Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

SỰ CÁM DỖ CỦA PHẬT GIÁO TẠI PHÁP-Alain Renon -PHẬT GIÁO TRƯỚC “SỰ TẤN CÔNG CỦA CÁC TÔN GIÁO” -HUYỀN CHÂN

SỰ CÁM DỖ CỦA PHẬT GIÁO TẠI PHÁP
Nguyên tác Pháp ngữ: Alain Renon / Le Monde Diplomatique,
Chuyển ngữ: Khánh Hải Triều Quang, Dec 12, 2010

 

Với khoảng 2 triệu rưỡi tín đồ tại Âu Châu và ít nhất là 5 triệu tại Hoa Kỳ, Phật Giáo đã thật sự bén rễ ở Tây Phương. Sự phát triển của Phật Giáo rất rõ rệt, đặc biệt là ở lục địa Âu Châu, nơi mà 30 năm trước đây chỉ được xem như là một tôn giáo ngoại nhập hay chỉ là một thứ triết học dành cho các nhà thông thái nghiên cứu. Thời đó đã qua rồi, thí dụ như là trường hợp nước Pháp.Thất vọng trên lảnh vực chánh trị hay là nạn nhân của sự bất ổn tinh thần càng ngày càng tăng, nhiều người đã đến với Phật Giáo với hy vọng tìm thấy một giải đáp cho cuộc sống.

Tại Âu Châu, nước Pháp là nơi Phật Giáo phát triển ngoạn mục và đa dạng nhất. Trong vòng 20 năm có gần 200 tự viện và trung tâm  Phật Giáo được thành lập.(1). Số lượng tín đồ cũng tăng theo cùng một nhịp độ: số Phật tử gấp đôi trong vòng 10 năm: năm 1976 với 200,00 tín đồ, đến năm 1986 tăng lên 400,000.  Đến năm 1997 con số này lên tới 600,000. Bộ Nội Vụ và Sở Thống Kê đều đồng ý với con số này. Phần lớn tín đồ của Liên Hiệp Phật Giáo tại Pháp, quy tụ chừng 80% các hiệp hội Phật Giáo. Phật Giáo hiện là tôn giáo lớn thứ 5 tại Pháp (2). Về phương diện tâm linh, Phật Giáo là tôn giáo được người Pháp ưa chuộng vào hàng thứ ba. (3)

 Bắt đầu từ thập niên 1960, ‘sự thành công của Phật Giáo trước nhất là nhờ công của các Thiền Sư Nhật Bản và Tây Tạng. Phật Giáo may mắn có mấy ‘mạnh thường quân’ theo Phật Giáo, như nhà tỷ phú gốc Anh, Bernard Benson, khi đến lập nghiệp tại Dordogne (Pháp) từ đầu thập niên 1970, đã mới các nhà sư Tây Tạng đang tỵ nạn đến giảng pháp’. Một nhà xã hội học, Frederic Lenoir, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Liên Ngành  Về Tôn Giáo, Tại Trường Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội đã xác nhận như thế. Sau đó cuộc di dân vĩ đại của sắc dân Á Châu, nhất là Việt Nam và Cam Bốt đã làm con số thống kê tín đồ Phật Giáo tăng nhanh. Hai phần ba tín đồ Phật Giáo tại Pháp là người Á Châu. Tuy nhiên số lượng tăng trưởng nhanh chóng này không che khuất được sự kiện quan trọng: số lượng người Pháp chính gốc theo đạo Phật cũng tăng gia nhanh chóng, dù chỉ chừng vài mươi ngàn.

 Số người theo đạo Phật thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau: từ người bị mất việc đến các chuyên viên cao cấp của các đại xí nghiệp. Tuy nhiên thành phần chính theo đạo Phật là thành phần thị dân trung lưu. Hiện tượng này phản ảnh rõ ràng trong 2 cuộc nghiên cứu sâu rộng của Bruno Etienne và Raphael Liogier (4).  Hai ông ghi nhận là các người theo Phật Giáo nổi bật nhất là thành phần Bác Sĩ, các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, các người trong ngành truyền thông (nhà giáo, ký giả) và chuyên viên xí nghiệp. F Lenoir nghiên cứu rộng rãi hơn cho biết là  phần lớn những người theo đạo Phật có trình độ Đại Học và một số đông đảo trong nghề Y Khoa và các nghề liên hệ. Số lượng nữ giới chiếm 60% và họ cho biết hai lý do chính yếu khiến họ đến với Đạo Phật là bất bạo động và tránh tranh chấp.

Động lực khiến Đức Phật đi tìm một con đường giác ngộ là vì muốn làm giảm bớt đau khổ của con người. Đặc tính này của Đạo Phật đã làm cảm hóa được những người hành các nghề y khoa. Chính họ cũng là những người đối diện thường xuyên với những nỗi đớn đau của con người.  Triết lý buông xả  của Đạo Phật cũng giúp họ giải tỏa những phiền não của cuộc tồn sinh và giảm những khủng hoảng thầm kín riêng tư như mất việc, mất địa vị trong xã hội…Như các tín đồ của Soka Gakkai ‘phần lớn chừng 55 , 56 ngàn người đều ở trong tình trạng bấp bênh, khủng hoảng chức vị….Sinh hoạt nội bộ khiến họ tiết lộ những kinh nghiệm riêng tư, thường được thể hiện như phương cách thích ứng, nếu không muớn nói là một thứ tâm lý trị liệu bổ túc’, như Louis Hourmant, thuộc nhóm Xã Hội Học Tôn Giáo ở Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học, một chuyên viên nghiên cứu về giáo phái này nhấn mạnh.

Một điểm khác nữa là, việc không thỏa mãn về tình huống chính trị cũng là bước đầu để người Pháp đến với đạp Phật. B Etiene và R Lioger viết:’Tư tưởng của Phật Giáo  được những người muốn thoát khỏi những bế tắc của sụ đối nghịch giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, xem đó như là một ước vọng giải thoát để đem lại hạnh phúc cho loài người’. Lenoir nhận xét là:’Tất cả những Phật Tử Pháp đầu tiên trong các thập niên 60-70 tiếp nhận Đạo Phật như là một đối lực với văn hoá đương hành. Nhiều người đã đoạn tuyệt với văn hóa cũ bằng cách trở thành một Phật Tử. Một số về ẩn cư trong các tự viện. Họ đi sâu vào các hệ thống triết lý Tây Phương và cả những lễ nghi tinh tế của truyền thống mà họ đã chọn’. Như trường hợp của Matthew RICARD, nhà nghiên cứu sinh học bào tử danh tiếng, đột ngột từ bỏ con đường công danh quy y Phật Giáo Tây Tạng và đã trở thành một người thuần thành. Ông là thông dịch viên cho Đức Đạt Lai Lạt Ma và là một phật tử Pháp tiên phong.

 

Một Dẫn Lực Kết Hợp Xã Hội

 Các tu sĩ bản xứ, Tây Tạng hay Thiền Tông lần lược đóng vai trò truyền bá chánh pháp cho thế hệ Phật Tử thứ hai, đông đảo hơn nhưng có lẽ ít dấn thân hơn. F Lenoir phát biểu tiếp:’Từ đó ít có Phật Tử nào đi vào đạo Phật như thế hệ trước. Họ không muốn ra khỏi thế giới của họ và yêu cầu một lối thực hành đơn giản, thích hợp với lối sống quen thuộc của họ’, Việc dịch thuật các kinh luận nền tảng và sự uyển chuyển văn hoá của đạo Phật có thể đủ thỏa mãn đòi hỏi của họ. Thêm vào đó các thực hành linh động của đạo Phật rất hữu ích trong việc hình thành mô thức cho Phật Giáo Pháp. Sự ra đời của Ủy Ban Liên Hiệp Phật Giáo Pháp được chanh phủ thừa nhận ngay vào năm 1986, cùng với thái độ cởi mở của Phật Giáo với các tôn giáo khác, đã xóa được nhãn hiệu ‘giáo phái phương Đông’ (6). Sự thành công của Phật Giáo còn cho thấy sự khủng hoảng của Ky Tô Giáo. Jack MARTIN, chủ tịch UBF ghi nhận:’Gần 90% Phật Tử người Pháp trước đây theo Ky Tô Giáo, đa số là Thiên Chúa Giáo. Sau khi thất vọng não nề về các tôn giáo truyền thống, người Phật Tử Pháp tìm thấy nơi Phật Giáo như con đường tâm linh’. Các Giáo Hội Ky Tô bị phê phán là không có đối thoại (tất cả đều chỉ thị từ trên xuống dưới). Michel BOVAY chủ tịch Hội Thiền Học Quốc Tế nói:’Tôi luôn luôn có cảm tưởng là có cái gì không lành mạnh trong xã hội này, ở trường học cũng như trong gia đình, người ta không nói cho tôi sự thật. Tôi đặt câu hỏi về sự chết và khi tôi hỏi các giáo sĩ giải thích cho tôi về chúa Ky Tô hay Thiên Đàng, tôi không được ai trả lời’. Tư cách của các tăng sĩ Phật Giáo làm giảm giá trị của các giáo sĩ phục vụ chúa. Thầy Trí Tín ( người Pháp) tu tại Tu Viện Linh Sơn (Phật Giáo Việt Nam) ở Joinville Le Pont vùng ngoại ô Paris nhớ rõ những kinh nghiệm của mình ’Trong giáo lý người ta dạy tôi tình yêu đối với người đồng loại. Vào năm 1939 khi tôi thấy các Giám Mục  làm lễ ban phép lành cho các khẩu đại bác, tôi chẳng hiểu ra làm sao !”.Khi đó Thầy mới 12 tuổi, bậy giờ Thầy đã 70 tuổi. Thầy trầm tĩnh dạy giáo lý của Đức Phật cho những người Pháp nào muốn khám phá một tôn giáo duy nhất không hề đòi hỏi tín đồ gây chiến tranh để vinh danh”.

 Sự bất lực càng ngày càng lớn của các tôn giáo truyền thống lâu đời trong lỉnh vực tâm linh khiến nhiều người càng đến gần Đức Phật:’ Ông Patrick, 53 tuổi, cựu chuyên viên của hảng IBM đang sinh hoạt tại Trung Tâm Phật Giáo Tây Tạng Rigpa ở Paris nói:’Trước kia tôi theo Tin Lành và gia đình của tôi là một gia đình Tin Lành thuần thành. nhưng tôi đã không tìm thấy ý nghĩa về đức tin của tôi.Tôi đã sống trong tinh thần tư bản chủ nghĩa, trong thế giới Tư Bản Chủ Nghĩa (Ông muốn nói đến luận đề của Max Weber cho là Tin Lành là nền tảng của tư bản chủ nghĩa) nhưng không còn bận tâm về những điều mà tôn giáo tôi đã giảng dạy. Chính nhờ Phật Giáo mà tôi đã thực sự bước vào mối quan hệ với chính tôi’. Cũng trong chiều hướng này B, Etienne và R. Liogier phát biểu:’ Phật Giáo chứng tỏ là thế kỷ thứ 21 không phải là thế kỷ của tôn giáo truyền thống như Andre Malraux nói mà là sự trở về con đường tâm linh. Tâm linh không biến mất trong hoá trình hiện đại hóa, nhưng chỉ biến dạng và có thể đưa ra những giải đáp khả tín cho những lo âu xã hội phát sinh từ xã hội hiện đại’.

 Trên bình diện thứ yếu hơn, Phật Giáo cho thấy giới hạn  của chánh sách hội nhập tại Pháp.Thí dụ như những người trẻ gốc Á Châu  thất vọng với những kiểu mẫu xã hội phương Tây, quay lại gắn bó với những sinh hoạt cộng đồng của bậc cha mẹ. Ước mơ tiêu thụ và làm giàu bị cơn khủng hoảng kinh tế  làm tiêu tan, đẩy họ lại với cội nguồn.  L. Harmant xác nhận :’Sự bất an về ý nghĩa tồn sinh thấy rõ ràng trong giáo phái Soko Gakkai. Ở đây người ta gặp các người trẻ đến từ những vùng xa xôi của nước Pháp, những thiếu nữ Hồi Giáo, nhất là từ Algeria, họ tìm thấy nơi Đạo Phật một phương cách giải thoát họ khỏi những sự kềm kẹp gia đình mà không phải bị cái cảm giác phản bội văn hoá truyền thống của họ vì không ai bắt họ cải đạo khi sinh hoạt với Phật Giáo’.

 Phật Giáo do đó thể hiện như là một dẫn lực kết hợp xã hội như F. Lenoir  nhận xét: ’Phật Giáo tạo điều kiện cho những cá nhân vụn vỡ  đơn độc (vì mất nền tảng gia đình, trao truyền những kinh nghiệm riêng tư để cùng nhau học hỏi, Truyền thống được thực hành nhiều nhất là Đại Thừa nhấn mạnh đến lòng từ bi phổ quát không phân biệt, được diễn dịch như áp dụng một lý tưởng bao dung vào đời sống của mỗi cá nhân. Qua đó chúng ta thấy lòng quảng đại trở thành giá trị then chốt của xã hội’. Nói một cách khác, không những rủ bỏ hình ảnh tiêu cực lẫn trốn thực tại mà trước đây người ta hay gán ép, Phật Giáo góp phần tích cực vào trong việc tái phối tri xã hội.  Jean-Pierre, 52 tuổi, trước đây theo Cộng Sản kiểu Mao, hiện là giáo sư Vật Lý tại Đại Học Toulon, phát biểu:’ Tôi vẫn tiếp tục dính líu đến chính trị. Nhưng tôi tin tưởng vào những mối liên hệ gần gũi hơn là các buổi họp, những đoàn đại biểu, những hoạt động này nọ’. Và do đó không còn phải bận tâm về việc làm tan biến cá thể của mình trong khối đông những người cùng phe phái. Theo vị Giáo Sư khả kính này, việc làm cụ thể và có ích là ngăn chặn trào lưu chủ nghĩa quá khích đang khuấy động tại Pháp và Tây Âu chính là ‘việc giảng dạy vật lý học không phải là thực tại, mà là một cách nhìn về thực tại. Nói một cách khác, là dạy cách phân biệt những hình ảnh người ta đưa ra về thực tại  với chính thực tại’.

Là ‘tôn giáo theo yêu cầu’ Phật Giáo đang phục vụ những nhu cầu tâm linh của thời đại.  Người ta cũng thấy sự kiện này nơi các tôn giáo độc thần mới (7) Nhưng trong Phật Giáo còn một hiện tượng phụ khác. B. Etinne và R. Liogier viết:’Chúng tôi giả thiết rằng khối lượng sách báo công trình nghiên cứu của Tây Phương cho những vấn đề của chính mình, cũng phù hợp với yêu cầu của Phật Giáo’. Và hai ông thấy là các nhà xã hội học đang nghiên cứu về hiện tượng này.

Khánh Hải Triều Quang
chuyển ngữ từ bài viết của Alain Renon trên tờ Le Monde Diplomatique
(tháng 12, 1997 . Paris 1.98)

 

Chú thích:

 * Ở đây chúng tôi dịch sát nghĩa chữ ‘de’ vì tiếng Pháp phân biệt 3 loại Phật Giáo, như tiến trình : từ Bouddhisme en France (Phật Giáo Tại Pháp- có thể là Phật Giáo Tây Tạng đang sinh hoạt tại Pháp) thành Bouddhisme de France (Phật Giáo của Pháp do dân Pháp mở ra và quản lý theo luật của nước Pháp) và có lẽ không bao lâu nữa, sẽ thành Bouddhisme Francais (Phật Giáo Pháp- có sắc thái văn hóa Pháp).

(1)Trong đó Tây Tạng có 84 trung tâm, Thiền Nhật Bản có hơn 90

(2) Sau Thiên Chúa Giáo , Hồi Giáo (4 triệu rưỡi), Tin Lành (950,00) và gần bằng Do Thái Giáo

(3) Theo thống kê thăm dò dư luận cũa hãng Sofret: Khi được hỏi tôn giáo nào được ông bà ưa thích nhất, 5% trên 2 triệu người Pháp trên 18 tuổi trả lời là Phật Giáo.

(4) Trong quyển Être Bouddhiste en France, nxb Hachette, Paris, 1997 nhiều tác giả, chủ trì bởi Bruna Etienne, Giám Đốc Cơ Quan Quan Sát Các Vấn Đề Tôn Giáo thuộc Viện Nghiên Cứu Chính Trị Đại Học Aix-en-Provence

(5) Luận Án trên đề tài Phật Giáo tại Pháp và tại Âu Châu, sẽ phát hành vào năm 1998.

(6) Ngoài Sokko Gakkai bị xem là một giáo phái từ năm 1984, trong báo cáo đầu tiên trình quốc hội Pháp.

(7) Trong bài ‘Vers une Religiosité Sans Dieu’ (Tiến tới một tôn giáo tính không Thượng Đế) trên báo Le Monde Diplomatique tháng 9 1997 của Florence BEAUGÉ.

 

 

PHẬT GIÁO
TRƯỚC CÁI GỌI LÀ “SỰ TẤN CÔNG CỦA CÁC TÔN GIÁO”

HUYỀN CHÂN

–o0o–

Tôi vừa nhận được quà tặng của Giáo sư Houtart (Đại học Louvain, Bỉ) tờ chuyên san của tạp chí Thế giới ngoại giao, với chủ đề có thể nói là rất trái với tinh thần của Phật giáo truyền thống, đó là “sự tấn công của các tôn giáo”. Có thể vì vậy, mà trong số 27 bài của chuyên san nói trên, chỉ có một bài dành cho Phật giáo, mà lại đăng ở những trang cuối cùng. Tác giả là nhà báo Pháp Alain Renon, không mấy tên tuổi.

Tôi nói, chủ đề của chuyên san Thế giới ngoại giao (Le Monde diplomatique) trái với tinh thần Phật giáo, vì Phật giáo là tôn giáo của hòa bình, nó không tấn công ai cả, nó cũng không chủ trương cải đạo cho ai, mặc dù, cũng theo tác giả Renon, trong bài đã dẫn, gần 90% Phật tử ở Pháp nguyên là tín đồ đạo Thiên Chúa ! Xin nhắc lại đây lời nói thời danh của Đức Phật Thích Ca : “Ta không tranh cãi, ta chỉ thuyết pháp”. Số Phật tử hiện nay trên thế giới, theo số liệu thống kê, tuy rằng không phải là đông nhất thế giới, đứng sau số tín đồ đạo Thiên Chúa và đạo Hồi, nhưng các sử gia tôn giáo đều thừa nhận rằng, lịch sử truyền bá đạo Phật trên thế giới không hề nhuốm máu của chiến tranh, không kèm theo bạo lực. Đạo Phật không chinh phục đất đai, nó chỉ chinh phục trái tim và khối óc con người. Tuy rằng những con số thống kê, được dẫn chứng trong bài mở đầu “Địa lý chính trị của các tôn giáo” (Geopolitique des religions) không phải là đáng tin cậy, nhưng tôi vẫn ghi ra dưới đây, để giúp các bạn đọc Phật tử ở nước ta tham khảo:

Đạo Thiên Chúa với ba dòng lớn là Gia Tô, Chính Thống và Tin Lành, đứng đầu với số tín đồ 1,7 tỷ. Nhưng những nước chiếm số đông tín đồ nhất của đạo Thiên Chúa là các nước Trung, Nam Mỹ và Châu Á tức Mexico, Brazil và Philippines (Châu Á), thay vì các nước Tây Au như Pháp, Ý, Đức vào năm 1939, trước cuộc Thế chiến thứ hai. Như vậy, là vào cuối thế kỷ XX, chúng ta chứng kiến một sự di chuyển địa bàn của đạo Thiên Chúa từ các nước Tây Au sang các nước Trung, Nam Mỹ và châu Á, châu Phi. Hiện nay, Nigeria, một nước châu Phi, chiếm số tín đồ đạo Tin Lành đông vào hàng thứ hai trên thế giới.

Hồi giáo là tôn giáo thế giới có số tín đồ hiện nay lên tới 1,1 tỷ, kể cả hai giáo phái chính là Sunnites và Shiites. Địa bàn của Hồi giáo cũng di chuyển từ các nước Trung Đông sang châu Á. Bốn nước chiếm số đông tín đồ Hồi giáo nhất là Indonesia, Pakistan, An Độ và Bangladesh. Các nước Hồi giáo ở Trung Đông và châu Phi thụt lùi xuống hàng thứ hai. Tôn giáo chiếm số tín đồ vào hàng thứ ba thế giới là An Độ giáo với 800 triệu tín đồ mà 95% sống ở An Độ.

Phật giáo là tôn giáo đứng vào hàng thứ tư thế giới, có 350 triệu tín đồ với ba dòng chính là Phật giáo Đại thừa cũng gọi là Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo Tiểu thừa cũng gọi Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng cũng gọi Lạt ma giáo, 98% số tín đồ Phật giáo sống ở châu Á.

Có lẽ, khác với các tôn giáo khác, đạo Phật không chạy theo con số tín đồ. Và theo đạo Phật, tầm quan trọng của một tôn giáo không nên đo lường qua con số tín đồ. Đạo Do Thái chẳng hạn, hiện chỉ có không đến 14 triệu tín đồ, nghĩa là không bằng 0,5% dân số toàn thế giới, thế nhưng trong thế kỷ XX, dân Do Thái đã đoạt 12,5%, tổng số giải thưởng Nobel của ba ngành y học, sinh học và vật lý học ! Hãy so sánh xem, dân tộc Hán (Trung Hoa) với dân hơn 1 tỷ, chiếm Đ dân số toàn thế giới, cho tới nay đã đoạt bao nhiêu giải Nobel ?

Tôi nói như vậy không phải để chê bai một dân tộc hay một tôn giáo nào hết. Điều tôi mong mỏi là nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ làm cho Trái đất chúng ta “bé nhỏ” hơn, các tôn giáo có điều kiện để gần gũi, tìm hiểu và học hỏi nhau hơn, bất cứ tôn giáo nào dù gọi là lớn, với hàng trăm triệu hay hàng tỷ tín đồ cũng phải bỏ mặc cảm vô lý, mình chứ không phải các tôn giáo khác nắm giữ độc quyền chân lý rồi áp đặt các tôn giáo khác phải theo mình, nếu không thì hưng binh trừng phạt ! Thế thì nhân loại sẽ trở về với những năm đen tối nhất, hãi hùng nhất của các cuộc chiến tranh tôn giáo đã tàn phá châu Au trong các thế kỷ XIII, XIV, và XV ! Ay thế mà những chuyện còn khủng khiếp hơn, mang tính diệt chủng đã diễn ra ở bán đảo Balcan, giữa những người theo Hồi giáo ở Bosnia, những người đi theo Chính Thống giáo ở Serbia và những người theo Thiên Chúa giáo La Mã ở Croatia. Đó là lỗi của các chính trị gia hay là của các nhà lãnh đạo tôn giáo, các chức sắc tôn giáo ? Mà chiến tranh và xung đột tôn giáo đâu chỉ có ở Balcan ?

Ở Kashmia là cuộc xung đột vũ trang kéo dài giữa những người theo Hồi giáo,được Pakistan bênh vực và những người theo An Độ giáo. Ở Kosovo, là mâu thuẫn giữa những người gốc Albania Hồi giáo,và những người Serbia theo Chính Thống giáo, ở Tsesnia (Cộng hoà Liên bang Nga), là cuộc chiến thật sự giữa quân ly khai Hồi giáo và quân đội Nga, đại biểu có ý thức hay không có ý thức cho Chính Thống giáo. Ở Bắc Ai Nhĩ Lan, mâu thuẫn giữa người theo đạo Thiên Chúa giáo La Mã và những người theo đạo Tin Lành, một mối mâu thuẫn tôn giáo xưa hàng nhiều thế kỷ, và thường xuyên bộc phát thành xung đột vũ trang. Ở Afganistan,là cuộc chiến kéo dài giữa nhánh cực đoan của Hồi giáo, đại biểu bởi chính quyền Taleban và nhánh Hồi giáo trung dung, không cấp tiến, ở Nam Sudan là cuộc chiến giữa những người Thiên Chúa giáo và người Hồi giáo. Ở đảo Chypre là mâu thuẫn giữa hai cộng đồng người Thổ Hồi giáo và người Hy Lạp theo Chính Thống giáo v.v…

Liệt kê các điểm nóng tôn giáo như trên đã nhiều rồi, nhưng vẫn chưa đủ, bởi vì chúng ta không thể bỏ qua những cuộc xung đột đẫm máu giữa hai cộng đồng Thiên Chúa giáo và Hồi giáo ở Indonesia, cuộc chiến kéo dài hàng chục năm giữa quân đội giải phóng Moro Hồi giáo và chính phủ Philippines, Chính phủ một nước mà người Thiên Chúa giáo chiếm đa số. An Độ là một nước có tới 800 triệu dân theo An Độ giáo, những người Hồi giáo ở đây tuy chiếm thiểu số, nhưng cũng không dưới con số 70 triệu, thường hay đụng độ với người An giáo, nhất là những người An giáo cực đoan. Sri Lanka là một nước có đa số dân theo Phật giáo, nhưng ở phía Bắc đảo này, có một thiểu số người Tamil, theo An giáo đòi ly khai và gây rất nhiều khó khăn cho Chính phủ Sri Lanka.

Tất nhiên, xen lẫn vấn đề tôn giáo, còn có vấn đề sắc tộc và chính trị – kinh tế. Thế nhưng yếu tố mâu thuẫn tôn giáo vẫn nổi bật, vì nó thường ăn sâu vào truyền thống và tiềm thức của cả một dân tộc. Sai lầm của cái goị là sách lược tiến công của một số tôn giáo, gọi là năng nổ và tích cực chính là ở chỗ đó. Thái độ tấn công và cải đạo dẫn tới phản ứng không phải của một vài cá nhân mà là cả một cộng đồng, cả một dân tộc. Đó là nguyên nhân sâu xa của các cuộc chiến tranh và xung đột tôn giáo, từ xưa đến nay, thậm chí ngày càng gay gắt hơn lên. Vì vậy mà Phật Thích Ca, và sau đó là Hoàng đế Asoka đã khuyến caó các tôn giáo phải tôn trọng và học hỏi lẫn nhau. Không tôn giáo nào, kể cả đạo Phật, được tự đề cao mình như là đại diện độc tôn và duy nhất của Chân lý tối hậu. Bản thân Đức Phật Thích Ca từng ví đạo Phật như cái bè qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng… Hãy biết xả bỏ mọi vướng mắc về nhận thức sai lầm “tôn giáo của ta, dân tộc của ta”. Bởi lẽ, theo đạo Phật, cái ta là không thật có, là ảo tưởng và ảo ảnh. Lẽ nào, những người thông minh, có lý trí, có óc suy xét và phán đoán, lại có thể vì cái ta không thật có, chỉ là ảo ảnh và ảo tưởng mà lại đi bắt giết lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau ?

(Nguyệt san Giác Ngộ số 50 – 05/2000)

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-85_4-8528_5-50_6-1_17-47_14-1_15-1/

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: