Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

CÔNG GIÁO, TIN LÀNH VÀ SÁCH LƯỢC CẢI ĐẠO Á CHÂU – Trần Chung Ngọc

CÔNG GIÁO, TIN LÀNH VÀ SÁCH LƯỢC

CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

Trần Chung Ngọc

 

MỤC LỤC

 PHẦN  MỘT:  VÀI NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

 ·     NHẬN ĐỊNH VỀ TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN PAUL II VÀ BẢN CHẤT NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO CA-TÔ VÀ TIN LÀNH

  • ·     NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ THỨC TỈNH CỦA TÂY PHƯƠNG ĐƯA ĐẾN SỰ SUY THOÁI CỦA KI TÔ GIÁO
  • ·     NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“ (ECCLESIA IN ASIA) CỦA GH JOHN PAUL II

 PHẦN  HAI:  THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á & NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

 VÀI LỜI KẾT

 

 


 

 

 

PHẦN  MỘT

 VÀI NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

 

 1.  NHẬN ĐỊNH VỀ TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN PAUL II VÀ BẢN CHẤT NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO CA-TÔ VÀ TIN LÀNH

ĐÂY LÀ MỘT CON NGƯỜI (JONH PAUL II) HOÀN TOÀN ĐÁNG KHINH BỈ VÀ LỊCH SỬ SẼ PHÁN XÉT ÔNG TA NHƯ VẬY.

   (This is a thoroughly despicable man and history will judge him as that.- DR. MADALYN O’HAIR)

    TRONG KHI THAM GIA MỘT CUỘC HỌP ĐA TÔN GIÁO, GIÁO HOÀNG (JPII) NÓI ĐẾN ĐỐI THOẠI, SỰ HIỂU BIẾT, VÀ SỰ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO.  NGÀY HÔM SAU, ÔNG TA NÓI NGƯỢC TRỞ LẠI, NHẤN MẠNH KI TÔ GIÁO LÀ TÔN GIÁO CHÂN THẬT DUY NHẤT, VÀ KÊU GỌI TÍN ĐỒ ĐI CẢI ĐẠO Á CHÂU.  ĐÂY LÀ THÁI ĐỘ ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ LỪA DỐI CỐ Ý TỆ MẠT NHẤT.

    (While attending an inter-faith meeting, the Pope talked about dialogue, understanding, and solidarity between religions. The next day he reverted back to his insistence on Christianity  as the only true religion, and gave a call to convert Asia. This is hypocrisy and duplicity at its worst. – MAC KHER (WWW.NYCNY.COM)

 

     Theo bản tin BBC ngày 6 tháng 11, 1999, trong cuộc viếng thăm Ấn Độ, giáo hoàng John Paul II đã kêu gọi các Chính Quyền Á Châu hãy bảo đảm tự do tôn giáo (Pope John Paul II has called on Asian Governments to guarantee religious freedom).  Theo giáo hoàng John Paul II thì cái thứ “Tự do tôn giáo” mà ông ta hiểu và đòi hỏi là “tự do cải đạo theo Ca-tô Giáo Rô-ma” chứ không thể ngược lại, hay nói cách khác, hãy để cho những giám mục, linh mục trong đạo quân thứ 5 của ông tại các quốc gia Á Châu, hoặc những giám mục, linh mục được ông phái tới, được tự do tuyên truyền cải đạo qua những thủ đoạn phi tôn giáo trong những quốc gia này, chứ không ai có quyền cướp đi tín đồ của ông.  Tại sao?  Vì John Paul II cho rằng tất cả mọi người trên thế gian đều cần đến cái ơn “cứu rỗi” của một người Do Thái có một tiểu sử bất minh, đã bị đóng đinh trên một cái giá gỗ hình chữ thập, chết và táng xác cách đây gần 2000 năm, mà một số người Do Thái tin là vị cứu tinh của dân tộc họ, và sau này nền thần học Ki Tô Giáo đã đôn lên làm Chúa của nhân loại.  Giáo hoàng John Paul II cũng cho rằng chỉ có Ca Tô Giáo Rô-ma là có thẩm quyền mang sự “cứu rỗi” tưởng tượng đó cho nhân loại, một thẩm quyền tự ban, và kéo mọi người vào đức tin Ca-Tô với bất cứ thủ đoạn nào là một nhiệm vụ thiêng liêng của tín đồ Ca-Tô giáo, vì đó là làm theo ý Chúa, thực ra là ý của giáo hội, vì  có ai biết được ý Chúa ra sao đâu.

 

   Chúng ta chắc chưa ai quên, vào năm 1996, trước sự kiện mỗi ngày tại Nam Mỹ và Phi Châu có tới 8000 tín đồ Ca-Tô Giáo Rô-Ma bỏ đạo để theo Tin Lành, giáo hoàng John Paul II đã mất bình tĩnh, và để lộ đạo đức tôn giáo chân thật của người chủ chăn Ca-Tô, người mà các tín đồ Ca-Tô vẫn thường gọi là “đức thánh cha” (Holy Father), “đại diện của Chúa Ki Tô trên trần” (Vicar of Christ), khi ông gọi những nhà truyền giáo Tin Lành ở những nơi đây là “những con chó sói đói mồi..gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng của chúng ta.” (Newsweek, Feb. 12, 1996:  John Paul II denounces them (the Protestant missionaries)  as   ravenous  wolves…causing  discord  and division in our communities.). 

    Nhưng chỉ vài năm sau, như tự tát vào chính mặt mình, ông ta đã thúc dục những giám mục của ông ta phải tăng gia nỗ lực đi cải đạo các tín đồ tôn giáo khác ở Á Châu. (BBC, Ibid.: The Pope called on the bishops to step up evangelisation (in Asia)).

   Chúng ta hãy đặt một câu hỏi: bản chất của những giám mục này có khác chi những nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu mà ông ta đã gọi là “những con chó sói đói mồi gây bất hòa và chia rẽ”?  Nếu những nhà truyền giáo Tin Lành đi cải đạo các tín đồ Ca-Tô, theo giáo hoàng John Paul II, là những con “Chó sói (Tin Lành) đói mồi”, thì những nhà truyền giáo Ca-Tô hay Tin Lành ở Á Châu hay đi đến Á Châu để cải đạo dân Á Châu, “gây bất hòa và chia rẽ” trong những cộng đồng phi-KiTô là gì?  Có lẽ giáo hoàng không hề nghĩ đến câu hỏi này mà người ngoại đạo có thể đặt ra.

 

   Đối với người phi Ki-Tô thì  những thừa sai Ca Tô và Tin Lành hoàn toàn không có gì khác biệt, vì họ có cùng một bản chất và cùng một mục đích: đi cướp tín đồ, gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng phi Ki-Tô.  Kinh nghiệm Việt Nam đã chứng tỏ quá trình truyền đạo Ca Tô vào đất nước thân yêu của chúng ta, vốn vẫn sống trong tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, hòa hợp và thuần nhất, đã gây ra những cảnh bất hòa, chia rẽ trong gia đình những kẻ tân tòng, và gây ra cảnh chia rẽ, Lương Giáo tàn sát lẫn nhau trong xã hội Việt Nam.  Và gần đây, chiến lược truyền đạo Tin Lành trong một vài miền cao nguyên Việt Nam cũng đã gây ra những cảnh chia rẽ, xáo trộn trong xã hội. 

 

    Theo sự hiểu biết của tôi về những nhà truyền giáo Ki Tô, tôi phân họ ra làm hai loại người. 

 

 a).  Loại người đi truyền giáo thứ nhất là những người cuồng tín, đần độn (fanatic, stupid) theo nghĩa trong thời đại tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay mà vẫn còn tin vào những điều huyễn hoặc vô căn cứ, không thể kiểm chứng được ở trong Thánh Kinh Ki Tô giáo, coi chúng đích thực là những lời mặc khải của một vị Thần của người Do Thái khi xưa, không thể sai lầm, và do đó, không chấp nhận, loại bỏ bất cứ sự kiện nào trái ngược với Thánh Kinh.  Phần lớn những nhà truyền giáo thuộc loại này là Tin Lành. Họ được nhồi sọ để tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, được huấn luyện kỹ để mang những đoạn vụn vặt trong Thánh Kinh ra giảng một cách méo mó, lệch lạc, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) trong khi kiến thức tổng quát của họ về Thánh Kinh, về lịch sử Ki Tô Giáo, và về những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay thường rất hạn hẹp.  Ngay cả những ngôi sao Tin Lành trên TV như Jerry Falwell, Pat Robertson, và Franklin Graham, con của Billy Graham cũng thuộc loại cuồng tín, ngu đần tôn giáo. [Ngu đần tôn giáo ở đây chỉ có nghĩa là, về vấn đề tôn giáo, vẫn còn bám vào những tín lý đã lỗi thời, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của con người về vấn đề tôn giáo, và nhắm mắt bác bỏ mọi sự kiện trái nghịch với niềm tin của mình.  Mục sư  Tin Lành Ernie Bringas gọi những đầu óc ngu đần này là những đầu óc có một khuyết tật (an astrolabe mind), một loại đầu óc trong đó có một khoảng cách kiến thức về tôn giáo, và khoảng cách này đã đưa những người có đầu óc như vậy về trình độ của thế kỷ 17.]  Điều này chúng ta có thể thấy rõ qua sự kiện sau đây.  Sau vụ hai máy bay lao vào Trung Tâm Giao Thương Quốc Tế (World Trade Center) ngày 11 tháng 9, 2001, những nhà truyền giáo trên đã lên tiếng tấn công Hồi Giáo là một ngụy tôn giáo (false religion) và tuyên bố rằng Allah là một “ngụy Thiên Chúa” (false God).  Sự ngu đần của những nhà truyền giáo nổi danh trên là ở chỗ họ không biết rằng Allah chính là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.  Tiếng Ả Rập Allah là Thiên Chúa cũng như tiếng Pháp Dieu là Thiên Chúa, tiếng Đức Gott là Thiên Chúa.  Theo Kinh Qur’an và giáo lý của Muhammad về sau thì Allah chính là Thiên Chúa mà người Do Thái và các tín đồ Ki Tô, Hồi Giáo cùng thờ phụng, và Thiên Chúa chung của ba tôn giáo Do Thái, Ki Tô, Hồi Giáo đã nói với nhân loại qua nhiều nhà tiên tri và ngôn sứ như Noah, Abraham, Moses, David, John the Baptist, Jesus, Muhammad.  Tên của Jesus được nhắc đến 93 lần trong Kinh Qur’an của Hồi Giáo. 

 

     Sự cuồng tín và ngu đần tôn giáo của những nhà truyền giáo Tin Lành Việt Nam cũng có thể thấy rõ khi chúng ta vào trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt Nam ở Mỹ và đọc những bài viết trong đó, những bài truyền đạo và giảng đạo rất ấu trĩ, phản ánh những trình độ hiểu biết về tôn giáo rất thấp kém và đi ngược thời gian, với hi vọng viển vông là có thể thuyết phục được con người ngày nay trở thành những “tôi tớ hèn mọn” siêng năng hầu việc một người Do Thái mà họ gọi là Chúa nhưng thực chất chỉ là một anh thợ mộc Do Thái tầm thường như nhiều chuyên gia về Ki Tô Giáo đã chứng minh, dựa trên những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh về cổ sử [Xin đọc cuốn Chúa Giê-su Là Ai ?  Giảng Dạy Những Gì? của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, 2002]. 

 

   Những nhà truyền giáo Tin Lành hầu như không biết gì về các tôn giáo và truyền thống văn hóa địa phương, những nơi mà họ được phép đến truyền đạo, hoặc có biết chăng chỉ là những điều xuyên tạc trong chương trình đào tạo họ.  Họ tin rằng cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo có thể giải đáp được mọi vấn đề, và coi tất cả những gì phi Ki-Tô hay những tôn giáo phi Ki-Tô đều thấp kém, là sản phẩm của Satan.  Tiêu đề chính của những người truyền đạo Tin Lành này là hãy tin thì sẽ được tất cả, hay đức tin biện minh cho tất cả (justification by faith). Cho nên, đối với Tin Lành, nếu thực tế sai với Thánh Kinh thì phải loại bỏ thực tế, nếu khoa học mà phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học tốt (Good science), nếu khoa học mà không phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học xấu (Bad science).   Bởi vậy, cho tới ngày nay mà những tín đồ tân tòng Tin Lành như “Tiến sĩ” Lê Anh Huy ở Mỹ, Khuất Minh ở Việt Nam v..v.. vẫn còn cố gắng bác bỏ thuyết Tiến Hóa bằng những lý luận rất ấu trĩ trong khi từ Giáo Hoàng Ca Tô cho tới các nhà thần học trong Ki Tô Giáo đều đã phải chấp nhận thuyết Tiến Hóa trước những bằng chứng tràn ngập trong nhiều bộ môn khoa học.  

   Tin Lành cũng tuyệt đối tin rằng con người sinh ra trong tội lỗi (born in sin) và do bản chất đó, con người không thể làm gì tốt (by nature, incapable of doing good),  phải bị đày đọa vĩnh viễn (To be a sinner is to be destined to eternal damnation), và cách duy nhất để được cứu rỗi là phải tin vào quyền năng của Giê-su, tuy rằng ngày nay, trước sự tiến bộ của nhân loại, tin vào quyền năng “cứu rỗi” của Giê-su đã trở thành một điều mê tín vô nghĩa, chỉ còn sót lại trong đám tín đồ thấp kém.

 

   Thật vậy, nhân loại không sinh ra trong tội lỗi, không cần đến sự “cứu rỗi” của Giê-su, như chính giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã khẳng định trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die) như sau:

  “Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong phép rửa.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, sẽ mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không được rửa.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin.”

  (We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)

 

   Do đó những tín đồ Tin Lành thường là những người, về vấn đề tôn giáo, không bao giờ cần dùng đến lý trí, đến khả năng phán đoán của con người, hay nói cách khác là tự chấp nhận từ bỏ thân phận làm người để trở thành những tôi tớ hèn mọn của Chúa, siêng năng hầu việc Chúa, như họ thường tự nhận, với một ảo vọng là sẽ được Chúa “cứu rỗi” (sic), lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, cho họ sống một cuộc sống đời đời bên Chúa trên một thiên đường (mù). 

   Bản chất của Tin Lành không khác gì Ca Tô vì cả hai đều cùng có một quan điểm về nhân loại học (anthropology).  Các tín đồ của hai tôn giáo này khác nhau ở một điểm:  Tín đồ Ca Tô là nô lệ của chế độ giáo hoàng, còn tín đồ Tin Lành là nô lệ của cái mà họ gọi là Thánh Kinh.  Mục sư Tin Lành Ruben Alves đã giải thích điều này trong cuốn Protestantism and Repression, trang 43, như sau: 

 

   “Điểm quan trọng nhất là, về phương diện lịch sử và thần học, Tin Lành – đặc biệt là khi bắt đầu sự cải cách giáo hội của Luther – trước hết chỉ là sự sửa đổi của ý hệ Ca Tô, trong đó sự trình bày những vấn nạn của Ca Tô Giáo được giữ nguyên, nhưng được diễn giải khác đi.”

   (The point of primary importance is that, historically and theologically regarded, Protestantism – especially at the outset in Luther’s reform of the Church – was, in the first place, simply a modification of Catholicism, in which the Catholic formulation of the problems was retained, while a different answer was given to them)

 

      b).  Loại người đi truyền giáo thứ hai là loại bất lương trí thức (intellectually dishonest), nghĩa là những người đã biết rõ sự thật về những huyền thoại trong Ki Tô Giáo, về những ngụy tạo thần học trong giáo hội, nhưng vì những quyền lợi vật chất và tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, và vì nằm trong những mưu đồ thế tục, chính trị đế quốc, nên vẫn tiếp tục đưa ra thủ đoạn giữ độc quyền diễn giải Thánh Kinh một cách lắt léo như sẽ được chứng minh qua sự phân tích một đoạn trong bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” của giáo hoàng John Paul II trong mục 3, hoặc tiếp tục đưa ra những luận điệu thần học lừa dối đã lỗi thời, thí dụ như “Chúa Giê-su sinh ra từ một trinh nữ”, “Giê-su chịu chết để chuộc cái tội tổ tông cho nhân loại”, “Giê-su sống lại và bay lên trời ngồi bên phải Chúa Cha”, “Giê-su có khả năng cứu rỗi những người tin ông, nghĩa là đến ngày phán xét, sẽ làm cho xác chết sống lại nhập với linh hồn và được sống đời đời bên ông ở trên thiên đường” v..v.. những tín lý, tín điều đã bị giới trí thức trên thế giới, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, dứt khoát bác bỏ vì chúng thuộc loại huyền thoại của người Do Thái cách đây đã trên dưới 2000 năm, để mê hoặc những đầu óc thấp kém, cả tin, đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn vật chất v..v.. ở trong những quốc gia kém phát triển về kinh tế, để lùa họ vào trong tín ngưỡng Ki-Tô, tín ngưỡng đang suy thoái ở trong các quốc gia văn minh tiến bộ.  Phần lớn những nhà truyền giáo thuộc loại này là Ca-Tô.  Vài sự kiện sau đây sẽ chứng tỏ nhận định trên không phải là vô căn cứ.

 b.1.  Năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học.  Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến.  Ông ta nói với các khoa học gia là cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế. (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God).  Giáo hoàng, và lẽ dĩ nhiên giáo hội, đã thừa nhận là vũ trụ này sinh ra từ một sự nổ lớn, theo như thuyết “Big Bang” trong khoa học. Điều này đã dứt khoát chôn vùi thuyết sáng tạo trong thánh kinh, dù giáo hoàng đã vớt vát bằng một câu hoàn toàn vô nghĩa: “Big Bang là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế”.  Vô nghĩa vì giáo hoàng không hề có một chút kiến thức nào về khoa học nên đã nói bừa là ngay lúc Big Bang là “lúc sáng tạo” của Thượng đế.  Vì Big Bang chẳng qua chỉ là sự nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng nóng, vô cùng đặc, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay. Nóng bao nhiêu, và đặc như thế nào?  Các khoa học gia đã tính ra được là sau khi nổ khoảng một phần ngàn giây đồng hồ (1/1000 sec) thì nhiệt độ của Big Bang vào khoảng “một ngàn tỷ độ” (1012 độ) và tỉ trọng của khối cầu lửa khi đó vào khoảng 100,000 tỷ gram (1014 g) cho 1 phân khối.  Để có một khái niệm về nhiệt độ và tỉ trọng của Big Bang chúng ta nên biết là nhiệt độ của mặt trời chỉ vào khoảng 6,000 độ, và tỉ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối.  Với nhiệt độ của Big Bang như vậy thì Thượng đế nào tạo ra Big Bang cũng phải tự mình bị thiêu hủy ngay tức khắc, còn đâu nữa để mà sau này đi dạo trong vườn địa đàng nói chuyện với Adam, hay hiện ra trước ông tổ Do Thái Abraham của những người đi đạo Việt Nam. Giáo hoàng nói vớt vát như vậy là chỉ để lừa dối đám con chiên thấp kém đầu óc vốn mù mịt, chứ còn người ngoài, ai nghe câu trên cũng phải bưng miệng cười. Chúng ta cũng nên biết, năm 1981, thuyết Big Bang chưa được hoàn chỉnh, mà tòa thánh đã công nhận thuyết Big Bang rồi.  Phải đến năm 1992, khi phi thuyền COBE (COsmic Bacground Explorer) dò ra được những vân (ripples) trong bức xạ nền (background radiation) của vũ trụ, thuyết Big Bang mới được công nhận là hoàn chỉnh và rốt ráo.  Khi công nhận thuyết Big Bang thì Tòa Thánh cũng đã công nhận là thuyết Sáng Tạo trong Cựu Ước chỉ là một huyền thoại cổ xưa của dân Do Thái, không có một giá trị nào đối với những dân tộc khác.

 

b.2.  Năm 1992, giáo hoàng đã công khai nhìn nhận là giáo hội đã sai lầm trong vụ án Galileo Galilei.  359 năm về trước, Giáo hội bắt Galilei phải sửa lại kết quả nghiên cứu khoa học của ông ta (rằng trái đất quay xung quanh mặt trời) cho đúng với những lời “mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh” (nghĩa là trái đất đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đất), rồi giam ông ta tại gia cho đến khi chết.  Sự nhìn nhận sai lầm của Tòa Thánh trong vụ Galilei cho thấy thánh kinh sai và kéo theo vấn đề: nếu thánh kinh đã sai về vũ trụ học thì có gì bảo đảm là thánh kinh không sai về nhiều điều khác nữa.  Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu thánh kinh đều đồng thuận ở điểm là thánh kinh có rất nhiều sai lầm cả về thần học lẫn khoa học.  Do đó, thánh kinh không phải là những lời “mạc khải” không thể sai lầm của một Thượng đế toàn năng toàn trí, như lời giáo hội vẫn thường dạy cho những tín đồ bảo sao nghe vậy.  Thực tế cũng cho thấy rằng, trí tuệ của con người ngày nay đã vượt xa trí tuệ của bậc “toàn năng, toàn trí” trong Thánh Kinh Ca-Tô rất nhiều.  Ấy thế mà người ta vẫn đi thờ phụng một “đấng” mà trí tuệ kém cỏi hơn người đời rất nhiều.  Thật là kỳ lạ.

 

b.3.  Năm 1996, giáo hoàng  đã đặt chắc thẩm quyền giáo lý của Ca-Tô giáo sau quan điểm là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”.  Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).  Chấp nhận thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.

 

b.4.  Tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).  Như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ phần giáo lý quan trọng nhất của giáo hội Ca-Tô: Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 76, Giáo hoàng đã trích dẫn một câu trong Tân ước, John 3: 16, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”,  làm luận điểm trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần phải cứu rỗi?” .  Không có thiên đường trên các tầng mây, không có hỏa ngục nơi lòng đất, vậy ý nghĩa của cuộc sống đời đời bên cạnh Chúa, và bị luận phạt, đầy đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục, đã trở thành những điều thậm vô nghĩa, thuộc loại mê tín hoang đường.

    Tôi tin rằng tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô không hề biết đến những thay đổi trong nội bộ giáo hội về căn bản tín ngưỡng Ca-Tô mà giáo hoàng đã thú nhận như trên vì họ vẫn bị giam chặt trong sách lược của giáo hội là duy trì và khai thác tối đa sự mê tín và giữ cho tín đồ “càng biết ít càng tốt”.  Như vậy có phải họ thật là tội nghiệp và đáng thương không?

    Điều đáng buồn là trong khi phần lớn thế giới đã biết đến những lời thú nhận của Giáo hoàng John Paul II như trên, những lời thú nhận hàm ý nền thần học Ca-Tô Giáo tạo thành căn bản tín ngưỡng Ca-Tô đã không còn một giá trị thực sự nào trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, thì các tín đồ Ca-Tô vẫn còn sống trong bóng tối của sự ngu dốt tôn giáo, theo nghĩa không được biết đến những sự thật ngay chính trong giáo hội của mình, khoan kể đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại về vấn đề tôn giáo.

  Và điều đáng khinh là một mặt giáo hội vẫn cố gắng ngăn chận sự phổ biến những diễn biến như trên trong quần chúng giáo dân, một mặt vẫn đưa ra những tín lý đã lỗi thời mà chính giáo hội đã công khai bác bỏ để bắt tín đồ phải tin, và nhất là phải tin vào vai trò trung gian tự phong của giáo hội, định chế duy nhất có thể đem lại sự “cứu rỗi” cho giáo dân, và ngày nay lại còn toan tính mang những điều mê tín đã lỗi thời, ngụy trang sau mỹ danh “Thần học theo cung cách Châu Á” để mê hoặc người dân Á Châu, nhằm cải đạo họ.  Tôi cho như vậy là không được lương thiện, vì giáo hội vẫn đưa ra những giáo lý mà chính giáo hội không còn tin để lừa dối và mê hoặc đầu óc tín đồ.  Để làm gì, nếu không phải là để duy trì những quyền lợi thế tục?  Và những thuộc hạ của giáo hoàng, giới giám mục và linh mục, tuân theo sách lược đi cải đạo Á Châu trong khi đã biết rõ là những chuyện “chuộc tội” hay “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những huyền thoại của dân Do Thái cổ xưa, phải chăng bản chất chỉ là những nô lệ thiếu lương thiện trí thức của Vatican?

    Sự thiếu lương thiện của tòa thánh thực ra cũng chẳng có gì là mới lạ mà có thể coi như là truyền thống của Vatican.  Trong cuốn Tội Lỗi Của Các Giáo Hoàng: Cấu Trúc Của Sự Lừa Dối (Papal Sin: Structures of Deceit) sử gia Ca Tô Garry Wills đã dùng tới 230 trang qua 15 chương để viết về hai đề tài: Bất Lương Trong Sự Bóp Méo  Lịch Sử (Historical Dishonesty) và Bất Lương Trong Vấn Đề Truyền Bá Giáo Lý (Doctrinal Dishonesty).

     Lẽ dĩ nhiên, Ca-Tô và Tin Lành đều có những nhà truyền giáo thuộc cả hai loại trên.  Điều này sẽ được chứng minh trong phần phân tích về sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo nói chung ở Á Châu.

   Trong cuộc viếng thăm Ấn Độ vào tháng 11 năm 1999, giáo hoàng John Paul II cũng còn ban hành một văn kiện gọi là “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia), từ đây về sau được gọi ngắn là “Tông Huấn..”.  Nội dung bản “Tông Huấn” này là chỉ đạo đường hướng cho  một sách lược xâm lăng văn hóa, tôn giáo, và truyền thống Á Châu, đã được hoạch định từ Công Đồng Vatican II, 1962-65, và nhất là dựa trên một niềm hoang tưởng của chính giáo hoàng.  Ông phát biểu: “Dân Á Châu cần tới Giê-su Ki Tô và Tin Mừng của người.  Á Châu đang khát nước, một loại nước để sống mà chỉ có Giê-su mới có thể cho họ” (The people of Asia need Jesus Christ and his gospel.  Asia is thirsting for the living water that Jesus alone can give.).

   Đây chính là một điều hoang tưởng vì ở trong thế giới  Âu Mỹ, cái nôi của Ki Tô Giáo nói chung, cái mà Ki Tô Giáo gọi là Tin Mừng của Giê-su đã đang rơi vào những cặp tai không còn muốn nghe, và các tôn giáo Á Châu, nhất là Phật Giáo, càng ngày càng được các dân tộc Âu Mỹ biết đến vì đã nhận ra chân giá trị của Phật Giáo, những giá trị nhân bản vượt xa giá trị thần học của Ki Tô Giáo.  Vậy Á Châu đâu có cần đến cái đồ phế thải của Âu Mỹ?  Phế thải vì những lời thú nhận của giáo hoàng về nguồn gốc vũ trụ, về thuyết tiến hóa, về thiên đường và hỏa ngục v..v.. ở trên đã đương nhiên bác bỏ thuyết sáng tạo, huyền thoại con người sa ngã nên cần đến sự chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su, cuộc sống đời đời trên thiên đường v..v..  Vậy thì Á Châu cần đến Giê-su để làm gì, và Tin Mừng của Giê-su là tin mừng như thế nào?  Tin mừng đối với ai?  Chắc chắn không phải là đối với những người như David Voas, giáo sư đại học, tác giả cuốn sách nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước (The Bad News Bible: The New Testament).  Phải chăng cái mà giáo hoàng cho là tin mừng chẳng qua chỉ là những luận điệu lừa dối và hứa hẹn không tưởng mà nền thần học của giáo hội đưa ra để khuyến dụ đám người đầu óc thấp kém? 

 

   Trong một bài diễn văn tại Maribor, Slovenia, ngày 19 tháng 5 năm 1996, giáo hoàng John Paul II đã kêu gọi các quốc gia phải bảo tồn nền văn hóa dân tộc, nguyên văn như sau: “Các quốc gia phải gìn giữ nền văn hóa của họ như là một biểu thị của phẩm cách quốc gia” (Countries must preserve their culture as an expression of national dignity).  Nhưng tới năm 1999 ông ta lại thúc dục thuộc hạ đủ các cấp của ông phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu, một hình thức xâm lăng văn hóa, vì nền văn hóa nhân bản, định cư, hòa bình của Á Châu hoàn toàn đối ngược với nền văn hóa qui thần, hiếu chiến và khát máu của Ki Tô Giáo như  lịch sử thế giới đã chứng minh.  Ở đây, có ai mà không nhận ra bộ mặt đạo đức giả của vị chủ chăn Ca Tô?

    Để biện minh cho sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của mình, Giáo hoàng còn nói: “Cải đạo là một nhân quyền” (The Pope said that religious conversion is a human right).  Vậy tại sao ông lại phỉ báng những nhà truyền đạo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu là “những con chó sói đói mồi”?  Vậy nhân quyền, theo quan niệm của ông là như thế nào?  Con người chỉ có quyền cải đạo vào Ca Tô Giáo Rô Ma chứ không có quyền cải đạo vào những tôn giáo khác?  Nhưng thực ra ông ta đã nhập nhằng quyền tự do cải đạo của con người với những thủ đoạn bất chính mà những nhà truyền giáo Ki Tô dùng để đi cải đạo tín đồ của những đạo khác.  Hai điều này hoàn toàn khác nhau.  Đúng vậy, con người, khi tìm hiểu về tôn giáo, muốn tin theo đạo nào thì đó là một nhân quyền.  Nhưng sách lược của một tổ chức quốc tế, dù là một tổ chức tôn giáo như Ca-Tô hay Tin Lành, dùng những thủ đoạn không chính đáng, lừa dối, phi tôn giáo để cải đạo người khác thì đó không phải là nhân quyền, nghĩa là quyền của con người, mà đó chỉ là một hình thức xâm lăng tôn giáo và văn hóa của một định chế có tổ chức (organized institution), ngụy trang đàng sau bộ mặt tôn giáo.  Thật là rõ ràng, chiêu bài Nhân Quyền hay Tự Do Tôn Giáo của Giáo hoàng chỉ để thực hiện âm mưu cải đạo người khác vì chính bản chất của cấu trúc  Ca Tô Giáo Rô Ma là không tôn trọng Nhân Quyền và không chấp nhận Tự Do Tôn Giáo.  Cho nên, không một nước nào có ý thức quốc gia dân tộc lại có thể chấp nhận sự xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ca Tô Giáo ngụy trang đàng sau bộ mặt Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.  Do đó, thật là dễ hiểu khi chúng ta thấy các nước trong khối Hồi Giáo, Do Thái, Trung Quốc,  Nga, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam v..v.. đều không chấp nhận sách lược truyền đạo với tính cách xâm lăng văn hóa của Ki Tô Giáo. 

    Trước những ngôn từ  không có đạo đức tôn giáo, và những hành động mâu thuẫn, lời nói không đi đôi với việc làm của giáo hoàng John Paul II, chúng ta thấy vị tự nhận là đại diện của Chúa Ki Tô trên trần (Vicar of Christ) rõ ràng là một con người xảo quyệt và đạo đức giả chưa từng thấy.  Theo rõi những hành động của giáo hoàng chúng ta thấy bộ mặt đạo đức giả của ông ta đã phần nào đánh lừa được thế giới, và với nhiều phương tiện truyền thông trong tay, giáo hội Ca Tô đã phần nào thành công trong việc đánh bóng giáo hoàng của họ.  Đi đến đâu, giáo hoàng cũng ngỏ lời xin lỗi, làm ra vẻ thành thực thống hối về cái lịch sử tàn bạo của giáo hội, cũng cổ súy đối thoại tôn giáo, làm ra vẻ tôn trọng các nền văn hóa và tôn giáo khác, và luôn luôn đề cao hòa bình.  Và gần đây, tháng 4, 2003, trong dịp mà người Ki Tô Giáo gọi là Phục Sinh, giáo hoàng đã lên tiếng trước 60000 tín đồ ở Vatican, sau vụ Mỹ dùng vũ lực tấn công Iraq bất kể sự phản đối của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc: “Xin Thiên Chúa giúp để tránh một cuộc xung đột bi thảm giữa các nền văn hóa và tôn giáo.”  (Chicago Tribune, Monday April 21, 2003, p. 4: The 82-year-old pontiff asked God’s help in avoiding a “tragic clash” between cultures and religions.). Ông ta thừa biết rằng Thiên Chúa của ông ta chưa bao giờ can thiệp vào bất cứ chuyện gì của thế gian vì lịch sử nhân loại đã chứng tỏ như vậy.  Nhưng đàng sau cái bộ mặt thánh thiện để trình diễn trước công chúng và báo chí này là những hành động trái ngược hẳn lại như chúng ta đã biết: dùng ngôn từ thiếu văn minh để gọi các nhà truyền giáo Tin Lành, tung ra tài liệu “Dominus Jesus” để khẳng định cái mà ông ta dùng để kéo những người không có đầu óc vào đức tin Ca Tô: sự “cứu rỗi” duy nhất của Giê-su qua trung gian Ca Tô Giáo Rô Ma, và bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) mà nội dung tất cả những bản văn này hoàn toàn có tác dụng gây va chạm, chia rẽ và thù nghịch giữa các nền văn hóa và tôn giáo.  Như vậy có phải là đạo đức giả hay không?  Người nào không đồng ý, xin lên tiếng.  Trong phần sau, tôi sẽ vạch trần sự lắt léo của giáo hoàng khi phê bình đoạn đầu trong bản “Tông Huấn..” của ông.

   Cho nên chúng ta cũng không lấy gì làm lạ khi thấy giới trí thức Âu Mỹ đã đưa ra những lời nhận định không mấy tốt đẹp  về ông, dù ông là vị chủ chăn của gần 1 tỷ tín đồ trên khắp thế giới,  và ngay cả nhiều tín đồ của ông cũng coi thường ông, không coi những tông huấn của ông ra gì.  

   Mac Kher đã phê bình đạo đức tôn giáo của giáo hoàng như sau:

 

   “Trong khi tham gia một cuộc họp đa tôn giáo, Giáo hoàng nói đến đối thoại, sự hiểu biết, và sự đoàn kết giữa các tôn giáo.  Ngày hôm sau, ông ta quay trở lại nhấn mạnh Ki Tô Giáo là tôn giáo chân thật duy nhất, và kêu gọi tín đồ đi cải đạo Á Châu.  Đây là sự đạo đức giả và lừa dối cố ý  tệ mạt nhất.

    (While attending an inter-faith meeting, the Pope talked about dialogue, understanding, and solidarity between religions. The next day he reverted back to his insistence on Christianity  as the only true religion, and gave a call to convert Asia. This is hypocrisy and duplicity at its worst.)

 

   Và trước đây, khi được hỏi ý kiến về vị thế cao cả của Giáo Hoàng John Paul II trong lãnh vực chính trị quốc tế và ảnh hưởng những ý kiến của Ngài đối với các tín đồ (What is your opinion of Pope John Paul II’s high standing in the world’s political affairs, and effect his opinions make on  his followers?) ,  Tiến Sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người Mỹ không tin có Thiên Chúa, đã trả lời như sau:

    “Những phương tiện truyền thông trong các xứ Ca-Tô đều phụ thuộc Giáo Hoàng và dựng ông lên như là một lãnh tụ danh tiếng của thế giới.  Ông  ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm.  Nên lên án ông trước tòa án thế giới về những tội ác chống lại nhân loại vì những thái độ độc đoán đối với giới phụ nữ trong mọi quốc gia.  Ông ta đã tái áp đặt chế độ kiểm duyệt, tái lập văn phòng có tính chất xử dị giáo, kêu gọi phụ nữ sinh sản nhiều và lệ thuộc phái nam,  tố cáo khoa học và giáo dục,  và không có nỗ lực nào ngăn chặn sự  phát triển vũ khí hạt nhân.. Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.

   Ảnh hưởng những ý kiến của ông trên tín đồ có thể thấy rõ trong nước Mỹ, nơi đây giới phụ nữ CaTô dùng thuốc ngừa thai nhiều hơn là những phụ nữ Tin Lành.  Giới phụ nữ trong giáo hội của ông ta coi thường ông ta trên những vấn đề như kiểm soát sinh sản và mang thai.  Trong triều đại của ông số  người chọn nghề linh mục ít hơn bao giờ hết, và số phụ nữ vào nghề nữ tu cũng ít hơn.

   Giáo hội Ca Tô Rô Ma  cho rằng có nhiều tín đồ đông thứ nhì trên thế giới… Vì số tín đồ đông đảo như vậy nên thế giới biết tới ông ta chứ không phải là vì trình độ trí thức hay nhân cách của ông ta.”

    (The media in the Catholic nations is subservient to the Pope and builds him as a world leader of renown.  He is a medievalist, a reactionary and dangerous man.  He should be charged in the world court for crimes against humanity for his attitude towards and dictates to women of all nations.  He has reimposed censorship, reinstated the inquisitional office, called women to the bearing of more children while subjecting her to the domination of men, denounced science and education, and made no effort to halt the spread of nuclear buildups…This is a thoroughly despicable man and history will judge him as that.

   The effect that his opinions have on his followers is amply demonstrated in the United States where there are more Roman Catholic women on the Pill than there are Protestants.  The women of his church defy him in matters of birth control and pregnancy.  There are fewer men taking up the priesthood in his reign than in any other and fewer women committing themselves to the nunnneries…

 The Roman Catholic Church alleges that it has the second largest religious group in the world… It is the power of this many figures which gives the Pope the attention of the media, not his intellectuality or his personality.)

 

   Nhận định của Tiến sĩ  Madalyn O’hair không xa với thực tế là bao.  Một người ở địa vị giáo hoàng mà có nhân cách thì không bao giờ phê bình các nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu là “những con chó sói đói mồi”, không bao giờ nói một đàng làm một nẻo.  Một người theo kịp được đà tiến bộ trí thức của nhân loại thì không bao giờ lại tái khẳng định (reassert) tín điều Maria luôn luôn còn trinh, trước cũng như sau khi sinh ra Giê-su (virgin before and after the birth of Jesus), và trước những bằng chứng tràn ngập của các học giả cũng như của linh mục John Meier đưa ra là Giê-su có ít ra là 4 người em trai và 2 người em gái do Maria sinh ra, lại ngụy biện rằng những danh từ như em trai (brothers) và em gái (sisters) của Giê-su trong Phúc Âm là những danh từ có ý nghĩa lỏng lẻo (loose meanings).  Một người có trình độ trí thức thì không bao giờ viết cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng để xuyên tạc với mục đích hạ thấp các tôn giáo khác.

   Do đó, đối với các tín đồ Ca-Tô, họ muốn tôn vinh giáo hoàng của họ ra sao thì tôn vinh, muốn tung hô ca tụng giáo hoàng của họ ra sao thì tung hô ca tụng, nhưng đối với những người ngoại đạo thì tư cách vô đạo đức tôn giáo, đạo đức giả, vô nhân cách v..v.. của ông ta không đáng để cho ai phải kính trọng.  Một người thường mà không có đạo đức thì người đời đã không kính trọng rồi, huống chi là người chủ chăn của một tôn giáo lớn mà lại không có đạo đức tôn giáo, đạo đức giả, xảo quyệt, lời nói không đi đôi với việc làm v..v.. thì lại càng đáng khinh bỉ hơn nữa, khoan nói đến chuyện kính trọng và tôn vinh.  Tiến sĩ Madalyn O’Hair đã nhận định rất đúng: “Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.” va “Vì có số tín đồ đông đảo nên thế giới biết tới ông ta chứ không phải là vì trình độ trí thức hay nhân cách của ông ta.”

    Có dấu hiệu là một thiểu thiểu số tín đồ Ca-tô Việt Nam cũng không chịu thua sự tiến bộ trí thức trên thế giới.  Giáo dân Trương Tiến Đạt đã viết sách lên án John Paul II là Ngụy Giáo Hoàng.  Hội Ki Tô Học của một số giáo dân ở Houston cũng lên tiếng phê bình giáo hoàng và giáo hội. Đông Dương Thời Báo của giáo dân Nguyễn Hữu Tạo ở Houston cũng đã vạch ra những tín lý đã lỗi thời của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Và nhất là nhà trí thức đạo gốc Charlie Nguyễn, alias Nguyễn Chấn, đã xuất bản hai cuốn sách thuộc loại động trời có tên là “Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác”“Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm”, cùng viết một số bài, đưa ra những sự thật về Ca Tô Giáo Rô Ma mà giáo hội không bao giờ muốn cho tín đồ biết đến.

 

   Trước lệnh truyền của Giáo hoàng John Paul II cho các thuộc hạ phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu, Mac Kher đã phê bình và vạch trần âm mưu bành trướng Ca-Tô Giáo sang Á Châu của John Paul II như sau, trong www.nycny.com :

 

   Sự du nhập của Ki Tô Giáo vào Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu, và phần lớn Phi Châu và vùng Thái Bình Dương đã đưa tới sự hủy diệt một cách có hệ thống, toàn bộ những tôn giáo và nền văn hóa đa thần có trước thời đại KiTô.  Thật vậy, cuốn thánh kinh, với sự hỗ trợ của súng ống, đã dùng để trao đổi lấy đất đai của các thổ dân địa phương.

  Phát ra từ giáo hoàng, chức sắc cao nhất của Ca Tô Giáo, lời kêu gọi cải đạo này là một lời Tuyên Chiến chống nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ Giáo nói riêng.  Sách lược cải đạo quần chúng vào Ki Tô Giáo mưu toan phá hủy linh hồn của Á Châu, cấy ghép vào đó một triết lý mà Á Châu không cần đến.  Á Châu không cần đến bất cứ một bài học nào về tôn giáo và lòng mộ đạo từ bất cứ ai.

   (The advent of Christianity in Europe, Americas,  Australia, and large parts of Africa and the Pacific led to the systematic and complete elimination of the pre-Christian polytheistic religions and cultures. Truly, the bible was exchanged for the native lands with the help of the gun.

   Coming from Pope, the highest official of Catholicism, this call to conversion is a Declaration of War against Asian culture, Asian religions, and Asian society in general, and Hinduism in particular. Mass-conversion to Christianity seeks to destroy the soul of Asia, transplanting an un-needed philosophy. Asia does not need any lesson in religion or piety from anybody.)

 

   Để đối phó với sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican, đại cương cũng là sách lược của những nhà truyền giáo Tin Lành, chúng ta cần biết rõ Vatican sẽ dùng những thủ đoạn nào để thực hiện âm mưu đen tối của mình.  Trước khi đưa ra những nhận định về sách lược cải đạo Á Châu của Vatican, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu những nguyên nhân đã khiến cho Ca-tô Giáo Rô-ma phải toan tính tăng gia nỗ lực “đội đá vá trời” để cải đạo Á Châu. 

 

   Có hai nguyên nhân chính.  Thứ nhất, sự tiến bộ trí thức và đời sống vật chất tương đối thoải mái đã khiến cho con người Tây phương thức tỉnh, không còn mê đắm trong những ước vọng hão huyền vào những điều hoang đường, mê tín, đã không còn hợp thời của Ki Tô Giáo. Ảnh hưởng của Ki Tô Giáo trên con người Tây phương đang dần dần suy thoái, cho nên Ki Tô Giáo phải tìm kiếm những miền đất mầu mỡ khác, lợi dụng những hoàn cảnh kinh tế và xã hội đặc biệt ở những nơi đây, hi vọng con người sẽ có thể dễ bị khuyến dụ vào Ki Tô Giáo bằng những hứa hẹn chỉ có trên mặt văn tự.  Thứ nhì, Tây phương càng ngày càng biết nhiều đến những giá trị nhân bản của các tôn giáo Đông phương.  Điều này đã khiến cho Ki Tô Giáo lo sợ và do đó tìm cách đối phó với những tôn giáo này ở ngay trong nội địa Á Châu qua những sách lược xuyên tạc bôi đen, hạ thấp các tôn giáo Á Châu, đồng thời tô hồng quảng cáo cho Ki Tô Giáo, dùng bả vật chất kiếm thêm tín đồ để làm hậu thuẫn cho những mưu đồ chính trị.  Vậy trước hết chúng ta hãy lược duyệt về Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương Đưa Đến Sự Suy Thoái Của Ki Tô Giáo, sau đó chúng ta sẽ tìm hiểu sách lược Cải Đạo Á Châu xuyên qua bản Tông Huấn của Vatican.

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: