là Tin Lành, không cần biết Jesus là ai, nhất là khi mà giới thức giả Tây phương đã loại bỏ Jesu ra khỏi đầu óc của người dân trong những nước văn minh tiến bộ. Ngày nay, những công cuộc nghiên cứu về nhân vật Jesus đã rất rõ ràng bởi những học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki-tô Giáo.


Nói ngắn gọn, Jesus chẳng qua chỉ là một nhân vật lai lịch không rõ ràng, chẳng ai biết ông ta sinh ra ngày nào, chết ngày nào, là con ai và đã làm gì trong khoảng thời gian từ 12 tuổi đến 30 tuổi. Hơn 4 tỷ người trên thế gian không biết Jesus là ai, hơn 90% người Việt Nam cũng vậy, không biết và không tin Jesus, chỉ có 6% người theo Công Giáo và chưa tới 1% người theo Tin Lành là tin Jesus, tin là tin vậy thôi chứ đâu có biết Jesus chẳng qua chỉ là một người Do Thái tầm thường, được Ki-tô Giáo đôn lên làm Chúa. Lục địa Á châu rộng lớn như vậy nhưng chỉ chưa tới 2% người dân là biết đến Jesus. Cho nên ngay cả Jesus cũng không có tư cách gì nổi bật trên đất nước Việt Nam, huống chi là một môn đồ của ông ấy như Trần Long. Mặt khác, Việt Nam không thể coi Jesus là Chúa hay là Đức Chúa Trời, dựa vào những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay, và dựa vào chính tư cách của Jesus qua vài tài liệu nghiên cứu Tân Ước của một số học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki-tô Giáo:


Trước hết, đúng như Russell Shorto, một học giả Ki-tô, đã viết trong cuốn Sự Thật Phúc Âm (Gospel Truth), trang 14:


Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Jesus chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Jesus chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. [Hiển nhiên là mục sư Trần Long chưa được dạy sự kiện này. TCN] Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. [và cả những mục sư bình thường như Trần Long. TCN].


(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth…. Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)


Lẽ dĩ nhiên, mục sư Trần Long thuộc lớp những tín đồ bình thường vẫn còn sống trong bóng tối. Thứ đến, về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Jesus thì không một người nào trong giới trí thức không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20:


“Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lãnh vực trí tuệ và đạo đức, Chúa KiTô [Jesus] không thể đứng ngang hàng với những vĩ nhân khác của lịch sử. Tôi cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Socrate đứng cao hơn Ông ta trong hai lãnh vực này.”


(Russell, Bertrand, Why I Am Not A Christian, p. 19: I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the manner of virtue Christ stands quite as high as some other people known to history. I think I should put Buddha and Socrates above Him in those respects.)


Và Giám Mục John Shelby Spong thì có những nhận định như sau về Jesus, Giám Mục Spong, thuộc một hệ phái Tin Lành tiến bộ, là người đã được mời lên TV nhiều lần, và được mời tới một số trường đại học để nói lên nhận định của ông về Jesus, về Ki-tô giáo v..v..


Nhưng Jesus đã được “sinh ra từ một người đàn bà” [nghĩa là không phải sinh ra từ Maria đồng trinh]. Sự sinh ra đời của Jesus cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta (Jesus) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta (Jesus) là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và chưa nổ.


(Spong, John Shelby, Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, San Francisco, 1992, p. 35.: But he was “born of a woman”.. His origins were equally as scandalous as his means of death. He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come. No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)


và:


Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Jesus ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.


(Spong, John Shelby, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21: There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.)


Giám Mục Spong là ai? Giám mục Spong đã phục vụ 45 năm trong Giáo hội Tân Giáo (Episcopal = Giáo hội Ki-tô Anh ở Mỹ) và ngày nay vẫn là một giám mục trong giáo hội này. Ông là người có tư tưởng rất tiến bộ. Những sách ông viết về Ki-tô Giáo nói chung đều thuộc loại sách bán chạy nhất. Một trong những cuốn sách này có tên “Tại Sao Ki Tô Giáo phải Thay Đổi Không Thì Chết?” (Why Christianity Must Change or Die?). Giám mục Spong đã được mời lên TV nhiều lần để bày tỏ tư tưởng của ông, và đã được mời đến thuyết trình ở nhiều đại học. Vậy người Việt Nam nên đọc Giám mục Spong hay là đọc Trần Long? Và cái tư cách “môn đồ của Jesus” của Trần Long thì có giá trị gì?


Đó là vài nét điển hình về Đức Chúa Trời của mục sư Trần Long. Không ai cấm ai tin vào Jesus, vì đây là quyền tự do tín ngưỡng của mọi người. Nhưng từ những sự thật về con người của Jesus như trên, và còn vô số điều đáng chê khác nữa, kết quả nghiên cứu của nhiều học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô, mà ngày nay mục sư Tin Lành Trần Long dám lấy tư cách của một môn đồ của một Jesus như vậy, để viết một thông điệp truyền đạo đượm màu mê tín và cuồng tín đến Nhà Nước Việt Nam và nhiều cơ quan quốc tế khác thì chúng ta phải hiểu cái đám Tin Lành này ngu xuẩn như thế nào, và đã lộng hành như thế nào trên đất nước của chúng ta. Nhà Nước nên nhốt chúng lại, giáo dục chúng, không phải vì chúng chống Nhà Nước, hay vì chúng theo Tin Lành, mà vì chúng quá ngu đi, và lại mang cái ngu của mình đi truyền đạo để đầu độc dân chúng.


Nhà Nước cũng nên biết thực chất Tin Lành là như thế nào? Tin Lành là một hệ phái trong Ki Tô Giáo, căn bản tín ngưỡng cũng như Công Giáo, chỉ không tin vào vai trò tự phong của Giáo hoàng Công Giáo và một số tín lý thuộc loại hoang đường mê tín của Công Giáo. Bản chất của Tin Lành cũng đầy sự mê tín như sẽ được trình bày sau đây. Nhưng Ki Tô Giáo nói chung là một tôn giáo như thế nào? Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Graham Lloyd:


Trong gần 2000 năm nay, Ki Tô Giáo toan tính cứu rỗi chúng ta thay vì văn minh hóa chúng ta, và nó đã đi đến một thế kỷ man rợ, một thời đại trong đó có tới 250 triệu tín đồ Ki Tô chết trong những cuộc chiến của Ki Tô Giáo. [Tin Lành cũng đã giết nhiều triệu thổ dân ở Mỹ Châu]


..Đó là Ki Tô Giáo, một tôn giáo đặt căn bản trên sự gian dối, thành lập bởi những kẻ điên và được củng cố bởi một tên sát nhân – Đại đế Constantine.


(Graham, Lloyd, Deceptions & Myths of the Bible, p. 454: For nearly 2000 years Christianity has been trying to save us instead of civilizing us and it has ended in a century of savagery, an era in which 250 million Christians died in Christian wars… Such is Christianity, a religion based on a fraud, founded by “fools” and confirmed by an assassin – Constantine the Great.)


Bản chất sự mê tín của Tin Lành là đặt niềm tin vào ba điều chính: 1. Chỉ tin tất cả vào Kinh Thánh, cho đó là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm [Sola Scriptura]; 2. Tự mình tìm hiểu Kinh Thánh [Priesthood of all believers]; và 3. Tin thì Thiên Chúa sẽ tha tất cả tội ác và coi mình như kẻ công chính [Sola Fida = Justification by “Faith Alone”). Sự mê tín của Tin Lành là một hiểm họa cho xã hội vì những lý do sau:


Thứ nhất, tin tất cả vào Kinh Thánh. [Sola Scriptura]


Một học giả, Neale Donald Walsch, đã nhận định trong cuốn The New Revelations, trang 51: “Những nhà bảo thủ Tin Lành tin rằng con đường tiến tới là con đường đi giật lùi, giật lùi về đúng những lời nguyên thủy của cuốn Kinh Thánh – một cuốn sách phải đọc nguyên văn, và áp dụng từng câu từng chữ.” (Fundamentalists believe that the way forward is the way backward, to the original and exact words of the Holy Scripture – to be read verbatim, and applied literally).


Thật vậy, ngày nay giới nghiên cứu về Kinh Thánh của Ki-tô Giáo đã đồng thuận ở điểm: Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như về khoa học, không hợp với thời đại, và có tính cách ngu dân. Người ta đã có thể kiếm ra trên 170000 điều sai lầm trong Kinh Thánh. [Abhinyana in Because I Care, p. 93: Một số học giả nghiên cứu về Kinh Thánh Ki-Tô Giáo đã nói rằng trong đó có trên 170000 điều sai lầm.” (It is said now, by some scholars of the Christian Bible, that there are over 170000 errors in that book?).


Vấn nạn của những người Tin Lành tân tòng Việt Nam là không biết đầu óc học đã bị điều kiện hóa như thế nào để đến nỗi trở thành những kẻ mê muội, cuồng tín, bất chấp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, bất chấp những sư thực hiển nhiên về chính tôn giáo của họ. Về phương diện tôn giáo, đầu óc họ có một điểm mù, khiến cho họ có những niềm tin của thời Trung Cổ. Đọc Trần Long chúng ta thấy rõ ông ta có một điểm mù tôn giáo, rất phù hợp với nhận định của Mục sư Ernie Bringas trong cuốn “Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh” (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority): những người Ki Tô (Christians) thường có đầu óc cũ kỹ lỗi thời (astrolabe mind) nghĩa là có một “khuyết tật” trong đầu. Điều này tôi đã giải thích rõ ràng trong 3 phần trên về “Hiểm Họa Tin Lành”, xin quý độc giả đọc lại để biết rõ thực chất Tin Lành là như thế nào.


Gần đây, Công Giáo cũng như Tin Lành đều cố gắng đánh đồng quan niệm về “ông Trời” của Việt Nam với “Chúa Trời” của Ki-tô Giáo và đưa ra sự hoang tưởng là thờ Trời cũng như thờ Jesus. Mục đích chính của mục sư Trần Long trong thông điệp này cũng vậy, đồng nhất hóa quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam với thiên chúa của Tin Lành. Nhưng vì Mục sư Trần Long không hiểu rõ thế nào là quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam và cũng không hiểu rõ thiên chúa của Tin Lành là như thế nào nên đã viết láo lếu và nhảm nhí về quan niệm “Ông Trời” của Việt Nam cũng như về thiên chúa của ông ấy. Một thí dụ đơn giản là khi đồng nhất hóa ông trời của người Việt Nam với thiên chúa của Tin Lành thì mục sư Trần Long phải chấp nhận thiên chúa của ông ấy chẳng qua chỉ là cháu của một con cóc, vì Việt Nam ta có câu Con cóc là cậu ông trời.” Hơn nữa, người dân Việt Nam chưa từng xây “nhà thờ” để thờ trời, cũng như chẳng có ai có “bàn thờ Trời” ở trong nhà. Ngoài ra, người Việt Nam còn gọi là “ông Trời” chú không phải là “Chúa Trời”. Trong bài này, tôi sẽ không giảng cho mục sư Trần Long những quan niệm về “ông trời” của người Việt Nam. Đã có nhiều bài viết về vấn đề này rồi, thí dụ như bài “Quan Niệm “Ông Trời” Của Người Việt” của Charlie Nguyễn, một trí thức Công Giáo, hoặc bài “Chữ Trời Trong Tác Phẩm Của LM Cao Phương Kỷ” của Bùi Linh.


Cái gọi là “thông điệp” của Trần Long viết rất dài và lẩm cẩm, toàn là những điều mê tín đã lỗi thời, tôi không có cách nào phê bình hết trong bài này. Cho nên tôi chỉ có thể luận về vài điểm mà mục sư Trần Long nêu ra về niềm tin của Tin Lành.


Trần Long: Dầu mỗi dân tộc có quan điểm khác nhau về Trời nhưng tất cả đều hiểu Trời là Đấng Thiêng Liêng Tối cao đã dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật. Niềm tin của đạo Tin Lành cũng thờ Trời, là Đấng dựng nên trời đất, dựng nên muôn loài vạn vật trong đó có các cộng đồng dân tộc Việt nam. Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái. Người Tin Lành thờ Trời, thờ Chúa Jesus chính là tôn thờ Đấng mà cha ông ta có tâm hướng tôn thờ.


Chỉ có những người truyền giáo Tin Lành trình độ mẫu giáo, đầu óc mê muội mới cho rằng Trời là một Đấng thiêng liêng tối cao, tất nhiên là của Ki-tô Giáo, đã dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật, và tất cả các dân tộc đều hiểu Trời là Đấng thiêng liêng tối cao đã tạo dựng nên vũ trụ và muôn loại vạn vật. Mang cái niềm tin trong đầu óc mê muội của mình đặt vào các dân tộc, chỉ có những người như mục sư Trần Long mới có can đảm viết lên một câu quá ư vô nghĩa như vậy. Mục sư Trần Long không hề biết là trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau, và mỗi nền văn hóa đều có thuyết sáng tạo riêng, và chẳng có dính líu gì tới trời cả. Thí dụ như thuyết sáng tạo của dân Eskimo, của dân Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư v..v.. đều không dính líu gì đến ông trời cả. Do đó, niềm tin của Tin Lành về một Đấng dựng nên trời đất, dựng nên muôn loài vạn vật v..v.. thật ra chỉ là niềm tin của Tin Lành, không hề có một căn bản nào để cho đó là niềm tin của cả nhân loại. Nhưng vấn đề chính ở đây là niềm tin về một Đấng Thiêng Liêng Tối Cao của Tin Lành đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài ngày nay chỉ là một niềm tin của người bán khai, may mắn lắm là niềm tin của thời Trung Cổ, và không còn giá trị gì trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, và trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác.


Thật vậy, cái gì là Đấng Thiêng Liêng Tối cao đã dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật? Từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God). Chúng ta nên để ý, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Đấng Thiêng Liêng [sic] của Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thiên Chúa. Và giáo hoàng nói câu trên, một câu hoàn toàn vô nghĩa trong giới khoa học, chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thiên Chúa, một mặt mũi đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.


Rồi, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thiên Chúa, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). Như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu rỗi” của Jesus, và hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Jesus, và sự luận phạt của Jesus đối với những người không tin ông ta. Như vậy, cái mà mục sư Trần Long gọi là “văn hóa thiên đàng” là cái văn hóa quái gì?


Thứ Nhì, Tự mình tìm hiểu Kinh Thánh.


Đây có thể nói là một sự tiến bộ của Tin Lành so với Công Giáo. Trong Công Giáo, tín đồ không có quyền tự mình tìm hiểu Kinh Thánh mà phải tuyệt đối nghe theo những lời diễn giảng về Kinh Thánh của các “bề trên”. Tin Lành chủ trương tự mình tìm hiểu Kinh Thánh nhưng thực ra họ chỉ chọn những phần giúp cho đức tin của họ và đi truyền bá những phần này chứ họ chưa hề đọc toàn bộ Kinh Thánh với một đầu óc phân tích trí thức. Cũng vì vậy mà Ira Cardiff, một khoa học gia, đã đưa ra nhận xét sau đây:


“Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường như Trần Long) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó – đừng nói là đọc cả cuốn.


Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”


(Virtually no one really reads the Bible. The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it – much less reads all of it.


If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)


Tại sao Ira Cardiff lại có thể viết như vậy. Vì đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta không thể nào chấp nhận Thiên Chúa trong đó, Chúa Cha cũng như Chúa Con, là nhất mực nhân từ, yêu thương mọi loài.


Những người Tin Lành đầu óc mụ mị, được nhồi sọ để tin rằng mọi sự tốt đẹp xảy ra cho họ là do Chúa ban cho: [Trần Long: Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái]. Điều này nói lên tâm cảnh ích kỷ cùng cực của những người Tin Lành. Họ không hề nghĩ đến những đứa trẻ sinh ra là quái thai, hoặc có khuyết tật, những thiên tai hàng ngày xảy ra trên thế giới, và vô số những cảnh nghèo khổ xảy ra trong ¾ thế giới. Họ bị đầu độc bởi viên thuốc phiện Thiên Chúa, tạo cho họ một tâm cảnh hoàn toàn phụ thuộc vào cặp nạng thiên chúa, không bao giờ dám rời bỏ cặp nạng này, dù hàng bao tỷ người trên thế giới vẫn đứng vững trên trường đời mà không cần đến cặp nạng thiên chúa.. Họ được cấy vào đầu là mọi sự tốt lành trên thế gian này đều là do thiên chúa của họ tạo ra, không bao giờ buồn để ý đến những sự xấu ác, bất toàn trên thế giới. Họ được dạy là thiên chúa lòng lành, rất thương yêu thế gian, nhưng họ chưa từng đọc Kinh Thánh nên không biết rằng thiên chúa của họ trong đó ác ôn như thế nào. [Xin đọc một số hành động ác ôn điển hình của Thiên Chúa trong Phần III]


Tất cả những hành động ác ôn côn đồ của Thiên Chúa đều được giải thích một cách thuận tiện, phi lý trí, đối với những tín đồ ngu dốt là: đầu óc của con người không thể nào hiểu được thiên chúa, tất cả những việc chúa làm đều có lý do mà chúng ta không thể nào hiểu nổi. Cứ giữ vững đức tin thì thiên chúa sẽ xá hết tội và cho lên thiên đường (mù).


Vì tùy tiện tự đọc Kinh Thánh nên, trong mục đích truyền đạo, những nhà truyền giáo như Trần Long tha hồ thay đổi Kinh Thánh để diễn đạt theo ý mình. Chúng ta hãy đọc Trần Long trích dẫn Kinh Thánh.


Trần Long: “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi – Đảng Cộng sản khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi các đảng viên không kính sợ Đức Chúa Trời ? (Ê-xê-chi-ên 33: 11)


Câu trên là Ezekiel 33: 11: “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Hãy xây bỏ, xây bỏ những đường ác của các ngươi! Vì đó là tại sao các ngươi phải chết, Hỡi nhà Israel” (“As I live”, says the Lord God, “I have no pleasure in the death of the wicked, but that the wicked turn from his way and live. Turn, turn, from your evil ways! For why should you die, O house of Israel.”) Câu trên là Thiên Chúa của Do Thái nói với người Israel, một dân tộc được ông ta chọn, nhưng rồi lại hành hạ đủ điều, bắt làm nô lệ để người Ai Cập giáo dục theo ý tàn bạo của Thiên Chúa v..v.. Những việc ác của Hitler và những bạo Chúa trên thế gian thì không thấm thía gì so với những việc ác của Thiên Chúa, như được viết trong Cựu Ước. Câu Ezekiel 33:11 ở trên chỉ để cho người Do Thái, chứ chẳng dính dáng gì đến người dân Việt Nam cả. Nhưng Trần Long đã biến nhà Israel thành Đảng Cộng Sản, và người dân Israel thành đảng viên Cộng Sản. Đó là sách lược truyền đạo và chống Cộng một cách rất xuẩn động của Tin Lành thời nay, muốn các đảng viên Cộng Sản phải kính sợ Đức Chúa Trời, cháu của con Cóc..


Giống như Trần Mạnh Hảo, không biết gì về thuyết Tiến Hóa, nên đã viết bậy bạ về thuyết Tiến Hóa trong một bài góp ý với Nhà Nuớc về bản Dự Thảo Chính Trị Đại Hội X, cho rằng thuyết Darwin là “đấu tranh sinh tồn: cá lớn nuốt cá bé”, Trần Long cũng viết bậy bạ tương tự về thuyết Tiến Hóa như sau:


Trần Long: Chủ Nghĩa Duy Vật và Tiến Hóa là loại văn hóa cấp thấp, đẩy con người xuống tận cùng là con cái của loài động vật chuyên đấu tranh giết chóc lẫn nhau để tồn tại và cũng anh em của loài vượn bây giờ. Chủ nghĩa Mác-Lê và Thuyết Tiến Hoá không phù hợp với niềm tin của cha ông ta và với các dân tộc trên đất nước Việt Nam, bởi đã phủ nhận nguốn gốc siêu nhiên nhân dân Việt


Sau đây là bài học vỡ lòng cho Mục sư Trần Long về thuyết Tiến Hóa:


Với sự hiểu biết hiện nay về nguồn gốc con người trên trái đất thì Thuyết Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đã được xác nhận bởi khoa học, rất nhiều bộ môn khoa học, và lý trí. Xin đừng nhầm lẫn, cho rằng Thuyết Tiến Hóa là của Charles Darwin. Thuyết Tiến Hóa mà chúng ta hiểu ngày nay là sự tổng hợp của hàng núi những bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học, thí dụ như Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học, Khảo Cổ Học, Vật Lý Học, Vũ Trụ Học v..v.., có những bộ môn mà trong thời của Darwin chưa khám phá ra.


Trái đất mà chúng ta sống trên đó không có gì đặc biệt. Chúng ta cho nó là đặc biệt vì chúng ta sống trên đó, nhưng trong thực tế, trái đất chỉ là một hạt bụi vũ trụ [Trái đất: đường kính 12728 km, so với vũ trụ rộng 13.7 tỷ năm ánh sáng]. Sự sống của chúng ta trên trái đất cũng không có gì là đặc biệt. Chúng ta, hiện nay có trên 6 tỷ người, sống chung với cả tỷ tỷ [trillions] các loại sâu bọ, chưa kể hàng triệu các loại sinh vật khác. Mọi sinh vật trên trái đất đều nằm trong luật Vô Thường: Sinh, Trụ, Hoại, Diệt, không có một loài sinh vật nào được miễn trừ, không có một quyền năng nào có thể thay đổi. Con người chúng ta chỉ là một dạng sinh vật ở cấp tương đối cao, vì chúng ta có lý trí, có đầu óc suy tư, từ đó con người đã tiến hóa từ thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt cho đến thời đại nguyên tử ngày nay.


Những người theo Thần Giáo tin rằng Thần của họ đã đặc biệt “sáng tạo” ra loài người nhưng họ quên rằng tai con chó thính hơn tai người, mũi con chó thính hơn mũi người, mắt con dơi sáng hơn mắt người trong đêm tối v..v.., và một loại vi-rút (virus) rất nhỏ nhoi cũng có thể giết cả triệu người như bệnh dịch hạch phát ra ở Âu Châu trước đây. Khoan kể đến chuyện Thiên Chúa “toàn năng” của Ki-Tô Giáo, hay bất cứ Thiên Chúa nào khác, cũng như chúng ta, đều hoàn toàn bất lực trước những thiên tai như bão lốc, Tsunamis, cuồng phong, núi lửa, lụt lội v..v.. và riêng đối với loài người thì trước những quái thai, bào thai khuyết tật v..v.. sinh ra đời. Những thiên tai này không chừa một ai, kể cả những người tin vào quyền năng của chính Thiên Chúa của họ. Do đó, luận điệu Thần Học về một Đấng Tối Cao, sáng tạo ra muôn loài, đặc biệt sáng tạo ra loài người, và thương yêu chúng ta không còn đứng vững trong thời đại ngày nay. Chúng ta đã đi từ thời bán khai, đến thời Trung Cổ, và bỏ lại đàng sau những gì thuộc các thời đại đó và không còn có giá trị gì hay thích hợp với chúng ta ngày nay.


Tuy nhiên, những thắc mắc muôn đời như: con người từ đâu mà ra, sau khi chết sẽ đi về đâu v..v.. vẫn là những mối thắc mắc của con người, ngay trong thời đại này. Và vì vậy, con người, trải qua nhiều thế hệ đã đưa ra những giải đáp khác nhau, tùy theo mỗi nền văn hóa. Những giải đáp thuộc lãnh vực siêu hình dần dần mất đi tính cách thuyết phục, vì không còn hợp với trình độ hiểu biết của con người ngày nay. Tri thức con người phát triển và tiến bộ, từ đó khoa học cũng phát triển theo và con người không còn tin vào những thuyết lý không thể kiểm chứng. Con người phải nhờ đến khoa học để tìm hiểu về vũ trụ, nhân sinh. Khoa học không phản đối niềm tin của bất cứ ai, mà chỉ tìm cách giải thích những thắc mắc trong thế giới vật lý của chúng ta, và khoa học sẵn sàng loại bỏ những giải thích nào không còn hợp thời, không còn đúng với những khám phá mới trong khoa học.


Cho tới ngày nay, tuyệt đại đa số trong giới khoa học đã chấp nhận thuyết Big Bang nói về nguồn gốc của vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa nói về nguồn gốc của con người. Chấp nhận cho đến khi khám phá ra những bằng chứng mới chứng tỏ toàn bộ thuyết Big Bang và toàn bộ Thuyết Tiến Hóa không còn đúng. Các khoa học gia công nhận là trong thuyết Big Bang cũng như trong Thuyết Tiến Hóa còn có một số những chi tiết chưa giải đáp được. Nhưng xét về toàn bộ thì những thuyết này có tính cách thuyết phục nhất và các khoa học gia hi vọng trong tương lai, gần hay xa còn là một ẩn số, họ sẽ tìm ra những manh mối để giải thích dứt khoát chúng. Những khám phá mới trong nhiều bộ môn khoa học đã chứng minh được rằng: Không còn nghi ngờ gì nữa, loài người chúng ta thì liên hệ đến mọi sinh vật trên trái đất, và tất nhiên liên hệ tới cả vũ trụ này.


Trước hàng núi những bằng chứng khoa học về thuyết Tiến Hóa, một số nhân vật có uy tín trong lãnh vực tôn giáo như Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục , Mục sư, học giả v..v.. cũng phải cúi đầu trước thuyết Tiến Hóa, khoan kể đến giới khoa học gia đã chấp nhận thuyết Tiến Hóa từ trên trăm năm nay rồi. Sau đây chúng ta hãy đưa ra nhận định của một số nhân vật tôn giáo cũng như khoa học về Thuyết Tiến Hóa nói chung, trước những hiểu biết của chúng ta về Thuyết Tiến Hóa, và trước những bằng chứng trong khoa học:


Giáo Hoàng John Paul II phát biểu năm 1996:


Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dầnNhững kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.


(The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution…Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).


2. Linh mục dòng Tên Teilhard de Chardin trong The Phenomenon of Man:


Tiến Hóa là một thuyết, một hệ thống, hay một giả thuyết? Nó còn nhiều hơn nữa: nó là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và coi là đúng.. Tiến Hóa là một ánh sáng soi sáng mọi sự kiện, một đường cong mà mọi đường thẳng phải theo nó…


(Is evolution a theory, a system or a hypothesis? It is much more: it is a general condition to which all theories, all hypotheses, all systems must bow and which they must satisfy henceforth if they are to be thinkable and true. Evolution is a light illuminating all facts, a curve that all lines must follow…)


3. Mục sư Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority:


Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người. Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa. Thuyết Tiến Hóa , giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một “thuyết” theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không còn phải bàn cãi nữa.


(The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought… All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution. The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a “theory” in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.)


4. Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Why Christianity Must Change or Die:


Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.


(The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best. Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it. Those voices will never succeed. Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process. There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race. The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.)


Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Jesus chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực. Và Trần Long chẳng qua cũng chỉ là một trong số người tin mà không hiểu là mình tin cái gì. Thật là tội nghiệp.


Tại sao đạo Tin lành vẫn còn hấp dẫn với một số người như ở Việt Nam. Ingersoll đã nói thẳng trước một cử tọa đông đảo để nghe ông diễn thuyết (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):


“Tin Lành Giáo thật sống dai. Điều này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín và các mục sư thì đần độn (stupid).”


(Protestantism dies hard. What does that prove? It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.)


Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rõ như ban ngày, khó ai có thể chối cãi. Sự mê tín và cuồng tín của Tin Lành đã lên đến mức phi lý trí, phi dân tộc. Người Việt chúng ta có nên ngăn chận cái hiểm họa này, hay để cho cái tế bào ung thư này tự do lan rộng trong xã hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không?


Thứ Ba, Đức Tin Tin Lành:


Người Tin Lành tin rằng chỉ cần tin vào Jesus là họ sẽ trở thành người công chính (Justification by faith alone). Đây là một tín điều rất hấp dẫn đối với những người Tin Lành. Dù họ không phải là người công chính, dù họ là người ác, nhưng cứ tin vào Jesus là tức khắc họ trở thành công chính. Tất cả là do đức tin và ân sủng của thiên chúa chứ không liên quan gì đến những hành động tốt xấu hàng ngày. Cũng vì vậy mà người Tin Lành đưa ra chính sách diệt chủng dân da đỏ ở Mỹ Châu, giết người hàng loạt, thiêu sống thổ dân, mang bệnh đậu mùa đến để diệt thổ dân v..v.. nhưng vẫn tin rằng đối với thiên chúa mình vẫn là người công chính. Cho nên, cái nguy hại của Tin Lành chính là ở tín lý này, vì họ có thể làm bất cứ điều gì miễn là giữ vững đức tin vào thiên chúa.


Ngoài ra, để hiểu đầu óc của người Tin Lành trong những niềm tin của họ, tôi xin trích dẫn sau đây một số điều viết trong cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư Trần Long, để chúng ta có thể thấy đầu óc và kiến thức của họ tệ hại như thế nào.


– Người mà Đức Chúa Trời cắt cử bổ nhiệm để quản trị, là người làm theo lòng và ý muốn của Ngài. [Nhưng có ai biết được ý muốn của Đức Chúa Trời, một nhân vật trong những huyền thoại của người Do Thái, là như thế nào. Tất cả chỉ là đoán mò.]


– Tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời. [nghĩa là chính quyền Việt Nam hiện nay là do Đức Chúa Trời bổ nhiệm. Nhưng nếu do Chúa Jesus bổ nhiệm, tức là chính quyền đã thực thi ý Chúa rồi, còn gì nữa? Luật pháp của Chúa Jesus là như thế nào? Có giá trị gì trong những xã hội văn minh tiến bộ ngày nay?]


– Hễ ai tin Chúa Jesus theo tiêu chuẩn Kinh Thánh thì trở nên công dân Thiên Quốc, trở nên con của Đức Chúa Trời. [Trở nên để làm gì, công dân Thiên Quốc thì phải sống trong Thiên Quốc, mà Thiên Quốc này ở đâu?]


– Sự khó khăn mà các tín hữu Tin Lành …lại đến từ ngay chính bậc cầm quyền của mình [Thì nhà cầm quyền do chính Chúa Jesus bổ nhiệm để thực thi ý Chúa, vậy phàn nàn cái gì?]


– Tôi gởi đến quí cấp thông điệp nầy, nhắn nhủ Lời của Đức Chúa Trời dành cho quí cấp [Khi được Chúa Jesus bổ nhiệm thì Chúa Jesus đã nhắn nhủ lời Chúa rồi. Lời của Đức Chúa Trời là những lời bậy bạ của đám mục sư ngu dốt. Chúa Trời còn không có, lấy đâu ra lời của Đức Chúa trời?]


Tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam vẫn còn bị chiếm đoạt, mà đảng cộng sản tìm mọi cách bảo vệ chìa khóa kho tàng đó, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong vòng nô lệ đời đời. [Viết với lách? Thế này là thế nào? Đảng cộng sản tìm mọi cách bảo vệ chìa khóa kho tàng tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong vòng nô lệ đời đời đúng theo ý Chúa, thật không còn gì đúng hơn. Lịch sử thế giới cho thấy tài sản của Chúa Jesus ban cho những tín đồ Ki-tô Giáo, nhất là tín đồ Tin Lành, chính là vòng nô lệ đời đời]


– Tổ tiên chúng ta khao khát dân tộc Việt Nam tin nhận Chúa Jesus để được cứu rỗi. Vì vậy, niềm tin vào Chúa Jesus phù hợp với tổ tiên của dân tộc Việt Nam. [Nói bậy, tổ tiên ta khao khát từ bao giờ, tổ tiên ta có biết Jesus là ai. Cái tên Do Thái này mới được các thừa sai Công Giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, và hầu hết những người tin nhận Jesus thuộc thành phần thấp kém trong xã hội, ít học hay mù chữ, mù lòa tin bướng tin càn, cam tâm đi làm nô lệ cho mấy tên cha cố để được ăn một cái bánh vẽ trên trời. Những người Tin Lành ngày nay đa số cũng đều như vậy cả.]


– Nên loại bỏ Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ra khỏi chương trình chính quy; tư tưởng nầy không thể là tư tưởng chủ đạo, vì nó dẫn con người đến chổ hư mất linh hồn đời đời. [Nếu Công Giáo hay Tin Lành lên cầm quyền ở Việt Nam thì ngoài điều phải tin Chúa thờ phượng Chúa, không còn một môn học nào khác được dạy, vì tất cả các bộ môn khoa học đều chống Chúa. Trần Long viết ngu, không biết rằng thuyết Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ngày nay được dạy trong các trường học, từ Trung Học đến Đại Học, trên khắp thế giới, đặc biệt là trong các nước tân tiến nhất như Mỹ, Pháp, Đức, Anh v..v.., trong khi thuyết Tin Lành của Trần Long chỉ được dạy trong các nhà thờ để nhồi sọ đám dân ngu dốt]


– Jesus là nhân vật lịch sử, nhân vật có thật, một nhân vật đầy quyền năng được kiểm chứng bằng cả thực nghiệm của hàng triệu con người mà quí cấp lại không tin. [Chẳng có ai kiểm chứng được quyền năng của Jesus, trái lại, giới học giả đã biết rõ Jesus chỉ là một người thường, sống với một ảo tưởng. Ngoài ra, hơn 4 tỷ người trên thế giới không cần biết đến Jesus là ai, không thể tin Jesus vì đầu óc còn sáng suốt, vậy việc gì phải tin theo mấy triệu người không có đầu óc, đi tin nhảm tin nhí]


– Người Tin lành thừa nhận Đức Chúa Trời dựng nên Ađam và Êva. Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. [Người Tin Lành, vì đầu óc yếu kém, nên thừa nhận Đức Chúa Trời dựng nên Ađam và Êva, đó là chuyện của người Tin Lành. Trước những bằng chứng khoa học ngày nay, nhất là thuyết Tiến Hóa đã được dạy trên khắp thế giới, chỉ còn những đầu óc hạ đẳng mới còn tin vào huyền thoại sáng tạo trong Kinh Thánh. Xin tặng mục sư Trần Long một đoạn của Giám Mục John Shelby Spong trong bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus As Rescuer: An Image That Has To Go) trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hay Chết” (Why Christianity Must Change or Die), xuất bản năm 1998:


..Toàn thể cái hệ thống thần học này, với những điều mà họ tin, đã bị tan ra thành từng mảnh trong thế giới hậu hiện đại (post-modern) của chúng ta. Hệ thống thần học này cần phải vứt bỏ ra khỏi đầu óc con người. Sự tan ra từng mảnh này bắt đầu với nhận định là Adam và Eve không phải là hai tổ đầu tiên của nhân loại và rằng tất cả sự sống của con người không xuất phát từ hai người trên. Thuyết Tiến Hóa đã làm cho câu chuyện về Adam và Eve nhiều nhất là một truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ cho các tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay, nhiều tiếng nói vẫn cất lên từ những ốc đảo xa xôi trong thế giới để chống đối. Những tiếng nói này không bao giờ có thể thành công.


Điều rõ ràng là sự sống của con người đã nằm trong một quá trình tiến hóa trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có 2 người đầu tiên, do đó cái hành động không vâng lời lúc ban đầu của 2 người đầu tiên đó không thể nào có ảnh hưởng gì đến nhân loại. Huyền thoại cứu chuộc đã bị một đòn nặng khai tử (death blow), và cái câu chuyện vững chắc về cứu chuộc, xây dựng bởi giáo hội qua nhiều thời đại, bắt đầu chao đảo.


– Qua Tin Lành của Chúa Jesus, con người thấy rõ mình vốn xuất phát từ Đấng Tối Cao; nhưng vì cớ phạm tội con người xa đã lìa Thiên Chúa. [Lại xin mục sư Trần Long đọc tiếp Giám Mục Spong]:


…Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin.


(We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)


Cha ông ta không có loại văn hóa đem “Băng vệ sinh” lên màn ảnh. Thay vì sử dụng, phô bày hình ảnh các anh hùng, các biểu tượng văn hóa phi vật thể thì trưng bày hình ảnh phi văn hóa “băng vệ sinh phụ nữ: “Kotex”, “Diana”, “4 Teen” thật trơ trẻn và lố bịch. [Chắc mục sư Trần Long không biết rằng tất cả những sản phẩm trên đều được sản xuất từ Mỹ, một xứ đa số theo Tin Lành, và cũng luôn luôn xuất hiện trên màn ảnh TV quảng cáo ở trên khắp nước Mỹ]


Tôi nghĩ trích dẫn vài điều điển hình trong thông điệp phước lành của mục sư Trần Long như trên cũng đủ để cho chúng ta thấy loại đầu óc Tin Lành như của mục sư Trần Long là như thế nào. Tôi đã nói, trong mấy chục trang giấy của Trần Long không có một trang nào có thể đọc được, vì ý tưởng lộn xộn, văn bất thành cú, rủa xả Việt Nam [Trần Long: Dân tộc Việt Nam bị Đức Chúa Trời rủa sả, đầy dẫy thiên tai, dịch lệ vì cớ người lãnh đạo đã đẩy dân tộc Việt Nam vào việc chống Trời, xui giục con người từ chối nguồn gốc siêu nhiên của họ là Đức Chúa Trời.] và rặt là những điều mê tín hoang đường của thời Trung Cổ. Muốn kiểm chứng lời này xin quý độc giả hãy vào trong nhà YKIEN.NET tìm kiếm toàn văn bản “thông điệp” của mục sư Trần Long mà đọc.


Vài Lời Kết,- Trong Phần III, tôi đã đưa ra nhận định của Robert G. Ingersoll về Tin Lành như sau: Tin Lành Giáo thật sống dai. Điều này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín và các mục sư thì đần độn (stupid). Ngận định trên đúng hay sai, xin để cho quý độc giả tự mình phán xét, và tôi tin chắc những người Tin Lành ngoài phái bảo thủ cũng tự biết bản chất của tôn giáo mình theo là như thế nào. Riêng đối với tôi, đọc những bài của nhóm Tin Lành Việt Nam, từ Mục sư Trần Long cho tới những “trí thức” như Huỳnh Thiên Hồng, Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật v..v.. chúng ta thấy rõ là nhận định của Ingersoll không sai một mảy may. Hiện nay, Tin Lành đang mở chiến dịch chống phá Phật Giáo và từ bỏ nguồn gốc dân tộc Việt Nam, nhưng với loại kiến thức dỏm và đầu óc mê tín, đần độn như Ingersoll đã phê phán, họ làm sao có thể thành công được.


Một trong những sách lược rất ấu trĩ của Tin Lành là tung ra những nhân chứng dỏm, vô tên tuổi, chẳng ai biết đến, để bịa đặt tuyên bố là đã bỏ đạo Phật để trở về với Chúa của họ. Họ đần độn đến độ không hiểu rằng, ai có thể tin được những nhân chứng dỏm này, khoan kể là lý luận trình bày của những nhân chứng này không khác gì “lý luận” của Nguyễn Huệ Nhật et al… Có người nào trong bọn họ có thể sánh nổi với Victor Hugo, Voltaire, Bertrand Russell, Albert Einstein, Carl Sagan, Stephen Hawking, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Linh Mục James Kavanaugh và các nhà thần học nổi danh trên thế giới như Uta Ranke-Heinemann, Hans Kung cũng như hàng trăm học giả, chuyên gia về Ki Tô Giáo trên thế giới, những người đã thấy rõ bản chất mê tín, ác ôn, độc hại của Ki-tô Giáo? Sự thật là Ki-tô Giáo đang xuống dốc không phương cứu chữa ở phương trời Âu Mỹ, và Phật Giáo đang phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới. Vậy những lời chứng hay những bài viết vô giá trị của mấy nhân chứng quèn cũng như của mấy trí thức dỏm này có thể đi đến đâu??


Chúng ta chỉ có một câu để hỏi những người đang ra công truyền đạo Tin Lành và đánh phá Phật Giáo: “Quý vị quảng cáo cho cái đạo Chúa của quý vị. Hay lắm. Nhưng tại sao cái đạo Chúa của quý vị lại gây ra bao nhiêu tai họa cho nhân loại như lịch sử đã ghi rõ, trong khi Phật Giáo của chúng tôi, trên 2500 năm nay chưa hề làm đổ một giọt máu trong quá trình truyền đạo?”


Qua ba bài phân tích của tôi về những bài của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, và Trần Long, tôi nghĩ chúng ta đã thấy rõ phần nào hiểm họa Tin Lành. Tuy nhiên, hiểm họa của Tin Lành không phải là ở chỗ tín đồ Tin Lành thì mê tín, và các mục sư Tin Lành thì đần độn, theo như nhận định của Ingersoll, mà là ảnh hưởng tác hại của sự đần độn và mê tín trên xã hội khi Tin Lành dùng mọi thủ đoạn và dựa vào ưu thế về kinh tế, và quân sự nếu có thể được, để áp đặt sự mê tín và đần độn trên những cộng đồng yếu kém về kinh tế, vật chất, và từ đó tạo nên một lực lượng chính trị để làm áp lực hoặc khuynh đảo các chính quyền địa phương sau bình phong, chiêu bài tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, nhân quyền. Mất chỗ đứng hay ít ra là không thể ép buộc tư tưởng người dân và chính quyền trong những xã hội văn minh tiến bộ Âu Mỹ, Tin Lành đang tìm cách xuất cảng những đồ phế thải trong những xã hội văn minh tiến bộ này sang các quốc gia yếu kém về kinh tế, ra công tuyển mộ những tín đồ không có mấy đầu óc, với hi vọng có thể đưa người dân trong những nước kém mở mang giật lùi trở về thời đại thần quyền đứng trên thế quyền ở Âu Châu khi xưa.


Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rõ như ban ngày, khó ai có thể chối cãi. Tai họa của Tin Lành thật là rõ rệt, nó có thể biến một người bình thường, và ngay cả một người tự coi mình là trí thức, thành một kẻ vong bản, một kẻ mù quáng đến độ có thể nguyền rủa cả một dân tộc và tổ tiên của chính mình.


Người Việt chúng ta có nên ngăn chận cái hiểm họa này, cái tế bào ung thư này lan rộng trong xã hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không? Tôi nghĩ, con cháu Lạc Hồng quyết không để cho con cháu của Do Thái Adam và Eve đưa chúng ta trở lại thời bán khai dưới bất cứ dưới hình thức nào. Và đây chính là trách nhiệm bảo vệ nền văn hóa Việt Nam của Nhà Nước Việt Nam ngày nay, của các chính quyền Việt Nam mai sau, của toàn dân phi-Ki-tô trong nước, và của những người Việt Nam yêu nước trên khắp thế giới. 


Toàn tập: 4  


(Phần IV)


Mục Sư Tin Lành Trần Long


 


Trong ba phần trên viết về Hiểm Họa Tin Lành qua ba bộ mắt của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật, chúng ta đã thấy thực chất trình độ hiểu biết của những Tin Lành trên là như thế nào. Nhưng Tin Lành ở Việt Nam còn cuồng tín và ngu xuẩn hơn nhiều. Chúng ta hãy lấy một trường hợp điển hình.


Một chuyện khôi hài nhất thế kỷ vừa xảy ra ở Việt Nam: Mục Sư Tin Lành Trần Long thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm Việt Nam, lấy tư cách của một “môn đồ của Chúa Jesus” để gửi một “Thông Điệp Phước Lành” cho “Nhà Cầm Quyền Việt Nam”, một thông điệp, xin lỗi quý độc giả vì tôi không kiếm được từ nào thích hợp hơn, có thể nói là ngu xuẩn và mê tín nhất thế gian, [ngu không có nghĩa là ít học hay thất học, mà là không biết rõ sự thật, không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân, và xuẩn là hành động một cách vô ý thức vì cái ngu của mình] để kêu gọi nhà cầm quyền hãy từ bỏ nền văn hóa dân tộc để theo nền văn hóa Tin Lành, cũng là nền “văn hóa thiên đàng”, theo Trần Long (Ở trên thế giới này làm gì có cái gọi là “văn hóa Tin Lành” hay “văn hóa thiên đàng”, có chăng chỉ là nền văn hóa mù quáng, hay văn hóa mê tín, hay văn hóa hoang tưởng của các con cừu Tin Lành) mà mục sư Trần Long cho là nền văn hóa của cả nhân loại, có nghĩa là biến nước Việt Nam thành nước Tin Lành [Trần Long: Phục hồi bản sắc văn hóa của dân tộc là để văn hóa Tin Lành tuôn chảy trong lòng dân tộc- vì đây là văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng là văn hóa toàn thế giới.] Đây là một hành động của một kẻ không có đầu óc, cuồng tín cực đoan, muốn mang niềm tin thuộc thời bán khai của mình mà ngày nay thế giới văn minh Âu Mỹ đang dần dần loại bỏ, để áp đặt trên toàn thể đất nước. Mục sư Trần Long theo Tin Lành, tin tất cả vào cuốn Tân Ước, nhưng chưa hề đọc đến cuốn “The Bad News Bible: The New Testament” [Cuốn Kinh Thánh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước] của Giáo sư đại học David Voas. David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), đã viết như sau, trg. 1 – 2:


“Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (nghĩa là Jesus. TCN) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Jesus không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin dữ


(The problem is that people think they know what’s in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn’t all good news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)


Như vậy, cái mà mục sư gọi là “Phước Lành” hay “Tin Lành”, thực ra chỉ là “Hiểm Họa” hay “Tin Dữ”. Tin Dữ thì tất nhiên mang họa dữ đến cho nhân loại. Điều này đã thật là rõ ràng nếu chúng ta đọc qua cái lịch sử đẫm máu của Ki-tô Giáo, những hành động ác ôn của Ki-tô Giáo, tất cả đều nhân danh “Tin Lành”. Mục sư Trần Long muốn biến người Việt Nam thành những con cừu đi theo sự dẫn dắt của một đám gọi là Mục sư, đầu óc kém cỏi, cuồng tín như Trần Long, để tin nhảm tin nhí vào một người Do Thái đã chết mà bản chất là vô đạo đức, đạo đức giả, ác độc và lòng đầy thù hận: Jesus. Thủ đoạn truyền tà giáo của các mục sư như Trần Long là viết láo lếu về Kinh Thánh, Lịch Sử nhân loại, và trích dẫn lắt léo Kinh Thánh , làm như không ai biết đọc Kinh Thánh. [Những nhận định này sẽ được chứng minh trong một đoạn sau].


Cho tới nay, cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư Trần Long gồm có 6 phần dài mấy chục trang nhưng không có một trang nào có thể đọc được. Bởi vì trong đó chỉ có toàn là một thứ thuộc loại mê tín hoang đường như “Chúa sáng tạo”, “Kính sợ Chúa”, “Biết ơn Chúa”, “Thờ phượng Chúa” “Nước Thiên Đàng vinh hiển”, “Đức Chúa Trời sẽ giáng họa” và vô số những điều tin nhảm nhí khác về Jesus, phản ánh một đầu óc mê muội chưa từng thấy. Nếu phê bình hết cả thông điệp này thì chắc đủ để thành một cuốn sách. Ngoài ra, trong thông điệp, có đầy rẫy những câu bất thành văn, sai văn phạm, ý tưởng rất lộn xộn và mâu thuẫn, chứng tỏ tác giả là một người có trình độ văn hóa và hiểu biết rất kém cỏi v…v… Do đó, tôi chỉ lướt qua vài điểm điển hình của mục sư Trần Long để chúng ta thấy đầu óc của ông ta thuộc loại nào.


Trước hết, chúng ta hãy thử đọc một đoạn trong cái thông điệp quái gở này mà Nhà Nước phải kiên nhẫn chịu đựng sự lạm dụng quyền tự do một cách ngu xuẩn để viết bậy, viết nhảm nhí nấp sau bình phong tự do tín ngưỡng. Nhà Nước nên nghe lời đề nghị của Charlie Nguyễn trước đây, không nên nhân nhượng với loại người coi thường chính quyền và dân tộc này.


Trần Long: Với tư cách là người Việt Nam và là môn đồ [sic] của Chúa Jesus; với tư cách là người của Đức Chúa Trời trong đất nước được gọi là tự do tín ngưỡng, tôi có trách nhiệm trên đất nước mình đang ở, tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời.


Với tư cách là một người Mỹ gốc Việt, không phải là môn đồ của Chúa Jesus, tôi xin có vài lời ngỏ cùng mục sư Trần Long. Đất nước Việt Nam quả là một đất nước có tự do tín ngưỡng, cho nên ai muốn làm môn đồ [sic] của Chúa Jesus thì cứ việc làm, không có ai ngăn cản. Nhưng môn đồ của Chúa Jesus thì không có tư cách gì ngoài tư cách của một con chiên. Tại sao? Vì đối với mục sư Trần Long thì Jesus là Chúa, là Đức Chúa Trời, nhưng đối với những người ngoại đạo như chúng tôi, chiếm hơn 90% dân số Việt Nam, và cả những người trí thức trong đạo Ki-Tô, những người đã từng nghiên cứu kỹ Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, thì Jesus không có cái gì xứng đáng để gọi là Chúa hay Đức Chúa Trời. Khoan kể đến hơn 4 tỷ người trên thế giới không biết hay không muốn biết Jesus là ai. Do đó ông Trần Long chỉ có thể lấy tư cách của một công dân Việt Nam chứ không thể lấy tư cách của một môn đồ của Chúa Jesus, một người Do Thái đã chết tám hoánh từ 2000 năm nay, để bàn quốc sự Việt Nam. Chỉ có một điều sơ đẳng này mà mục sư Trần Long cũng không hiểu, tưởng rằng mang cái nhãn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” ra là vinh hạnh lắm, và có thể làm bất cứ điều gì. Nếu mục sư biết rõ Jesus là ai thì cái nhãn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” chẳng có gì là vinh hạnh mà rất có thể là một biểu hiện của sự ô nhục (a badge of shame). Chứng minh?


Ngày nay trên thế giới không thiếu những tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Jesus, về cuốn Kinh Thánh, cũng như về chính đạo gọi là Tin Lành. Tin vào Jesus là niềm tin cá nhân, tự nhận là môn đồ của Jesus là quyền tự do cá nhân, nhưng mục sư Trần Long không thể lấy tư cách của một môn đồ Jesus để gửi thông điệp cho Nhà Nước Việt Nam cũng như cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới. Tại sao? Vì đó là một hành động vô cùng ngu xuẩn, cho rằng tiếng nói của một môn đồ Jesus tất nhiên phải là có giá trị, niềm tin của một môn đồ Jesus phải là niềm tin của mọi người khác. Mục sư Trần Long mù quáng tin bướng tin càn vào một người Do Thái mà nền thần học Ki tô Giáo đôn lên làm Chúa cho những dân tộc bán khai, khai thác sự mê tín của quần chúng thấp kém, phù hợp với lịch sử và xã hội Do Thái trước đây 2000 năm, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng quyền tự do cá nhân này không cho phép mục sư Trần Long ăn nói bừa bãi về cái đạo Tin Lành của mình và xúc phạm đến nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, và xúc phạm đến tuyệt đại đa số người dân không phải là Tin Lành, không cần biết Jesus là ai, nhất là khi mà giới thức giả Tây phương đã loại bỏ Jesu ra khỏi đầu óc của người dân trong những nước văn minh tiến bộ. Ngày nay, những công cuộc nghiên cứu về nhân vật Jesus đã rất rõ ràng bởi những học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki-tô Giáo.


Nói ngắn gọn, Jesus chẳng qua chỉ là một nhân vật lai lịch không rõ ràng, chẳng ai biết ông ta sinh ra ngày nào, chết ngày nào, là con ai và đã làm gì trong khoảng thời gian từ 12 tuổi đến 30 tuổi. Hơn 4 tỷ người trên thế gian không biết Jesus là ai, hơn 90% người Việt Nam cũng vậy, không biết và không tin Jesus, chỉ có 6% người theo Công Giáo và chưa tới 1% người theo Tin Lành là tin Jesus, tin là tin vậy thôi chứ đâu có biết Jesus chẳng qua chỉ là một người Do Thái tầm thường, được Ki-tô Giáo đôn lên làm Chúa. Lục địa Á châu rộng lớn như vậy nhưng chỉ chưa tới 2% người dân là biết đến Jesus. Cho nên ngay cả Jesus cũng không có tư cách gì nổi bật trên đất nước Việt Nam, huống chi là một môn đồ của ông ấy như Trần Long. Mặt khác, Việt Nam không thể coi Jesus là Chúa hay là Đức Chúa Trời, dựa vào những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay, và dựa vào chính tư cách của Jesus qua vài tài liệu nghiên cứu Tân Ước của một số học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki-tô Giáo:


Trước hết, đúng như Russell Shorto, một học giả Ki-tô, đã viết trong cuốn Sự Thật Phúc Âm (Gospel Truth), trang 14:


Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Jesus chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Jesus chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. [Hiển nhiên là mục sư Trần Long chưa được dạy sự kiện này. TCN] Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. [và cả những mục sư bình thường như Trần Long. TCN].


(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth…. Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)


Lẽ dĩ nhiên, mục sư Trần Long thuộc lớp những tín đồ bình thường vẫn còn sống trong bóng tối. Thứ đến, về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Jesus thì không một người nào trong giới trí thức không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20:


“Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lãnh vực trí tuệ và đạo đức, Chúa KiTô [Jesus] không thể đứng ngang hàng với những vĩ nhân khác của lịch sử. Tôi cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Socrate đứng cao hơn Ông ta trong hai lãnh vực này.”


(Russell, Bertrand, Why I Am Not A Christian, p. 19: I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the manner of virtue Christ stands quite as high as some other people known to history. I think I should put Buddha and Socrates above Him in those respects.)


Và Giám Mục John Shelby Spong thì có những nhận định như sau về Jesus, Giám Mục Spong, thuộc một hệ phái Tin Lành tiến bộ, là người đã được mời lên TV nhiều lần, và được mời tới một số trường đại học để nói lên nhận định của ông về Jesus, về Ki-tô giáo v..v..


Nhưng Jesus đã được “sinh ra từ một người đàn bà” [nghĩa là không phải sinh ra từ Maria đồng trinh]. Sự sinh ra đời của Jesus cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta (Jesus) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta (Jesus) là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và chưa nổ.


(Spong, John Shelby, Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, San Francisco, 1992, p. 35.: But he was “born of a woman”.. His origins were equally as scandalous as his means of death. He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come. No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)


và:


Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Jesus ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.


(Spong, John Shelby, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21: There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.)


Giám Mục Spong là ai? Giám mục Spong đã phục vụ 45 năm trong Giáo hội Tân Giáo (Episcopal = Giáo hội Ki-tô Anh ở Mỹ) và ngày nay vẫn là một giám mục trong giáo hội này. Ông là người có tư tưởng rất tiến bộ. Những sách ông viết về Ki-tô Giáo nói chung đều thuộc loại sách bán chạy nhất. Một trong những cuốn sách này có tên “Tại Sao Ki Tô Giáo phải Thay Đổi Không Thì Chết?” (Why Christianity Must Change or Die?). Giám mục Spong đã được mời lên TV nhiều lần để bày tỏ tư tưởng của ông, và đã được mời đến thuyết trình ở nhiều đại học. Vậy người Việt Nam nên đọc Giám mục Spong hay là đọc Trần Long? Và cái tư cách “môn đồ của Jesus” của Trần Long thì có giá trị gì?


Đó là vài nét điển hình về Đức Chúa Trời của mục sư Trần Long. Không ai cấm ai tin vào Jesus, vì đây là quyền tự do tín ngưỡng của mọi người. Nhưng từ những sự thật về con người của Jesus như trên, và còn vô số điều đáng chê khác nữa, kết quả nghiên cứu của nhiều học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô, mà ngày nay mục sư Tin Lành Trần Long dám lấy tư cách của một môn đồ của một Jesus như vậy, để viết một thông điệp truyền đạo đượm màu mê tín và cuồng tín đến Nhà Nước Việt Nam và nhiều cơ quan quốc tế khác thì chúng ta phải hiểu cái đám Tin Lành này ngu xuẩn như thế nào, và đã lộng hành như thế nào trên đất nước của chúng ta. Nhà Nước nên nhốt chúng lại, giáo dục chúng, không phải vì chúng chống Nhà Nước, hay vì chúng theo Tin Lành, mà vì chúng quá ngu đi, và lại mang cái ngu của mình đi truyền đạo để đầu độc dân chúng.


Nhà Nước cũng nên biết thực chất Tin Lành là như thế nào? Tin Lành là một hệ phái trong Ki Tô Giáo, căn bản tín ngưỡng cũng như Công Giáo, chỉ không tin vào vai trò tự phong của Giáo hoàng Công Giáo và một số tín lý thuộc loại hoang đường mê tín của Công Giáo. Bản chất của Tin Lành cũng đầy sự mê tín như sẽ được trình bày sau đây. Nhưng Ki Tô Giáo nói chung là một tôn giáo như thế nào? Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Graham Lloyd:


Trong gần 2000 năm nay, Ki Tô Giáo toan tính cứu rỗi chúng ta thay vì văn minh hóa chúng ta, và nó đã đi đến một thế kỷ man rợ, một thời đại trong đó có tới 250 triệu tín đồ Ki Tô chết trong những cuộc chiến của Ki Tô Giáo. [Tin Lành cũng đã giết nhiều triệu thổ dân ở Mỹ Châu]


..Đó là Ki Tô Giáo, một tôn giáo đặt căn bản trên sự gian dối, thành lập bởi những kẻ điên và được củng cố bởi một tên sát nhân – Đại đế Constantine.


(Graham, Lloyd, Deceptions & Myths of the Bible, p. 454: For nearly 2000 years Christianity has been trying to save us instead of civilizing us and it has ended in a century of savagery, an era in which 250 million Christians died in Christian wars… Such is Christianity, a religion based on a fraud, founded by “fools” and confirmed by an assassin – Constantine the Great.)


Bản chất sự mê tín của Tin Lành là đặt niềm tin vào ba điều chính: 1. Chỉ tin tất cả vào Kinh Thánh, cho đó là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm [Sola Scriptura]; 2. Tự mình tìm hiểu Kinh Thánh [Priesthood of all believers]; và 3. Tin thì Thiên Chúa sẽ tha tất cả tội ác và coi mình như kẻ công chính [Sola Fida = Justification by “Faith Alone”). Sự mê tín của Tin Lành là một hiểm họa cho xã hội vì những lý do sau:


Thứ nhất, tin tất cả vào Kinh Thánh. [Sola Scriptura]


Một học giả, Neale Donald Walsch, đã nhận định trong cuốn The New Revelations, trang 51: “Những nhà bảo thủ Tin Lành tin rằng con đường tiến tới là con đường đi giật lùi, giật lùi về đúng những lời nguyên thủy của cuốn Kinh Thánh – một cuốn sách phải đọc nguyên văn, và áp dụng từng câu từng chữ.” (Fundamentalists believe that the way forward is the way backward, to the original and exact words of the Holy Scripture – to be read verbatim, and applied literally).


Thật vậy, ngày nay giới nghiên cứu về Kinh Thánh của Ki-tô Giáo đã đồng thuận ở điểm: Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như về khoa học, không hợp với thời đại, và có tính cách ngu dân. Người ta đã có thể kiếm ra trên 170000 điều sai lầm trong Kinh Thánh. [Abhinyana in Because I Care, p. 93: Một số học giả nghiên cứu về Kinh Thánh Ki-Tô Giáo đã nói rằng trong đó có trên 170000 điều sai lầm.” (It is said now, by some scholars of the Christian Bible, that there are over 170000 errors in that book?).


Vấn nạn của những người Tin Lành tân tòng Việt Nam là không biết đầu óc học đã bị điều kiện hóa như thế nào để đến nỗi trở thành những kẻ mê muội, cuồng tín, bất chấp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, bất chấp những sư thực hiển nhiên về chính tôn giáo của họ. Về phương diện tôn giáo, đầu óc họ có một điểm mù, khiến cho họ có những niềm tin của thời Trung Cổ. Đọc Trần Long chúng ta thấy rõ ông ta có một điểm mù tôn giáo, rất phù hợp với nhận định của Mục sư Ernie Bringas trong cuốn “Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh” (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority): những người Ki Tô (Christians) thường có đầu óc cũ kỹ lỗi thời (astrolabe mind) nghĩa là có một “khuyết tật” trong đầu. Điều này tôi đã giải thích rõ ràng trong 3 phần trên về “Hiểm Họa Tin Lành”, xin quý độc giả đọc lại để biết rõ thực chất Tin Lành là như thế nào.


Gần đây, Công Giáo cũng như Tin Lành đều cố gắng đánh đồng quan niệm về “ông Trời” của Việt Nam với “Chúa Trời” của Ki-tô Giáo và đưa ra sự hoang tưởng là thờ Trời cũng như thờ Jesus. Mục đích chính của mục sư Trần Long trong thông điệp này cũng vậy, đồng nhất hóa quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam với thiên chúa của Tin Lành. Nhưng vì Mục sư Trần Long không hiểu rõ thế nào là quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam và cũng không hiểu rõ thiên chúa của Tin Lành là như thế nào nên đã viết láo lếu và nhảm nhí về quan niệm “Ông Trời” của Việt Nam cũng như về thiên chúa của ông ấy. Một thí dụ đơn giản là khi đồng nhất hóa ông trời của người Việt Nam với thiên chúa của Tin Lành thì mục sư Trần Long phải chấp nhận thiên chúa của ông ấy chẳng qua chỉ là cháu của một con cóc, vì Việt Nam ta có câu Con cóc là cậu ông trời.” Hơn nữa, người dân Việt Nam chưa từng xây “nhà thờ” để thờ trời, cũng như chẳng có ai có “bàn thờ Trời” ở trong nhà. Ngoài ra, người Việt Nam còn gọi là “ông Trời” chú không phải là “Chúa Trời”. Trong bài này, tôi sẽ không giảng cho mục sư Trần Long những quan niệm về “ông trời” của người Việt Nam. Đã có nhiều bài viết về vấn đề này rồi, thí dụ như bài “Quan Niệm “Ông Trời” Của Người Việt” của Charlie Nguyễn, một trí thức Công Giáo, hoặc bài “Chữ Trời Trong Tác Phẩm Của LM Cao Phương Kỷ” của Bùi Linh.


Cái gọi là “thông điệp” của Trần Long viết rất dài và lẩm cẩm, toàn là những điều mê tín đã lỗi thời, tôi không có cách nào phê bình hết trong bài này. Cho nên tôi chỉ có thể luận về vài điểm mà mục sư Trần Long nêu ra về niềm tin của Tin Lành.


Trần Long: Dầu mỗi dân tộc có quan điểm khác nhau về Trời nhưng tất cả đều hiểu Trời là Đấng Thiêng Liêng Tối cao đã dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật. Niềm tin của đạo Tin Lành cũng thờ Trời, là Đấng dựng nên trời đất, dựng nên muôn loài vạn vật trong đó có các cộng đồng dân tộc Việt nam. Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái. Người Tin Lành thờ Trời, thờ Chúa Jesus chính là tôn thờ Đấng mà cha ông ta có tâm hướng tôn thờ.


Chỉ có những người truyền giáo Tin Lành trình độ mẫu giáo, đầu óc mê muội mới cho rằng Trời là một Đấng thiêng liêng tối cao, tất nhiên là của Ki-tô Giáo, đã dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật, và tất cả các dân tộc đều hiểu Trời là Đấng thiêng liêng tối cao đã tạo dựng nên vũ trụ và muôn loại vạn vật. Mang cái niềm tin trong đầu óc mê muội của mình đặt vào các dân tộc, chỉ có những người như mục sư Trần Long mới có can đảm viết lên một câu quá ư vô nghĩa như vậy. Mục sư Trần Long không hề biết là trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau, và mỗi nền văn hóa đều có thuyết sáng tạo riêng, và chẳng có dính líu gì tới trời cả. Thí dụ như thuyết sáng tạo của dân Eskimo, của dân Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư v..v.. đều không dính líu gì đến ông trời cả. Do đó, niềm tin của Tin Lành về một Đấng dựng nên trời đất, dựng nên muôn loài vạn vật v..v.. thật ra chỉ là niềm tin của Tin Lành, không hề có một căn bản nào để cho đó là niềm tin của cả nhân loại. Nhưng vấn đề chính ở đây là niềm tin về một Đấng Thiêng Liêng Tối Cao của Tin Lành đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài ngày nay chỉ là một niềm tin của người bán khai, may mắn lắm là niềm tin của thời Trung Cổ, và không còn giá trị gì trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, và trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác.


Thật vậy, cái gì là Đấng Thiêng Liêng Tối cao đã dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật? Từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God). Chúng ta nên để ý, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Đấng Thiêng Liêng [sic] của Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thiên Chúa. Và giáo hoàng nói câu trên, một câu hoàn toàn vô nghĩa trong giới khoa học, chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thiên Chúa, một mặt mũi đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.


Rồi, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thiên Chúa, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). Như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu rỗi” của Jesus, và hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Jesus, và sự luận phạt của Jesus đối với những người không tin ông ta. Như vậy, cái mà mục sư Trần Long gọi là “văn hóa thiên đàng” là cái văn hóa quái gì?


Thứ Nhì, Tự mình tìm hiểu Kinh Thánh.


Đây có thể nói là một sự tiến bộ của Tin Lành so với Công Giáo. Trong Công Giáo, tín đồ không có quyền tự mình tìm hiểu Kinh Thánh mà phải tuyệt đối nghe theo những lời diễn giảng về Kinh Thánh của các “bề trên”. Tin Lành chủ trương tự mình tìm hiểu Kinh Thánh nhưng thực ra họ chỉ chọn những phần giúp cho đức tin của họ và đi truyền bá những phần này chứ họ chưa hề đọc toàn bộ Kinh Thánh với một đầu óc phân tích trí thức. Cũng vì vậy mà Ira Cardiff, một khoa học gia, đã đưa ra nhận xét sau đây:


“Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường như Trần Long) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó – đừng nói là đọc cả cuốn.


Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”


(Virtually no one really reads the Bible. The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it – much less reads all of it.


If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)


Tại sao Ira Cardiff lại có thể viết như vậy. Vì đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta không thể nào chấp nhận Thiên Chúa trong đó, Chúa Cha cũng như Chúa Con, là nhất mực nhân từ, yêu thương mọi loài.


Những người Tin Lành đầu óc mụ mị, được nhồi sọ để tin rằng mọi sự tốt đẹp xảy ra cho họ là do Chúa ban cho: [Trần Long: Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái]. Điều này nói lên tâm cảnh ích kỷ cùng cực của những người Tin Lành. Họ không hề nghĩ đến những đứa trẻ sinh ra là quái thai, hoặc có khuyết tật, những thiên tai hàng ngày xảy ra trên thế giới, và vô số những cảnh nghèo khổ xảy ra trong ¾ thế giới. Họ bị đầu độc bởi viên thuốc phiện Thiên Chúa, tạo cho họ một tâm cảnh hoàn toàn phụ thuộc vào cặp nạng thiên chúa, không bao giờ dám rời bỏ cặp nạng này, dù hàng bao tỷ người trên thế giới vẫn đứng vững trên trường đời mà không cần đến cặp nạng thiên chúa.. Họ được cấy vào đầu là mọi sự tốt lành trên thế gian này đều là do thiên chúa của họ tạo ra, không bao giờ buồn để ý đến những sự xấu ác, bất toàn trên thế giới. Họ được dạy là thiên chúa lòng lành, rất thương yêu thế gian, nhưng họ chưa từng đọc Kinh Thánh nên không biết rằng thiên chúa của họ trong đó ác ôn như thế nào. [Xin đọc một số hành động ác ôn điển hình của Thiên Chúa trong Phần III]


Tất cả những hành động ác ôn côn đồ của Thiên Chúa đều được giải thích một cách thuận tiện, phi lý trí, đối với những tín đồ ngu dốt là: đầu óc của con người không thể nào hiểu được thiên chúa, tất cả những việc chúa làm đều có lý do mà chúng ta không thể nào hiểu nổi. Cứ giữ vững đức tin thì thiên chúa sẽ xá hết tội và cho lên thiên đường (mù).


Vì tùy tiện tự đọc Kinh Thánh nên, trong mục đích truyền đạo, những nhà truyền giáo như Trần Long tha hồ thay đổi Kinh Thánh để diễn đạt theo ý mình. Chúng ta hãy đọc Trần Long trích dẫn Kinh Thánh.


Trần Long: “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi – Đảng Cộng sản khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi các đảng viên không kính sợ Đức Chúa Trời ? (Ê-xê-chi-ên 33: 11)


Câu trên là Ezekiel 33: 11: “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Hãy xây bỏ, xây bỏ những đường ác của các ngươi! Vì đó là tại sao các ngươi phải chết, Hỡi nhà Israel” (“As I live”, says the Lord God, “I have no pleasure in the death of the wicked, but that the wicked turn from his way and live. Turn, turn, from your evil ways! For why should you die, O house of Israel.”) Câu trên là Thiên Chúa của Do Thái nói với người Israel, một dân tộc được ông ta chọn, nhưng rồi lại hành hạ đủ điều, bắt làm nô lệ để người Ai Cập giáo dục theo ý tàn bạo của Thiên Chúa v..v.. Những việc ác của Hitler và những bạo Chúa trên thế gian thì không thấm thía gì so với những việc ác của Thiên Chúa, như được viết trong Cựu Ước. Câu Ezekiel 33:11 ở trên chỉ để cho người Do Thái, chứ chẳng dính dáng gì đến người dân Việt Nam cả. Nhưng Trần Long đã biến nhà Israel thành Đảng Cộng Sản, và người dân Israel thành đảng viên Cộng Sản. Đó là sách lược truyền đạo và chống Cộng một cách rất xuẩn động của Tin Lành thời nay, muốn các đảng viên Cộng Sản phải kính sợ Đức Chúa Trời, cháu của con Cóc..


Giống như Trần Mạnh Hảo, không biết gì về thuyết Tiến Hóa, nên đã viết bậy bạ về thuyết Tiến Hóa trong một bài góp ý với Nhà Nuớc về bản Dự Thảo Chính Trị Đại Hội X, cho rằng thuyết Darwin là “đấu tranh sinh tồn: cá lớn nuốt cá bé”, Trần Long cũng viết bậy bạ tương tự về thuyết Tiến Hóa như sau:


Trần Long: Chủ Nghĩa Duy Vật và Tiến Hóa là loại văn hóa cấp thấp, đẩy con người xuống tận cùng là con cái của loài động vật chuyên đấu tranh giết chóc lẫn nhau để tồn tại và cũng anh em của loài vượn bây giờ. Chủ nghĩa Mác-Lê và Thuyết Tiến Hoá không phù hợp với niềm tin của cha ông ta và với các dân tộc trên đất nước Việt Nam, bởi đã phủ nhận nguốn gốc siêu nhiên nhân dân Việt


Sau đây là bài học vỡ lòng cho Mục sư Trần Long về thuyết Tiến Hóa:


Với sự hiểu biết hiện nay về nguồn gốc con người trên trái đất thì Thuyết Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đã được xác nhận bởi khoa học, rất nhiều bộ môn khoa học, và lý trí. Xin đừng nhầm lẫn, cho rằng Thuyết Tiến Hóa là của Charles Darwin. Thuyết Tiến Hóa mà chúng ta hiểu ngày nay là sự tổng hợp của hàng núi những bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học, thí dụ như Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học, Khảo Cổ Học, Vật Lý Học, Vũ Trụ Học v..v.., có những bộ môn mà trong thời của Darwin chưa khám phá ra.


Trái đất mà chúng ta sống trên đó không có gì đặc biệt. Chúng ta cho nó là đặc biệt vì chúng ta sống trên đó, nhưng trong thực tế, trái đất chỉ là một hạt bụi vũ trụ [Trái đất: đường kính 12728 km, so với vũ trụ rộng 13.7 tỷ năm ánh sáng]. Sự sống của chúng ta trên trái đất cũng không có gì là đặc biệt. Chúng ta, hiện nay có trên 6 tỷ người, sống chung với cả tỷ tỷ [trillions] các loại sâu bọ, chưa kể hàng triệu các loại sinh vật khác. Mọi sinh vật trên trái đất đều nằm trong luật Vô Thường: Sinh, Trụ, Hoại, Diệt, không có một loài sinh vật nào được miễn trừ, không có một quyền năng nào có thể thay đổi. Con người chúng ta chỉ là một dạng sinh vật ở cấp tương đối cao, vì chúng ta có lý trí, có đầu óc suy tư, từ đó con người đã tiến hóa từ thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt cho đến thời đại nguyên tử ngày nay.


Những người theo Thần Giáo tin rằng Thần của họ đã đặc biệt “sáng tạo” ra loài người nhưng họ quên rằng tai con chó thính hơn tai người, mũi con chó thính hơn mũi người, mắt con dơi sáng hơn mắt người trong đêm tối v..v.., và một loại vi-rút (virus) rất nhỏ nhoi cũng có thể giết cả triệu người như bệnh dịch hạch phát ra ở Âu Châu trước đây. Khoan kể đến chuyện Thiên Chúa “toàn năng” của Ki-Tô Giáo, hay bất cứ Thiên Chúa nào khác, cũng như chúng ta, đều hoàn toàn bất lực trước những thiên tai như bão lốc, Tsunamis, cuồng phong, núi lửa, lụt lội v..v.. và riêng đối với loài người thì trước những quái thai, bào thai khuyết tật v..v.. sinh ra đời. Những thiên tai này không chừa một ai, kể cả những người tin vào quyền năng của chính Thiên Chúa của họ. Do đó, luận điệu Thần Học về một Đấng Tối Cao, sáng tạo ra muôn loài, đặc biệt sáng tạo ra loài người, và thương yêu chúng ta không còn đứng vững trong thời đại ngày nay. Chúng ta đã đi từ thời bán khai, đến thời Trung Cổ, và bỏ lại đàng sau những gì thuộc các thời đại đó và không còn có giá trị gì hay thích hợp với chúng ta ngày nay.


Tuy nhiên, những thắc mắc muôn đời như: con người từ đâu mà ra, sau khi chết sẽ đi về đâu v..v.. vẫn là những mối thắc mắc của con người, ngay trong thời đại này. Và vì vậy, con người, trải qua nhiều thế hệ đã đưa ra những giải đáp khác nhau, tùy theo mỗi nền văn hóa. Những giải đáp thuộc lãnh vực siêu hình dần dần mất đi tính cách thuyết phục, vì không còn hợp với trình độ hiểu biết của con người ngày nay. Tri thức con người phát triển và tiến bộ, từ đó khoa học cũng phát triển theo và con người không còn tin vào những thuyết lý không thể kiểm chứng. Con người phải nhờ đến khoa học để tìm hiểu về vũ trụ, nhân sinh. Khoa học không phản đối niềm tin của bất cứ ai, mà chỉ tìm cách giải thích những thắc mắc trong thế giới vật lý của chúng ta, và khoa học sẵn sàng loại bỏ những giải thích nào không còn hợp thời, không còn đúng với những khám phá mới trong khoa học.


Cho tới ngày nay, tuyệt đại đa số trong giới khoa học đã chấp nhận thuyết Big Bang nói về nguồn gốc của vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa nói về nguồn gốc của con người. Chấp nhận cho đến khi khám phá ra những bằng chứng mới chứng tỏ toàn bộ thuyết Big Bang và toàn bộ Thuyết Tiến Hóa không còn đúng. Các khoa học gia công nhận là trong thuyết Big Bang cũng như trong Thuyết Tiến Hóa còn có một số những chi tiết chưa giải đáp được. Nhưng xét về toàn bộ thì những thuyết này có tính cách thuyết phục nhất và các khoa học gia hi vọng trong tương lai, gần hay xa còn là một ẩn số, họ sẽ tìm ra những manh mối để giải thích dứt khoát chúng. Những khám phá mới trong nhiều bộ môn khoa học đã chứng minh được rằng: Không còn nghi ngờ gì nữa, loài người chúng ta thì liên hệ đến mọi sinh vật trên trái đất, và tất nhiên liên hệ tới cả vũ trụ này.


Trước hàng núi những bằng chứng khoa học về thuyết Tiến Hóa, một số nhân vật có uy tín trong lãnh vực tôn giáo như Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục , Mục sư, học giả v..v.. cũng phải cúi đầu trước thuyết Tiến Hóa, khoan kể đến giới khoa học gia đã chấp nhận thuyết Tiến Hóa từ trên trăm năm nay rồi. Sau đây chúng ta hãy đưa ra nhận định của một số nhân vật tôn giáo cũng như khoa học về Thuyết Tiến Hóa nói chung, trước những hiểu biết của chúng ta về Thuyết Tiến Hóa, và trước những bằng chứng trong khoa học:


Giáo Hoàng John Paul II phát biểu năm 1996:


Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dầnNhững kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.


(The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution…Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).


2. Linh mục dòng Tên Teilhard de Chardin trong The Phenomenon of Man:


Tiến Hóa là một thuyết, một hệ thống, hay một giả thuyết? Nó còn nhiều hơn nữa: nó là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và coi là đúng.. Tiến Hóa là một ánh sáng soi sáng mọi sự kiện, một đường cong mà mọi đường thẳng phải theo nó…


(Is evolution a theory, a system or a hypothesis? It is much more: it is a general condition to which all theories, all hypotheses, all systems must bow and which they must satisfy henceforth if they are to be thinkable and true. Evolution is a light illuminating all facts, a curve that all lines must follow…)


3. Mục sư Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority:


Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người. Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa. Thuyết Tiến Hóa , giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một “thuyết” theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không còn phải bàn cãi nữa.


(The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought… All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution. The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a “theory” in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.)


4. Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Why Christianity Must Change or Die:


Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.


(The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best. Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it. Those voices will never succeed. Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process. There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race. The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.)


Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Jesus chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực. Và Trần Long chẳng qua cũng chỉ là một trong số người tin mà không hiểu là mình tin cái gì. Thật là tội nghiệp.


Tại sao đạo Tin lành vẫn còn hấp dẫn với một số người như ở Việt Nam. Ingersoll đã nói thẳng trước một cử tọa đông đảo để nghe ông diễn thuyết (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):


“Tin Lành Giáo thật sống dai. Điều này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín và các mục sư thì đần độn (stupid).”


(Protestantism dies hard. What does that prove? It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.)


Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rõ như ban ngày, khó ai có thể chối cãi. Sự mê tín và cuồng tín của Tin Lành đã lên đến mức phi lý trí, phi dân tộc. Người Việt chúng ta có nên ngăn chận cái hiểm họa này, hay để cho cái tế bào ung thư này tự do lan rộng trong xã hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không?


Thứ Ba, Đức Tin Tin Lành:


Người Tin Lành tin rằng chỉ cần tin vào Jesus là họ sẽ trở thành người công chính (Justification by faith alone). Đây là một tín điều rất hấp dẫn đối với những người Tin Lành. Dù họ không phải là người công chính, dù họ là người ác, nhưng cứ tin vào Jesus là tức khắc họ trở thành công chính. Tất cả là do đức tin và ân sủng của thiên chúa chứ không liên quan gì đến những hành động tốt xấu hàng ngày. Cũng vì vậy mà người Tin Lành đưa ra chính sách diệt chủng dân da đỏ ở Mỹ Châu, giết người hàng loạt, thiêu sống thổ dân, mang bệnh đậu mùa đến để diệt thổ dân v..v.. nhưng vẫn tin rằng đối với thiên chúa mình vẫn là người công chính. Cho nên, cái nguy hại của Tin Lành chính là ở tín lý này, vì họ có thể làm bất cứ điều gì miễn là giữ vững đức tin vào thiên chúa.


Ngoài ra, để hiểu đầu óc của người Tin Lành trong những niềm tin của họ, tôi xin trích dẫn sau đây một số điều viết trong cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư Trần Long, để chúng ta có thể thấy đầu óc và kiến thức của họ tệ hại như thế nào.


– Người mà Đức Chúa Trời cắt cử bổ nhiệm để quản trị, là người làm theo lòng và ý muốn của Ngài. [Nhưng có ai biết được ý muốn của Đức Chúa Trời, một nhân vật trong những huyền thoại của người Do Thái, là như thế nào. Tất cả chỉ là đoán mò.]


– Tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời. [nghĩa là chính quyền Việt Nam hiện nay là do Đức Chúa Trời bổ nhiệm. Nhưng nếu do Chúa Jesus bổ nhiệm, tức là chính quyền đã thực thi ý Chúa rồi, còn gì nữa? Luật pháp của Chúa Jesus là như thế nào? Có giá trị gì trong những xã hội văn minh tiến bộ ngày nay?]


– Hễ ai tin Chúa Jesus theo tiêu chuẩn Kinh Thánh thì trở nên công dân Thiên Quốc, trở nên con của Đức Chúa Trời. [Trở nên để làm gì, công dân Thiên Quốc thì phải sống trong Thiên Quốc, mà Thiên Quốc này ở đâu?]


– Sự khó khăn mà các tín hữu Tin Lành …lại đến từ ngay chính bậc cầm quyền của mình [Thì nhà cầm quyền do chính Chúa Jesus bổ nhiệm để thực thi ý Chúa, vậy phàn nàn cái gì?]


– Tôi gởi đến quí cấp thông điệp nầy, nhắn nhủ Lời của Đức Chúa Trời dành cho quí cấp [Khi được Chúa Jesus bổ nhiệm thì Chúa Jesus đã nhắn nhủ lời Chúa rồi. Lời của Đức Chúa Trời là những lời bậy bạ của đám mục sư ngu dốt. Chúa Trời còn không có, lấy đâu ra lời của Đức Chúa trời?]


Tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam vẫn còn bị chiếm đoạt, mà đảng cộng sản tìm mọi cách bảo vệ chìa khóa kho tàng đó, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong vòng nô lệ đời đời. [Viết với lách? Thế này là thế nào? Đảng cộng sản tìm mọi cách bảo vệ chìa khóa kho tàng tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong vòng nô lệ đời đời đúng theo ý Chúa, thật không còn gì đúng hơn. Lịch sử thế giới cho thấy tài sản của Chúa Jesus ban cho những tín đồ Ki-tô Giáo, nhất là tín đồ Tin Lành, chính là vòng nô lệ đời đời]


– Tổ tiên chúng ta khao khát dân tộc Việt Nam tin nhận Chúa Jesus để được cứu rỗi. Vì vậy, niềm tin vào Chúa Jesus phù hợp với tổ tiên của dân tộc Việt Nam. [Nói bậy, tổ tiên ta khao khát từ bao giờ, tổ tiên ta có biết Jesus là ai. Cái tên Do Thái này mới được các thừa sai Công Giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, và hầu hết những người tin nhận Jesus thuộc thành phần thấp kém trong xã hội, ít học hay mù chữ, mù lòa tin bướng tin càn, cam tâm đi làm nô lệ cho mấy tên cha cố để được ăn một cái bánh vẽ trên trời. Những người Tin Lành ngày nay đa số cũng đều như vậy cả.]


– Nên loại bỏ Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ra khỏi chương trình chính quy; tư tưởng nầy không thể là tư tưởng chủ đạo, vì nó dẫn con người đến chổ hư mất linh hồn đời đời. [Nếu Công Giáo hay Tin Lành lên cầm quyền ở Việt Nam thì ngoài điều phải tin Chúa thờ phượng Chúa, không còn một môn học nào khác được dạy, vì tất cả các bộ môn khoa học đều chống Chúa. Trần Long viết ngu, không biết rằng thuyết Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ngày nay được dạy trong các trường học, từ Trung Học đến Đại Học, trên khắp thế giới, đặc biệt là trong các nước tân tiến nhất như Mỹ, Pháp, Đức, Anh v..v.., trong khi thuyết Tin Lành của Trần Long chỉ được dạy trong các nhà thờ để nhồi sọ đám dân ngu dốt]


– Jesus là nhân vật lịch sử, nhân vật có thật, một nhân vật đầy quyền năng được kiểm chứng bằng cả thực nghiệm của hàng triệu con người mà quí cấp lại không tin. [Chẳng có ai kiểm chứng được quyền năng của Jesus, trái lại, giới học giả đã biết rõ Jesus chỉ là một người thường, sống với một ảo tưởng. Ngoài ra, hơn 4 tỷ người trên thế giới không cần biết đến Jesus là ai, không thể tin Jesus vì đầu óc còn sáng suốt, vậy việc gì phải tin theo mấy triệu người không có đầu óc, đi tin nhảm tin nhí]


– Người Tin lành thừa nhận Đức Chúa Trời dựng nên Ađam và Êva. Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. [Người Tin Lành, vì đầu óc yếu kém, nên thừa nhận Đức Chúa Trời dựng nên Ađam và Êva, đó là chuyện của người Tin Lành. Trước những bằng chứng khoa học ngày nay, nhất là thuyết Tiến Hóa đã được dạy trên khắp thế giới, chỉ còn những đầu óc hạ đẳng mới còn tin vào huyền thoại sáng tạo trong Kinh Thánh. Xin tặng mục sư Trần Long một đoạn của Giám Mục John Shelby Spong trong bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus As Rescuer: An Image That Has To Go) trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hay Chết” (Why Christianity Must Change or Die), xuất bản năm 1998:


..Toàn thể cái hệ thống thần học này, với những điều mà họ tin, đã bị tan ra thành từng mảnh trong thế giới hậu hiện đại (post-modern) của chúng ta. Hệ thống thần học này cần phải vứt bỏ ra khỏi đầu óc con người. Sự tan ra từng mảnh này bắt đầu với nhận định là Adam và Eve không phải là hai tổ đầu tiên của nhân loại và rằng tất cả sự sống của con người không xuất phát từ hai người trên. Thuyết Tiến Hóa đã làm cho câu chuyện về Adam và Eve nhiều nhất là một truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ cho các tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay, nhiều tiếng nói vẫn cất lên từ những ốc đảo xa xôi trong thế giới để chống đối. Những tiếng nói này không bao giờ có thể thành công.


Điều rõ ràng là sự sống của con người đã nằm trong một quá trình tiến hóa trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có 2 người đầu tiên, do đó cái hành động không vâng lời lúc ban đầu của 2 người đầu tiên đó không thể nào có ảnh hưởng gì đến nhân loại. Huyền thoại cứu chuộc đã bị một đòn nặng khai tử (death blow), và cái câu chuyện vững chắc về cứu chuộc, xây dựng bởi giáo hội qua nhiều thời đại, bắt đầu chao đảo.


– Qua Tin Lành của Chúa Jesus, con người thấy rõ mình vốn xuất phát từ Đấng Tối Cao; nhưng vì cớ phạm tội con người xa đã lìa Thiên Chúa. [Lại xin mục sư Trần Long đọc tiếp Giám Mục Spong]:


…Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin.


(We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)


Cha ông ta không có loại văn hóa đem “Băng vệ sinh” lên màn ảnh. Thay vì sử dụng, phô bày hình ảnh các anh hùng, các biểu tượng văn hóa phi vật thể thì trưng bày hình ảnh phi văn hóa “băng vệ sinh phụ nữ: “Kotex”, “Diana”, “4 Teen” thật trơ trẻn và lố bịch. [Chắc mục sư Trần Long không biết rằng tất cả những sản phẩm trên đều được sản xuất từ Mỹ, một xứ đa số theo Tin Lành, và cũng luôn luôn xuất hiện trên màn ảnh TV quảng cáo ở trên khắp nước Mỹ]


Tôi nghĩ trích dẫn vài điều điển hình trong thông điệp phước lành của mục sư Trần Long như trên cũng đủ để cho chúng ta thấy loại đầu óc Tin Lành như của mục sư Trần Long là như thế nào. Tôi đã nói, trong mấy chục trang giấy của Trần Long không có một trang nào có thể đọc được, vì ý tưởng lộn xộn, văn bất thành cú, rủa xả Việt Nam [Trần Long: Dân tộc Việt Nam bị Đức Chúa Trời rủa sả, đầy dẫy thiên tai, dịch lệ vì cớ người lãnh đạo đã đẩy dân tộc Việt Nam vào việc chống Trời, xui giục con người từ chối nguồn gốc siêu nhiên của họ là Đức Chúa Trời.] và rặt là những điều mê tín hoang đường của thời Trung Cổ. Muốn kiểm chứng lời này xin quý độc giả hãy vào trong nhà YKIEN.NET tìm kiếm toàn văn bản “thông điệp” của mục sư Trần Long mà đọc.


Vài Lời Kết,- Trong Phần III, tôi đã đưa ra nhận định của Robert G. Ingersoll về Tin Lành như sau: Tin Lành Giáo thật sống dai. Điều này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín và các mục sư thì đần độn (stupid). Ngận định trên đúng hay sai, xin để cho quý độc giả tự mình phán xét, và tôi tin chắc những người Tin Lành ngoài phái bảo thủ cũng tự biết bản chất của tôn giáo mình theo là như thế nào. Riêng đối với tôi, đọc những bài của nhóm Tin Lành Việt Nam, từ Mục sư Trần Long cho tới những “trí thức” như Huỳnh Thiên Hồng, Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật v..v.. chúng ta thấy rõ là nhận định của Ingersoll không sai một mảy may. Hiện nay, Tin Lành đang mở chiến dịch chống phá Phật Giáo và từ bỏ nguồn gốc dân tộc Việt Nam, nhưng với loại kiến thức dỏm và đầu óc mê tín, đần độn như Ingersoll đã phê phán, họ làm sao có thể thành công được.


Một trong những sách lược rất ấu trĩ của Tin Lành là tung ra những nhân chứng dỏm, vô tên tuổi, chẳng ai biết đến, để bịa đặt tuyên bố là đã bỏ đạo Phật để trở về với Chúa của họ. Họ đần độn đến độ không hiểu rằng, ai có thể tin được những nhân chứng dỏm này, khoan kể là lý luận trình bày của những nhân chứng này không khác gì “lý luận” của Nguyễn Huệ Nhật et al… Có người nào trong bọn họ có thể sánh nổi với Victor Hugo, Voltaire, Bertrand Russell, Albert Einstein, Carl Sagan, Stephen Hawking, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Linh Mục James Kavanaugh và các nhà thần học nổi danh trên thế giới như Uta Ranke-Heinemann, Hans Kung cũng như hàng trăm học giả, chuyên gia về Ki Tô Giáo trên thế giới, những người đã thấy rõ bản chất mê tín, ác ôn, độc hại của Ki-tô Giáo? Sự thật là Ki-tô Giáo đang xuống dốc không phương cứu chữa ở phương trời Âu Mỹ, và Phật Giáo đang phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới. Vậy những lời chứng hay những bài viết vô giá trị của mấy nhân chứng quèn cũng như của mấy trí thức dỏm này có thể đi đến đâu??


Chúng ta chỉ có một câu để hỏi những người đang ra công truyền đạo Tin Lành và đánh phá Phật Giáo: “Quý vị quảng cáo cho cái đạo Chúa của quý vị. Hay lắm. Nhưng tại sao cái đạo Chúa của quý vị lại gây ra bao nhiêu tai họa cho nhân loại như lịch sử đã ghi rõ, trong khi Phật Giáo của chúng tôi, trên 2500 năm nay chưa hề làm đổ một giọt máu trong quá trình truyền đạo?”


Qua ba bài phân tích của tôi về những bài của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, và Trần Long, tôi nghĩ chúng ta đã thấy rõ phần nào hiểm họa Tin Lành. Tuy nhiên, hiểm họa của Tin Lành không phải là ở chỗ tín đồ Tin Lành thì mê tín, và các mục sư Tin Lành thì đần độn, theo như nhận định của Ingersoll, mà là ảnh hưởng tác hại của sự đần độn và mê tín trên xã hội khi Tin Lành dùng mọi thủ đoạn và dựa vào ưu thế về kinh tế, và quân sự nếu có thể được, để áp đặt sự mê tín và đần độn trên những cộng đồng yếu kém về kinh tế, vật chất, và từ đó tạo nên một lực lượng chính trị để làm áp lực hoặc khuynh đảo các chính quyền địa phương sau bình phong, chiêu bài tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, nhân quyền. Mất chỗ đứng hay ít ra là không thể ép buộc tư tưởng người dân và chính quyền trong những xã hội văn minh tiến bộ Âu Mỹ, Tin Lành đang tìm cách xuất cảng những đồ phế thải trong những xã hội văn minh tiến bộ này sang các quốc gia yếu kém về kinh tế, ra công tuyển mộ những tín đồ không có mấy đầu óc, với hi vọng có thể đưa người dân trong những nước kém mở mang giật lùi trở về thời đại thần quyền đứng trên thế quyền ở Âu Châu khi xưa.


Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rõ như ban ngày, khó ai có thể chối cãi. Tai họa của Tin Lành thật là rõ rệt, nó có thể biến một người bình thường, và ngay cả một người tự coi mình là trí thức, thành một kẻ vong bản, một kẻ mù quáng đến độ có thể nguyền rủa cả một dân tộc và tổ tiên của chính mình.


Người Việt chúng ta có nên ngăn chận cái hiểm họa này, cái tế bào ung thư này lan rộng trong xã hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không? Tôi nghĩ, con cháu Lạc Hồng quyết không để cho con cháu của Do Thái Adam và Eve đưa chúng ta trở lại thời bán khai dưới bất cứ dưới hình thức nào. Và đây chính là trách nhiệm bảo vệ nền văn hóa Việt Nam của Nhà Nước Việt Nam ngày nay, của các chính quyền Việt Nam mai sau, của toàn dân phi-Ki-tô trong nước, và của những người Việt Nam yêu nước trên khắp thế giới.

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: