Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“CỦA GH JOHN PAUL II – Trần Chung Ngọc

3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“
                 CỦA GH JOHN PAUL II

 

 BẢN TÔNG HUẤN LÀ MỘT LỜI TUYÊN CHIẾN CHỐNG NỀN VĂN HÓA Á ĐÔNG, CÁC TÔN GIÁO Á ĐÔNG, VÀ XÃ HỘI Á ĐÔNG NÓI CHUNG, ẤN ĐỘ GIÁO NÓI RIÊNG.

   (“Ecclesia in Asia” is a Declaration of War against Asian culture, Asian religions, and Asian society in general, and Hinduism in particular.)

MAC KHER (WWW.NYCNY.COM)

 

     Lâu lâu, Tòa Thánh lại tung ra một bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng, với danh nghĩa là người thừa kế Phê-rô, một tông đồ của Chúa Giê-su khi xưa mà giáo hội phịa ra chuyện Chúa đã trao cho nhiệm vụ thành lập giáo hội Ca Tô, để dạy dỗ các tín đồ có đầu mà không có óc, về một vấn đề nào đó.  Tuy nhiên, không phải tất cả mọi tín đồ đều thuộc loại vô não. Cho nên, trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma, đã có nhiều trường hợp mà tín đồ không những coi “Tông Huấn” này hay “Tông Huấn” nọ của Tòa Thánh như không có, mà còn lên tiếng phê bình chỉ trích.

    Bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) mà Vatican tung ra trong dịp Giáo hoàng John Paul II đến Ấn Độ vào tháng 11 năm 1999 có nội dung chỉ đạo cho các giám mục Ca Tô ở Á Châu phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba của Tây phương. Nỗ lực cải đạo Á Châu này dựa trên một nền thần học mới có tên là “Thần học theo cung cách Á Châu”, nội dung  của nền thần học này chỉ là những mánh mưu, thủ đoạn ăn cắp những cái hay của các nền văn hóa và tôn giáo Á Đông, xào xáo lại, thay đổi và diễn giải xuyên tạc để biến chúng thành của Ki Tô Giáo như sẽ được chứng minh trong một phần sau. 

   Thần học Ki Tô Giáo, bất kể là nó mang cái nhãn hiệu nào, cũng chỉ là môn học về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, một môn học đã quá lỗi thời, ngày nay không còn có thể thuyết phục được ai.  Thật vậy, Giáo sư David Voas, đại học New Mexico, Hoa Kỳ,  tác giả cuốn sách khảo cứu Tân Ước nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước, đã viết trong phần dẫn nhập như sau:

 

   Thật là đáng xấu hổ…  Thần học – chấp nhận như là môn học về Thiên Chúa – bị coi là không có chủ đề nào, hoặc ít nhất là không có chủ đề nào chúng ta có thể nghiên cứu.  Đó là ngành học duy nhất với những chuyên gia thực sự không biết mình đang nói cái gì… Những tư tưởng gia Ki Tô ngày nay có nhiệm vụ phải chứng tỏ rằng Thánh Kinh có ý nghĩa, nhất quán, và có đạo đức.  Điều này thật là khó khăn.

   (David Voas, The Bad News Bible: The New Testament, Introduction: It’s a shame… Granted, theology – the study of God – suffers from the suspicion that it has no subject, or at least none we can study.  It is the only field with experts who don’t know what they are talking about… Christian thinkers now have the job of showing that scripture makes sense, is consistent, and appears morally defensible.  This can be difficult.)

    Đọc kỹ bản “Tông Huấn..” chúng ta thấy rõ đúng là tác giả thực sự không biết mình đang nói cái gì.  Trước khi đi vào phần nhận định một đoạn nhỏ tiêu biểu trong bản “Tông Huấn..”, tưởng chúng ta cũng nên biết thực chất nền

thần học Ki Tô Giáo là như thế nào.

    H. L. Mencken (1880-1956), một Văn hào Mỹ, đã viết:

    “Thần học: một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng cách đặt sự giải thích vào những cái không đáng biết”

   (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.)

 

   Và Alfred North Whitehead (1861-1947), một nhà Toán học và Triết gia Mỹ cũng đưa ra nhận định:

    Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại.

   (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race).

    Và cũng vì vậy mà John E. Remsburg đã viết trong cuốn False Claims (Những Điều Nhận Vơ Sai Sự Thực của Giáo hội Công Giáo. TCN):

    Trong  những giới  thông  minh  ở  Âu châu và  Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết. 

    (Among the intelligent classes of Europe and  America, Christian theology is practically dead.)

 

   Remsburg đã đưa ra một nhận định rất đúng: không phải là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã chết, theo như quan niệm của Nietzche, mà là chính nền thần học Ki Tô Giáo đã chết.  Bởi vì làm gì có Thiên Chúa để mà chết.  Cái chết đi chính là nền thần học Ki Tô Giáo đã tạo nên một vị thần hay Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, và nền thần học này ngày nay đã không còn chỗ đứng trong sự tiến bộ trí thức của nhân loại, dù nó mang nhãn hiệu Phi Châu hay Á Châu.

   Thế mà, ngày nay Giáo hội Công Giáo La Mã còn tung ra chiến dịch cải đạo Á Châu.  Phải chăng giáo hội tin rằng dân Á Châu ngu muội, không có ai đủ thông minh để nhận ra mánh mưu của giáo hội, nên ai ai cũng sẽ nhắm mắt nuốt trọn cái gọi là “Thần học theo cung cách Á Châu”, một nền thần học gian dối, hạ đẳng, xảo quyệt nhất trong các loại thần học?

    Khi xưa, ở vị thế Thần quyền chỉ huy thế quyền, giáo hội đã thi hành một sách lược cải đạo ở khắp nơi trên thế giới bằng cường quyền, bạo lực, và cưỡng ép.

   Thật vậy, học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden, sau khi nghiên cứu về lịch sử Ki Tô Giáo đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Sau Cùng (The Final Superstition), trang 169, như sau:

    “Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki Tô Giáo trong cả hai thế giới cổ và Tân thế giới phần lớn dựa vào sự cưỡng bách bạo hành và đàn áp.  Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc tiêu diệt những người lạc đạo ngay từ thuở đầu, cho tới những cuộc thánh chiến, những tòa án xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác khắp hoàn cầu, Ki Tô Giáo đã chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống nhân loại của tôn giáo này.”

   (In summary, the evidence is overwhelming that the propagation of Christianity in both the Old World and the New was due in large measure to coercion, persecution and suppression.  Throughout its history, from the earliest purges of heretics, through the crusades, the Inquisition, and repression of other cultures throughout the world, Christianity was demonstrated its destructive anti human values.)

 

3 nhà trí thức chống Kitô

 

   Đây là những vết nhơ không bao giờ có thể rửa sạch trên khuôn mặt của giáo hội.  Nhưng ngày nay, giáo hội đã mất đi thế quyền, và thần quyền đã không còn một giá trị nào ngoài khối tín đồ thấp kém, mê tín, cả tin, giáo hội không còn có thể áp dụng sách lược “cường quyền bạo lực thắng công lý” được nữa.  Đúng như John E. Remsburg đã nhận định trong cuốn Những Lời Nhận Vơ (Của giáo hội Ca Tô) False Claims, trang 24:

    “Hình như tôi nghe người Ki Tô biện hộ cho giáo hội nói: “Nhưng bây giờ giáo hội không còn giết nữa”.  Đúng vậy, một con hổ sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi.  Ngày nay giáo hội không còn giết nữa vì không còn quyền lực để mà giết.  Bó củi (để thiêu sống người) và thanh gươm (để giết người) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và ngày nay giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống.”

   (“But the church does not kill now,” methinks I hear the Christian apologist exclaim.  No, a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious.  The church does not kill now because it does not have the power to kill.  The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.)

 

   Suốt trong chiều dài lịch sử, giáo hội Ca Tô Rô Ma đã nổi tiếng về xảo thuật ngụy tạo tài liệu, sửa đổi Thánh Kinh, nói ngang nói ngược, nói ngược nói xuôi v..v.. để kéo con người vào đạo.  Cái gọi là “Thần học theo cung cách Á Châu” cũng không ra ngoài lệ, có đầy đủ những sắc thái trên.  Và do đó, bản “Tông huấn..” của Giáo hoàng John Paul II là một văn kiện ngụy biện, dối trá, gian xảo, nhằm mục đích đẩy mạnh nỗ lực cải đạo Á Châu của Ca-tô giáo Rô-ma bất kể thủ đoạn.

   Theo Mac Kher (www.nycny.com) thì bản “Tông Huấn..” “là một lời Tuyên Chiến chống nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ Giáo nói riêng.”     

   Điều đáng nói là, để chống nền văn hóa nhân bản Á Đông, các tôn giáo trí tuệ của Á Đông, và các xã hội phi Ki-Tô ở Á Đông, bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng John Paul II đã phải vận dụng tối đa xảo thuật diễn giải méo mó Kinh Thánh cùng viện dẫn rất nhiều điều trong Thánh Kinh, coi đó là những chân lý, trong khi đối với thức giả ngày nay thì những điều được viện dẫn thực ra chỉ là những điều mê tín vụn vặt (out of context) cổ xưa còn sót lại và không còn một giá trị nào trong thế giới khoa học, tiến bộ trí thức của nhân loại.  Chứng minh?

 

    Trong bài nhận định về bản “Tông Huấn” ở trên, tác giả Ngô Triệu Lịch đã đưa ra những nhận định sâu sắc, rất chính xác, và khá chi tiết về bản “Tông Huấn..” cho nên tôi sẽ không đi vào nhiều chi tiết trong đó.  Ở đây, tôi chỉ muốn chứng minh những nhận định tổng quát như trên của tôi về bản “Tông Huấn..” qua sự phân tích đoạn đầu tiên trong bản  “Tông Huấn..”,  mục  “Kế Hoạch  Kỳ Diệu  Của

Thiên Chúa Tại Á Châu”:

 

   1. Giáo Hội tại Á Châu phải ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này. Thật vậy, chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Ngài hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi Môsê đưa dân Ngài đến chỗ tự do (x. Xh 3,10). Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và những phụ nữ can đảm trong đức tin. Và “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu ! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).

 

   Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng điểm một trong đoạn trên.  Trước hết tôi xin quý độc giả hãy kiên nhẫn, vì phê bình đoạn văn ngắn ngủi trên, tôi lại phải viết khá dài, nếu không, tôi không thể vạch rõ thủ đoạn xử dụng Thánh Kinh một cách không được quang minh chính đại cho lắm của Giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”.

   Trước hết, thực ra thì “Kế Hoạch Kỳ Diệu Của Thiên Chúa Tại Á Châu” là như thế nào?   Chúng ta hãy đọc câu mở đầu:

 

   “Giáo Hội tại Á Châu phải ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này.”

   (Ecclesia in Asia:  The Church in Asia sings the praises of the “God of salvation” (Ps 68:20) for choosing to initiate his saving plan on Asian soil, through men and women of that continent.)

 

   Bản “Tông Huấn..” viết như vậy, nhưng sự thực lịch sử thì sao?  Không ai có thể phủ nhận sự kỳ diệu nhất của kế hoạch Thiên Chúa tại Á Châu là Á Châu không hề biết đến Thiên Chúa trong mấy ngàn năm nay.  Hiện nay ở Á Châu chỉ có chưa tới 3% biết tới Thiên Chúa và những thế hệ đầu tiên của số người này thuộc giới cùng đinh nghèo khổ, ít học trong xã hội.  Họ là nạn nhân của những cuộc chinh phục thuộc địa của Âu Châu, dựa vào sức mạnh của súng ống, kỹ thuật hàng hải, và bả vật chất chứ không phải dựa vào “Tin Mừng” (sic) của Thiên Chúa.  Trong số những nạn nhân bất hạnh đáng kể nhất chúng ta phải kể Phi Luật Tân, bị Tây Ban Nha chiếm, đổi luôn tên nước và cưỡng bức cả nước phải theo Ca Tô Giáo Rô Ma.  Hiện nay hơn 60% dân Phi sống dưới mức nghèo khổ (Over 60% live under the poverty line). Thứ đến là Việt Nam, tuy bị Pháp đô hộ gần 100 năm và Công Giáo La Mã chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng số giáo dân luôn luôn chỉ quanh quẩn ở mức 7% dân số, phần lớn sống trong  những ốc đảo Công Giáo ngu dốt (Từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm).  Những ốc đảo này nguyên thủy là những vùng dân đánh cá nghèo nàn như Bùi Chu, Phát Diệm v..v… 

   Trái lại, Trung Quốc, một nước với trên 1 tỷ 3 dân, tuy đã có thời bị Tây phương xâm chiếm một phần nhỏ, nhưng ngày nay cũng chỉ chưa tới 4 phần ngàn theo Ki Tô Giáo.  Nhật Bản với khoảng trên dưới 130 triệu dân cũng chỉ có chưa tới  1% theo Ki Tô Giáo.  Thái Lan cũng vậy, tuy Công Giáo La Mã đã tung ra những đòn phá ngầm Phật Giáo từ thập niên 1970, 80, nay cũng chỉ chưa tới 1% theo Ki Tô Giáo trên một dân số trên 60 triệu.  Kế hoạch cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa khởi sự ở Á Châu, cho dân Á Châu, nhưng kế hoạch đó lại không thể phát triển được ở Á Châu trong suốt 2000 năm qua.  Nghịch lý này được giải thích cho giáo dân có đầu mà không có óc: đó là sự mầu nhiệm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thật vậy, trong bản “Tông Huấn..”, mục 2, có viết: “Quả là một mầu nhiệm khi Đấng Cứu Thế sinh ra tại Á Châu lại vẫn cứ vô danh đối với các dân tộc trên lục địa này cho tới ngày hôm nay.”  Và ngày nay, Vatican  muốn tước bỏ sự mầu nhiệm trên của “Đấng Cứu Thế” của Ca Tô Giáo Rô Ma bằng cách hô hào các giám mục địa phương phải gia tăng nỗ lực cải đạo Á Châu, với hi vọng làm cho Đấng Cứu Thế từ “vô danh” trở thành “hữu danh”, hiện nguyên hình là một bung xung của một  tổ chức thế tục mượn danh Chúa để mưu cầu những quyền lợi thế tục.  Sự mầu nhiệm của Chúa không chỉ có ở Á Châu mà hiện hữu ngay trong cái nôi của Ki Tô Giáo.  Như  chúng ta đã biết, trong những nôi của Ki Tô Giáo nói chung, đặc biệt là của Ca Tô Giáo Rô Ma, Ki Tô Giáo đang suy thoái không có cơ cứu vãn.  Sự mầu nhiệm này không được giáo hoàng nói tới.

   Sự tiến bộ trí thức của con người đã mở mắt Tây Phương, kéo họ ra khỏi thời đại man rợ và đen tối trí thức (the ages of barbarism and intellectual darkness), thời đại mà Ca Tô Giáo Rô Ma độc chiếm thần quyền và thế quyền ở Tây phương. Và ngày nay, Tây phương đang sống như là không có Thiên Chúa như hội đồng giám mục đã ghi nhận ở trên.  Trong thiên niên kỷ thứ ba của Tây phương này, người dân Á Đông, về vấn đề tâm linh vốn đã vượt xa Tây phương từ ngàn xưa, cho nên đã từ khước “Tin Mừng” của Thiên Chúa trong bao thế kỷ nay, ngay cả khi dưới áp lực của thực dân và đoàn quạ đen đồng hành với thực dân, chẳng lẽ nay lại tự nguyện tụt hậu đến độ phải hồ hởi chấp nhận đồ phế thải tâm linh của Âu Châu, và đi giật lùi trở lại   thời đại man rợ và đen tối trí thức của thời Trung Cổ hay sao?  Không thể nào có chuyện đó, vì thật ra, cái gọi là “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa” chỉ là kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của giáo hội Ca Tô Rô Ma hoàn vũ chứ làm gì có Thiên Chúa để mà đặt kế hoạch, và ai có thể biết được kế hoạch của Thiên Chúa ra sao nếu thực sự có một thực thể không ai thấy, không ai biết, không ai hiểu, mang nhãn hiệu Thiên Chúa?  Tất cả chỉ là mượn danh Thiên Chúa để lừa dối đám dân đầu óc yếu kém mà thôi.

 

    Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là cái mà Ki Tô Giáo gọi là Thiên Chúa thực ra chỉ là một vị thần của dân Do Thái khi xưa, và sự hiện hữu của Thiên Chúa đó hiện nay là một dấu chấm hỏi lớn.  Chúng ta cũng bỏ qua sự kiện là Á Châu là một tên địa dư (geographical name) chứ không phải là một lục địa mà trên đó chỉ có một sắc dân thuần nhất.  Trên lục địa này có nhiều sắc dân khác nhau, với những màu da, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán khác nhau, tiếng nói khác nhau v..v…không liên hệ gì tới nhau, cho nên Thiên Chúa của một đám dân du mục Do Thái nhỏ bé khi xưa, nếu có, tuyệt đối không phải là Thiên Chúa của những sắc dân khác như Hi Lạp, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, A Phú Hãn, Saudi Arabia, Iran, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,Việt Nam v..v..

   Mặt khác, trong phần nhận định sơ khởi, tôi đã đưa ra những tài liệu của giáo hoàng chính thức công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, công nhận thuyết tiến hóa, bác bỏ sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục, do đó đã chính thức bác bỏ những huyền thoại sáng tạo, tội tổ tông, cứu rỗi, luận phạt v..v.. cho nên cụm từ “Thiên Chúa cứu độ (sic)” đã trở thành hoàn toàn vô nghĩa.  Ở đây, tôi sẽ không đi vào chi tiết những huyền thoại trên mà ngày nay đã trở thành lỗi thời, thuộc loại mê tín, mà tôi chỉ muốn vạch ra xảo thuật  diễn giải và trích dẫn Thánh Kinh (Tv 68,20) một cách lắt léo, gian xảo, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) của giáo hoàng, phản ánh một sự bất lương trí thức cố hữu của Ki Tô Giáo từ ngày đầu.

    Tiểu xảo của các nhà truyền giáo Ki Tô là trích dẫn vụn vặt Thánh Kinh, rồi diễn giải lệch lạc chúng với mục đích lừa dối quần chúng thấp kém.  Sách lược này đã có hiệu quả và thành công trong quá khứ, khi mà giáo dân không được phép đọc Thánh Kinh và giới giáo sĩ giữ độc quyền rao giảng Thánh Kinh.  Nhưng ngày nay, nhân loại đã tiến bộ nhiều, và đòn phép diễn giải Thánh Kinh một cách tùy tiện đã luôn luôn bị vạch trần, không còn có thể lừa dối được ai nữa.

    Thật vậy, cũng như Matthew trong Tân Ước đã tách riêng Isaiah 7, 14 để “chứng minh láo” là sự sinh ra của Giê-su phù hợp với lời “tiên tri“ (sic) trong Cựu Ước, Giáo hoàng đã tách riêng Tv 68, 20 để “chứng minh láo” về cái gọi là “kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trên đất Á Châu”, cho rằng cách đây 3000 năm, trong thời đại của David, Thiên Chúa của Do Thái thật sự đã biết đến toàn thể Á Châu, một chuyện hoang đường không thể nào phù hợp với những sự kiện lịch sử và nội dung Thánh Kinh.  “Chứng minh láo” vì như Thomas Paine đã nhận định rất đúng về các Thánh Vịnh (hay Thi Thiên) trong cuốn Thời Đại Lý Trí (The Age of Reason) như sau: “Phần lớn những thánh vịnh liên hệ đến những hoàn cảnh địa phương của dân Do Thái trong thời buổi chúng được viết, chớ chẳng dính líu gì đến chúng ta.”  (The greater part of the Psalms relates to certain local circumstances of the Jewish nation at the time they were written, with which we have nothing to do).  Nhận định này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn trong phần phân tích sau đây.

 

   Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của các Thánh Vịnh, hay Thi Thiên (Psalms) mà Ki Tô Giáo thường cho David là tác giả. Ki Tô Giáo tôn David là thánh, thực ra  David chỉ là một tên tướng cướp, một bạo chúa, hoang dâm vô độ, vô đạo đức và cuồng sát (Xin đọc bài “Thánh David Là Ai?” trong phần Phụ Lục, cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?” của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, tháng 4, 2002).  Và “Thánh vịnh” là một tập hợp 150 bài thơ dài ngắn khác nhau mà nội dung là những lời rên rỉ, ca thán, vò đầu bứt tai, của những kẻ loạn thần kinh, bài nào cũng buồn chán như bài nào (Xin đọc The Happy Heretic của  Judith Hayes, p. 131: Psalms: This is one long, whining, grousing, hand-wringing, neurotic harangue. There are 150 chapters, each as depressing as the next.)  Nếu Thánh Vịnh có đôi chút giá trị thì đó là giá trị văn chương trong thời đại cách đây 3000 năm chứ tuyệt đối không thể có những giá trị tâm linh cho những dân tộc phi – Do Thái, nhất là trong thời đại tiến bộ trí thức ngày nay.

    Thánh Vịnh 68 có đầu đề là “Sự Vinh Quang của Thiên Chúa về lòng tốt của Ngài đối với Israel” (Holy Bible, The New King JamesVersion, p. 501: The Glory of God in His Goodness to Israel), do đó chỉ liên hệ đến dân Israel (Do Thái), không liên quan gì đến bất cứ dân tộc nào khác ngoài Israel. Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước tiếng Việt (The Holy Bible in Vietnamese), American Bible Society, New York, 1998, cũng vậy, viết đầu đề của Tv 68 là: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Si-na-i (Do Thái) và của nơi thánh.” không liên hệ gì đến bất cứ dân tộc nào khác.

   Chúng ta hãy đọc Thánh Vịnh 68, 20 và đọc tiếp theo Thánh Vịnh 68, 21-23 thì sẽ thấy rõ sự xảo quyệt của giáo hoàng trong việc trích dẫn Thánh Kinh như thế nào, cùng lúc sẽ thấy rõ bản chất của Thiên Chúa mà Giáo hội tại Á Châu phải ca ngợi, theo lệnh của giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”, Thánh Kinh tiếng Việt, trang 543:

 

20.  Đức Chúa trời (của chúng tôi) là Đức Chúa trời giải cứu chúng tôi, Ấy là nhờ Chúa Giê-Hô-Va mà loài người được tránh khỏi sự chết.  21.  Nhưng Đức Chúa trời sẽ đạp nát đầu kẻ thù nghịch Ngài, Đỉnh tóc của kẻ cứ phạm sự gian ác. 22.  Chúa đã phán rằng: Từ Ba-san Ta sẽ dẫn dân ta về, đem chúng nó lên khỏi biển sâu:  23.  Để người dầm chân mình trong huyết, Và lưỡi chó ngươi cũng được phần trong kẻ thù nghịch ngươi  (Psalms 68, 20-23: 20.; Our Lord is the Lord of salvation, And to God the Lord belong escapes from death.  21.  But God will wound the head of His enemies, The hairy scalp of the one who still goes on in His trespasses.  22.  The Lord said, “I will bring back from Bashan, I will bring them back from the depths of the sea,  23. That your foot may crush them in blood, And the tongues of your dogs may have the portion from your enemies.”)

 

   Đây là một bài thơ của David viết cho “thầy soạn nhạc” để ca tụng Đức Chúa Trời của Isarel.  Rõ ràng là “Đức Chúa Trời” này chỉ là một vị Thần của dân Do Thái mà David tin là chính vị Thần này đã giúp David để chiến thắng quân thù. Đọc toàn thể Thánh Vịnh 68, từ 1 đến 35, chúng ta thấy đây là một bài ca ca tụng Thần Giê-hô-va, thần của dân Do Thái, đã giúp ông ta chiến thắng quân thù. Thật vậy, Tv 68, 20 mở đầu bằng câu “Đức Chúa trời (của chúng tôi) là Đức Chúa Trời giải cứu chúng tôi” (Our God is the God of salvation).  Chúng tôi ở đây là ai?  Rõ ràng chỉ là người Do Thái, và Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái, tuyệt đối không phải là Thiên Chúa của loài người.   Cho nên, chữ “salvation” trong Tv 68, 20 chỉ có nghĩa là “cứu giúp” hay “giải cứu” như Kinh Thánh tiếng Việt đã viết, chứ không có nghĩa tôn giáo là “cứu rỗi linh hồn” hay “cứu rỗi linh hồn khỏi tội qua một Đấng Cứu Rỗi” (Salvation from sin through a Savior) của nền thần học Ki Tô Giáo sau này, và tuyệt đối không có nghĩa là “cứu độ”, một danh từ đặc thù của Phật Giáo với ý nghĩa khác hẳn sự “cứu rỗi” của Ki Tô Giáo.  Dịch “salvation” trong Ki Tô Giáo là “cứu độ” là một sách lược lấy những tư tưởng, từ ngữ trong các tôn giáo Á Đông làm tư tưởng, từ ngữ của Ki Tô Giáo để xâm nhập các xã hội Á Đông trong việc truyền đạo.  Và  lấy một câu trong Thánh Vịnh 68 ra, một câu chỉ liên hệ đến dân Do Thái, rồi diễn giải “Thiên Chúa giải cứu dân Do Thái” là “Thiên Chúa cứu độ” cho toàn thể Á Châu là một thủ đoạn lừa dối bất lương trí thức, nhằm đạt một mục đích thế tục: quyền lực tinh thần cũng như quyền lợi vật chất của giới giáo sĩ trên đám tín đồ kém hiểu biết, cả tin.   Điều này sẽ được chứng minh rõ ràng hơn trong một phần sau.

 

    Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là bản Kinh Thánh tiếng Việt đã hiểu sai và dịch sai Tv 68, 20-23 như trên.  Vì nếu hiểu đúng và dịch đúng thì chữ “them” trong Tv 68, 22 không phải là “dân ta” mà là những kẻ thù của Giê-hô-va.  Ngoài ra “escapes from death” là những người Do Thái thoát chết trong cuộc chiến với kẻ thù chứ tuyệt đối không có nghĩa “loài người được tránh khỏi sự chết”.  Lịch sử của Do Thái cách đây khoảng 3000 năm tuyệt đối không dính dáng gì đến “loài người” vì chính Thần của Do Thái trong Cựu Ước, alias Giê-hô-va, alias “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II, cũng không biết là quả đất tròn, như đã viết rõ trong Thánh Kinh.

   Kẻ thù của Giê-hô-va là ai?  Cũng là kẻ thù của David vì Giê-hô-va đã chọn David, về phe David, và đã giúp David chiến thắng kẻ thù nhiều lần, cũng như đã giúp David chiến thắng trong huyền thoại “cậu bé David đánh bại người khổng lồ Goliath”.  Vì vậy, theo sự hoang tưởng của David, thần mới nói ( The Lord said): dù chúng có lên núi, xuống biển, thần cũng kéo chúng về để cho dân Do Thái dẫm chân nghiền nát chúng trong máu (your foot may crush them in blood) và chó của dân Do Thái cũng có phần thưởng là được liếm máu chúng (And the tongues of your dogs may have the portion from your enemies.).  Đúng là một hoang tưởng của David vì theo Ca-Tô Giáo thì không ai thấy được Thiên Chúa (invisible), không ai biết được Thiên Chúa (unknowable), không ai hiểu được Thiên Chúa (incomprehensible).  Vấn đề là, một vị thần của dân Do Thái khát máu và dã man như vậy mà nay được giáo hoàng dạy các giáo hội Á Châu phải “ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ”(sic) (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này.”

   Có thể nào có một luận điệu thần học nào gian dối, lắt léo, sai sự thật hơn là suy diễn “Thiên Chúa giải cứu” dân Do Thái cách đây 3000 năm thành “Thiên Chúa cứu độ” cho toàn thể Á Châu không?  Thế mà nó nằm ngay trong câu đầu của bản “Tông Huấn..” của “Đức Thánh Cha” và bản “Tông Huấn..” này được Phêrô ĐXT – Antôn NNS chuyển ngữ và giới thiệu như sau: “Đây là Tông Huấn, trong đó, Đức Thánh Cha đúc kết và chuẩn nhận những suy tư sâu sắc, những nhận định đúng đắn và những phương hướng hành động của Thượng Hội Đồng Giám Mục bàn về Á Châu.”  Sâu sắc và đúng đắn ở chỗ nào?  Chẳng trách là đã có vị linh mục ở Saigon than thái độ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là “Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm”.  Thật là tội nghiệp.

   Chúng ta hãy đọc tiếp bản “Tông Huấn..”: “Thật vậy, chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Ngài hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi Môsê đưa dân Ngài đến chỗ tự do (x. Xh 3,10). Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và những phụ nữ can đảm trong đức tin.”  (It was in fact in Asia that God revealed and fulfilled his saving purpose from the beginning. He guided the patriarchs (cf. Gen 12) and called Moses to lead his people to freedom (cf. Ex 3:10). He spoke to his chosen people through many prophets, judges, kings and valiant women of faith.)

 

    Chúng ta hãy khoan bàn đến những chuyện hoang đường về Moses trong Cựu Ước và đặt một câu hỏi:  “Chuyện Thiên Chúa của dân Do Thái “hướng dẫn các tổ phụ Do Thái và kêu gọi Môsê đưa dân của Thiên Chúa (dân Do Thái) đến chỗ tự do” thì có dính dáng gì đến toàn thể Á Châu, một lục địa rộng lớn mà chính Thiên Chúa cũng không biết hết?  Dân Do Thái bị Ai Cập bắt làm nô lệ và sau đó được tự do nhờ “kế hoạch cứu độ” (sic) của Thiên Chúa đối với dân của Ngài, dân Do Thái.  Vậy mắc mớ gì đến các dân tộc khác trong lục địa Á Châu? 

     Khi Đức Quốc Xã áp dụng chính sách diệt chủng, giết 6 triệu người Do Thái, thì sao không ai thấy “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đối với dân của Ngài (dân Do Thái)?  Nhưng sự kiện Thiên Chúa giúp dân Do Thái thoát khỏi cảnh nô lệ, nếu chúng ta có thể tin được huyền thoại này vì ngày nay các học giả đã bác bỏ hoàn toàn điều mê tín cổ xưa này của dân Do Thái, thì việc đó cũng không thể diễn giải là thuộc kế hoạch cứu độ (sic) của Thiên Chúa.  Vì  kế hoạch “cứu rỗi” của Thiên Chúa là để cho những người tin Chúa chứ không phải là sự thoát khỏi cảnh nô lệ, khoan kể là chính Thiên Chúa cũng đã cổ súy việc mua bán nô lệ trong Thánh Kinh như chúng ta sẽ chứng minh về sau.

   Thật vậy, Việt Nam bị Tàu đô hộ tất cả là cả ngàn năm, nhưng đã nhiều lần đánh đuổi quân xâm lăng, lấy lại tự do, chủ quyền cho đất nước.  Đó là nhờ các ông Vua vô thần hay các ông Vua Phật Giáo như trong thời đại Lý Trần, đâu có cần đến “kế hoạch cứu độ” (sic) của Thiên Chúa của dân Do Thái, làm ra vài phép lạ để cho Tàu hoảng sợ và trả độc lập tự do cho Việt Nam?  Gần đây, Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm.  Nhưng sau cùng Tây cũng bị đánh đuổi về Tây, đó là nhờ công của ai, nếu không phải là của Cộng Sản Vô Thần?  Việt Nam đâu có cần đến Thiên Chúa của Do Thái trổ tài làm phép lạ để trừng phạt thực dân Pháp, giúp Việt Nam thu hồi chủ quyền?  Dân Do Thái có thể biết ơn Thiên Chúa của họ vì tin rằng chính Thiên Chúa đó đã cứu dân tộc họ ra khỏi vòng nô lệ như được kể trong huyền thoại về Moses trong Thánh Kinh.  Nhưng người Việt Nam chúng ta thì đương nhiên là phải nhớ ơn tổ tiên, ông cha chúng ta, và ngay cả Cộng Sản vô thần (Voltaire đã từng nói: “Vô thần là thói xấu của một số ít người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people)) đã có công đánh đuổi xâm lăng, giành lại quyền tự chủ, độc lập cho nước nhà.  Thời đại Lý Trần thì không hề có ai biết đến Thiên Chúa, và thời cận đại thì Thiên Chúa đã dẫn dân Bùi Chu, Phát Diệm di cư vào Nam.  Thiên Chúa và Đức Mẹ đi trước, giáo dân đi theo sau, và đến năm 1975 thì Thiên Chúa lại theo Mỹ về Mỹ, có cứu giúp gì được dân Việt đâu?  Vậy “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đối với dân Việt Nam là kế hoạch nào, khoan nói đến chuyện là cho toàn thể Á Châu.  Tất cả những huyền thoại về Thiên Chúa của dân Do Thái đều xảy ra ở Trung Đông, quanh vùng Jerusalem.  Vậy tôi đề nghị Vatican hãy mang “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đến các nước lân cận Jerusalem như A Phú Hãn, Iran, Saudi Arabia, Ai Cập, Pakistan v..v.. trước, có thành công rồi hãy tính đến chuyện mang “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đến các nơi xa hơn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam v…v…  Chưa làm được như vậy thì tại sao chúng ta lại có thể nuốt nổi chuyện tầm phào là Thiên Chúa của dân Do Thái ở Á Châu giúp cho dân Do Thái được tự do là thực hiện kế hoạch cứu độ (sic) cho toàn thể Á Châu?  Rõ ràng đây chỉ là một luận điệu bịp bợm bất kể đến sự lương thiện trí thức của con người.

 

   Để cho vấn đề được rõ ràng hơn nữa, chúng ta cần trở lại lịch sử Do Thái.  Trong giai đoạn mà tất cả các bé trai sơ sinh Do Thái đều bị ném xuống sông, vào khoảng thế kỷ 13 Trước Thường Lịch (TTL), thì Môsê (Moses) sinh ra đời. Môsê là ai?  Thánh Kinh viết rõ, Môsê là sản phẩm của một cuộc loạn luân: Cha của Môsê lấy cô ruột của mình và sinh ra Aaron và Moses (Exodus 6: 20:  Amram lấy Jochebed, cô ruột của mình, làm vợ, và bà sinh ra Aaron và Moses (Now Amram took for himself  Jochebed, his father’s sister, as wife, and she bore him Aaron and Moses)).  Mẹ của Moses không nỡ giết con nên để Moses vào một cái giỏ và đặt giỏ trôi trên sông.  Moses được một công chúa Ai Cập vớt và nuôi nấng cho đến khi Moses khôn lớn, rồi nhận Moses làm con nuôi.

   Thánh Kinh (Exodus 2-14) kể rằng, Moses bỗng nhiên biết mình là người Do Thái và cảm thấy đau lòng khi thấy dân Do Thái bị người Ai Cập hành hạ.  Và một hôm, khi thấy một người lính canh Ai Cập đánh đập dân Do Thái, Moses bèn giết người lính canh rồi khi bị Vua Ai Cập ra lệnh truy lùng, trốn sang xứ Madian.  Ở đây. Moses lấy vợ, sinh con.

   Dân Do Thái, dân được Thần Giavê (Giê-hô-va) chọn làm dân cưng của Ngài,  vì bị làm việc cực nhọc và bị đối xử như nô lệ, ta thán và khóc than với Thần.  Thần nghe tiếng kêu than của họ, nhớ lại (Ngài quên khuấy đi mất rồi, vì đã trải qua 6, 700 năm) lời Ngài đã hứa với Abraham, Isaac, và Jacob.  Do đó, một hôm,  Thiên sứ của Thần hiện ra trước Moses trên núi Horeb, nơi Thần cư ngụ.  (Dân Do Thái tin rằng dân tộc họ ở đâu thì Thần Ki Tô ở đó để che trở, bao bọc, giúp đỡ họ.  Vì vậy, khi lang thang trên sa mạc, họ làm một chiếc tàu lớn để cho Thần Gia-vê ngồi trong đó, và khi Vua Solomon đóng đô ở Jerusalem thì dựng lên một đền thờ để Thần Gia-vê cư ngụ trong đó).  Thế rồi Thần (Thánh kinh chỉ viết Thiên sứ của Thần hiện ra chứ không phải đích thân Thần hiện ra (And the Angel of the Lord appeared to him…) gọi Moses và sai Moses trở về Ai Cập để thuyết phục Vua Ai cập Pharaoh thả dân của Ngài trở về xứ.  Vua Ai Cập không chịu vì chính Thần Giavê đã làm cho lòng Vua chai cứng (Exodus 7: 3: Nhưng Ta sẽ khiến cho lòng Pharaoh trở nên chai cứng, và Ta sẽ đưa ra gấp bội những dấu hiệu và phép lạ của Ta trong nước Ai cập. (And I will harden Pharaoh’s heart, and multiply My signs and My wonders in the the land of Egypt)

   Thật là chuyện lẩm cẩm nhất trong những chuyện lẩm cẩm.  Theo “lý luận” của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng” thì sự kiện Ai Cập bắt dân Do Thái làm nô lệ và hành hạ dân Do Thái chính là ý định của Thiên Chúa dùng Vua Ai Cập để giáo dục dân Do Thái.  Giáo dục xong rồi, Ngài chỉ việc khẩy cái móng tay là dân Do Thái ào ào chạy ra khỏi  xứ Ai Cập, như dân Bùi Chu, Phát Diệm lên tầu Mỹ chạy theo Đức mẹ bồng Chúa Giê-su vào Nam năm 1954.  Nhưng không, Ngài lại sai Moses trở về Ai Cập làm thuyết khách, rồi lại làm cho lòng Pharaoh chai cứng, không chịu thả dân Do Thái, nghĩa là biết trước Moses thất bại trong nhiệm vụ của mình, rồi bấy giờ Ngài mới làm nhiều phép lạ trên đất Ai Cập để ép Vua Ai Cập phải thả dân Ngài đi. Những phép lạ Thần mượn tay Moses tạo ra là những phép lạ nào?  Đó chẳng phải là phép lạ mà là những tai họa mà thời đó người ta coi như là của Thần giáng xuống đầu dân Ai Cập.  Đặc biệt là sau mỗi lần tai họa được giáng xuống, Thần lại làm cho lòng Vua Ai Cập chai cứng, không chịu để cho dân Do Thái rời khỏi xứ, kết quả là Ngài phải giáng tới 10 tai họa xuống dân Ai Cập, gây ra bao cảnh khổ, chết chóc, rồi bấy giờ Ngài mới làm cho lòng Vua Ai Cập bớt chai cứng, chịu thả cho dân Do Thái ra đi. Ấy thế mà nhiều người vẫn còn tin rằng “Thiên Chúa” là bậc “nhân từ” nhất hạng.  Nhưng những tai họa mà Thần giáng xuống đầu dân Ai Cập là những tai họa gì? Hầu hết chẳng qua chỉ là những thiên tai hoặc những hiện tượng thiên nhiên như: nước sông Nile đỏ ngầu như máu, nhiều ếch nhái, bọ rận chấy, ruồi muỗi, bệnh dịch làm súc vật chết, ghẻ lở, mưa đá, châu chấu, hoặc phản khoa học như tối tăm trên toàn đất Ai Cập trong 3 ngày nhưng lại có ánh sáng trong những nơi cư ngụ của dân Do Thái, và vô cùng tàn nhẫn và độc ác như: tất cả những đứa con đầu lòng của dân Ai Cập, từ Vua cho tới thứ dân, và những con vật sinh ra đầu tiên trong xứ Ai Cập, đều chết hết.  Sau 10 tai họa trên, Vua Ai cập mới sợ và để cho dân Do Thái ra đi.

    Chuyện vô lý và lẩm cẩm như vậy mà vẫn có nhiều người tin, cũng như tin chuyện Thần tạo ra những cảnh khổ ở Calcutta rồi mới mượn bàn tay của bà Teresa chứng tỏ lòng nhân từ của Thần.  Ấy thế mà ngày nay giáo hoàng John Paul II của Ca-Tô Giáo Rô-ma còn mang chuyện lẩm cẩm này ra để quảng cáo “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa của dân Do Thái cho toàn thể Á Châu trong sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu.

 

   Ngày nay, nhiều người, từ những bậc trí thức cho tới những dân thường trong những xã hội văn minh tiến bộ đã đặt câu hỏi:  “Một vị Thần độc ác như vậy, có đáng để chúng ta tôn thờ hay không?  Chúng ta nên nhớ, theo thuyết Ba Ngôi của giáo hội Ca Tô Rô Ma, thì vị Thần độc ác táng tận lương tâm này, Chúa Cha, và Giê-su, Chúa Con, cùng Chúa Thánh Thần chỉ là một.  Chúng ta có nên mong ước được sống đời đời bên cạnh vị Thần hung ác này không, vị Thần mà chúng ta biết chắc rằng có tính đồng bóng, thưởng phạt bất công, hỉ nộ vô chừng, và nhất là không hề có thiện tâm, nếu chúng ta tin tất cả những lời trong Thánh Kinh đều là những lời “mặc khải” không thể sai lầm của Thần.”  Xin để cho những cán bộ truyền giáo cùng những nhà trí thức Ca Tô cũng như Tin Lành Việt Nam trả lời câu hỏi này với sự thành thực nhất trong lương tâm của họ. 

   Trong giáo hội Ca Tô hoàn vũ đã có nhiều người trong hàng giáo phẩm như Giám mục, Linh Mục và nhiều tín đồ đã trả lời câu hỏi này một cách dứt khoát, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói: từ bỏ giáo hội và viết sách để lại cho hậu thế những suy tư lương thiện và thành thực nhất của họ về chính tôn giáo của họ.  Thực chất của sự từ bỏ này bắt nguồn từ sự nhận thức được rằng, Thần Giavê không đáng để cho con người tiến bộ ngày nay kính trọng, đừng nói là thờ phụng, do đó tiến tới quyết định dứt khoát khước từ ân sủng “được thấy nhan Thánh Chúa” sau khi chết, một thứ bánh vẽ ở trên trời.

 

   Bản chất của “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II là như thế nào?  Chúng ta có thể thấy rõ hơn nữa khi chúng ta phân tích câu tiếp theo của giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”: “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu ! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1). (In “the fullness of time” (Gal 4:4), he sent his only-begotten Son, Jesus Christ the Saviour, who took flesh as an Asian! Exulting in the goodness of the continent’s peoples, cultures, and religious vitality, and conscious at the same time of the unique gift of faith which she has received for the good of all, the Church in Asia cannot cease to proclaim: “Give thanks to the Lord for he is good, for his love endures for ever” (Ps 118:1).)

 

   Ở đây, chúng ta lại thấy “xảo thuật” trích dẫn Thánh Kinh một cách lạc lõng của Giáo hoàng John Paul II trong mưu đồ cải đạo Á Châu.  Thật vậy, giáo hoàng viết: “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu”.  Chúng ta cần đặt câu hỏi: ““khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4)” là khi nào, có phải là cách đây khoảng gần 2000 năm, khi Giê-su mới sinh ra đời không?  Và Giê-su có phải là đấng “cứu thế” hay không, “cứu thế” như thế nào?  Cứu thế theo nghĩa cứu chuộc cái tội tổ tông hoang đường trong nền thần học Ki Tô Giáo, hay cứu thế theo nghĩa đã rửa sạch tội lỗi của nhân loại, làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn, hay cứu thế là khuyên dân Do Thái hãy mau mau sám hối tội lỗi vì ngày tận thế đã gần kề?  Tất cả những loại “cứu thế” trên nay đã không còn chỗ đứng trong thế giới nữa.

 

   Đọc Tân Ước, chúng ta phải hiểu rằng, đây là câu Paul viết cho dân Galati, và “khi thời gian đã mãn”  là Paul muốn nói đến niềm hoang tưởng của Giê-su, tin rằng ngày tận thế đã gần kề, Giê-su tự nhận là Con Thiên Chúa xuống trần để khuyên dân Do Thái hãy mau mau sám hối để được Thiên Chúa tha tội và có thể về nước trời cùng Thiên Chúa.  Trong thời đó, Paul, cũng như tất cả nhưng người tin vào lời tiên tri nhảm nhí về ngày tận thế của Giê-su, đều tin là ngày tận thế đã gần kề (thời gian đã mãn), chứ tuyệt đối không có liên hệ gì đến việc Giê-su sinh ra, dù mang hình hài Á Châu, hay Ma-rốc, hay Congo v..v..  Hơn nữa, kiến thức nhân loại ngày nay đã chứng tỏ sự phi lý của điều mà giáo hoàng John Paul II trích dẫn trong Tân Ước và diễn giải láo ở trên.  Chứng minh? 

   Tuổi của trái đất mà chúng ta đang sống trên đó ít ra cũng là bốn tỷ rưỡi năm. Theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận ở đại học Virginia, một chuyên gia về  ngành vật lý học các thiên thể (astrophysics), thì những đại diện đầu tiên của con ngưởi hiện đại đã dẫm chân trên trái đất từ 2 triệu năm trước (Trịnh Xuân Thuận, The Birth of The Universe, p. 120: “..about 2 million years ago the first representatives of Homo Sapiens trod the earth”). Mới đây, các nhà khảo cổ đã kiếm ra ở xứ Cộng Hòa Phi Châu Chad một chiếc sọ, nhiều mảnh xương hàm và răng đã hóa thạch, có tuổi là 7 triệu năm, của một  tổ tiên xa của con người hiện đại (Chicago Tribune, July 11, 2002: Archeologists have found a fossilized skull, jaw fragments and several teeth belonging to a 7 million-year-old ancester of modern humans..).  Một lần nữa, thuyết Tiến Hóa của Darwin đã được kiểm chứng.  Đối với khoa học gia White ở đại học Berkeley thì con người tiến hóa như thế nào nay đang trở nên rõ ràng hơn (To Berkeley’s White, the picture of how humans evolved is becoming clearer) và White nói: “Darwin đã tiên đoán sự tiến hóa này, và đó chính là những điều chúng tôi tiếp tục kiếm ra” (Darwin predicted that, and it’s what we keep finding). Đây là những sự kiện khoa học trong khoa khảo cổ, và vô số sự kiện trong nhiều ngành khoa học khác, đã kiểm chứng và chứng minh sự xác tín vào thuyết Tiến Hóa, những sự kiện bất khả phủ bác, những sự kiện mà vị tự nhận là đại diện của đấng Ki-tô trên trần (Vicar of Christ), nghĩa là giáo hoàng của Ca-tô giáo Rô-ma, Gioan PhaoLô II, cũng đã phải chính thức công nhận. 

   Những khám phá của khoa học hiện đại như trên đã dứt khoát dẹp bỏ vai trò “cứu thế” của Giê-su.   Thật đúng vậy, như chúng ta đã biết, vai trò “cứu thế” của Giê-su trước đây đã được giáo hoàng John Paul II “giải thích” (sic) trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, qua “nghệ thuật” trích dẫn một câu trong Phúc Âm John, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” và nay lại lập lại trong mục 5 của bản “Tông Huấn”. Chúng ta thấy ngay rằng, cách giải thích trên thật là hoang đường và phi lý.  Hoang đường và phi lý vì rõ ràng là câu trên chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giêsu.  Nhưng trước khi Giêsu sinh ra cả nhiều triệu năm thì trên thế gian này đã có biết bao nhiêu người sống rồi, và hiển nhiên họ đâu có biết tới Giêsu.  Vậy họ có bị luận phạt hay không?  Vì theo giáo lý Gia Tô, đến ngày tận thế, Chúa sẽ giáng trần để thưởng phạt nhân loại, làm cho người chết sống lại, kẻ nào tin Giêsu thì được lên Thiên đường, kẻ nào không tin Giêsu thì sẽ bị đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục.  John 3, 18 đã viết rõ:  “Ai tin Con Thiên Chúa sẽ không bị luận phạt, ai không tin đã bị luận phạt rồi, vì không tin nhận Con Một của Thiên Chúa”. Trong số những kẻ không tin Giêsu này gồm cả nhân loại trước thời Giêsu và trong đó tất nhiên có cả gia hệ của Giêsu gồm không biết là bao nhiêu đời.  Một giáo lý thuộc loại mê tín dị đoan, phi lôgic, phi nhân đạo, phản khoa học v… v.. như vậy mà vẫn có nhiều người tin thì chúng ta phải hiểu rằng họ thuộc những thành phần nào trong cộng đồng thế giới.  Trước thế kỷ 16, dân Việt Nam không biết Giêsu là ai.  Từ thế kỷ 16, những người dân Việt Nam đầu tiên biết tới Giêsu thuộc thành phần cùng đinh của xã hội, như nhiều tài liệu lịch sử đã chứng tỏ.  Tín đồ Ca-Tô Việt Nam hẳn rất lấy làm sung sướng được lên Thiên đường thấy nhan thánh Chúa, sống đời đời bên Chúa, trong khi ông bà tổ tiên nhiều đời của họ bị đày địa ngục.  Cái đạo gì mà đưa ra một giáo lý ác ôn như vậy, và những người bị mê hoặc bởi cái giáo lý ác ôn này có bao giờ nghĩ đến đồng bào ruột thịt, ông bà tổ tiên của họ không?  Nhưng điều đáng nói là câu Giáo hoàng viết như trên vào năm 1994 và lập lại trong bản “Tông Huấn” vào tháng 11 năm 1999, đã chứng tỏ cái tâm địa lắt léo của vị chủ chăn Ca Tô, vì trước đó có mấy tháng, tháng 7, 1999, chính ông đã phủ nhận sự hiện hữu của Thiên đường và Hỏa ngục, chứng tỏ cái mà ông gọi là “luận phạt” hay “sống đời đời” chỉ là những điều Giáo hội bày đặt ra để hù dọa và khuyến dụ  những người có đầu óc yếu kém.

 

   Đây chính là thực chất bịp bợm, lừa dối của nền Thần học Ki Tô Giáo mà ngày nay, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại cùng với những khám phá của khoa học, đã trở thành, theo như nhận định của Giám Mục Spong, những sự vô nghĩa trong thời hậu-Darwin.  Tuy nhiên, Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói riêng, không bao giờ muốn cho tín đồ của mình biết những sự thực này, sợ tín đồ mất đi niềm tin và kéo theo hậu quả Giáo hội mất đi nguồn lợi và quyền lực về vật chất cũng như về tinh thần.  Nhưng tiến hóa là một định luật tự nhiên của con người, không có một quyền lực nào, thế tục cũng như tôn giáo, có thể ngăn chặn nổi.  Bởi vậy trong những xã hội Âu Mỹ tân tiến ngày nay, những công cuộc nghiên cứu về lịch sử nhân loại cũng như tôn giáo càng ngày càng vạch ra những sự thực không ai có thể chối cãi, và người dân trong những xã hội này càng ngày càng hiểu biết hơn, do đó đã xảy ra tình trạng bỏ đạo, thiếu hụt linh mục đến mức độ trầm trọng.  Đây là những sự kiện xã hội trong thế giới mà chính Tòa Thánh Vatican và các lãnh tụ Chính Thống Giáo, Tin Lành đều công nhận. 

   Lại nữa, đọc Tân ước, chúng ta biết rằng, phẩm Galatians trong Tân ước là Thư Của Tông Đồ Paul (Phao Lồ) Viết Cho Dân Galati (The Epistle of Paul the Apostle to the Galatians), một đám dân ở Tiểu Á, vùng Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.  Thánh Kinh tiếng Việt dịch đầu đề này là “Thơ của Phao-Lô Gởi Cho Người Ga-La-Ti”.  Chúng ta hãy đặt một câu hỏi:  Thư của Paul viết cho người Galati thì có liên quan gì đến toàn thể Á Châu?  Phải chăng Paul là đại diện của toàn thể Á Châu và dân Galati là đại diện cho tất cả các sắc dân ở Á Châu?  Mặt khác, chúng ta cũng đã biết, dù Đức Giêsu KiTô mang hình hài của người nào, người mặt thô da ngăm ngăm đen, môi dày, tóc quăn như hình của đài BBC mới tái tạo gần đây, hay người Congo, hay người da trắng như trong các hình tượng mà chúng ta thường thấy, thì ông ta cũng không phải là đấng Cứu Thế.   Khi xưa, khi mà giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh với những biện pháp tịch thu tài sản hay xử tử hình những kẻ nào vi phạm lệnh cấm này, thì có thể giáo dân không còn cách nào khác là phải tin theo những lời giảng dạy thậm vô lý của Giáo hội.  Nhưng ngày nay, con người được tự do đọc Thánh Kinh và tự do dùng đến khả năng suy tư của mình, thì những luận điệu bịp bợm, trích dẫn vụn vặt ngoài toàn bộ vấn đề và diễn giải lệch lạc không còn có thể lừa dối được ai.  Có vẻ như giáo hoàng quên đi sự kiện là ngày nay con người đã tiến bộ văn minh hơn nhiều, không còn như thời của Giê-su, và nhất là giáo hội Ca Tô đã mất đi quyền lực thế tục đễ có thể cưỡng bách những người ngoại đạo phải tin theo những điều thậm phi lý mà giáo hội đưa ra.

      Thật ra thì Phao-Lô không phải là tông đồ của Giê-su.  Ông ta không biết Giê-su là ai ngoài những lời đồn đại sau khi Giê-su đã chết trên thập giá.  Ông ta chỉ “thấy” Giê-su, trên con đường ông ta đi tới Damascus, trong một ảo giác (vision) sau khi Giê-su đã chết.  Ngày nay chuyện Giê-su sống lại đã bị bác bỏ hoàn toàn cho nên ảo giác của Phao-Lô không có bất cứ một giá trị nào, cũng như bất cứ ảo giác nào khác mà con người “thấy” Giê-su hoặc bà Mary hiện ra bất cứ ở đâu. 

     Cũng như trên, vì trích dẫn câu Gal 4,4 riêng biệt nên câu này trở thành lạc lõng và giáo hoàng đã dựa vào sự lạc lõng này để truyền đạo.  Đọc tiếp Gal 4,5 chúng ta mới thấy được Phao-Lô muốn viết gì.  Gal 4, 4-5 như sau: Nhưng khi kỳ hạn đã mãn, Đức Chúa Trời bèn sai con mình, sinh ra từ một người đàn bà, sinh ra dưới luật pháp, để chuộc tội những người ở dưới luật pháp, để cho chúng ta có thể được nhận làm con Ngài.  (Gal 4, 4-5: But when the fullness of the time had come, God sent forth His Son, born of a woman, born under the law, to redeem those who were under the law, that we might receive the adoption as sons)

 

   Thật là rõ ràng, Phao Lô đã viết Giê-su sinh ra từ một người đàn bà (woman), không phải từ một nữ trinh (virgin), và sinh ra dưới luật pháp của Do Thái, nghĩa là luật pháp của Thần Gia-vê “mặc khải” cho Môsê trước đó.  Giê-su được Chúa Cha sai xuống chỉ để chuộc tội cho những người đang sống dưới luật pháp của Chúa Cha, nghĩa là dân Do Thái.  Vì vậy trong Tân Ước chúng ta thấy nhiều lần Giê-su đã khẳng định là chỉ cứu giúp dân Do Thái mà thôi, như sẽ được chứng minh trong phần sau.  Trích dẫn lạc lõng một câu trong Tân Ước rồi dựa vào đó để mà diễn giải về một “kế hoạch cứu độ” hoang đường cho toàn thể Á Châu, tôi cho đây là một thủ đoạn bất lương trí thức.  Đây không phải là vấn đề tự do tín ngưỡng, vấn đề đức tin, mà là vấn đề ngụy biện một cách gian xảo với mục đích lừa dối, lạc dẫn quần chúng.

   Điều này chúng ta còn có thể thấy rõ ràng hơn nữa trong phần cuối của đoạn tôi trích dẫn ở trên:

   “Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).” (Exulting in the goodness of the continent’s peoples, cultures, and religious vitality, and conscious at the same time of the unique gift of faith which she has received for the good of all, the Church in Asia cannot cease to proclaim: “Give thanks to the Lord for he is good, for his love endures for ever” (Ps 118:1).)

   Đọc toàn thể Thánh Vịnh 118, chúng ta thấy đây chỉ là những lời ca tụng Thần Gia-vê của David, vua của Israel, vì David tin rằng Thần đã về phe ông ta và giúp ông ta chiến thắng, chứ chẳng có liên hệ gì tới “kế hoạch cứu độ” Á Châu của Thần Gia–vê, dù rằng chúng ta có vứt bỏ khả năng suy tư của con người để trở thành những con cừu non, tin rằng Thần Gia-vê của người Do Thái có một “kế hoạch cứu độ” Á Châu.    Thật vậy, nếu chúng ta đọc tiếp Thánh Vịnh 118, 2-4: “Bây giờ hãy để cho Israel nói rằng:  Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời; Bây giờ hãy để cho dân của Araon (dân Do Thái) nói rằng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời; Bây giờ hãy để cho những người sợ Chúa nói rằng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.” (Psalms 118, 1-4: Oh give thanks to the Lord, for He is good!  Because his mercy endures forever; Let Israel now say, His mercy endures forever; Let the house of Aaron now say, His mercy endures forever; Let those who fear the Lord now say, His mercy endures forever).  Điều rõ ràng là David đã ca tụng Thần Gia-vê của ông ta một cách lố bịch và kêu gọi dân Israel của ông, những người luôn luôn sợ Thần Gia-vê trừng phạt vì họ được giới giáo sĩ Do Thái dạy rằng: “Những bất hạnh xảy ra cho dân Do Thái là do Chúa trừng phạt vì đã không theo luật Chúa”, hãy theo ông, ngay trong thời đại của ông (now), ca tụng Thần Gia-vê để được Thần ban cho ân huệ.  Tại sao lại là lố bịch?  Vì chỉ mấy câu sau, ông ta đã tuyên bố là Chúa về phe ông thì không ai có thể làm gì ông và ông sẽ nhân danh Chúa mà hủy diệt mọi quốc gia bao vây ông (Psalms 118, 9- 10:  “Chúa về phe tôi, Tôi sẽ không sợ hãi, con người có thể làm gì được tôi?  Tất cả các nước bao vây tôi, nhưng nhân danh Chúa (nghĩa là với sự giúp đỡ của Chúa) tôi sẽ hủy diệt tất cả “ (The Lord is on my side; I will not fear.  What can man do to me?  All nations surrounded me, But in the name of the Lord I will destroy them).  Chúa giúp David để tiêu diệt các quốc gia bao vây ông, nghĩa là những quốc gia không tin Chúa nên là kẻ thù của Chúa. Vậy thì Chúa nhân từ ở chỗ nào, và nhân từ với ai?  Và những câu ca tụng Thần Giavê một cách lố bịch từ một đầu óc bệnh hoạn của David cách đây trên 3000 năm thì liên hệ gì đến các quốc gia khác mà Giáo hoàng phải dạy họ bắt chước David và dân Do Thái “không thể ngừng xướng lên ““Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).”   Trải qua bao thế kỷ, sự lắt léo của giáo hội Ca Tô trong việc xử dụng láo Thánh Kinh để truyền đạo vẫn không thay đổi.

   Phải chăng vì vậy mà Leo Tolstoy (1828-1910), văn hào Nga, đã phát biểu:

 

   “Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội (Ca-Tô)  là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành

   (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) 

 

   Nhận định của Leo Tolstoy quả là vẫn còn chính xác khi chúng ta đọc kỹ bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng John Paul II.

   Về những Phúc Âm trong Tân Ước, George H. Smith đã viết trong cuốn Vô Thần: Bản Án Chống Ki Tô Giáo (Atheism: The Case Against Christianity) như sau, trang 209: 

 

   “Qua thời gian và luôn luôn, những đoạn trong Cựu Ước bị xuyên tạc, diễn giải sai lạc và được trích dẫn ngoài toàn bộ vấn đề để dựng lên những lời tiên tri về Giê-su”

   (Time and again, Old Testament passages are distorted, misinterpreted and quoted out of context in the attempt to manufacture prophesies for Jesus). 

 

   Và ngày nay, sau gần 2000 năm, giáo hoàng Ca Tô John Paul II cũng không có sáng kiến nào thông minh hơn, lại chỉ có thể xử dụng thủ đoạn gian dối của những tác giả viết Phúc Âm, trích dẫn Thánh Kinh ngoài toàn bộ vấn đề, diễn giải lệch lạc để dựng lên cái gọi là “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa cho Á Châu.  Thật không có gì đáng khinh hơn trong thời đại tiến bộ trí thức ngày nay.  Đáng khinh vì ông ta đã lấy một câu của David ca tụng Thiên Chúa của David, coi đó như là một chân lý, và muốn người đời cũng phải ca tụng Thiên Chúa như David, bỏ qua tất cả những đoạn khác nói về Thiên Chúa trong Thánh Kinh hoàn toàn mâu thuẫn với lời ca tụng Thần Gia-vê, hay Thiên Chúa của John Paul II, như trên.

    Thật vậy, thực ra thì Thiên Chúa của John Paul II nhân lành như thế nào, và tình thương ngàn đời của Thiên Chúa ra sao?  Thánh Kinh đã viết rất rõ.  Chúng ta hãy chịu khó đọc kỹ Thánh Kinh thì sẽ thấy ngay. Nhưng trước hết là vài nhận định về “Thiên Chúa nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương “ mà giáo hoàng John Paul II dạy các giáo hội Á Châu phải “không ngừng xướng lên..”.

 

   Trước hết là nhận định của James A. Haught trong cuốn 2000 Years of Disbelief:

 

   Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với lòng thương yêu nhất mực không đứng vững.  Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

   (Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doens’t hold water.  If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDS, Alzheimer’s disease, and Down’s syndrome.  He mandated foxes to rip rabbits apart and cheetahs ro slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he’s a monster, not an all-merciful father.)

 

    Và theo Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson thì Chúa là “một nhân vật có cá tính cực kỳ độc ác, đầy hận thù, đồng bóng và bất công” (In the words of Thomas Jefferson, God is “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust”. 

    Thomas Jefferson nhận định đúng hay sai?  Sau đây chỉ là tóm tắt vài sự kiện trong Thánh Kinh chứng tỏ nhận định của Thomas Jefferson không hề sai sự thực. 

 

   Trong Amos 3, 6, nhà tiên tri Amos đặt câu hỏi:  “Nếu tai họa xảy ra trong một thị trấn, chẳng phải là Chúa đã gây ra hay sao?” (If there is calamity in a city, will not the Lord have done it?) và nhà tiên tri Jeremiah đồng ý,  Ca Thương (Lamentations) 3, 38: “Há chẳng phải từ miệng Đấng Tối Cao (Chúa) ra tai họa và an lành?” (Is it not from the mouth of the Most High that woe and well-being proceed?).  Và trong Isaiah 45, 6-7, chính Chúa đã khẳng định: “Ta là Chúa, và không có Chúa nào khác…Ta làm ra hòa bình và tạo ra tai họa; Ta, là Chúa, đã tạo ra tất cả những điều đó” (I am the Lord, and there is no other…I make peace and create calamity; I, the Lord, do all these things.)  Kết luận: Chúa chính là tác giả của những tai họa, và như vậy không thể nào là một “Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”

   Trong Cựu Ước, chúng ta thấy đầy dãy những chuyện độc ác mà tác giả chính là “Thiên Chúa cứu độ” của John Paul II.  Lẽ dĩ nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi không thể liệt kê tất cả những chuyện độc ác, vô đạo đức của Thiên Chúa như được viết trong Thánh Kinh.  Ở đây tôi chỉ đưa ra một số nhỏ những việc Chúa làm và chỉ dẫn quý độc giả có thể đọc ở đâu trong Thánh Kinh để có thể kiểm chứng những sự kiện này.

 

–         Thiên Chúa đòi hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11;  2 Samuel  21).

–         Thiên Chúa giết đứa con đầu lòng trong mọi gia đình Ai Cập (Exodus 12)

–         Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25)

–         Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21)

–         Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22)

–         Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31)

–         Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa tạo ra (2 Samuel 24)

–         Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ vì chúng chế riễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2)

–         Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đình tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, vì Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra, tội lỗi (Genesis 6) [Con người tội lỗi nhưng Chúa lại giết cả mọi sinh vật chính Chúa “sáng tạo” ra]

–         Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13)

–         Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật  (Genesis 17)

 

    Vài  trích dẫn trong số rất  nhiều điều  tương tự từ Thánh Kinh ở trên cũng đủ để cho chúng ta thấy là “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II độc ác như thế nào, và lời răn dạy của giáo hoàng cho các giáo hội Á Châu phải “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” có ý nghĩa gì, và nếu các giáo hội Á Châu tuân theo lời dạy của Giáo hoàng thì bản chất của họ có khác chi những nô lệ không có đầu óc.

   Hẳn chúng ta có người còn nhớ là Thomas Paine, sau khi đọc cuốn Thánh Kinh, đã viết trong cuốn Thời Đại Lý Trí như sau:

 

   “Bất cứ khi nào mà chúng ta đọc những chuyện tục tĩu, những chuyện trụy lạc dâm dục, những chuyện tra tấn giết người độc ác, những chuyện thù hận bất tận, những chuyện chứa quá nửa cuốn Thánh Kinh, thì đúng hơn chúng ta phải coi đó là những lời của một con ác quỷ chứ không phải là lời của Thiên Chúa.  Đây là một lịch sử của sự độc ác, đã được dùng để bạo hành nhân loại và làm cho con người đồi bại; và, về phần tôi, tôi thành thực ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác.”

   (Whenever we read the obscene stories, the voluptuous debaucheries, the cruel and torturous executions, the unrelenting vindictiveness, with which more than half the Bible is filled, it would be more consistent that we called it the word of a demon, than the word of God.  It is a history of wickedness, that has served to corrupt and brutalize mankind; and, for my part, I sincerely detest it, as I detest everything that is cruel.)

 

   Sau cùng, cái thuộc tính “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” của Thiên Chúa mà John Paul II dạy các giáo hội Á Châu nô lệ của ông là phải gia tăng nỗ lực mang đi rao bán ở Á Châu không thể phù hợp với những thực tế trong vũ trụ.  Sự hiện diện của những sự xấu ác trên thế giới từ trước tới nay vẫn là một cái gai đâm vào cạnh sườn của nền Thần học Ki Tô Giáo mà các nhà Thần học vĩ đại nhất của Ki Tô Giáo cũng không có cách nào nhổ nó ra được.  Những bất hạnh, đau khổ vật chất và tinh thần xảy ra cho loài người đã đương nhiên bác bỏ thuộc tính “nhân lành, muôn đời trọn tình thương” của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa được quan niệm là một bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, quá khứ cũng như vị lai.

   Các nhà thần học Ki Tô Giáo đã một thời cố gắng biện hộ cho Thiên Chúa của họ qua thuyết “Tự do ý chí” (free will) mà họ giảng là Thiên Chúa không muốn cho con người là những người máy (robot) mà là những con người có tự do trong ý chí hành động của mình.  Do đó, những điều xấu ác của con người gây ra không phải là lỗi của Thiên Chúa mà chỉ là lỗi của con người không biết xử dụng đúng quyền “tự do ý chí” mà Thiên Chúa ban cho loài người.  Lý luận này đã hoàn toàn bị bác bỏ vì những hiện tượng xấu ác không chỉ xảy ra trong xã hội loài người, mà còn xảy ra trong xã hội loài vật, và trong thiên nhiên.  Những bất hạnh xảy ra cho con người không thuần chỉ là tác phẩm của con người mà còn là những hành động của chính Thiên Chúa mà các hãng bảo hiểm không chịu bảo hiểm vì coi đó là những hành động của Thiên Chúa (Acts of God).

   Chúng ta hãy tự hỏi:  Thiên Chúa là bậc toàn năng, do đó có thể chọn lựa trong vô số phương pháp “sáng tạo” để tạo ra một vũ trụ tốt đẹp, hay một thế giới loài người tốt đẹp, vậy tại sao Thiên Chúa lại “sáng tạo” ra thế giới của chúng ta đầy những cảnh khổ đau mà chúng ta thấy thường ngày.  Chúng ta không thể nào không thắc mắc:

a).  Thiên Chúa “sáng tạo” ra ra rắn, rết, bọ cạp, các thú dữ cắn giết lẫn nhau, những con khổng long nay đã không còn trên trái đất, những cảnh cá lớn nuốt cá bé trong thế giới loài vật để làm gì?

b). Thiên Chúa “sáng tạo” ra những con ròi bọ, vi trùng, siêu vi trùng, vi trùng sinh ra bệnh AIDS và đủ các thứ bệnh khác như cùi hủi, ung thư  v..v.. để làm gì, giúp ích gì cho loài người mà Thiên Chúa tạo ra theo như hình ảnh của chính Thiên Chúa?

c). Thiên Chúa “sáng tạo” ra những cảnh thiên tai như: động đất, núi lửa, sóng thần, bão lụt, hạn hán, nạn đói, bệnh dịch v..v.., với kết quả là gây ra bao nhiêu bất hạnh và tai họa cho loài người để làm gì?

d).  Và sau cùng, tại sao Thiên Chúa lại để cho xảy ra những cảnh như một đứa bé vừa sinh ra đời, thật sự vô tội, đã trở thành ngay một quái thai, mất chân, mất tay, mắt mù, đầu óc trì trệ, và bị đủ mọi thứ khuyết tật?

 

   Kết luận?  Cái thế giới mà chúng ta sống trong đó không thể nào là sự sáng tạo của một Thiên Chúa “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương”, và hiển nhiên một Thiên Chúa như vậy chỉ có trong văn tự truyền đạo của giáo hội Ca Tô chứ thực ra không làm gì có Thiên Chúa, và dù chúng ta có tin một cách không cần biết, không cần hiểu theo như quan niệm của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng đi chăng nữa thì Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã thực sự bất lực, và do đó không thể giúp ích gì cho nhân loại.  Thật vậy, những thiên tai không chỉ xảy ra trên những miền đất không ai biết đến Thiên Chúa mà còn xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong những quốc gia hầu hết tin ở Thiên Chúa.  Những sự kiện lịch sử sau đây có thể dùng để bác bỏ quan niệm về một Thiên Chúa “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” của Ki Tô Giáo.

   Giữa thế kỷ 6 (540), bệnh dịch hạch (bubonic plague) phát ra ở Byzantine mà một tài liệu lịch sử ghi rằng đã làm chết hại gần 100 triệu người.

   Trong thế kỷ 14, Âu Châu có thể nói là hầu như toàn tòng Ca Tô Giáo Rô Ma.  Nhưng bệnh dịch hạch đã phát ra (1348-1350) và giết  hại  gần nửa  dân số Âu  Châu, toàn là những người tin Thiên Chúa.

    Trong thế kỷ 18, ở Bồ Đào Nha, một quốc gia toàn tòng Ca Tô Giáo Rô Ma, có một trận động đất làm chết hại 40000 người ở tỉnh Lisbon.  Về sự kiện này, Voltaire đã đặt câu hỏi:  “Phải chăng trong trận động đất này Thiên Chúa đã đích thân chọn để giết đi 40000 người dân Bồ Đào Nha ít đạo đức nhất?” (Did God in this earthquake select the 40000 least virtuous of the Portuguese citizens?).

   Rồi đệ nhất thế chiến, đệ nhị thế chiến, các quốc gia Âu Châu bị tàn phá, chẳng ai thấy mặt “Thiên Chúa nhân lành, ngàn đời vẫn trọn tình thương” ở đâu.

   Những sự kiện lịch sử trên và hàng trăm hàng ngàn những thiên tai, bệnh tật khác mà con người phải thường xuyên đối phó và khắc phục đã chứng tỏ rằng cái bánh vẽ “Thiên Chúa nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” trong “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa” không còn có một giá trị nào, hay còn đủ hấp dẫn để có thể khuyến dụ con người Á Châu cải đạo.

    Vậy mà Giáo hoàng John Paul II vẫn còn không hề biết ngượng, ra lệnh cho các giáo hội Á Châu:

Hãy cảm tạ Chúa đi, Vì Chúa nhân lành,

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

   Qua sự phân tích một đoạn ngắn ở đầu bản “Tông Huấn..”, chúng ta cũng đã có thể thấy rõ thực chất bản “Tông Huấn..” của Giáo hoàng John Paul II là như thế nào.  Tôi không nghĩ rằng một người ở địa vị và có trình độ học thức như ông ta lại không biết đến những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh ngày nay để mà hiểu rằng Thánh Kinh Ki Tô Giáo chẳng qua chỉ là một tác phẩm liên hệ đến lịch sử và niềm tin của  dân Do Thái khi xưa, tuyệt đối không làm gì có “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa cho bất cứ quốc gia nào ngoài Do Thái, khoan nói đến chuyện cho toàn thể Á Châu, trong đó.

   “Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa ở Á Châu” không có cách nào có thể thành công ở Á Châu được.  Tại sao?  Vì một lẽ rất đơn giản: Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành, đều đã và đang dùng những thủ đoạn không chính đáng, vô đạo đức, để thực hiện “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa ở Á Châu”, nói đúng hơn là “Kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu” của Ki Tô Giáo, và vì trí tuệ con người nay đã mở mang, không còn có thể dễ dàng lừa dối như trước nữa.  Đây chính là những chủ đề mà tôi muốn bàn tới trong Phần II về nền “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” và những “Thủ Đoạn Cải Đạo Á Châu của Ca Tô và Tin Lành.”

 

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: