Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Một vài ý tưởng nhân đọc “Vũ trụ vô biên”

 

Một vài ý tưởng nhân đọc “Vũ trụ vô biên”

Trần Tiên Long

20/12/2010

 

Ngân hà chỉ là một trong biết bao thiên hà trong vũ trụ

 

Vũ trụ đúng thật là vô biên. Con người sánh với vũ trụ chỉ là những ký sinh trùng li ti. Kiến thức của con người về vũ trụ chỉ là một con số không to tướng. Đó là điều tôi đã biết và càng xác tín hơn sau khi xem bài Trái đất của chúng ta bé nhỏ như thế nào trong vũ trụ [1] mà bà Ts. Bs. Nguyễn Thị Thanh giới thiệu trên các diễn đàn với lời chú giải “Vũ Trụ Vô Biên chỉ là một mầu nhiệm hữu hình của Thiên Chúa toàn năng”. Lời chú giải này cũng là chủ đề của điện thư Ts. Bs. NTT đưa vào diễn đàn. Làm sao mà loài ký sinh trùng hữu hạn như chúng ta có thể hiểu thấu được vũ trụ vô biên? Con người sánh với vũ trụ thì quá nhỏ bé, nhưng nếu sánh với Thượng đế thì lại còn càng bé nhỏ hơn nữa, bởi vì Thượng đế được tin là đấng sáng tạo vũ trụ và muôn loài từ hư không. Điều khôi hài và cũng lý thú là người ta không thể tin con người có thể hiểu biết vũ trụ; nhưng lại dễ dàng tin như đinh đóng cột rằng con người có thể hiểu biết Thượng đế.

Nếu tôi tuyên bố rằng tôi có thể hiểu biết vũ trụ thì lời tuyên bố đó rõ ràng quá ngạo mạn, không thể nào chấp nhận được. Nhưng liệu chúng ta có cùng một nhận định như vậy không khi mà Thiên Chúa giáo đã và đang rao giảng về Thượng đế? Họ bảo họ đại diện Thượng đế ở trần gian này để dạy cho chúng ta biết về Thượng đế, và họ tự cho cái quyền những gì họ “cầm buộc ở dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc”. Họ còn giảng dạy cho chúng ta một cách tường tận về ý muốn của Thượng đế để bắt chúng ta phải suy nghĩ và hành động theo ý muốn của họ. Tại sao chúng ta nghi ngờ khả năng của những nhà khoa học hiểu biết về vũ trụ nhưng lại không bao giờ thắc mắc khả năng của các nhà thần học hiểu biết về Thượng đế, một sinh vật không thể thấy, không thể rờ được, vô cùng phức tạp hơn vũ trụ? Họ bảo họ có linh ứng hay thần khải, biết được những điều do Chúa Thánh Thần soi sáng. Vậy thì tôi cũng có thể nói được rằng, tôi đang có linh ứng của Chúa Thánh Thần để viết những dòng chữ này gửi đến quí đọc giả. Có lý do gì thuyết phục hơn để quí vị tin họ hơn tin tôi?

Trong kinh Lạy Cha của Thiên Chúa giáo, nếu chúng ta vất bỏ câu “nguyện vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời” thì chúng ta sẽ nhận thấy ngay rằng, những gì họ đang dạy chúng ta thì chẳng cần phải vâng phục như vâng phục một Thượng đế toàn năng. Bằng trí tuệ và trái tim của một con người, và gạt bỏ bên ngoài mọi thành kiến đức tin tôn giáo, chúng ta thử đọc lại toàn bộ hai cuốn Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, những cuốn kinh mà người tín hữu Thiên Chúa giáo hằng ngày xưng tụng là “lời của Chúa”, chúng ta sẽ tìm ra dễ dàng bên cạnh những điều có thể chấp nhận thì lại được san kẻ những điều ghê tởm, vô luân, và phi lý. Nếu Kinh Thánh là “lời của Chúa” do thần khải, sản phẩm của Thượng đế toàn năng, toàn trí, thì tại sao nó lại chứa đựng quá nhiều điều bất toàn? Hơn nữa, vấn đề linh ứng hay thần khải là vấn đề cá nhân. Nó chỉ có giá trị đối với người trong cuộc. Còn chúng ta, những người bàng quang ngoài cuộc, nó không thể có một giá trị áp đặt nào. Như vậy thì còn lý do gì để người ta bắt buộc phải “nguyện vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”?

Và mỗi khi chúng ta có những thắc mắc mà họ bí, không thể trả lời được, thì họ lại trưng ra lập luận rằng, Thượng đế bất khả tư nghì, nghĩa là không thể nghĩ bàn bằng ngôn ngữ của loài người. Con người hữu hạn mà dám thắc mắc về Thượng đế vô hạn thì quá ngạo mạn. Trong giáo lý Thiên Chúa giáo, tội kiêu ngạo xúc phạm đến Chúa Thánh Thần là một trọng tội không thể được tha thứ, cho dù đã có xưng thú tội ở tòa giải tội. Đó là lối răn đe và là lập luận độc quyền, tùy tiện của Thiên Chúa giáo. Nó cũng giống như lập luận “thiên cơ bất khả lậu” của mấy ông bà thày bói. Vậy chẳng lẽ các ông bà thày bói hay thần học gia Thiên Chúa giáo không phải là những con người trần tục có giới hạn như chúng ta sao? Tất cả mọi người khi còn sống đều là những con người xác phàm, không phải là những ông bà thánh. Tại sao chúng ta không thể công bằng đối thoại với nhau bằng ngôn ngữ và văn tự của loài người?

 

Nếu chúng ta chấp nhận quan điểm Thượng đế chỉ là một ý niệm tưởng tượng, sản phẩm của con người, thì chúng ta sẽ dễ dàng trả lời mọi câu hỏi và thắc mắc về Thượng đế. Do đó, tôi có thể bảo đảm với quí vị rằng, nếu quí vị lập tượng tôn thờ bất kỳ một giống gì, chẳng hạn như con kỳ lân màu tím vô hình, hay một ông kẹ nào đó, và cầu nguyện bằng một đức tin không thể lay chuyển như quí vị đang làm đối với Thiên Chúa của Thiên Chúa giáo, thì kết quả lời cầu nguyện của quí vị sẽ không có gì khác. Lập luận bảo rằng “vũ trụ vô biên chỉ là một mầu nhiệm hữu hình của Thiên Chúa toàn năng” thì cũng chẳng có gì thuyết phục hơn lập luận bảo rằng “vũ trụ vô biên chỉ là một mầu nhiệm hữu hình của con kỳ lân hay ông kẹ toàn năng”. Bởi vì Thiên Chúa, con kỳ lân màu tím vô hình, hay ông kẹ, tất cả đều là những sản phẩm tưởng tượng của con người.

Thiên Chúa giáo là tôn giáo duy thần, có những tín điều phản khoa học, nhưng lại hay bàn về khoa học, có mục đích dèm pha để làm giảm uy tín và giá trị của khoa học. Bản chất của khoa học là thay đổi để thích ứng với những khám phá mới của con người; trong khi các tín điều lại được tin là những chân lý tuyệt đối, vĩnh hằng, không thể sai lầm. Ích lợi của khoa học thì hiển nhiên, không thể phủ bác; còn ích lợi của các tín điều thì khó được biện minh bên cạnh những hệ quả vô cùng thảm khốc trong suốt dòng lịch sử.

Một thực thể đơn giản hơn như vũ trụ cụ thể trước mắt mà chúng ta còn chưa biết thì lấy gì để bảo đảm rằng, chúng ta, những sinh vật li ti như những con ký sinh trùng lúc nhúc ở một hành tinh vô nghĩa, có thể biết và còn hiểu cả ý muốn của Thượng đế, một đấng thiêng liêng vô cùng phức tạp được tin là đã tạo dựng vũ trụ và muôn loài từ hư không?

Và hơn nữa, nếu chúng ta đã chấp nhận vũ trụ vô biên, nghĩa là không có biên giới, và như vậy, dĩ nhiên, cũng không có điểm khởi đầu, thì Thượng đế hay Thiên Chúa của Thiên Chúa giáo đã trở thành thừa thãi cho công việc tạo dựng.


SH chú thích:

– Mời xem “Vũ Trụ Mà Chúng Ta Biết Được” (Lý Thái Xuân)
http://www.sachhiem.net/KHOAHOC/L/LyThai6.php

có video clip cho thấy tất cả nhũng gì khoa học ngày nay có thể nhìn thấy ở ngoài xa.

[1] Trái đất của chúng ta bé nhỏ như thế nào trong vũ trụ

http://blog.aohaiday.com/2009/12/trai-dat-cua-chung-ta-be-nho-nhu-the-nao-trong -vu-tru/

Chiều kích của Thiên Chúa

Trần Tiên Long

21/1/2011 

From: qtran
To: nhiều Đ/C và ‘sachhiem’
Sent: Sunday, January 16, 2011 7:16 AM
Subject: [GoiDan] RE: Chiều kích của Thiên chúa

Thưa quí đọc giả,

Trong điện thư đưa vào diễn đàn ngày hôm qua, 15/01/2011, Tiến sĩ Hồng Lĩnh Hồ Nam Trân đã lập luận như sau: 

“Điểm thứ hai cùa Bác qtran mà anh bác bỏ là PHÉP QUY NẠP tào lao mà Bác ấy dùng trong lý luận của Bác ấy. Vì Bác ấy lấy các luật lệ của vật lý cổ điển Newton hay vật lý Ba Động , rồi quy nạp sang phạm trù hay lãnh vực Thần Thánh…

Bác qtran dùng tổng hợp của hai vật lý kia như điểm đi, tuy chưa có cái cầu như cái cầu De Boglie giữa hai vật lý kia, và qua QUY NẠP, Bác ấy lấy kết luận cho vấn đề Thần Thánh hay bắt thần Thánh phải tuân theo hai vật lý kia…

Bác qtran to gan qúa. Vừa QUY NẠP ẩu đã lại không có cầu qua sông như chiếc cầu De Broglie. Thời cái kết luận của Bác ấy về  Thần Thánh là cái ẩu đã. Em nuôi cứ bênh đi. Anh nuôi đánh chết bí giờ, vì cô em ẩu đã qúa. Có nghe không.”

Vậy nay tôi viết bài này để phản biện lại lập luận của Tiến sĩ HL HNT

Trân trọng,

TVQ

Chiều kích của Thiên Chúa

Trần Tiên Long

Người ta thường gán cho những hữu thể thiêng liêng như Thượng đế, thần thánh, hay ma quỉ thuộc một chiều kích khác, không thuộc chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ chúng ta đang sống. Vũ trụ hiện tại là một vũ trụ có chiều kích bốn chiều, bao gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian. Những chiều kích khác là những chiều từ thứ năm trở lên. Bởi thế, những phán đoán của con người ở chiều kích này về những gì ở chiều kích khác trở nên vô giá trị. Những định luật khoa học và những giá trị con người gán cho mọi sự vật chỉ có giá trị ở chiều kích của vũ trụ này. Nếu có một chiều kích khác nằm bên ngoài chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ này thì phải có những định luật khác và những giá trị khác. Do đó, không thể lấy lòng dạ của con người để phê phán Thiên chúa, một hữu thể phi thời gian và không gian, nằm bên ngoài chiều kích của vũ trụ này.

Một nhận định như vậy thì hoàn toàn hợp lý và chính xác, không thể phủ bác ở bất cứ điểm nào. Tuy nhiên, nếu áp dụng nhận định đó vào trong lập luận logic thì phải áp dụng một cách đồng đều và triệt để, không thể độc đoán và tùy tiện theo nhu cầu lý luận. Áp dụng nó tùy tiện là một thủ đoạn ngụy biện mà các nhà thần học Thiên chúa giáo hay dùng khi họ dạy chúng ta về những hữu thể thiêng liêng nằm ở một chiều kích khác.

Câu hỏi được đặt ra là có ai trong chúng ta đang sống ở chiều kích khác để biết về Thiên chúa, thần thánh, ma quỉ, thiên đàng, địa ngục v.v…,  những thứ không nằm trong chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ này? Ấy vậy mà con người dám ngạo mạn, tự nhận mình là đại diện của Thượng đế, thấu hiểu cả ý định của Ngài, để giảng dạy cho chúng ta về Thượng đế, làm như họ lấy dễ dàng một vật từ túi áo ra; và còn cho mình cái quyền cầm buộc trên trời và dưới đất để tha tội cho thiên hạ.

Giáo hội bao gồm những thành phần rất phàm tục như tất cả mọi người trong chúng ta, nghĩa là có giới hạn, hay sai lầm, và hoàn toàn nằm trong chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ này. Vậy làm cách nào mà những con người cụ thể ở chiều kích này biết và hiểu được những hữu thể vô hình ở chiều kích kia? Họ bảo họ có thần khải và cuốn Kinh thánh mà họ gọi là “lời của Chúa” giúp họ biết được những điều chúng ta không thể biết bằng trí tuệ hữu hạn của con người.

Nhưng xin quí đọc giả hãy nhìn kỹ những gì họ dạy chúng ta về một thế giới nằm bên ngoài chiều kích của vũ trụ chúng ta đang sống. Ngày nay các học giả về Kinh thánh đều đã đi đến kết luận rằng, đó là một cuốn sách chứa đựng vô số điều sai lầm và mâu thuẩn như bao cuốn sách thiêng khác viết về thần thoại ở thời man khai khi con người chưa biết gì về khoa học. Bên cạnh những điều hợp luân lý mà con người ở đâu cũng biết, không thể gọi được là độc đáo, thì được san kẻ bởi những điều ghê tởm, vô luân, phi đạo đức. [1]

Họ lại bảo “lời Chúa” là lời của đấng toàn hảo và toàn năng nên không thể chứa đựng những điều bất toàn. Có chăng bất toàn là tại vì con người hữu hạn không hiểu được những ý nghĩa vô hạn, ẩn dụ trong lời Chúa.

Chúng ta biết hiện có rất nhiều phương pháp giải thích và diễn dịch Kinh thánh khác nhau, nhưng lại không có một phương pháp duy nhất nào có thể giải thích thỏa mãn toàn bộ hai cuốn kinh Tân ước và Cựu ước. Nếu đã có quan điểm Truyền thống Duy văn tự chủ trương giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen, không chấp nhận sự phê phán tự do, thì cũng có quan điểm đối nghịch, như thần học Tự do Hiện đại hay thần học Giải phóng, chủ trương giải thích Kinh thánh theo những ý nghĩa biểu tượng, chứ không theo nghĩa đen của từng câu chữ.

Mỗi phương pháp giải thích đều có những điều lợi và điều bất lợi, đưa đến những hệ lụy mâu thuẩn, mang tính loại trừ nhau, không có đáp số. Và ngày nay, người ta vẫn tiếp tục, cùng một lúc, dùng nhiều phương pháp khác nhau để giải thích. Nếu dùng phương pháp này để giải thích ở đoạn này nhưng khi sang đoạn khác có thể bị bí thì người ta lại dùng phương pháp khác, miễn sao gỡ được thế bí. Và ngay cả sau khi đã kết án công khai thần học Giải phóng theo Chủ nghĩa Hiện đại là công cụ của ma quỉ, không được sử dụng, bằng một Thông Điệp của Giáo hoàng Pius X năm 1907, người ta vẫn cứ vô tư dùng nó một cách vô tội vạ ở những trường hợp cần thiết. Đó chẳng phải là lối lập luận ngụy biện, độc đoán, và tùy tiện trong thần học Thiên chúa giáo sao? [2]

Hơn nữa, nếu đã chấp nhận những hữu thể thiêng liêng nằm ở chiều kích khác thì toàn bộ nền thần học Thiên chúa giáo sẽ trở thành vô dụng. Bởi lẽ những hữu thể thiêng liêng đó không phải tuân theo những định luật, những giá trị thuộc chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ chúng ta đang sống. Họ được thăng hoa thành siêu việt (transcendental), nghĩa là nằm bên ngoài vũ trụ này, ở một vũ trụ có chiều kích khác, tuân theo những định luật và những giá trị riêng biệt.

Có thể những điều mà chúng ta gọi là đạo đức và luân lý lại là những điều vô đạo đức và phi luân đối với họ. Những điều chúng ta khuyến khích và vinh danh có thể là những điều họ không muốn chúng ta theo đuổi, bởi vì không thể có bất cứ điều gì có thể được xem là không phù hợp đối với họ. Cũng có thể người ác sẽ được hưởng phước thiên đàng, còn người tốt lành sẽ bị đày xuống địa ngục.

Ngay cái ý tưởng “siêu việt” cũng đã hoàn toàn trái nghịch với toàn bộ nền thần học Thiên chúa giáo. Cái ý tưởng đó làm người ta liên tưởng tới một siêu sinh vật sống ngoài cõi vũ trụ này và được xem như là nguyên nhân đầu tiên làm chuyển động vũ trụ trước khi được tạo dựng. Nó phù hợp với ý tưởng Thượng đế của các nhà khoa học như là cú “đá” đầu tiên, tác giả của vụ nổ lớn (big bang). Chính Thượng đế sáng tạo này vì nằm ngoài vũ trụ nên không hề can thiệp vào tiến trình tiến hóa của vạn vật, và như thế, hoàn toàn lãnh đạm với mọi công việc của loài người. 

Nhưng ngược lại, nền thần học Thiên chúa giáo dạy chúng ta tôn thờ một Thượng đế thường hay can thiệp vào sinh hoạt trần thế, thương yêu loài người đến nỗi đã hiện thân xuống làm người, chịu chết nhục nhã trên thập giá để cứu chuộc nhân loại khỏi tội tổ tông, cái tội mà cũng chính Ngài đã giáng xuống cho con người. Và Ngài còn ở với con người mọi ngày cho đến tận thế, bên cạnh Giáo hội để cho mọi quyết định của Giáo hội không thể sai lầm trong những vấn đề đức tin và luân lý.

Như vậy, lập luận rằng không thể lấy lòng dạ của con người để phê phán Thiên chúa, một hữu thể thiêng liêng không nằm trong chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ chúng ta đang sống, là một lối lập luận ngụy biện, độc đoán, và tùy tiện theo nhu cầu lý luận của các nhà thần học Thiên chúa giáo. Chúng ta chỉ có thể hoặc lập luận theo thế này hay lập luận theo thế kia, chứ không thể tùy tiện bắt cá cả hai tay. Dù lập luận theo cách nào thì toàn bộ nền thần học Thiên chúa giáo cũng đã trở thành vô giá trị. Đó là lý do tại sao việc tin vào điều vô lý đã đóng một vai trò hết sức quan trọng, được thăng hoa thành một nhân đức lớn trong Thiên chúa giáo: nhân đức tin.

Ghi chú:

[1] Trang nhà Evil Bible.com

Nguồn: http://www.evilbible.com/

[2] Thần học Tự do Hiện đại / Trần Tiên Long dịch

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9279&rb=0303

Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình?

Trần Tiên Long

8/3/2011

LTS:

 Để đơn giản hóa những bài mang tính triết học, diễn đạt đầy những từ ngữ trừu tượng, diễn nghĩa phức tạp, chúng ta có thể nói về hai khái niệm: Thiên Chúa và ông trời. Người Thiên Chúa Giáo (TCG) luôn cố tình cho đồng nghĩa hai từ “trời” và “Thượng Đế”, và nhập nhằng hai khái niệm “Thượng Đế” và “Thiên Chúa”. Nhưng người không tin Chúa thường phân biệt hai khái niệm: “ông trời” và ông “Chúa”, và “xí xóa” nếu ai dùng chữ “Thượng Đế” mà người TCG thích dùng thay cho “ông trời”. Mỗi người đều có một “thượng đế” trong lòng, có khi đó chỉ là một người yêu, còn Chúa là… một nhân vật khác. Trong xã hội không thờ Chúa ở Á Đông từ trước đến nay, ai muốn hiểu “ông Trời” của họ như thế nào cũng được, chẳng ai đặt vấn đề lớn lao gì cả. Con cóc cũng được vai vế hơn ông trời. Nhưng tại sao trong xã hội TCG, hầu hết những người “tin Chúa” đều khó chịu trước những lập luận của những người không tin? Ngày nay, trước sự trỗi dậy của phong trào những người “không tin Chúa”, số người không xác nhận căn cước tôn giáo cũng tăng dần. Nhưng những lý luận để bảo vệ khái niệm “Chúa” trong “Thượng Đế” vẫn còn nhận ra rất “bám” nhờ sự nghiên cứu và phân tích trong các bài đối thoại có phẩm chất như dưới đây của bác Trân Tiên Long. Xin mời theo dõi. (SH)


 

Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình?

(Trả lời góp ý của ông Nguyễn Hoài Vân)

 

Theo dõi đọc giả bàn về Thượng Đế trên các diễn đàn trong mấy tuần qua, tôi nhận thấy hình như chúng ta đã hoàn toàn bác bỏ ý niệm Thượng Đế có nhân tính của Thiên Chúa giáo; bởi vì ở thời đại thông tin nối mạng này, ý niệm về một Thượng Đế có đầy đủ hỉ, nộ, ái, và ố như được “mặc khải” trong Kinh thánh không còn phù hợp với nhận thức tiến bộ của con người khoa học. Mặc dù vậy, qua cách trình bày của các đọc giả, ý niệm Thượng Đế cũng đã thay đổi để tiến hóa theo một chiều hướng khác như đã từng xảy ra bao lần trong suốt dòng lịch sử, nhưng tiếc là lần này nó lại tiến hóa theo một chiều hướng thụt lùi, nghĩa là thay vì đổi sang một ý niệm mới lạ, trái lại, nó đang trở về với ý niệm Thượng Đế của thuyết Phiếm Thần (Pantheism)[1] thời Trung Cổ khi con người chưa biết gì về khoa học, ý niệm mà một thời con người đã từng cố gắng bác bỏ, đàn áp, và tận diệt.

Thực vậy, ông Nguyễn Hoài Vân (NHV) có nhắc đến trường phái Khắc Kỷ (Stoicism)[2], do đó, xin được bàn thêm một chút về trường phái này.

Phái Khắc Kỳ là một trường phái triết học ở thời cổ Hy Lạp, khoảng 300 năm trước Công nguyên. Họ chủ trương sống như những nhà hiền triết, có trí thức và đạo đức, bằng cách làm chủ mọi cảm xúc và tình cảm của mình. Họ cũng hiểu con người có tự do nhưng thứ tự do giới hạn bởi những yếu tố tiền định bẩm sinh. Và họ tin tưởng con người có thể đạt được tình trạng đạo đức bằng cách sống hòa thuận với thiên nhiên, lẽ trời. Họ chẳng tin và cũng chẳng cần quan tâm về một đấng Sáng Tạo vì họ tin vũ trụ không có khởi đầu và cũng chẳng có tận cùng. Họ không tin con người còn có phần linh hồn vẫn tiếp tục sống sau khi chết. Họ xem linh hồn hay Thượng Đế nằm trong tất cả mọi sự vật vô tri vô giác thuộc vũ trụ. Đối với họ, Thượng Đế chính là lực hay năng lượng chuyển động tiềm tàng trong thiên nhiên.

 

Như vậy, đây là một hệ thống triết học, một cách sống, không phải một tôn giáo, có chủ đích giúp con người đạt được hạnh phúc ở ngay cõi đời này. Về phương diện tâm linh, đây chính là chủ thuyết Phiếm Thần của những người ngoại đạo ở thời tiền khoa học vì bất cứ thứ gì cũng có thể gọi được là thần. Người theo thuyết Phiếm Thần là người không tin có một đấng Sáng Tạo toàn năng hay can thiệp vào công việc của con người. Họ dùng từ Thượng Đế để chỉ thiên nhiên hay những qui luật vật lý trong vũ trụ. Thiên Chúa giáo gọi họ là “ngoại đạo” hàm ý khinh thường những niềm tin nằm ngoài Thiên Chúa giáo. Về phương diện nhân sinh, nó giống chủ thuyết Nhân Bản (Humanism) đầu thế kỷ 19 vì mục đích cuộc đời là sống hạnh phúc ở cõi đời này; không phải là phí phạm thì giờ và công sức để phục vụ hoặc vinh danh bất cứ một thần thánh nào, hầu mong được cứu rỗi để có hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau. Như vậy, đối tượng phục vụ là con người và cuộc đời, không phải Thượng Đế.

Tiếc là một chủ thuyết rất hợp nhân bản, tình người đã bị Thiên Chúa giáo tiêu diệt ở ngay đầu thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên. Đọc lịch sử, chúng ta biết Thiên Chúa giáo ở thời điểm đó đang thống trị toàn đế quốc La Mã. Vì Thiên Chúa giáo tin vào một đấng Sáng Tạo và con người còn có phần linh hồn bất tử nên đã xem triết thuyết Khắc Kỷ như là thứ tà thuyết của người ngoại đạo. Chính hoàng đế Justinian I đã ra lệnh đóng cửa tất cả các trường phái triết học năm 529 sau Công Nguyên vì cho rằng quan điểm triết lý của họ không phù hợp với đức tin Thiên Chúa giáo.

Điều khôi hài là mặc dù không phù hợp như đã trình bày ở trên, thần học Thiên Chúa giáo lại bị ảnh hưởng bởi triết thuyết Khắc Kỷ quá nặng nề đến nỗi đã mượn phần lớn những tư tưởng căn bản triết học của họ làm nền tảng cho thần học của mình, chẳng hạn như những ý niệm về Ngôi Lời, Thần Khí, nhân đức, lương tâm, ý thức, lý trí, v/v… Như vậy, Thiên Chúa giáo có nguồn gốc từ Do Thái giáo nhưng thần học của họ được trộn lẫn bởi những tư tưởng triết học của người cổ Hy Lạp. Bằng phương tiện vũ lực và đàn áp, Thiên Chúa giáo đã phá nát một nền văn hóa nhân bản Hy Lạp có nguồn gốc từ hơn 300 năm trước khi Chúa giáng sinh để trở thành quốc giáo, rồi sau thành tôn giáo hoàn vũ.

Việc ông NHV trích dẫn câu nói của bà thánh Therese d’Avila (1515-1582) rằng “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa”, và việc ông NHV giảng giải thêm rằng “Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình”, chứng tỏ ông muốn trở lại ý niệm Thượng Đế của triết thuyết Khắc Kỷ được hiểu như những qui luật vật lý trong thiên nhiên. Đó là lối giải thích Thượng Đế của người ngoại đạo đã bị Thiên Chúa giáo bác bỏ và tiêu diệt ở thời Trung Cổ.

Ở điểm này, chúng ta cũng nên có thêm một nhận xét, rằng Thiên Chúa giáo thường hay cưỡng từ đoạt lý bằng cách cố tình bẻ cong ý nghĩa của những phạm trù thông thường dùng trong truyền thống thành ý nghĩa mà họ muốn dẫn dắt. Thánh Therese d’Avila gọi “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa”, cũng giống như rất nhiều định nghĩa khác mà người tín hữu được chỉ dạy, chẳng hạn như “yêu là trở nên giống Chúa”; hoặc “yêu người là mến Chúa”; hoặc “sống là sống cho Chúa Ki-tô, vì Chúa Ki-tô, còn chết là hưởng nhan thánh Chúa”; hoặc “người khôn ngoan là người biết kính mến Thiên Chúa”; hoặc “Thiên Chúa chính là ông trời”; hoặc như ông NHV viết ở trên rằng “Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình”; trong khi Thiên Chúa là một hữu thể có nhân tính, có ý chí tự do, còn “quy luật tối thượng của trời đất” là những định luật máy móc, vô tình, không có ý chí tự do. Chừng nào hội đủ mọi yếu tố mà nhà Phật gọi là duyên khởi thì hiện tượng phải xảy ra, còn chưa đủ thì nó không thể xảy ra; chứ chẳng phải vì nó bị bắt buộc tuân theo ý chí tự do của một siêu sinh vật nào. Vậy không thể nhập nhằng đồng hóa một hữu thể hữu tình với những loài vô tình, vô tri, vô giác.

Và cuối cùng, ông NHV còn viết “Khoa học duy lý cũng cần niềm tin, ít ra là tin vào chính nó” cho đọc giả chúng tôi hiểu rằng ông đang cố gắng lập lờ trộn lẫn giữa niềm tin khoa học và đức tin tôn giáo. Đây cũng là lối gièm pha những nhà khoa học mà tôi hay được nghe từ những nhà hữu thần. Đúng hơn, hai niềm tin này là hai thái cực đối chọi nhau như nước với lửa. Vậy xin được đưa ra một thí dụ để cho thấy sự khác biệt căn bản giữa hai niềm tin này.

Thí dụ, tôi chưa bao giờ đi Paris nhưng tôi biết Paris nằm ở đâu trong bản đồ. Tôi mua một vé máy bay từ Sài Gòn đi Paris. Tới ngày đi, tôi tin rằng chỉ cần ngồi trên máy bay một thời gian thì ngày hôm sau tôi sẽ có mặt ở Paris. Vì tin như vậy nên tôi mới bỏ tiền mua vé và chịu cực ngồi trên máy bay mấy chục tiếng đồng hồ. Đó là niềm tin khoa học dựa trên lý trí và tìm hiểu, không thể đồng hóa để lẫn lộn với niềm tin tôn giáo.

Những tín điều tôn giáo như tội tổ tông, Thiên Chúa ba ngôi, Đức Maria sinh con nhưng vẫn còn đồng trinh và lên trời cả hồn lẫn xác, ngày tận thế xác loài người sẽ sống lại, v/v… thì người tín hữu chỉ việc nhắm mắt mà tin, không được thắc mắc. Đó là lý do tại sao bà Ts. Bs. Nguyễn Thị Thanh gọi là “con mắt đức tin nhiệm mầu nhưng không chuyển nhượng và điều khiển được, vì nó đến từ Đấng Siêu mà người Công Giáo gọi là ơn thánh sủng”, và ông NHV gọi là “hồng ân”. Vậy nếu không có “ơn thánh sủng” hay “hồng ân” thì làm sao con người có thể tin được những điều vô lý; trong khi tại sao các nhà khoa học đâu cần “ơn thánh sủng” hay “hồng ân” mà họ vẫn cứ tin vào khoa học? Nhà khoa học chỉ đơn thuần dùng đầu óc của họ suy luận để biết điều gì nên tin hay không.

Hơn nữa, niềm tin của các nhà khoa học không bao giờ được gọi là đức tin; trong khi chỉ có niềm tin của những tín đồ Thiên Chúa giáo mới cần phải thăng hoa thành một nhân đức lớn và tối quan trọng: nhân đức tin. Đó là sự khác biệt lớn mà ông NHV không nhận ra.

Như vậy, nếu chúng ta nắm vững được sự khác biệt về ý nghĩa của những từ ngữ thì sẽ dễ dàng nhận ra ngay lối ngụy biện nằm trong cách giải thích của những nhà hữu thần. Cách gán ghép hay đồng hóa nhập nhằng những phạm trù của từ ngữ như đã trình bày ở trên cũng giống như kiểu nói của người Cộng sản, rằng “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Hoặc giả như người Cộng sản cũng bắt chước câu nói của bà thánh Therese d’Avila “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa” để lập luận rằng, các ông tranh đấu đòi tự do mà chẳng hiểu tự do là gì, phải hiểu “tự do là trở thành nô lệ bác và đảng”, thì liệu chúng ta có cảm thấy dị ứng và chói tai không? Một kiểu cách lập luận cưỡng từ đoạt lý, cực đoan giáo điều của một bà thánh Công Giáo được đưa vào diễn đàn như vậy mà có người lại xuýt xoa khen ngợi bằng những lời sáo ngữ: “Bài vắn tắt của anh như một làm gió mát thổi vào những xáo trộn của sự tấn công của ông Trần Tiên Long đối với “Thượng Đế” của TCG, những tấn công này giống như gặp phải một bức tường bằng đá của phe bên kia khiến cho cát đá bụi bay mù mịt.” [trích nguyên văn]

Đứng trước một hiện tượng hay một biến cố chưa có sự giải thích, nhà khoa học chỉ đơn giản và khiêm tốn trả lời, chúng tôi không biết. Đó là một thách đố chung cho tất cả mọi người. Bản chất của khoa học là tìm kiếm chân lý rồi trình bày một cách khách quan những gì đã được khám phá, chẳng cần quan tâm điều mình khám phá có hợp hay không với các niềm tin tôn giáo. Khoa học đứng bên ngoài các tôn giáo và phe nhóm. Việc tấn công khoa học bằng cách chụp cái mũ Cộng sản vô thần hay đánh phá tôn giáo là những gì chúng ta thường nghe quen quen trên các diễn đàn.

Bây giờ xin chuyển sang đề tài ý chí tự do.

Bàn về tiền định thì chắc chúng ta không thể bỏ qua quan điểm của giáo phái Calvinism[3], Tin Lành, vì triết thuyết của phái này có một quan điểm tiêu biểu cực đoan, hoàn toàn đối nghịch với quan điểm của Công Giáo.

 

John Calvin 1554

John Calvin (1509-1564) khẳng định rằng Thiên Chúa đã định trước sẽ cứu rỗi người nào lên thiên đàng và cũng định trước sẽ đày người nào xuống địa ngục. Như vậy, con người được tiền định để tin Thiên Chúa bằng đức tin trước khi họ có ý muốn tin Ngài. Vấn đề tiền định của Tin Lành là một đề tài lớn. Công Giáo đã chính thức lên án quan điểm tiền định này. Trong một vài trang giấy, thực khó có thể bàn chi tiết về một đề tài phức tạp như vậy. Ở bài này, tôi chỉ muốn giới hạn đề tài để chủ đích bàn về quan điểm của Công Giáo La mã.

Giáo lý Công Giáo La Mã dạy rằng con người cần phải có ý chí tự do mới có thể có hạnh phúc. Vì Thiên Chúa là đấng “nhân từ và lòng lành vô cùng” nên không thể sáng tạo con người như những người máy. Chỉ có ý chí tự do mới làm con người cảm nghiệm được tình yêu và hạnh phúc. Nhưng con người đã lạm dụng sự tự do để phạm tội, và như vậy, họ mang sự dữ vào thế giới vốn nguyên thủy tốt lành khi Thiên Chúa tạo dựng. Thiên Chúa không thể cưỡng bức con người làm theo ý Ngài; do đó, có trách là trách con người đã tự ý chọn làm điều ác, không thể trách Thiên Chúa.

Quan điểm này có rất nhiều điều mâu thuẩn. Quentin Smith đã bàn rất kỹ về ý chí tự do của Thiên Chúa trong bài Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế.[4] Epicurus cũng đã dùng lý luận thuần lý của Parmenides để loại bỏ ý niệm về Thiên Chúa mà tôi đã trình bày trong bài Vấn Đề Chứng Minh Thượng Đế.[5] Cả hai bài đã được đưa vào diễn đàn. Ở đây, tôi xin chỉ bàn về ý chí tự do của con người nhân dịp ông NHV góp ý.

Làm sao mà một người có thể có tự do khi họ bị đe dọa về những hệ quả của việc họ chọn lựa? Hình phạt hành hạ đời đời kiếp kiếp ở địa ngục cho những người không chọn tin Giê-su là đấng Cứu Thế đã được ghi bằng giấy trắng mực đen trong Kinh thánh, cuốn kinh mà người Công Giáo phải xưng tụng hằng ngày là lời của Chúa. Nếu chúng ta chấp nhận lối lập luận này thì người Cộng sản cũng có thể bắt chước chúng ta để lập luận rằng, chúng tôi giết các ông là tại vì các ông đã được tự do chọn lựa nhưng các ông đã không lựa chọn theo chúng tôi. Nếu Thiên Chúa có quyền giết những người không tin theo Ngài thì chúng tôi cũng có cái quyền đó để giết những kẻ không theo chúng tôi.

Hơn nữa, nếu Thiên Chúa là đấng toàn năng thì Ngài cũng có thể tạo dựng loại người không có ý chí tự do nhưng vẫn có thể cảm nghiệm được hạnh phúc, chẳng hạn như những thiên thần đang ở trên thiên đàng. Nếu đã là hoàn hảo, toàn trí thì tại sao lại có thể tạo dựng một loại người bất toàn đã có thể tự hủy hoại hạnh phúc của mình? Cho dù là phải cần thiết có ý chí tự do mới có thể cảm nghiệm được hạnh phúc thì Thiên Chúa cũng có thể tạo dựng một loại người chỉ có ý chí tự do chọn làm một số điều tốt trong muôn vàn những điều tốt khác. Hơn nữa, Thiên Chúa toàn năng, “lòng lành và nhân từ vô cùng” đã biết trước những gì sẽ xảy ra, vậy lý do nào Ngài đã tạo dựng những người vô thần không tin nơi Ngài khi biết chắc chắn họ sẽ bị đọa đày ở địa ngục? Phải chăng lý do duy nhất là để nhìn ngắm họ bị hành hạ, chịu đau khổ muôn đời muôn kiếp?

Còn có một điều ít ai chịu để ý: Mặc dù giáo lý Công Giáo dạy rằng con người đã mang sự dữ vào thế gian bằng cách phạm tội; nhưng Kinh thánh của họ thì lại dạy khác, rằng chính Thiên Chúa đã tạo dựng sự dữ.

Isaiah 45:7: “I form the light and create darkness. I make peace and create evil. I the lord do all these things.”

Tài liệu tôi chép xuống từ trang nhà VietCatholic thì cố tình dịch sai như sau: “Ta tạo ra ánh sáng, ta dựng nên bóng tối. Ta cho thư thái, ta bắt chịu cực. Chính Gia-vê ta đây làm ra mọi sự.”

Để chính xác hơn thì nên dịch: “Ta tạo ra ánh sáng và dựng nên bóng tối. Ta tạo ra sự an bình và dựng nên sự dữ. Chính Gia-vê ta đây làm ra tất cả mọi sự này.”

Như vậy, câu hỏi nên được đặt ra: Bởi vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự dữ, tại sao lại đổ trách nhiệm đó lên đầu loài người để hành hạ họ?

Dĩ nhiên, người ta cũng có thể phản biện như đã từng phản biện rằng, tại các ông đã hiểu sai Kinh thánh. Đúng hơn, phải hiểu như thế này, thế kia, bla, bla, bla, v/v… Họ cố tình quên rằng các học giả chuyên môn về Kinh thánh, bao gồm những hồng y, giám mục, linh mục, các nam nữ tu sĩ, giáo sư tiến sĩ thần học, vẫn thường hay cãi nhau, giải thích Kinh thánh mỗi người theo mỗi ý[6]. Vậy làm sao những đọc giả trung bình như chúng ta có thể hiểu Kinh thánh một cách đồng thuận? Lấy tiêu chuẩn nào để phán đoán ai hiểu đúng sai? Tại sao Thiên Chúa toàn năng lại không thể làm được một cuốn kinh mà ai đọc cũng có thể hiểu ngay được? Nếu làm được vậy thì đạo Chúa đâu có bị chia năm xẻ bảy.

Tóm lại, trong suốt tiến trình tiến hóa của tư tưởng, ý niệm về Thượng Đế đã phải thay đổi nhiều lần để phù hợp với những khám phá mới của khoa học. Ngày nay, chẳng còn mấy ai thực lòng tin tưởng một Thượng Đế có nhân tính của Thiên Chúa giáo. Bởi vậy, các nhà hữu thần lại loay hoay cố gắng vớt vát ý niệm Thượng Đế bằng cách giáng cấp Ngài từ loài sinh vật hữu tình, có ý chí tự do, xuống thành loài vô tình, vô tri, vô giác; từ một hữu thể có quyền phép vô biên ban các “ơn thánh sủng” hay “hồng ân” thành “một quy luật tối thượng của trời đất”.

 

Chỉ có một câu trả lời duy nhất và rất đơn giản, có thể giải thích thỏa đáng mọi thắc mắc trình bày ở trên, nhưng lại có ít người dám can đảm chấp nhận, đó là Thượng Đế chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người. Tâm trí của chúng ta thế nào thì Thượng Đế cũng sẽ như vậy. Bởi vì tâm trí luôn luôn biến động và bất đồng giữa mỗi cá nhân nên Thượng Đế trở thành không thể nghĩ bàn. Vậy đây là Đạo, là đường đi, không còn là tôn giáo với một Thượng Đế để vinh danh, tôn thờ, cầu khẩn, van xin “ơn thánh sủng” hay “hồng ân”. Vấn đề còn lại là làm sao giáo dục và trau dồi tập luyện để tâm trí chúng ta luôn luôn hướng tới Chân-Thiện-Mỹ, một biểu tượng tuyệt đối về Thượng Đế. Đây chính là ý niệm “Thượng Đế nội tại” mà các vị đạo sư thường hay bàn từ xưa nay. Thiên Chúa giáo ngày nay cũng đang biến chuyển dần để trở về với ý niệm “Thượng Đế nội tại” này.


Ghi chú:

[1] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Pantheism

[2] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Stoicism

[3] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Predestination_(Calvinism)

[4] Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế / Quentin Smith / Trần Tiên Long dịch

Nguồn: http://www.sachhiem.net/TONGIAO/tgTR/TranTL04.php

[5] Vấn Đề Chứng Minh Thượng Đế / Trần Tiên Long

Nguồn: http://www.sachhiem.net/TONGIAO/tgTR/TranTL05.php

[6] Thần học Tự do-Hiện đại / Trần Tiên Long dịch

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9279&rb=0303


Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: