Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

2. NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG ĐƯA ĐẾN SỰ SUY THOÁI CỦA KI TÔ GIÁO – Trần Chung Ngọc

2.  NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG ĐƯA ĐẾN SỰ SUY THOÁI CỦA KI TÔ GIÁO

 

    ÂU CHÂU, TRONG NHIỀU THẾ KỶ LÀ CÁI NÔI CỦA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN GIÁO KI TÔ ĐI KHẮP NƠI, NAY CHÍNH NÓ LẠI TRỞ THÀNH NƠI CẦN PHẢI ĐƯỢC TRUYỀN GIÁO.  MỘT SỐ NGƯỜI NÓI RẰNG ĐÂY LÀ MỘT LỤC ĐỊA “HẬU-KITÔ”.

    (Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.)

JULIAN PETTIFER & RICHARD BRADLEY

 

   TRONG MỘT HỘI NGHỊ ĐẶC BIỆT VÀO NĂM 1999, CÁC GIÁM MỤC ÂU CHÂU TUYÊN BỐ RẰNG CÁC DÂN TỘC TRONG TOÀN LỤC ĐỊA ÂU CHÂU ĐẢ QUYẾT ĐỊNH SỐNG “NHƯ LÀ THIÊN CHÚA KHÔNG HỀ HIỆN HỮU.

     (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.)

JOHN CORNWELL

 

 

   Tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ là một tình trạng đã rõ rệt, không ai có thể phủ nhận.  Một vài tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho chúng ta thấy rõ hiện tượng này.  Trong cuốn Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries) của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một chương trình TV  6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể đọc được vài sự kiện như sau:

Trang 242:  Âu châu đã trở thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà nhà thần học Đức Kierkegaard đã gọi là lục địa của những “người ngoại giáo đã được rửa tội”.  Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của chương trình truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó lại đã trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một số người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”.

Theo Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) thì: Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại Thượng đế thì sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu Châu.

Những nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều của chủ nghĩa thế tục.  Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo.

   (Europe had become “an embarrassement to Christianity”, a continent of what the German theologian Kierkegaard called “baptised pagans”.  In short, Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.

   For Floyd McClung: there is a fear that if Europe continues to turn its back on God, the time may come when God will turn His back on Europe.

   The missionaries believe that Europe is in danger of being swamped by a tidal wave of secularism.  They vigorously deny that this is the inevitable and ultimate destiny for all Christian nations..)

 

   Trang 244: Ở Anh Quốc: Tình trạng vô Thượng đế ở Anh được coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị.  Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn còn là những người, nếu không phải là sợ Thượng đế thì ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà thờ… Hình ảnh này đã hoàn toàn thay đổi.  Sự truyền nhiễm đã tràn vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của giáo hội, những giáo xứ  ở miền quê, cũng đã bị nhiễm độc.  Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ.  Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%.

   Các nhà thống kê tranh cãi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào.  Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%.  Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; ¾  có dưới 100 tín đồ..  Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng.  Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn.  Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đã biến những nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái Trưởng Lão Tin Lành (Bresbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên.  Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn.

   Tuy nhiên sự quan tâm về tình trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với Pháp.  Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú,  dân Pháp cũng “không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.”  Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành.  Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật.  Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Ca-Tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo.

   (In Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a contagion confined to the urban working classes.  Although there were notable exceptions, the middle classes remained, if not God- fearing, then at least church-going folk…The picture had completely changed.  The disease had spilled into middle-classes suburbia and even the life-blood of the church, the rural parishes, had been infected.  On census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church.  A century later, in 1951, it was nearer 10%.

   The statisticians quibble about how just low the figures are for practising Christians in Britain.  Some argue that consistent church attendance is as low as 4%.  By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; ¾ had less than 100 members… Churches all over Britain lie abandoned and derelict.  In London particularly, church conversion has become big business.  Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, renamed the Limelight Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; ..In Wales, the Bresbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house.  Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet disount stores and restaurants.

   But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France.  According to the American missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilised natives of one of the world’s darkest continents”.  A mere 0.22% of France’s 54 million population are evangelical Protestants.  Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend church.  Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared France a mission field.)

  

    Ở Mỹ, tình trạng Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, cũng không sáng sủa gì hơn.  Đức tin Ca-tô càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ý nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật.  Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và gốc Phi Châu.  60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất United Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Ca-tô cũng như Tin Lành, được rao bán để người mua muốn sử dụng làm gì thì làm, có nhiều trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa.  Nhiều trường học Ca-tô ở các địa phương đóng cửa vì không có học trò và không đủ tài chánh để tiếp tục hoạt động.  Nhưng các giáo xứ vẫn có tiền bồi thường, thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh mục can tội loạn dâm.

    Năm 1990, linh mục David Rice dòng Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây số) để phỏng vấn và tìm hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:

 

    Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Ca-tô Rô-ma đã bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi.  Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đình – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong.   Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành.

   (100000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than one every two hours.  Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination.  The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation)

 

John Cornwell, một tín đồ Ca Tô và cũng là một chuyên gia về Ca Tô Giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng về Vatican: A Thief in the NightHitler’s Pope, đã viết thêm một tác phẩm về Ca Tô giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Ca Tô  Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism), xuất bản  năm 2001,  trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen Tối Của Ca Tô Giáo (A Catholic Dark Age).  Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình trạng suy thoái trầm trọng của Ca Tô giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp.  Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến  linh mục,  vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, vì người ta không còn chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v..  Tình trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Ca Tô giáo,  thật là thê thảm.  Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục.  Ở Ý, 90% theo Ca Tô giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một nửa.  Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Ca Tô, số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng thời gian.  Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.)   Ở Nam Mỹ, tình trạng cũng không khá hơn.  7000 tín đồ mới có một linh mục.  Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật.  Theo một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng  sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church each year.)

   Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới đã trở thành “vô thần”.  Đây là một hiện tượng bất khả đảo ngược vì nó phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nằm trong luật Tiến Hóa của vũ trụ.

 

   Tình trạng Ki Tô Giáo suy thoái ở Âu Châu là một nghịch lý, vì Ki Tô Giáo vẫn tự nhận là một tôn giáo văn minh tiến bộ nhất, và những xã hội Âu Mỹ hiển nhiên là những xã hội văn minh tiến bộ nhất.  Nghịch lý này cho chúng ta thấy rõ thực chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng.  Nghịch lý trên cũng đưa ra một sự thật: luận điệu của các thừa sai Ca-Tô khi đến nước ta vào những thế kỷ 17- 19, nói là để văn minh hóa những dân tộc mọi rợ, điều mà các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, kể cả những người được gọi là trí thức, vẫn tin là như vậy cho đến ngày nay (Xin đọc Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo: “Ông thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”, hoặc cuốn  “2000 Năm Một Thuở:  Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo” do nhóm Tin Nhà ở Pháp mời gọi một số trí thức Ca Tô viết và xuất bản năm 2000, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, viết ở trang 44: “Ai cũng biết hàng giáo sĩ công giáo là lớp người đi tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm tối lạc hậu”), thật ra chỉ là những luận điệu huênh hoang cuồng tín, mang sự hoang đường mê tín đến đầu độc đám dân chúng cùng đinh đần độn ở Việt Nam, nơi đây các tôn giáo Á Đông thực sự đã vượt xa Ki Tô Giáo về mọi phương diện, điều mà ngày nay thế giới Tây phương đang phải chấp nhận.  Thời gian qua, với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân loại, ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đã bị phơi bầy, và chính ở trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang tuột dốc theo luật đào thải của con người văn minh tiến bộ. 

 

   Tại sao trong những xã hội Âu Mỹ lại xảy ra hiện tượng giải trừ Ki Tô Giáo (de-Christianization) và người dân lại đang từ từ bỏ Ki Tô Giáo?  Chẳng có gì là khó hiểu, vì như là một qui luật thế gian, sự tiến bộ trí thức của con người và đời sống vật chất thoải mái trong những xã hội này tất nhiên phải đưa đến tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo. 

 

  Thật vậy, nữ học giả Ca-tô Joane H. Meehl, người mà sau khi đã thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo hội Ca Tô từ thế kỷ 4 tới nay, đã viết trong cuốn “Người Tín Đồ Ca Tô Tỉnh Ngộ” (The Recovering Catholic), trg. 288, như sau:

 

  “Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt.  Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái” (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant.  It is overcome by education and economic well-being).

 

   Trừ lớp tín đồ thấp kém trong Ca-Tô Giáo Rô-ma vẫn tin rằng mình ở trong một “hội thánh”, “tông truyền”, “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v.., những thuộc tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu Mỹ tiến bộ ngày nay đã nhận ra bộ mặt thật của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Tài liệu về bộ mặt thật này, kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dãy trong các thư viện và tiệm sách lớn và trên Internet.  Giáo hội đã mất đi quyền lực ngăn chận những tác phẩm này như khi xưa giáo hội đã làm.  Dân trí mở mang, sự thật được phơi bày, và giới chăn chiên trong giáo hội chỉ còn có cách khuyên các con chiên không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là “chống Ca-Tô” tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những sự thật lịch sử về Ca-Tô Giáo Rô-ma, những sự thật mà giới chăn chiên không bao giờ muốn cho các con chiên của mình biết đến.

    Nhưng tiến hóa là một định luật thiên nhiên, cho nên không có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được những bước tiến trí thức của nhân loại.  Do đó sự tiến bộ trí thức của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo Rô Ma nói riêng, bởi vì căn bản tín ngưỡng Ki Tô Giáo đã không còn chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su, về các tín điều hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và trước những thành quả của khoa học ngày nay về nguồn gốc con người và vũ trụ.  Sau đây chúng ta hãy duyệt qua vài tài liệu về sự thức tỉnh của thế giới Tây phương về chính tôn giáo truyền thống của Tây phương, nghĩa là Ki Tô Giáo.

    Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy thật ra sự thức tỉnh của Tây phương không phải trong thời đại này mới xảy ra mà đã bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người ít ra là từ cuộc Cách Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, từ Thời Đại Lý Trí  (The Age of Reason) vào thế kỷ 18, Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment) vào thế kỷ 19, và Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis) vào thế kỷ 20.  Những thời đại này đã kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà sự thống trị của Ca-Tô Giáo Rô-ma đã đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ (The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages), hay Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The ages of barbarism and intellectual darkness).

   Những thời đại bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người đã từ từ văn minh hóa Ca-Tô Giáo Rô-ma, hay nói đúng hơn, theo John E. Remsburg, đã tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Ca-Tô Giáo Rô-ma những bó củi để thiêu sống người và những thanh gươm để giết người.  Mặt khác, sau khi Martin Luther ly khai với giáo hội Ca-Tô vào đầu thế kỷ 16, không công nhận chế độ giáo hoàng, để lập ra hệ phái Ki-Tô Phản Đối (Protestantism) mà chúng ta thường biết dưới cưỡng từ Tin Lành, thì Thánh Kinh bắt đầu được dịch ra những tiếng địa phương, và cũng bắt đầu từ đó, những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và về nhân vật Giê-su trong Thánh Kinh phát triển.  Kết quả của những công cuộc nghiên cứu này là người ta khám phá ra rằng, Thánh Kinh không phải là những lời mạc khải của Thiên Chúa như giáo hội thường dạy cho các tín đồ, mà chứa rất nhiều sai lầm, mâu thuẫn, về thần học cũng như khoa học.  Ngoài ra, những công cuộc khảo cứu này cũng đưa ra hình ảnh của một Giê-su lịch sử khác hẳn với vai trò thần linh có khả năng cứu rỗi mà giáo hội Ca-Tô đã tạo dựng lên.  Và cũng từ đây, những tín lý, tín điều, cũng như những cái mà giáo hội Ca-Tô gọi là “bí tích” đã không còn chỗ đứng trong những xã hội Tây phương, ít ra là trong giới thức giả hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội.  Sau đây chúng ta sẽ duyệt qua vài tài liệu điển hình, kết quả của những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh cũng như về nhân vật Giê-su.

 

   Russell Shorto, người đã tổng duyệt những công cuộc nghiên cứu về Giê-su trong 200 năm nay, đã viết như sau trong cuốn Sự Thực Trong Phúc Âm (Gospel Truth):

     Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ  là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng (tự cho mình là Con Thiên Chúa và tin rằng Nước Trời sắp đến. TCN) – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

   (Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

 

   Giáo hội Ca-Tô Rô-ma rất hãnh diện về tôn giáo của mình vì có nhiều tín đồ nhất.  Lẽ dĩ nhiên, đây cũng là tôn giáo trên thế gian có nhiều tín đồ bình thường vẫn còn sống trong bóng tối nhiều nhất.  Sự thành công và sức mạnh của Giáo hội Ca-Tô hoàn vũ là ở điểm này.  Đó là sự thành công của một tổ chức tạo sức mạnh trên lớp người không bao giờ cần đến cái khả năng quý báu nhất của con người là lý trí, kiến thức, và óc suy luận.

   Nhưng đối với giới thức giả Tây phương ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô thì vấn đề có khác.  Trong cuốn “Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh” (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio,  nhận định rằng:

    Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích  Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được.  Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa,  và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

   Trong những năm 1835-1836, cuốn “Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su” (The Life of Jesus Critically Examined)  của  D.  F.  Strauss  đã  quy  một số  chuyện trong Tân Ước là “huyền thoại” và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo.  Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và  xác nhận sự khẳng định này.  Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy tín lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

   1.   Đức Mẹ đồng trinh

   2.   Hiện thân của Chúa  (Thượng  đế  hiện  thân thành

         người, nghĩa là, Thượng đế là Giê su.) 

   3.   Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa

   4.   Sự sống lại của Chúa.

   5.  Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

   6.  Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người  chết  cho ngày phán xét cuối cùng)

   7.  Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha  phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

   (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur.  In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as “myth” and defined those  unhistorical   elements  as expressing a series of religious ideas.  Today,  analytical studies continue to support and confirm this assertion.  The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

 1.  The virgin birth

 2.   The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

 3.  The work of Atonement (plan for salvation)

 4.  The resurrection

 5.  The ascension (Jesus’ bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

 6.  The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)     

 7.  The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ’s Second Coming)

 

    Chúng ta nên để ý là trên đây Mục sư Ernie Bringas chỉ trình bày quan điểm của giới trí thức học giả về Ki Tô Giáo.  Điều này không áp dụng cho số tín đồ đông đảo, Ca-Tô cũng như  Tin Lành, còn sống trong bóng tối.  Điều này cũng đã chứng tỏ rằng nền tảng tín ngưỡng của Ki Tô Giáo nói chung đã không còn hấp dẫn trong thế giới Tây phương, thế giới của khoa học, của suy lý.

   Chúng ta cũng nên biết rằng, bảy tín lý mà Mục sư Ernie Bringas nêu lên ở trên là dựa vào, theo các giáo hội Ki Tô, những lời mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh, hoặc do giáo hội Ca-Tô đưa ra.  Do đó, chúng ta có thể suy ra rằng, không có cái gì gọi là mạc khải ở trong Thánh Kinh, những chuyện trong Thánh Kinh hầu hết thuộc loại huyền thoại, bắt nguồn từ lịch sử và ước vọng của dân Do Thái cổ xưa, và những tín lý mà giáo hội Ca-Tô đưa ra bắt tín đồ phải tin chẳng qua chỉ là học thuật Ca-Tô nhằm mục đích nô lệ hóa đầu óc tín đồ cùng tạo quyền lực cho giới giáo sĩ.  Thật vậy,  niềm tin cốt tủy của Ki Tô Giáo về huyền thoại con người sa ngã (ăn trái cấm), bị Thượng đế phạt, cho nên cần đến sự cứu chuộc của Giê-su, người con trai duy nhất của Thiên Chúa (God’s only son) được phái xuống trần để hi sinh (sic) chết giả vờ trên cái giá hình chữ thập từ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật, chuộc tội cho nhân loại (Thiên Chúa toàn năng toàn trí không có cách nào khác hay sao?  TCN), nay đã trở thành chuyện khiến cho người có đầu óc bưng miệng cười, thuộc loại mê tín và vô nghĩa như Giám Mục John Shelby Spong đã nhận định ở trên: “..một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin.” (A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

    Nếu những huyền thoại về Chúa Con (Giê-su) nay đã không còn chỗ đứng trong giới hiểu biết thì vai trò của Chúa Cha (God) ra sao?  Trong cuốn Những Phê Bình về Thiên Chúa (Critiques of God), biên tập bởi Peter A. Angeles, trong đó có 16 tác giả phê bình về mọi lý luận thần học của Ki Tô Giáo, trang xiii, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây:

     Những niềm tin vào những đấng siêu nhiên đã biến khỏi nền văn hóa của chúng ta.  Bất cứ sự sùng tín đại cương nào về Thiên Chúa cũng đang trở thành mờ nhạt trong nền văn hóa của chúng ta.  Thiên Chúa đã mất đi trụ xứ trong không gian như là một nước trên Thiên đàng.  Ông ta cũng mất đi chỗ đứng trong vũ trụ như là đấng đã sáng tạo ra nó từ hư vô.  Không phải là Thiên Chúa bị đẩy ra một vùng xa lắc xa lơ.  Không phải vì ông ta trở thành một trừu tượng vô thân thể (phi Nam phi Nữ).  Mà vì chúng ta nhận thức ra rằng chẳng làm gì có Thiên Chúa để mà nói tới.

   (Beliefs in supernatural beings have vanished from our culture.  Any general serious belief in God is fading in our culture.  God has lost his spatial location as a monarch in heaven.  He has lost his temporal precedence to the universe as its Creator ex nihilo.  It is not God is being relegated to a remote region.  It is not that God has become a bodiless abstraction (a sexist It).  It is the realization that there is no God to which to relate.)

 

   Trên đây chỉ là vài quan niệm điển hình về tín ngưỡng Ki Tô Giáo trong thế giới Tây phương ngày nay.  Chúng ta còn biết, trong Ca-tô giáo Rô Ma, ngoài những niềm tin bắt nguồn từ Thánh Kinh mà giáo hội bắt buộc các tín đồ phải tin, các tín đồ còn bắt buộc phải tin những điều “giáo hội dạy rằng…”, những điều được đặt ra mà không hề có trong Thánh Kinh với mục đích tạo quyền lực trên đám tín đồ thấp kém.  Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope’s Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

    Tín đồ Ca-Tô phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Ca-Tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. Vì Truyền Thống Ca-Tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

   (A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)

 

   Tại sao giáo hội lại dạy tín đồ phải tin như vậy mà không được quyền thắc mắc?  Vì theo “lý luận” thần học của giáo hội thì: “Chúa Cha không do tạo sinh, Chúa Con không do tạo sinh, Thánh Ma (còn được gọi là Chúa Thánh Thần. TCN) không do tạo sinh.  Chúa Cha không thể hiểu được, Chúa Con không thể hiểu được, Thánh Ma không thể hiểu được.” (The Father is uncreated, The Son uncreated, The Holy Ghost uncreated.  The Father incomprehensible, The Son incomprehensible, The Holy Ghost incomprehensible).  Phê bình lời dạy trên của giáo hội, cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã châm biếm: “Và đó là tất cả lý lẽ mà chúng ta biết quá nhiều về Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Ma.” (And that is the reason we know so much about The Father, The Son, and The Holy Ghost) hàm ý tất cả những điều giáo hội dạy về Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Ma hoàn toàn mâu thuẫn với chính những khẳng định của giáo hội, và thực chất chỉ là những luận điệu lừa dối của giáo hội.  Bởi vì, nếu Chúa Ba Ngôi không thể hiểu được, thì bằng cách nào mà giáo hội dạy tín đồ là ý Chúa thế này, ý Chúa thế nọ?  Phải chăng chỉ có giới chăn chiên mới hiểu ý Chúa?  Làm sao mà mấy ông giám mục Việt Nam lại can ngăn tín đồ không được nói động đến mấy ông linh mục vô đạo đức, làm bậy, với luận điệu “Các con đừng có nói hành các cha mà mang tội với Chúa” hàm ý là Chúa không muốn cho tín đồ nói động đến các linh mục vì “cha cũng như Chúa”?  Nhưng ở Mỹ thì con chiên không những “nói hành các cha” mà còn đưa các “cha” ra tòa để cho các “cha” vào ngồi tù vì can tội cưỡng dâm trẻ phụ tế và nữ tín đồ.  Chắc chắn là họ không sợ cái luận điệu “mang tội với Chúa” của hàng giám mục Việt Nam lừa bịp đám con chiên ngu dốt.  Tại sao giáo hội Ca-Tô tại Việt Nam còn có những ông giám mục đe dọa con chiên bằng những luận điệu “ngu dân dễ trị” rất hoang đường như trên?

 

   Ngày nay, giới trí thức Tây phương đánh giá những điều “Giáo hội dạy rằng…” ra sao?  Giáo hội dạy tín đồ tin nhiều thứ lắm, nhưng điển hình là tin vào sự ứng nghiệm của những lễ tiết giáo hội bày đặt ra nhưng không thể giải thích được mà giáo hội gọi là “bí tích”, tín điều “Giáo hoàng bất khả ngộ” nghĩa là giáo hoàng không thể sai lầm khi tuyên bố về đạo đức và giáo lý, và quyền của giáo hoàng và các giới chức cao cấp trong giáo hội “tuyệt thông” hay là “Dứt phép thông công” tín đồ, nghĩa là không cho phép tín đồ hưởng các “bí tích” của giáo hội, một trong những “bí tích” này là được ăn…bánh thánh và  uống… rượu thánh, nghĩa là ăn thịt và uống máu Chúa Giê-su để hiệp thông với Chúa Giê-su.  Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, chương III, tôi đã luận về 7 “bí tích” của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Phần này cũng đã được đưa lên trang nhà Giao Điểm www.giaodiem.com .  Chúng ta hãy thử xét quyền “tuyệt thông” của giáo hội.

 

   Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, “tuyệt thông” hay “dứt phép thông công” là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi con nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay “Tòa Thánh”.  Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc.  Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của “tuyệt thông” như sau, trang 39-40:

 

   Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.

…Tuyệt thông,  trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng  đế .  Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô.  Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

   Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục.  Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận.  Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.

   (I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

…Excommunication had for centuries been authority’s way of playing God.  It was the inhuman and unchristian denial of man’s freedom of conscience.  But most of all it had been a deeply frigtened authority’s frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love.  Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity.  Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat.  They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman’s relationship with God, but incredulously they still exist.)

 

   Bàn về các “bí tích” trong Ki Tô Giáo, Tin Lành có 2, Ca-Tô có 7, trong cuốn Thoát Ly Khỏi Thiên Chúa: Lấy Lại Khả Năng Tìm Hiểu (Freedom From God: Restoring The Sense of Wonder, Almador Pub., 2001), Mục sư  Harry Willson viết, trang 55:

    “Trong đầu óc của rất nhiều người biết suy tư, lương thiện và có thiện chí, Ki Tô Giáo đã trở thành không còn thích hợp, vì nó đòi hỏi con người dự phần quá nhiều vào những điều vô nghĩa.” [có nghĩa là những bí tích]

   (Christianity has become irrelevant, in the minds of so many thoughtful persons of good will and honesty, because it requires so much participation in nonsense.)

 và đưa ra nhận định, trang 59:

 

   “Bất cứ khi nào, một người nào đó tự nhận mình là đại diện của Thiên Chúa trên trái đất, hay “đại diện của Chúa Ki Tô trên trái đất” (điều mà các giáo hoàng vẫn tự nhận. TCN), hay bất cứ điều nào như vậy,  là hắn ta đòi hỏi thế giới phải tin vào điều vô nghĩa.  Thật là kinh hoàng khi vẫn có nhiều triệu người tin như vậy.”

   (Whenever someone claims to be the representative of God on earth, or “the vicar of Christ on earth”, or any such thing, he is asking the world to believe in nonsense.  It is alarming how many millions still believe it.)

 

   Harry Willson viết cuốn sách trên để khuyến khích tín đồ hãy theo gương ông, cất cái gánh nặng Thiên Chúa ra khỏi vai họ (Get God off your back).  Ông coi đó là một sự giải phóng:

 

   Hãy nghĩ về hình ảnh Thượng đế đi vào một hố đen của thập niên 60 với “Thượng đế đã chết”.  Đừng kể đến phái bảo thủ Ki Tô vì trong đó không có sự suy tư.  Đây là một cuốn sách đi vào qua cái hố đen ấy và đi ra ngoài đầu kia – đến sự giải phóng.  Sự thách đố này là để cho những con người biết đọc và thích suy nghĩ, và còn có thể có khả năng thắc mắc, tìm hiểu.  Không khí trong lành đó thật là kỳ diệu.

   Các bạn cũng có thể được tự do.  Các bạn có thể bác bỏ cái quyền năng (của Thượng đế) đó, và gỡ bỏ những ngón tay đang bóp nghẹt yết hầu của các bạn. Để cho các bạn có thể thở!

   (Thinking about God went into a black hole in the sixties with “God is dead”.  Fundamentalism doesn’t count, because there’s no thinking there.  Here’s a book that goes all the way to that black hole and comes out the far end – into liberation.  This challenge is for persons who can read and like to think, and can still sense wonder.  The fresh air is wonderful.

   You, too, can be free! You can repudiate that authority, and remove those fingers at your throat.  You can breathe!)

 

   Sự thức tỉnh của Tây phương không chỉ thuần túy là vì những giá trị tín ngưỡng Tây phương nay đã sụp đổ mà còn vì một khía cạnh khác không kém phần quan trọng.  Đó là cái lịch sử tàn bạo của Ki Tô Giáo và vấn đề đạo đức trong giới lãnh đạo Ki Tô Giáo.  Ngày nay, các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đã khám phá ra rằng lịch sử và đạo đức Ki Tô Giáo còn cái mặt đen tối, và nếu đặt lên cán cân thì mặt này sẽ nặng trĩu trên cán cân.  Thật vậy, chính giáo hoàng John Paul II của Ca Tô Giáo Rô Ma đã đưa ra những lời thú nhận như sau:

 

Năm 1994: Trong một mật thư gửi cho các hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ý, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: “Làm sao mà chúng ta có thể tiếp tục yên lặng trước nhiều hình thức bạo tàn mà giáo hội đã phạm phải nhân danh đức tin – chiến tranh tôn giáo, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và những hình thức vi phạm nhân quyền khác?” (Chicago Tribune, June 5, 1995: In a 1994 confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press, Pope John Paul II asked: “How can one remain silent about the many forms of violence perpetrated in the name of faith – wars of religion, tribunals of the Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?”)

 

 Năm 1995:  Giáo hoàng John Paul II thúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hãy nắm lấy cơ hội “đặc biệt thuận lợi” của một thiên niên kỷ mới để ghi nhận “cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Ca-tô)” (Ibid.,: Pope John Paul II had urged the Roman Catholic Church to seize the “particularly propitious” occasion of the new millennium to recognize “the dark side of its history”).

  Năm 2000:  Tại thánh đường Phê-rô, Vatican, ngày 12 tháng 3, Giáo Hoàng cùng một số hồng y, tổng giám mục đã chính thức xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội Ca-tô Rô-ma đối với  nhân loại và xin được tha thứ.

    Cái mặt đen tối của lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-ma là như thế nào?  Đề tài này không thuộc nội dung bài viết về sách lược cải đạo Á Châu của Vatican.  Tuy nhiên, chúng ta cũng nên biết cái  mặt đen tối này một  cách đại cương qua những tác phẩm nghiên cứu sau đây:

  Năm 1988: Peter de Rosa, một linh mục dòng Tên (a Jesuit), giáo sư về Siêu Hình Học và Đạo Đức tại trường Dòng Westminster, khoa trưởng khoa Thần học tại đại học Corpus Christi ở Luân Đôn (Professor of Metaphysics and Ethics at Westminster Seminary and Dean of Theology at Corpus Christi College in London) xuất bản cuốn Những Đại Diện của Chúa Ki-Tô:  Cái Mặt Đen Tối Của Những Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) trong đó tác giả vạch trần sự đồi bại và những tội ác đã ngự trị trong nhiều triều chính giáo hoàng như đồi bại, ngụy tạo tài liệu, loạn dâm, giết người, theo đuổi chính sách diệt chủng v..v.. (corruption, document-forgery, sex scandal, murder, genocide).  Tác giả đã mở toang những cánh cửa kính màu (thường là mẫu mực trong các nhà thờ ở Tây phương, nhất là Thánh đường Phê-rô ở Vatican. TCN) và để lộ ra những giáo điều của Giáo hội thường là “…hình thành bởi những ham muốn đồi bại, độc tài và cuồng tín của những giáo hoàng (Peter de Rosa opens the stained glass window and reveals that the Church’s teachings were too often “..shaped by the whims of corrupt, despotic and fanatical popes”).  Cuốn sách đã được nhiều tín đồ Ca-tô đánh giá cao vì tính chất lương thiện và nghiêm túc  của nó (The book was appreciated for its honesty and seriousness by many Catholics).

 

  Năm 1995: Helen Ellerbe cho ra đời cuốn “Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo” (The Dark Side of Christian History).  Chúng ta có thể đọc những lời tóm tắt sau đây nơi trang bìa sau: “Trong khoảng thời gian gần 2000 năm, giáo hội Ki-Tô đã đàn áp và bạo hành nhiều triệu người trong toan tính kiểm soát và ngăn chận vấn đề tâm linh của con người.  Cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo phanh phui với  chi tiết tỉ mỉ những thảm họa, đau khổ và bất công mà giáo hội đã giáng lên nhân loại.  Tác phẩm vạch trần sự thật này là một đòi hỏi hấp dẫn và nồng nhiệt cho nhân phẩm và sự tự do trong vấn đề tâm linh” (Over a period of almost two millennia, the Christian Church has oppressed and brutalized millions of individuals in an attempt to control and contain spirituality.  The Dark Side of Christian History reveals in painstaking detail the tragedies, sorrows and injustices inflicted upon humanity by the Church.  This exposé is a compelling and passionate cry for human dignity and spiritual freedom).

 

 Năm 1999: Douglas Lockhart xuất bản tác phẩm Cái Mặt Đen Tối Của Thiên Chúa (The Dark Side of God) với lời giới thiệu như sau: “Giáo hội Ki-tô (Ca-tô) tự nhận là thừa hưởng  trực tiếp từ Giê-su quyền năng tinh thần như được viết trong Phúc Âm.  Nhưng thực ra có phải là một sự chuyển giao quyền lực một cách êm ả từ  Giê-su cho Phê-rô và từ Phê-rô cho Giáo hội hay không?  Hay đó chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, ngụy tạo, và lừa dối lâu dài đã che đậy bản chất thực sự của các biến cố.  Cuốn sách mới, có tác dụng làm cho chúng ta suy nghĩ, về nguồn gốc Ki Tô Giáo, đưa ra một họa đồ  về sự theo đuổi quyền lực không ngừng của Giáo hội , từ lúc đầu cho đến ngày nay.  Trong  sự phân tích hấp dẫn và thường gây ngỡ ngàng về niềm tin trong Ki Tô Giáo, cuốn sách này khảo sát từ đâu mà Giê-su, người xứ Nazareth, đã được thổi phồng lên quá mức hoàn toàn xa với thực tế thường ngày.”

   (The Christian Church claims to inherit its spiritual authority directly from Jesus through the teaching of the gospels.  But was there really a smooth transfer of power from Jesus to Peter and thence to the Church?  Or has a long-term campaign of propaganda, forgery and deception concealed the true nature of events?  This thought-provoking new book on the origins of Christianity charts the Church’s relentless pursuit of power, from its beginnings to the present day.  In a compelling and often disturbing analysis of Christian belief, it examines how Jesus the Nazarene was inflated into a figure of cosmic proportions far-removed from everyday reality…)

    Về vấn đề đạo đức tôn giáo thì chúng ta đã thấy đạo đức của người chủ chăn Ca-Tô, giáo hoàng John Paul II, là như thế nào.  Cánh tay phải của ông, Hồng Y Ratzinger, cầm đầu Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, đã lên tiếng phê bình Phật Giáo một cách vô giáo dục như sau “Buddhism is a sort of autoeroticism”.  Còn giới hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục thì ô hô, một số không nhỏ chỉ còn nước lấy mo che mặt vì những xì-căng-đan trên khắp thế giới:

 

   Sau đây là vài chuyện điển hình:

 

   Có lẽ chúng ta chưa quên rằng, mới tháng 3 năm ngoái, 2001, báo chí thế giới đã phanh phui ra những vụ “Cha cũng như Chúa” cưỡng hiếp một số “sơ” trong 27 quốc gia kể cả ở Mỹ, Ý, Ái Nhĩ Lan, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Ba Tây v..v.. và cưỡng bách họ vào các nhà thương Ca Tô để phá thai khi họ mang thai.  Tòa Thánh đã phải lên tiếng thú nhận có vấn đề ô nhục này nhưng vẫn lừa dối quần chúng với luận điệu: “Chuyện chỉ xảy ra trong một vùng địa dư mà thôi”.  Tờ Orange County Register ngày 31 tháng 3, 2001 có bài của Chris Hedoes thuộc New York Times trong đó có vài chi tiết như sau: Ở Malawi, trong một giáo xứ có tới 29 “sơ” bị các ông linh mục làm cho mang thai.  Khi bà sơ bề trên than phiền với ông Tổng Giám Mục thì bà ta và các “sơ” mang bầu bị đổi đi nơi khác.  (..In Malawi, where 29 sisters in a single congregation “became pregnant by priests in the diocese”.  When the sisters’ superior general complained to the archbishop, she and the sisters were replaced.); “..linh mục khuyên các “sơ” nên uống thuốc ngừa thai, nói dối họ là để đề phòng sự truyền nhiễm của bệnh AIDS” (..priest “recommending that sisters take a contraceptive, misleading them that the pill will prevent transmission of HIV).  Chúng ta cũng nên nhớ rằng, giáo hoàng John Paul II vẫn tuyệt đối cấm tín đồ không được dùng thuốc ngừa thai.  Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng Vatican có cổ phần trong một công ty chế tạo thuốc ngừa thai, phải chăng chỉ để riêng cho các “sơ” dùng theo sự khuyên bảo của linh mục bề trên.

    Và gần đây là vấn đề tai tiếng sôi nổi thế giới của giáo hội Ca-tô, một vấn đề đã kéo dài liên tục ngày này sang ngày khác suốt từ tháng 1, 2002 cho đến ngày nay: vấn đề loạn dâm của một số không nhỏ các vị “lãnh đạo tinh thần” con chiên, từ hồng y trở xuống, và những biện pháp che dấu của giáo hội. 

   Vấn đề loạn dâm trong giới hàng giáo phẩm Ca-tô đã nổ ra ở Boston vào đầu năm 2002, nhưng không phải đến bây giờ, 2002, mới nổ ra.  Nó đã bị phanh phui từ trên dưới 20 năm nay ở Mỹ, và nhiều cuốn sách viết về vấn đề này đã được xuất bản.  Chúng ta có thể kể tên vài cuốn điển hình: Betrayal of Trust: Clergy Abuse of Children của Annie Laurie Gaylor, 1988; Unholy Orders: Tragedy at Mount Cashel của Michael Harris, 1990; Lead Us Not To Temptation: Catholic Priests  and the Sexual Abuse of Children của Jason Berry, 1992; A Gospel of Shame: Children, Sexual Abuse, and the Catholic Church của Elinor Burkett & Frank Bruni, 1993; Sex, Priests, and Power: An Anatomy of a Crisis của A.W. Richard Sipe, 1995; và Pedophiles and Priests: Anatomy of a Contemporary Crisis của Philip Jenkins, 1996, ngoài những bài viết về vấn đề này trên các Nhật Báo hay Tuần Báo, và tin tức trên TV.

 

   Đây là một vấn đề ô nhục rất nghiêm trọng đã xảy ra trong cái gọi là “hội Thánh” và đã làm giảm uy tín của Giáo hội và niềm tin của tín đồ không ít, và nhất là, đã dìm Giê-su xuống bùn đen. Tại sao?  Vì trong nhiều trường hợp, các linh mục, giám mục đã mang Chúa ra làm bung xung để thỏa mãn dục tính của mình như dọa nạn nhân nếu không chiều ý “Cha cũng như Chúa” thì sẽ bị Chúa đầy hỏa ngục, hoặc “Chúa muốn như vậy để “Cha cũng như Chúa” biết được sự đời” v..v..  Giám mục ở Việt Nam cũng răn đe con chiên: “Đừng nói hành các cha mà mang tội với Chúa”.  Đó là thực chất Chúa Giê-su, một ông ngoáo ộp của hàng chăn chiên để hù doạ những kẻ vô não. 

   Vấn đề ô nhục này đã đưa đến việc hồng y Bernard Law ở Boston phải từ chức.  Hồng y Law và một số giám mục ở Boston còn bị truy tố ra tòa về tội trong nhiều năm đã bao che các linh mục loạn dâm theo như chính tài liệu trong hồ sơ của giáo hội mới bị phanh phui đã chứng tỏ.  Tờ Newsweek số ngày 6 tháng 1, 2003 thông tin:  giáo dân ngày nay đã tổ chức để cất lên tiếng nói của giáo dân, không còn chấp nhận kiểu mẫu cổ xưa: “đóng tiền, cầu nguyện, và tuân phục” của giáo hội nữa. (Voice of the faithful: they will no longer accept the old model of “pay, pray and obey” of the church.)

 

   Lẽ dĩ nhiên, giới tín đồ thấp kém thường rất ít đọc sách báo và những người trong hàng giáo phẩm của “hội Thánh” dù có biết cũng chẳng bao giờ nói ra cho nên đa số vẫn mù tịt và tin tưởng rằng “hội Thánh” của họ đích thực là một “hội Thánh”, và các hồng y, giám mục, linh mục, những người giữ vai trò của Chúa trên trần, tất nhiên phải là những người đạo đức nhất trần gian, đáng kính phục nhất, như ông Đỗ Mạnh Tri đã trơ trẽn ca tụng một cách vô liêm sỉ trong cuốn “2000 Năm Một Thuở….”, trang 176:

 

   “Nói gì thì nói, trên bình diện luân lý, trong lịch sử giáo hội chưa có thời nào giáo sĩ, tu sĩ và giáo phẩm đáng kính phục như ngày nay.”

 

   Về giới nữ tu sĩ Ca-Tô, các “sơ”, hình ảnh cũng không mấy sáng sủa vì một số xì-căng-đan xảy ra trên thế giới liên hệ đến một số cơ sở “từ thiện” và nữ tu viện đã vang dội trên thế giới.  Một số xì-căng-đan điển hình nói lên đạo đức tôn giáo của một số nữ tu Ca Tô sẽ được trình bày trong Phần II.

   Chúng ta thấy rằng, từ những công cuộc nghiên cứu mới nhất về Thánh Kinh, về nhân vật Giê-su, về Ki Tô Giáo nói chung, và nhất là từ những sự tiến bộ của khoa học, giới thức giả Tây phương đã thức tỉnh và nhận ra rằng, từ thế hệ này qua thế hệ khác, trải qua 2000 năm lịch sử, từ khi Giê-su sinh ra đời, con người Tây phương đã bị lùa vào một đức tin thuộc loại mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.  Hơn nữa, khoan kể đến cái mặt đen tối của Ki Tô Giáo nói chung, trước những cảnh chiến tranh triền miên, thiên tai, bệnh tật, cảnh khổ, cảnh chết đói ở những nước kém mở mang ở Phi Châu, bất cứ người nào còn có đầu óc suy tư  đều không còn có thể chấp nhận luận điệu thần học về một Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những thuộc tính của Thiên Chúa như : “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian…”, “Giê-su yêu tất cả mọi người”, “Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui tình thương, tin vui tự do…” v..v..  Chỉ có những đầu óc trong đó có một khuyết tật hay một điểm mù tôn giáo mới có thể còn tin như vậy.

   Tuy rằng thế lực xoay sở trong hậu trường (lobbying power) của Ki Tô Giáo vẫn còn rất mạnh nhưng chúng ta có thể nói, những xã hội Âu Mỹ ngày nay là những xã hội thế tục (secular societies).  Trong những xã hội này, Thượng đế (God) chỉ đóng một vai trò truyền thống bên ngoài, được những chính trị gia và những nhà lãnh đạo Ki Tô Giáo sử dụng buôn bán trên con đường truy cầu quyền lực thế tục cũng như tiền tài vật chất.  Diễn văn của các chính trị gia Mỹ ra tranh cử không thể thiếu câu kết “God Bless America”.  Những nhà truyền giáo trên TV đã kiếm được nhiều triệu Mỹ kim và sống một cuộc đời xa hoa, vô đạo đức tôn giáo, vì đây là một dịch vụ hái ra tiền  do sự khai thác trình độ thấp kém và lòng mê tín của con người.

   Tất nhiên, khi đã mất niềm tin, về nền tảng tín ngưỡng cũng như về thực chất hành trì của các giáo hội Ki Tô, con người Tây phương cần phải đi tìm một cái gì khác để bù đắp vào nhu cầu tâm linh của mình.  Tất cả những tôn giáo độc thần khác như Hồi Giáo, Do Thái Giáo, bản chất đều như nhau, không thể thỏa mãn nhu cầu tâm linh thích hợp với thời đại này của người Tây phương.  Do đó, Tây phương đã phải đi tìm sự uyên thâm về tư tưởng ở Đông phương.  Đông phương có Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, và Ấn Độ Giáo.  Ấn Độ Giáo thờ nhiều thần, không thích hợp với người Tây phương.  Khổng giáo là những triết lý về xã hội và có những điều nay không còn hợp thời.  Lão giáo thì thoát tục, xa lìa trần thế.  Chỉ còn có Phật Giáo, vừa là một tôn giáo nhân chủ và nhân bản, vừa là một hệ thống triết lý thực dụng chẳng bao giờ lỗi thời, vừa có tinh thần khoa học, cho nên có thể nói là thích hợp với con người Tây phương nhất.  Một cuốn sách xuất bản mới đây nhất của Vicky MacKenzies đã chứng minh sự kiện này.  Cuốn sách có tên là Tại Sao Lại Là Phật Giáo? Người Tây Phương Đi Tìm Kiếm Sự Uyên Thâm Của Trí Tuệ  (Why Buddhism?   Westerners In Search Of  Wisdom), nxb Thonsons, Anh quốc, và đề năm xuất bản là 2003.

 

Sự phát triển của Phật Giáo trong thế giới Tây phương có nhiều nguyên nhân, nhưng tất cả có thể thu về một mối.  Đó là: nhân loại đã nằm trong một quá trình tiến hóa liên tục, một quá trình thiên nhiên trong vũ trụ, không một thế lực nào có thể ngăn chận được.  Sự tiến hóa về mọi mặt của con người, nhất là về mặt trí tuệ, tất nhiên đưa đến sự thoái hóa của những quan niệm, lý thuyết và cả những niềm tin tôn giáo đã lỗi thời trong xã hội loài người.  Do đó, chúng ta có thể nói rằng, ở Âu Mỹ, sự phát triển của Phật Giáo, một tôn giáo Đông phương đã ra đời trước tôn giáo Tây phương hơn 500 năm, thì đi song song với sự suy thoái của tôn giáo Tây phương.  Chúng ta nên hiểu rằng, sự suy thoái của tôn giáo Tây phương tuyệt đối không phải vì sự “xâm lấn” (sic) của Phật Giáo để cướp đi tín đồ của các tôn giáo Tây phương, vì lịch sử Phật Giáo trải dài hơn 2500 năm nay đã chứng tỏ rằng, Phật Giáo chưa bao giờ làm đổ một giọt máu hay cưỡng bách bất cứ ai trong quá trình truyền đạo.  Sự suy thoái của tôn giáo Tây phương là điều tất nhiên phải xảy ra khi mà người Tây phương, trước những bằng chứng bất khả phủ bác trong khoa học về nguồn gốc vũ trụ và loài người (thuyết Big Bang và thuyết Tiến Hóa), đã thức tỉnh, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết, để nhận ra sự thực về tôn giáo truyền thống của mình, và cùng lúc nhận ra được chân giá trị của Phật Giáo.  Đây là một điểm rất đặc biệt mà chúng ta cần ghi nhận, vì nếu Phật Giáo không có chân giá trị thì không thể nào đi vào thế giới Tây phương, nơi đây sự tiến bộ trí thức đã tạo nên truyền thống đặt nặng tinh thần khoa học, thực dụng, lôgic, và quyền được thắc mắc, nghi ngờ và chất vấn, một truyền thống không xa lạ gì với Phật Giáo. 

   Nhưng đây cũng là một mối lo chính của Ki Tô Giáo.  Cũng vì vậy mà Ca-Tô giáo cũng như Tin Lành đều tung ra sách lược phá ngầm Phật Giáo bằng những thủ đoạn vô đạo đức tôn giáo, thiếu lương thiện trí thức v…v… như chúng ta sẽ bàn đến trong phần sau.

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: