Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

PHẦN HAI – THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á & NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

PHẦN  HAI

  

THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á

&

NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

 

   SỰ KIỆN VẪN LÀ MỌI HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO, ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI QUYỀN LỰC KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC NƯỚC THỰC DÂN, VẪN CÒN TƯƠNG ĐỐI KHÔNG THÀNH CÔNG.  BẤT CỨ Ở NƠI NÀO MÀ CÓ MỘT TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO MẠNH, THUẦN NHẤT THÍ DỤ NHƯ LÀ Ở ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, SỰ XÂM NHẬP CỦA KI TÔ GIÁO CHỈ Ở MỨC TỐI THIỂU.. ẤN ĐỘ GIÁO VẪN LÀ TÔN GIÁO CHỦ LỰC CỦA TIỀM LỤC ĐỊA Á CHÂU, VÀ PHẬT GIÁO VẪN NGỰ TRỊ TRUNG QUỐC VÀ ĐÔNG NAM Á CHO ĐẾN NGÀY NAY.  KI TÔ GIÁO CHẲNG CÓ MẤY THÀNH CÔNG TRONG VIỆC TRUYỀN GIÁO Ở CÁC NƠI NÀY MẶC DÙ ĐÃ CÓ NHỮNG NỖ LỰC LỚN LAO…

   CÁC DỮ KIỆN (VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO) ĐÃ CHỨNG TỎ RẤT RÕ LÀ MỤC TIÊU CẢI ĐẠO THẾ GIỚI VÀO ĐỨC TIN KI TÔ CỦA KI TÔ GIÁO ĐÃ LÀ MỘT SỰ THẤT BẠI RẤT ĐÁNG KỂ Ở KHẮP MỌI NƠI…THẬT RA, NGÀY NAY TỈ LỆ SỐ TÍN ĐỒ KI TÔ TRÊN THẾ GIỚI CÒN ÍT HƠN LÀ Ở THỜI ĐẦU CỦA LỊCH SỬ KI TÔ GIÁO.

   (..The fact remains that all this missionary activity, buttressed by the economic and political power of the colonial nations, was still relatively unsuccessful.  Wherever there is a strong unified religious tradition, such as that which marked India, China, and Japan, for example, the Christian inroads were minimal… Hinduism still is the dominant religion of the Asian sub-continent, and Buddhism dominates China and Southeast Asia to this day.  Christians enjoyed little missionary success in these places despite massive efforts..

   The data make it very clear that the Christian goal of converting the world to Christ has been a significant failure everywhere…In fact, the world has a smaller percentage of Christians in it today than it did earlier in its history.)

          BISHOP JOHN SHELBY SPONG, 

A New Christianity For A New World, 2001, pp. 176-77.

   

 

    Trong Phần I, chúng ta đã biết, nền thần học Ki Tô Giáo, bất kể với nhãn hiệu gì, ngày nay đã không còn chỗ đứng trong những xã hội văn minh tân tiến.  Bởi vì, trước những khám phá khoa học mà không ai có thể phủ bác về nguồn gốc vũ trụ, về thuyết Tiến Hóa v..v.., một Thiên Chúa “sáng tạo” ra vũ trụ và con người cách đây khoảng 6000 năm như được viết trong Thánh Kinh đã trở thành một chuyện tiếu lâm, chỉ còn sót lại trong những đầu óc chưa được mở mang đúng mức.  Vai trò “cứu thế” của Giê-su, như Giám Mục Spong đã nhận định, chỉ là sự mê tín tiền – Darwin và sự vô nghĩa hậu – Darwin.

   Nước Mỹ, một quốc gia có thể nói là văn minh tiến bộ nhất thế giới, ít ra là về vấn đề kỹ thuật và vật chất, trong đó có khoảng 85% người dân theo Ki Tô Giáo (Tin Lành 60%, Ca Tô 25%) nhưng thực ra chính quyền Mỹ là một chính quyền thế tục (secular government).  Những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo của giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, thuộc loại “chống Ki-Tô” đối với những tín đồ Ki Tô cuồng tín không có đầu óc, được phát hành và phổ biến rộng rãi.  Các trường học không được phép dạy “thuyết sáng tạo” của Ki Tô Giáo, trong khi thuyết Tiến Hóa là một chủ đề không thể thiếu trong chương trình học của mọi trường học, từ Trung học đến Đại học.. 

   Chúng ta cũng đã biết, tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo ở thế giới Tây phương và  nhiều nơi khác trên thế giới nói chung đã rõ rệt.  Ki Tô Giáo, thay vì gia tăng nỗ lực để đảo ngược tình trạng suy thoái ở Tây phương để cho người dân lấy lại niềm tin vào Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, lại toan tính mang đồ Tây phương đang dần dần từ bỏ để nhập cảng sang Á Châu với tất cả những thủ đoạn không chính đáng với mục đích cải đạo Á Châu dựa trên một môn thần học mới mang mỹ danh “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á”.  Tuy trong thực tế Ca Tô Giáo Rô Ma và Tin Lành vẫn còn chống đối nhau, thù ghét nhau, nhưng về phương diện truyền đạo sang Á Châu, cả hai giáo phái Ki Tô này đều hợp sức cùng nhau sử dụng vũ khí “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á”, phối hợp với những chiêu bài chính trị như Dân Chủ, Đa Nguyên, Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo v..v..để cải đạo Á Châu. 

 

   Bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” của Giáo Hoàng John Paul II tung ra cuối năm 1999 và cuốn “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á”, một tuyển tập gồm các bài viết của Mục sư Tống Tuyền Thịnh (Choan Seng Song), người Đài Loan, được một số nhân viên trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo T.P. HCM tuyển dịch và ấn hành vào tháng 8 – 1991, về bản chất không khác gì nhau, vì cùng nhắm một mục đích: cải đạo Á Châu qua những thủ đoạn có thể nói là bất chính và bất lương trí thức (intellectually dishonest) như sẽ được chứng minh trong một phần sau.

    Trong Phần I, tôi đã phê bình đoạn mở đầu trong bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” và vạch ra những thủ đoạn trích dẫn Thánh Kinh Ki Tô Giáo một cách xảo quyệt, bất lương trí thức, ngoài toàn bộ vấn đề, của Giáo Hoàng John Paul II để đưa ra những luận điệu bịp bợm về một chương trình cứu độ của Thiên Chúa tại Á Châu mà thực chất chỉ là âm mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu.  Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao trong thời buổi này mà giáo hoàng còn sử dụng những thủ đoạn lắt léo để lừa dối tín đồ và quần chúng? Tiến Sĩ Madalyn O’hair đã đưa ra nhận định sau đây khi được hỏi về uy tín của giáo hoàng John Paul II trên thế giới:

 

   “Những phương tiện truyền thông trong các xứ Ca-Tô đều phụ thuộc Giáo Hoàng và dựng ông lên như là một lãnh tụ danh tiếng của thế giới.  Ông  ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm… Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.

 

   Cái đầu óc Trung Cổ của John Paul II không nhìn thấy sự tiến bộ của nhân loại nên vẫn tiếp tục theo một sách lược bịp bợm lừa dối của tòa Thánh trước đây để giữ tín đồ trong vòng ngu si như Linh mục Maurice Weitlauff đã nhận định.  Trong cuốn Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập III, tác giả Trần Văn Kha đã đưa ra một tài liệu của Linh mục Maurice Weitlauff trong đó ông ta nhắc đến một văn kiện của các Hồng Y đưa ra sách lược (Thư viện Paris, tờ 1089, tập II 641-650 – ref.fonds latin số 12558) mà nội dung là phương pháp giữ tín đồ trong vòng ngu si như sau, trang 1130-31:

 

   “Chỉ nên cho phép đọc sách Phúc Âm càng ít càng tốt, nhất là bằng tiếng hiện đại (nghĩa là các tiếng địa phương) và ở trong những nước ở dưới quyền Ngài (giáo hoàng Jules II).  Chỉ một số rất ít (trong Phúc Âm) thường đọc trong lễ Mi-sa là đủ và phải cấm bất cứ ai muốn đọc nhiều hơn.  Chừng nào mà dân chúng thỏa mãn với cái ít ỏi đó, quyền lợi của Ngài sẽ thịnh vượng, nhưng, từ khi mà họ muốn đọc nhiều hơn thì quyền lợi của Ngài bắt đầu sa sút.  Đây (cuốn Thánh Kinh) là một quyển sách, hơn bất cứ cuốn sách nào, sẽ gây ra cho chúng ta những sự nổi loạn, những cơn bão tố có thể làm cho chúng ta tan tành sự nghiệp.  Thật ra bất cứ ai xem xét kỹ lưỡng những lời dạy trong Kinh Thánh và so sánh chúng với những gì đang xảy ra trong giáo hội của chúng ta, sẽ nhận ra ngay những mâu thuẫn, sẽ thấy những lời giảng dạy của chúng ta thường đi ra ngoài Kinh Thánh và nhiều khi còn ngược lại.  Nếu dân chúng biết đến điều này, họ sẽ thách thức chúng ta cho tới khi mọi điều phải được tiết lộ, như vậy, chúng ta sẽ trở nên đối tượng của sự chế giễu và sự thù hận phổ quát.  Vậy thì cần phải tích cực tước đoạt Kinh Thánh khỏi tay của dân chúng mà không gây ra sự hỗn loạn”

   (La lecture de l’Évangile ne doit être permise que le moins possible, surtout en langue moderne et dans les pays soumis à votre autorité.  Le très peu qui est généralement lu à la Messe devrait suffire et il faudrait interdire à quiconque d’en lire plus.  Tant que le peuple se contentera de ce peu, vos intérêts prospèreront, mais, dès l’instant qu’on voudra en lire plus, vos intérêts commenceront à en souffrir.  Voilà le livre qui, plus qu’aucun autre, provoquera contre nous les rebellions, les tempêtes qui ont risqué de nous perdre.  En effet, quiconque examine diligemment l’enseignement de la Bible et le compare à ce qui se passe dans nos églises trouvera bien vite les contradictions, verra que nos enseignements s’écartent souvent de celui de la Bible et plus souvent s’opposent à celle-ci.  Si le peuple se rend compte de ceci,  il nous provoquera jusqu’à ce que tout soit révélé, alors, nous deviendrons l’objet de la dérision et de la haine universelle.  Il est donc nécessaire que la Bible soit enlevée et dérobée des mains du peuple avec zèle, toutefois sans provoquer de tumulte.”)

 

   Sau khi trích dẫn văn kiện trên, Linh mục Maurice Weitlauff than: “Một sự bất lương như thế không thể nào tưởng tượng được.  Tôi như chết đứng.”  (Une telle duplicité est inconcevable.  J’en suis toute renversée)

 

   Điều hiển nhiên là ngày nay, giáo hoàng John Paul II vẫn tưởng rằng giáo dân không ai được phép đọc Thánh Kinh, vẫn cho rằng tòa Thánh giữ độc quyền trích dẫn Thánh Kinh để giam giữ tín đồ trong vòng ngu si, cho nên vẫn tiếp tục trích dẫn lạc lõng và diễn giải lệch lạc những đoạn trong Thánh Kinh để hô hào các giám mục Á Châu phải theo đó mà tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu như tôi đã phân tích đoạn đầu trong bản Tông Huấn của ngài.  Nhưng ngài đã lầm, vì thế giới ngày nay không phải là Âu Châu trong thời Trung Cổ.  Nếu tín đồ của ngài không đọc Thánh Kinh thì không thiếu gì người ngoại đạo, và ngay cả những bậc trí thức có lương tâm trong giáo hội, đã đọc kỹ Thánh Kinh và đã vạch ra, không những sự bất lương của giáo hội Ca Tô trong việc uốn nắn và giam giữ đầu óc giáo dân mà còn cả những sai lầm chứa đầy trong Thánh Kinh.

   Điều quái gở là một số thuộc hạ Việt Nam của Ngài cũng theo cùng một sách lược bất lương trí thức như Ngài như chúng ta thấy rõ trong những tác phẩm như Chứng Nhân Hi Vọng của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, 2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ của Một Số Người Công Giáo, Tin Nhà Paris xuất bản, hay trong các báo như Hiệp Nhất, Diễn Đàn Giáo Dân v..v… trong đó chứa toàn là những trích dẫn vụn vặt, lạc lõng từ Thánh Kinh.

 

   Khi cuốn Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á của Mục sư Tống Tuyền Thịnh ra đời thì Tỳ Kheo Thích Nhật Từ ở Việt Nam đã thuyết trình một bài Phê Bình cuốn sách này trong cuộc hội thảo “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo T.P. HCM tổ chức.  Bài thuyết trình này đã được in thành sách ở Việt Nam và được phổ biến trên một số trang nhà Phật Giáo.  Trong bài thuyết trình, được in lại ở phần đầu cuốn sách này, như chúng ta đã biết, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã vạch ra những sai lầm của Mục sư Tống Tuyền Thịnh qua những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc và hạ thấp giáo lý Phật Giáo để tô hồng quảng cáo cho cái gọi là “quyền năng cứu chuộc” của Thiên Chúa mà chúng ta đã biết đó chỉ là một sự mê tín tiền – Darwin và sự vô nghĩa hậu – Darwin. 

   Điều đáng để ý là Ca Tô Giáo Việt Nam đã lấy một tác phẩm thần học của một Mục sư Tin Lành làm đề tài hội thảo với mục đích rao bán “quyền năng cứu chuộc” của Thiên Chúa.  Đây là một chuyện hiếm có, vì từ xưa tới nay, Ca Tô Giáo luôn luôn khẳng định Giáo hội Ca Tô là phương tiện cứu rỗi duy nhất, không có sự cứu rỗi ở ngoài giáo hội Ca Tô (No salvation outside the (Catholic) Church).  Điều này cho thấy Ca Tô và Tin Lành cùng có chung một sách lược cải đạo Á Châu dựa trên cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu.”

   Thật ra, không phải là cuối thế kỷ 20 Ki Tô Giáo mới đưa ra sách lược cải đạo Á Châu.  Sách lược này đã được hoạch định từ sau Công Đồng Vatican II (1962-1965) của Ca Tô Giáo Rô Ma với những huấn thị rõ ràng trong những bản văn mật của Tòa Thánh gửi cho các giám mục địa phương ở Á Châu.  Và Tin Lành cũng dựa theo sách lược này để đi cải đạo thế giới.  Những miền đất xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki Tô Giáo trong những thập niên 1970-80 là ở Ấn Độ và Thái Lan, lợi dụng tinh thần khoan nhượng tôn giáo của hai quốc gia này.  Từ cuối thế kỷ 20, mục tiêu hàng đầu của Ca Tô Giáo Rô Ma là Việt Nam, nấp sau những chiêu bài chỉ có trên mặt văn tự như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo v…, lợi dụng tình trạng xã hội kinh tế ở Việt Nam, sự khoan nhượng của chính quyền Việt Nam, và nhất là ở đó họ đã có sẵn một đạo quân thứ năm cuồng tín, chưa mở mang trí óc như những tín đồ Tây phương, nên vẫn cam phận làm tôi tớ cho Vatican, quên mình trong vâng phục, thi hành mọi mệnh lệnh của Vatican, do đó sẵn sàng phản bội quốc gia như trong quá khứ, để đánh đổi lấy một chỗ trên thiên đường mà thực chất chỉ là một hoang đường như chính giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới.

   Sau đây chúng ta sẽ đi vào một số chi tiết trong sách lược cải đạo Á Châu của Ki Tô Giáo.

 

a).   Ở Ấn Độ, hơn 400 năm nay Ki Tô Giáo đã vô cùng tích cực trong vấn đề truyền đạo với hi vọng Ki Tô  hóa Ấn Độ nhưng dân chúng Ấn, tuy nghèo khó và trước những hứa hẹn về vật chất của Ki Tô Giáo, vẫn từ chối tôn giáo này.  Số người theo Ki Tô Giáo nói chung chưa lên tới 1% tuy chính quyền Ấn đã rất dễ dãi để cho những nhà truyền giáo tự do truyền đạo.

   Sự dùng vật chất để ép những người ngoại đạo đang ở trong những hoàn cảnh khó khăn về vật chất theo đạo lộ liễu đến mức một Ủy Ban Điều Tra Những Hoạt Động của Các Giáo Sĩ Thừa Sai tại Ấn Độ đã phải đưa ra những khuyến cáo sau đây, trong cuốn “Tín ngưỡng của người khác” (“The Faith of Other Men”, trg. 107) của Giáo Sư Wilfred Cantwell Smith, một nhà Thần học KiTô nổi tiếng, Giáo sư môn Tôn Giáo Thế giới và Giám đốc trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới tại đại học Harvard: 

 

   “Nên yêu cầu những thừa sai mà mục đích chính là dụ người vào đạo phải rút lui.  Số lượng lớn các nhà truyền giáo ngoại quốc không được hoan nghênh và cần phải kiểm soát. (Đề nghị chính quyền Việt Nam hãy cấm mọi người ngoại quốc vào Việt Nam để truyền đạo.  Khi nhập cảnh, những người ngoại quốc, kể cả những người Việt Nam mang quốc tịch khác phải khai báo mục đích đến Việt Nam (điều khoản này có trong mọi tờ khai trước khi vào bất cứ một quốc gia nào), nếu gian dối vi phạm sẽ bị truy tố trước pháp luật).

   Sự dùng các dịch vụ y tế hay chuyên môn như là phương tiện trực tiếp để dụ người vào đạo phải cấm bởi luật pháp.

   Mọi toan tính dùng vũ lực hay lừa gạt gian dối, hay đe dọa bằng những cách bất chính hay giúp đỡ tài chính hay mọi sự trợ giúp khác, hoặc bởi những phương tiện hay hứa hẹn lừa gạt gian dối, hoặc bằng sự giúp đỡ tinh thần và vật chất, hoặc lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm hay lòng tự tin của bất cứ người  nào, hoặc bằng cách khai thác nhu cầu, sự yếu kém về tinh thân (tâm thần) hay nhẹ dạ của bất cứ người nào, hoặc, đại cương là mọi toan tính hay nỗ lực (dù thành công hay không), trực tiếp hay gián tiếp thâm nhập vào ý thức tôn giáo của con người (dù đã trưởng thành hay còn vị thành niên) thuộc tín ngưỡng khác, với mục đích thay đổi ý  thức  tôn giáo hay tín ngưỡng của họ, để cho hợp với lý tưởng và niềm tin của phe đi dụ người ta vào đạo, phải tuyệt đối cấm.” (Được biết hiện nay ở Việt Nam, Ca Tô Giáo Rô Ma cũng như Tin Lành đều dùng các phương tiện giúp đỡ vật chất mô tả như trên để dụ người vào đạo.  Những thủ đoạn truyền đạo này phải tuyệt đối cấm bởi luật pháp.  Người bị dụ vào đạo có thể truy tố trước pháp luật người đi dụ về những hành động vi luật này)

   (Those missionaries whose primary object is proselytization should be asked to withdraw.  The large influx of foreign missionaries is undesirable and should be checked..

   The use of medical or other professional services as a direct means of making conversions should be prohibited by law..

   Any attempt by force or fraud, or threats of illicit means or grants of financial or other aid, or by fraudulent means or promises, or by moral and material assistance or by taking advantage of any person’s inexperience or confidence, or by exploiting any person’s necessity, spiritual (mental) weakness or thoughlessness, or, in general any attempt or effort (whether successful or not), directly or indirectly to penetrate into the religious conscience of persons (whether of age or underage) of another faith, for the purpose of consciously altering their religious conscience  or faith,  so  as  to agree  with  the  ideas  of convictions    of    the   proselytizing   party   should   be absolutely prohibited..)

 

      Tại sao người ta lại phải khuyến  cáo như  vậy nếu  các công vụ truyền giáo của Ki Tô giáo chỉ thuần túy là truyền giáo?  Chúng ta cũng nên để ý rằng, hiện nay, ở Ấn Độ đang có phong trào bài Ki Tô Giáo rất mạnh.  Báo Los Angeles Times ngày 12 tháng 11, 1998, đăng một bài tường thuật dài của ký giả Dexter Filkins về những hành động bài Ki Tô Giáo, nhiều khi dùng đến bạo lực, ở Ấn Độ.  Một lãnh tụ của phong trào bài Ki Tô Giáo, ông B. L. Sharma, tuyên bố:

 

   “Chúng tôi đã phải làm nô lệ cả ngàn năm, và nay chúng tôi đã sáng mắt rồi.  Tôi đòi hỏi chính phủ Ấn Độ phải đuổi cổ những kẻ đang dụ dân Ấn cải đạo,  và  phá hại văn hóa, ngôn ngữ  và y phục của chúng tôi.”

   (We were slaves for 1000 years and now we have opened our eyes.  I demand that the government of India throw out these people who are out to convert Hindus and ruin our culture, language and attire.)

  

   Tại sao lại xảy ra phong trào bài Ki Tô Giáo mạnh mẽ ở Ấn Độ?  Vì  cả Tin Lành lẫn Ca Tô Giáo đều vẫn tiếp tục, một mặt dùng phương tiện truyền thông, những thủ đoạn phi tôn giáo như bài bác Ấn Độ giáo để hạ thấp Ấn Độ Giáo, một mặt lợi dụng sự nghèo khổ của đám dân thấp kém trong xã hội, dùng bả vật chất để truyền đạo, và nhất là xử dụng vũ khí hữu hiệu nhất của Ca Tô Giáo: bình phong “từ thiện” đi kèm với phương tiện truyền thông để tô hồng quảng cáo cho Ca Tô Giáo trong khi thực chất của việc từ thiện là để thu nhặt tín đồ và khai thác lòng nhân từ của quần chúng để vơ vét tiền bạc cho Vatican, và trong một số trường hợp, nhiều hành động ác ôn đã được ngụy trang đàng sau bình phong “từ thiện”. 

 

   Trường hợp điển hình là việc thành lập dòng “Thừa sai bác ái” (sic) của bà Teresa mà cái tên của nó đã nói lên thực chất sử dụng “bác ái” làm một vũ khí truyền đạo.

 

   Qua phương tiện truyền thông với những hình ảnh làm mủi lòng quần chúng, bà Teresa đã được thổi phồng lên như một thánh nhân, thực hiện chủ trương bác ái của giáo hội.  Kết quả là tiền vào như nước nhưng chỉ có một phần nhỏ được chi dùng cho các hoạt động mang danh “từ thiện”.  Những người đóng góp tin tưởng rằng tiền của mình đóng góp sẽ được dùng trong những công tác từ thiện vị tha của giáo hội.  Nhưng sự thật đằng sau tổ chức “Thừa sai bác ái” để làm công việc “từ thiện” này ra sao, và thực chất con người của bà Teresa ra sao, ngày nay chúng ta đã biết rõ.  Trong thế giới ngày nay, khó ai có thể che dấu được những việc mờ ám, nhất là khi người đó là một nhân vật nổi tiếng như bà Teresa.  Muốn cho người khác không biết thì đừng có làm.  Bà Teresa không ý thức được chân lý này nên kết quả là người ta đã phanh phui ra những chuyện động trời sau bức màn “Thừa sai bác ái” của bà Teresa.  Trong bài Đâu Là Sự Thật, đã được đăng trên báo Giao Điểm và đưa lên trang nhà giaodiem.com hay giaodiem.net, tôi đã đưa ra một số tài liệu vạch trần thực chất con người của bà Teresa.  Ở đây tôi sẽ không nhắc lại chi tiết nữa, chỉ tóm tắt những điểm chính.

 

   Theo Christopher Hitchens thì: “Mẹ Teresa là một kẻ “mị dân” chống phá thai và là kẻ “phục vụ cho những quyền lực thế gian.”, thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992.  Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền mà hắn đã biếu cho Mẹ, và đề nghị Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các “sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý”; Mẹ đã không hề hồi âm.”

    Theo một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, người đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những “cơ sở từ thiện”  của bà Teresa  và tìm  hiểu  sự thực

về những “công cuộc từ thiện” của bà Teresa thì:

 

            * Về tiểu sử,  bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc.

* Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo.  Ngay cái tên của dòng “Thừa Sai Bác Ái” cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua.  Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua.  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm “việc thiện”, chứng tỏ “lòng nhân từ” của Bà.  Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài.

 

    Sau khi bà Teresa chết thì có một số “sơ” trước đây đã cộng tác với bà trong tổ chức “Thừa sai bác ái” đã tiết lộ nhiều chi tiết thuộc loại động trời.

   Thí dụ, sơ  Susan Shields đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:

 

   Một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc “từ thiện” vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu “Thừa sai bác ái”, nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương “nghèo khổ” là một đức tính.  Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự “săn sóc” của hội “thừa sai bác ái” phải ăn đói.  Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên  kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa. (Judith Hayes trong The Happy Heretic, p. 66-67)

 

   Tác giả Judith Hayes còn phê phán: Tôi chưa từng nghe thấy một người nào có lòng bác ái mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt. [Bà Teresa quan niệm như vậy vì đó là ý Chúa] Bác ái là đức tính tối thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint) nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic)  và Ngu Đần (Stupid).  (Tác giả đã chơi chữ ở đây: If all of that is true, it places Teresa somewhere between “sadistic” and “stupid” which, interestingly, is where “saint” appears in the dictionary)

 

    Thực ra thì những hành động vô nhân tính của bà Teresa được phanh phui ở trên cũng không lấy gì làm khó hiểu vì chúng hầu như là một mẫu mực chung cho những người cuồng tín, làm việc “từ thiện” với mục đích đi kiếm linh hồn cho Chúa để Chúa cho một chỗ trên thiên đường (mù) của Giáo hội, chứ không bắt nguồn từ tâm từ thương người. Thật vậy, nếu bà Teresa đã gian dối và nhẫn tâm như được mô tả trong các tài liệu dẫn chứng ở trong bài Đâu Là Sự Thật [Xin đọc trong Giao Điểm, giaodiem.com hay giaodiem.net] thì thuộc hạ của bà cũng chẳng khá hơn chút nào.

 

    Bản tin BBC ngày 18 tháng 9 năm 2000 có đầu đề “Các Nữ Tu Của Mẹ Teresa Bị Kết Tội Hành Hạ Trẻ Em” (Mother Teresa Nuns accused of torture), viết bởi Subir Bhaumik ở Calcutta, cho biết giám đốc những thừa sai bác ái (Nữ tu Nirmala, người thay thế Teresa) đã phải ra hầu tòa sau khi cơ sở từ thiện “Thừa Sai Bác Ái” và một “nữ tu” bị kết tội là hành hạ một em bé lên 7 tuổi.  Giám đốc tổ chức (thừa sai bác ái), Nữ tu Nirmala, được tòa cho phép đóng tiền thế chân là 5000 Rupees. (The head of the Missionaries of Charity, founded by Mother Teresa, has surrendered to a Calcutta court after the Charity and one of its nun were accused of torturing a 7-year-old girl.  The organization leader, Sister Nirmala, was granted bail on a surety of 5000 Rupees). Bản tin BBC ngày 21 tháng 9 năm 2000 với đầu đề “Các Nữ Tu Của Mẹ Teresa Hành Hạ Trẻ Em” (Mother Teresa Nuns Tortured Children)  cho biết cơ sở bác ái  do Mẹ Teresa thành lập ở Calcutta nay đã thú nhận là một nữ tu của tổ chức đã hành hạ 4 trẻ em (The Charity set up by the late Mother Teresa in the Indian city of Calcutta has now admitted that one of its nuns was guilty of torturing four children).  Hành hạ như thế nào?  Theo đơn kiện của Karivan Mondal, nữ tu  Francesco đã trừng phạt con gái của ông, vì quá nghèo nên đã nhờ cơ sở “bác ái” (sic) của bà Teresa nuôi, bằng hình phạt đốt bỏng tay của con gái ông.

   Chúng ta cũng không nên quên vụ kiện gần đây ở Québec, Canada, đòi bồi thường hơn một tỷ đô la (a 1.2 billion lawsuit) cho các nạn nhân của các “nữ tu” trong một viện mồ côi, các “sơ” mặc áo xám, (gray nuns), những người đã hành hạ trẻ em trong viện cho đến chết, và cố ý làm tật nguyền một số em, thí dụ như chọc thủng màng tai của chúng để lấy thêm trợ cấp của chính phủ, $2.50 cho mỗi em bị tật nguyền thay vì $0.75 mỗi ngày cho các em lành lặn, do chương trình TV Prime Time của đài ABC đưa lên; và chuyện trong một viện mồ côi khác, các “sơ” dội nước sôi lên các em để trừng phạt tội vì đói quá nên ăn cắp thức ăn các “sơ” dùng để nuôi thỏ, do chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa lên.

   Cả thế giới cũng đã biết chuyện giáo hội Ca Tô Anh đã mở lòng “bác ái” nhận nuôi nhiều trăm trẻ em mồ côi hoặc sinh ngoại hôn, nói dối vớc các bà mẹ là sẽ nuôi nấng các em tử tế và xây dựng tương lai cho các em, nhưng thực ra là đưa các em vị thành niên sang Uc, bóc lột sức lao động chân tay của các em để xây chủng viện . Vụ này cũng bị báo chí và chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa ra ánh sáng, và các nạn nhân của chương trình “bác ái” dã man, vô nhân đạo này đang kiện giáo hội và đòi trang trải mọi phí tổn để một số em, nay đã trưởng thành, có thể đoàn tụ với người mẹ đã xa cách lâu ngày.

   Và gần đây nhất, theo bản tin BBC ngày 8 tháng 11 năm 2002 thì nhà đạo diễn Ca Tô Peter Mullan, dựa trên các nhân chứng và các tài liệu chính xác (based on true events), đã hoàn thành một cuốn phim nhan đề “Các Nữ Tu  Của Tu Viện Magdalene” (The Magdalene Sisters) trong đó ông đưa lên màn ảnh những cảnh các nữ tu bóc lột sức lao động và hành hạ hàng ngàn các em bé gái chưa đến tuổi trưởng thành trong các nữ tu viện Ca Tô ở Ai Nhĩ Lan.  (In the film, Peter Mullan, himself a Catholic, tackled the thorny subject of young girls taken to convents and made to work in the laundries, while subject to abuse by nuns).  Có nhiều em phải làm việc trong xưởng giặt, 6 tháng không thấy ánh mặt trời.  Cuốn phim đã được trao giải thưởng Sư Tử Vàng về phim hay nhất trong cuộc tuyển chọn phim ở Venice. (Scottish director Peter Mullan has won the Golden Lion Best Film Award at the Venice film festival for The Magdalene Sisters, a box office success in Ireland.)  Tuy Vatican đã lên tiếng phản đối là cuốn phim có mục đích “chống Ca-Tô” nhưng tín đồ Ca Tô Ai Nhĩ Lan vẫn đổ xô đi xem cuốn phim này.  Ký giả Miriam Donohoe của tờ Irish Times phát biểu: “Tôi cảm thấy rất giận vì trong nhiều thập niên, nhiều ngàn em bé gái đã phải qua tay những “sơ” quá độc ác như vậy và đối xử với các em tệ như vậy” (I feel very angry that thousands of young Irish girls over several decades had gone through the hands of nuns who were so cruel and who treated them so badly.)

 

   Trên đây chỉ là vài chuyện điển hình về bộ mặt thật của cái mà giáo hội Ca Tô Rô Ma quảng cáo tô hồng triệt để cho giáo hội: công tác “từ thiện” và “bác ái” của giáo hội.  Đây là ngón nghề thông thạo nhất của giáo hội Ca Tô Rô Ma, cũng như Giáo hội đã thành công cấy vào đầu các tín đồ hình ảnh một giáo hội thánh thiện, tông truyền, duy nhất v..v.. trong khi thực ra lịch sử của giáo hội là một lịch sử thô bạo, đẫm máu, chứa đầy những chuyện ô nhục nhất thế gian: thánh chiến; tòa hình án xử dị giáo; săn lùng và thiêu sống phù thủy; chủ trương diệt chủng Do Thái; không ít giáo hoàng ác độc, tàn bạo, vô luân; không ít linh mục loạn dâm: hiếp dâm nữ tu Ca Tô, trẻ em phụ tế, nữ tín đồ v..v… và không ít nữ tu đang tâm bạo hành trẻ em cũng như dự phần trong chính sách diệt chủng ở Rwanda?  Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể dựa vào những trường hợp cá biệt nêu trên để mà tổng quát hóa vấn đề đạo đức trong Ca Tô Giáo Rô Ma.  Nhưng chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi:  Tại sao một tôn giáo thường tự nhận là do Thiên Chúa mạc khải, do Chúa Giê-su thành lập, thánh thiện, tông truyền, duy nhất v..v.. lại có một lịch sử đen tối như vậy và lại có thể đào tạo ra một số linh mục, nữ tu ác ôn như vậy trong khi những chuyện ô nhục này không hề xảy ra trong các tôn giáo mà Ki Tô Giáo gọi là “thấp kém”?  Câu trả lời nằm trong câu hỏi đối với những người không cần đến kiến thức của các học giả mà chỉ cần có một đầu óc còn đôi chút suy nghĩ để có thể nhận ra bản chất chân thật của Ca Tô Giáo là như thế nào.

   Nói tóm lại, nếu chúng ta theo rõi những vụ kiện các cơ sở từ thiện, viện mồ côi của Ca Tô Giáo ở Canada, Mỹ, Ireland, và Úc Châu v..v.. thì chúng ta sẽ không lấy gì làm lạ trước những hành động “bác ái” của bà Teresa ở Calcutta và của một số sơ trong các tu viện, viện mồ côi.

   Những cơ quan này được tạo ra chỉ để vơ vét tiền bạc và kiếm thêm tín đồ chứ không có ngĩa “từ thiện” thuần túy.  Thật vậy, B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul), đã viết như sau, trang 25:

 

   Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo.  Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Ca Tô (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church.  Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics).

  

   Rajneesh đã không nhắc đến sự kiện là với những sự trợ cấp của chính phủ và sự đóng góp của những người có từ tâm, nhiều cơ sở “từ thiện” đã là những nguồn kinh tài cho giáo hội, vơ vét tiền bạc trên sự đau khổ của các trẻ em mồ côi và những người xấu số.  “Sơ” Lê Thị Tríu ở Phi Luật Tân cũng đã hốt được 2 triệu đô-la để thành lập “làng Việt Nam ma” ở Phi Luật Tân.

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức “từ thiện” của Vatican.  Sách vở, báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là “Giây chuột” (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành  giả, tài chánh v..v.. cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã  ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina).

   Nói tóm lại, những công cuộc “từ thiện” của Ki Tô Giáo, Ca Tô Giáo cũng như Tin Lành, chỉ là những sơn phết màu mè che dấu những âm mưu đen tối đàng sau.  Tuy vậy, những lớp sơn phết này cũng đánh lừa được nhiều người, kể cả những chính quyền phi Ki-Tô không biết rõ bản chất “từ thiện” của Ki Tô Giáo, chỉ nhìn thấy mặt ngoài thường xuyên được Ki Tô Giáo thổi phồng mà không để ý đến những mánh mưu gây tác hại cho quốc gia dân tộc về sau.   

b).  Ở Thái Lan, Ca Tô Giáo Rô Ma còn hung hăng hơn nữa trong sách lược truyền đạo.  Lợi dụng tinh thần khoan dung tôn giáo của dân Thái, giáo hội Ca Tô ở Thái, tuy chỉ chiếm chưa tới 1% dân số, đã có những hành động xâm nhập chống phá Phật Giáo và phổ biến những tài liệu có tính cách hạ thấp dân Thái và Phật Giáo. Để độc giả có một ý niệm về bản chất cuồng tín của các nhà truyền giáo Ki Tô ngay trong thời đại này, tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Missionaries, trg. 186, nói về phương cách truyền giáo của Ca Tô Giáo ở Thái Lan:

  

   “Ở Á Châu, không có mấy nước mà các thừa sai cảm thấy hoàn toàn tin tưởng là công vụ truyền giáo của họ sẽ không bị gián đoạn trong tương lai.  Ngay cả dân Thái  cũng  nhạy  cảm đối  với  vấn đề  thừa sai  nếu sự truyền giáo không khéo xử, thái độ khoan dung của dân Thái có thể thay đổi.  Hiện nay, trong một nước mà 97 phần trăm theo Phật Giáo, 2 phần trăm theo Hồi Giáo, số người theo Ki Tô Giáo hiển nhiên rất ít.

   Sulak Siravaksa là một trí thức Phật Giáo theo học các trường Ki Tô.  Tuy nhiên, ông ta rất lấy làm khó chịu trước những tài liệu truyền giáo mô tả Thái Lan là “địa hạt của Satan”; rằng “99% dân Thái bị câu thúc bởi ma quỉ”; lên án Phật Giáo là “thờ hình tượng” và là “một tôn giáo yếm thế một cách vô vọng.”;  và chấp chặt là “không có sự mặc khải của Ki Tô thì không hiệp thông được với Thượng đế.”  Như Sulak đã vạch rõ,  đó là ngôn ngữ hàng ngày của một số tài liệu truyền giáo, những tài liệu này đã xúc phạm nặng nề đến những Phật tử Thái Lan.”

    (In Asia there are few countries where missionaries can feel completely confident of an uninterrupted future for  their  work.   Even  the  Thais  are  sensitive  on  the subject of missionaries and if evangelism is not carried out in a tactful manner, their tolerant attitude may change.  At present, in a country where 97 percent of the population is Buddhist and 2 percent Muslim, there are obviously very few Christians. 

   Sulak Sivaraksa is a Buddhist intellectual who was educated in Christian schools.  He is, however, severely irritated by evangelical literature that describes Thailand as “the territory of Satan”; that declares “99 percent of Thais are in bondage to demons”; that condemns Buddhism  as  “idolatry”   and   “a  religion  of  hopeless escapism”; and which insists that “without Christian revelation, there is no relationship with God”.  As Sulak points out, this is the everyday language of a certain kind of mission literature, which is deeply offensive to Thai Buddhists.)

 

   Vì  chính sách truyền đạo cuồng tín cố hữu như trên tại Thái Lan mà Phật Giáo Thái đã phải chính thức gửi kháng thư cho  John Paul II,  phàn nàn  về những  việc làm sai trái của Gia Tô Giáo ở Thái Lan.

   Những tài liệu trong cuốn “Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo” (The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986)  cho chúng ta thấy rõ, qua những huấn thị mật của Vatican, sách lược cải đạo Á Châu bất kể thủ đoạn đã được hoạch định từ ngay sau Công Đồng Vatican II.  Sự chống phá của Ca Tô Giáo lên tới mức độ mà người dân Thái bắt buộc phải có phản ứng.  Ngày 10  tháng 5, 1984, và sau đó, ngày 12 tháng 9, 1984, Hiệp Hội Bảo Vệ Đạo Pháp Thái Lan cũng như nhiều hội đoàn Phật Giáo khác đã gửi cho Giáo hoàng John Paul II những kháng thư nhân dịp ông tới Thái Lan.  Sau khi phàn nàn về việc Giáo hội Ca Tô Rô Ma tại Thái Lan xâm nhập Phật Giáo với nhiều hành động sai trái, theo chỉ thị của Vatican, có bằng cớ dẫn chứng (The Roman Catholic Church in Thailand has intruded Buddhism  with many  injust  actions  as shown  in  the attached Protesting Memorandum), Hiệp Hội  yêu cầu John Paul II ra lệnh cho các tín đồ Ca Tô hãy chấm dứt xuyên tạc và phá Phật Giáo (To stop the Catholics here in Thailand from distorting and subverting Buddhism).  Những phản ứng của người dân Thái Lan đối với giáo hoàng John Paul II như nước đổ đầu vịt, vì truyền thống của Vatican là ù lì, coi những phản ứng này như không có, và cứ tiếp tục thi hành sách lược cải đạo bất lương và bất chính của mình.  Vài tài liệu sau đây có thể chứng minh được điều trên.

 

   Sau đây là phần Dẫn Nhập trong cuốn “Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo” (The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986).  Đây là một bản văn khá quan trọng với nhiều chi tiết có thể giúp chúng ta thấy rõ vấn đề hơn và do đó tìm ra một đường hướng thích hợp để đối phó với kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo tại Á Châu:

 

   “Những tín đồ Ca Tô Rô Ma đến Thái Lan trong triều đại của Đại Đế Narai vào khoảng 300 năm trước.  Ngày nay có khoảng hơn 100,000 tín đồ Ca-Tô (vào khoảng 2 phần ngàn của một dân số trên dưới 50 triệu. TCN), một con số rất nhỏ đối với giáo hội.

   Trong quá khứ những người Ki Tô Giáo tin rằng những tôn giáo khác với Ki Tô Giáo, như Phật Giáo chẳng hạn, đều là tội lỗi, là giáo lý của Ác Thần và Satan.  Do đó, Giáo hội đã phái những linh mục Ca Tô để dạy dỗ những kẻ ngoại giáo, giới thiệu Thượng đế cho họ, và cải đạo họ.  Những người này bị dẫn dụ vào Ki Tô Giáo bằng cách tấn công Phật Giáo và các tôn giáo khác là xấu xa và sai lầm trong giáo lý.  Phương pháp cải đạo này gọi là “truyền giáo”.

   Khoảng một thập niên trước đây, người Ca Tô thay đổi chiến thuật.  Các linh mục Ca Tô không tấn công Phật Giáo nữa.  Cả hai giới, linh mục và tín đồ, đều trở nên thân thiện và cùng với các Phật tử phục vụ xã hội.   Họ đã điều chỉnh để sống thích nghi với nền văn hóa Thái và bắt chước những lễ tiết Phật Giáo. Phương pháp Thiền của Phật Giáo đã được nghiên cứu và thay đổi làm Thiền của Ki Tô Giáo.  Nhiều cuốn sách mới được viết ra để giảng giải Ki Tô Giáo bằng những thuật ngữ Phật Giáo, khai thác và bóp méo giáo lý Phật Giáo.  Đó là những hiện tượng mới lạ đáng để ý.

   Những sự thay đổi trong thái độ và thực hành mới của những người Ca Tô là kết quả của Công Đồng Vatican II, họp từ 11/10/1962 đến 8/12/1965. Công Đồng Vatican II đã được sửa soạn từ năm 1959.  Công đồng diễn tiến nghiêm trọng và liên tục trong ba năm trên. Giám mục khắp nơi trên thế giới và nhiều nhân viên lãnh đạo khác, tất cả vào khoảng 4000 người, được động viên để tổng hợp những quan niệm mới và điều chỉnh những phương pháp tuyên truyền cho phù hợp với những thay đổi trong thế giới hiện đại.  Nhiệm vụ của các giám mục được nhấn mạnh, nghĩa là, ngoài những công việc trong giáo xứ của mình, họ còn phải theo đúng chính sách của giáo hội mẹ (Vatican) như Công Đồng Vatican II đã quyết định.  Mọi quyết định của Công Đồng phải được áp dụng nghiêm chỉnh và phải thực thi bởi mọi giáo hội Ca Tô khắp hoàn cầu trong những thập niên tới cho đến khi Công Đồng Vatican tới được triệu tập. (Công Đồng Vatican thứ nhất được tổ chức trên 100 năm trước, từ tháng 12, 1869 tới tháng 7, 1870, có hơn 7 tháng và số tham dự viên chỉ vào khoảng 1000).

   Một chủ đề quan trọng của Công Đồng Vatican II là xét và hoạch định chính sách tiếp cận mới với mọi tôn giáo phi Ki-Tô, quyết định của chính sách này là Bản Tuyên Ngôn Về Những Giao Hệ Của Giáo Hội Đối Với Những Tôn Giáo Phi Ki-Tô.

   Trong bản Tuyên Ngôn của CĐ  Vatican II, một loại giao hệ mới đối với các tôn giáo khác, gọi là “Đối Thoại”,  đã được thiết lập.  Một hậu quả khác là, Giáo Hoàng, người đứng đầu giáo hội, đã lập ra “Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ” chịu trách nhiệm về đối thoại.  Sau đó Bộ này đã phát hành những “Bản Tin”, một ấn phẩm mật để liên lạc với các giám mục và giới chức cao cấp đang hoạt động trong các quốc gia khác nhau.  Bản Tin chứa đựng những tin tức từ Vatican liên quan đến các tôn giáo khác và các tín đồ của họ.  Những ý tưởng và cách thực hành sự đối thoại được ban bố, cùng những hiểu biết về các tôn giáo khác để dùng làm căn bản cho sự đối thoại, gồm những bản phúc trình về tình hình tôn giáo ở các địa phương, nơi các linh mục hành nghề.  Bản Tin được dùng làm diễn đàn trao đổi những kinh nghiệm của các linh mục hoạt động trong những quốc gia khác nhau.

   Bản Tuyên Ngôn của CĐ Vatican II cùng với những giải thích và khuyến cáo trong Bản Tin, những quan niệm mới và cách tiếp cận mới những tôn giáo phi Ki-Tô chứng tỏ rằng, thay vì coi các tôn giáo khác như một mớ những sai lầm và là hoa trái của tội lỗi như trong quá khứ, thái độ mới là chấp nhận những cái hay cái đẹp trong các tôn giáo khác, coi tất cả những thứ đó đến từ Thiên Chúa.  Chỉ có Ki Tô Giáo, tôn giáo của Thiên Chúa, là đầy đủ.  Các tôn giáo khác là sự pha trộn của tốt và xấu, sự thực và sai lầm, nhưng chúng có thể được dùng như là một phương tiện để cho chúng trở thành hoàn hảo trong Ki Tô Giáo.  Do đó, sự chân thật trong các tôn giáo khác có thể là khởi điểm để làm cho những người ngoại đạo trở thành tín đồ Ki Tô Giáo…

   Đối thoại phải được hiểu như là coi nhau như bình đẳng, và không toan tính cải đạo người khác vào tôn giáo của mình.  Tuy nhiên, sau khi xét kỹ những ấn phẩm mật của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, sự đối thoại này thật đáng nghi ngờ.  Nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng trong sự đối thoại (của Vatican), sự hợp tác, cùng chung sức, hiểu biết lẫn nhau và thỏa hiệp không phải là những mục tiêu thật.  Đó chỉ là những phương tiện hoặc chiến thuật để đạt những mục tiêu khác.  Vatican có hai cơ quan, mỗi cơ quan có những trách nhiệm khác nhau.  Một cơ quan là Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin có nhiệm vụ “Truyền Giáo” và cơ quan kia là Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ có nhiệm vụ “Đối Thoại”.  Hiển nhiên là đối thoại không thay thế cho truyền giáo mà bổ túc cho truyền giáo.  Đối thoại là phương tiện dọn đường cho truyền giáo, nó đi trước truyền giáo.  Trong trường hợp có thể truyền giáo được ngay, phương pháp truyền giáo được dùng.  Nhưng, nếu tình hình chưa sẵn sàng cho phép truyền giáo, đối thoại được sử dụng.  Quý vị nào muốn biết về sự thật này thì hãy đọc kỹ những tài liệu đã có.  Đối với những vị nào không có cơ hội đọc hết những tài liệu, những điểm quan trọng được trích dẫn sau đây sẽ giúp quý vị rất nhiều để làm sáng tỏ những mục đích thật sự của những hoạt động Ca-Tô.

   Hầu hết những tài liệu trích dẫn ở đây được viết bởi những giới cao cấp của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, nghĩa là, Bộ Trưởng, Tổng Thư Ký và Phó Tổng Thư Ký.  Do đó, chúng phải được coi như là chính sách chính thức và kế hoạch hành động của Giáo hội Ca-Tô.

   Vatican, tổng hành dinh của giáo hội Ca Tô, là một quốc gia độc lập, có chính phủ.  Giáo hội Ca-Tô tại Thái Lan là thuộc hạ của Vatican.  Muốn hiểu mọi điều liên quan đến Giáo hội Ca-Tô tại Thái Lan, chúng ta cần hiểu về mạng lưới hoạt động của Vatican.

   Đối thoại được đề xướng bởi những người Ca-Tô và họ là những người diễn xuất màn đối thoại, Phật tử là đối tượng của những hành động này và bị lừa dối để bị kéo vào cùng diễn xuất trong màn đối thoại.  Chính là những người Ca Tô đã thay đổi những cách tiếp cận của họ trong khi tự bao giờ các Phật tử vẫn luôn luôn thân thiện.  Lẽ dĩ nhiên là những diễn xuất viên Ca Tô phải sửa soạn trước với những ý tưởng, kế hoạch và nhân sự cho cuộc đối thoại.  Trong trường hợp như vậy, Phật tử trở thành đối tượng của đối thoại.  Nếu những mục đích bất lương, che dấu, đi kèm với đối thoại, chắc chắn Phật tử sẽ trở thành những nạn nhân.

   Một sắc thái quan trọng của đối thoại là sự hiểu biết lẫn nhau.  Là những người khởi xướng, những người Ca-Tô đã nghiên cứu kỹ về Phật Giáo để sẵn sàng cho cuộc đối thoại.  Họ biết về Phật Giáo rất rõ trước khi đối thoại.  Trái lại, tuy các Phật tử đã nhận được sự thân thiện từ người Ca Tô và “liên tôn” với những người Ca Tô, có vẻ như họ không biết gì nhiều về người Ca Tô và những mục đích thật sự của chúng.  Do đó, Phật tử cần phải tìm hiểu để có thể có được một sự hiểu biết lẫn nhau.  Nếu thấy rằng trong cuộc đối thoại người  Ca Tô có những động cơ kín đáo, chúng ta, các Phật tử, phải khuyến cáo họ hãy lương thiện, thẳng thắn và thành thật đối với chúng ta.

   Ít nhất, khi liên kết với ai, chúng ta nên biết người đó là ai, họ nhìn chúng ta ra sao, họ nghĩ về chúng ta như thế nào và họ muốn gì ở chúng ta, để chúng ta có thể xử sự một cách khôn ngoan…Lao đầu vào một cuộc đối thoại mà không biết gì và thiếu hiểu biết, cái mà chúng ta được không thấm vào đâu so với cái mà chúng ta mất trong tương lai xa.

   Tất cả những tài liệu cho Giáo hội Ca Tô, từ Vatican cũng như tại Thái Lan, đều đưa đến kết luận là, đối thoại chỉ là một chiến thuật để thực hiện những kế hoạch của Giáo hội Ca-Tô để đồng hóa Phật Giáo vào Ki Tô Giáo.  Âm mưu này có thực hiện được hay không còn tùy thuộc ở các Phật tử có ý thức được hay không những động cơ trong mối giao hệ với người Ca Tô và biết xử sự như thê nào trong mối giao hệ này.  Điều này tùy thuộc ở nhận định của người Phật tử.  Ở đây, chỉ có một số trích dẫn từ những tài liệu của Giáo hội Ca Tô được đưa ra cho độc giả tham khảo.

  Mục đích của cuốn sách này là khuyến cáo các Phật tử và thức tỉnh họ trước tình trạng hiện nay để , trước hết, họ có thể có những thái độ thích đáng trong cương vị của người đi tiếp cận hay người được tiếp cận.  Thứ đến, nguy cơ sẽ đến với Phật Giáo nếu các Phật tử coi thường, không cập nhật, yếu và lơi là.  Không bỏ buông, Phật Giáo không thể bị ai làm hại.  Mọi nguy cơ, dù hiển lộ hay che dấu, cần phải được sử dụng làm động cơ thúc đẩy người Phật tử tự mình cải tiến trong việc tu học và hành trì ngõ hầu họ có thể tin ở Phật Pháp và hoạt động với lương tri để giúp mọi người có hạnh phúc.

  Cũng nên ghi là hiện nay, những giáo hội Tin Lành cũng đã thường sử dụng những chiến thuật  và kỹ thuật tương tự của “Đối Thoại”.

   (INTRODUCTION:  The Roman Catholics came to Thailand in the reign of King Narai the Great about 300 years ago.  There are now a little over 100,000 Catholics, the number considered very small by the Church.

   In the past the Christians believed that other religions than Christianity, such as Buddhism are sinful, the teachings of Evil and Satan.  Therefore, the Church has been sending Catholic priests to teach the pagans, introducing God to them, convert them.  They were induced into Christianity by attacking Buddhism and other religions as being evil and wrong teachings.  This method of converting is called Mission.

   About a decade ago, the Catholics changed their strategies.  The Catholic priests no longer attacked Buddhism.  Both Catholic priests and laymen have become friendly and joined with the Buddhists in rendering services to the society.  They have been adjusting themselves to the Thai culture and imitating Buddhist ceremonies.  Buddhist mediatation has also been studied and modified into Christian one.  New books have been written to explain Christianity in Buddhist vocabulary, exploiting and distorting Buddhist doctrines.  These are new, strange and intersting phenomena.

   These changes in attitudes and practices of the Catholics are the results of Vatican Council II, which was held from 11 October 1962 to 8 December 1965.  The preparation for Vatican Council II had been made sice 1959.  The Council was carried out seriously and continuously over these three years.  The bishops all over the world and other top qualified personnel approximately 4,000 in number were bobilized to synthesize new concepts and adjust their methods of propagation to suit the changes in the modern world.  The responsibility of bishops was emphasized, that is, beside their work in their own diocese, they also have to follow the policy of the Mother Church (Vatican) as resolved in Vatican Council II.  All the resolutions of the Council must seriously be adhered to and put into practice by all the Catholic churches all over the world throughout all the coming decades until the next Vatican Council takes place.  (The first Vatican Council took place over a hundred years ago, that is, during December 1869 to July 1870 which took only a little over seven months and the participants were fewer than 1000 persons).

   One important theme of Vatican Council II was the consideration and lay-out of the policy on and new approaches to all non-Christian religions, the resolution of which was: The Declaration on the relations of the Church with non-Christian religions.

   In this declaration of Vatican Council II, a new kind of relationship with other religions called the “DIALOGUE” has been established.  Another consequence was that, the Pope, Head of the Church, set up “Secretariat for Non-Christians” to be responsible for the dialogue.  Later on the Secretariat has issued “Bulletin”, a confidential publication to communicate with bishops and higher priests who are working on different countries.  The bulletin contains news from the Vatican concerning other religions and their followers.  Ideas and practices of the dialogue are given, as well as knowledge concerning other religions to be used as bases for the dialogue, including reports on religious situations in the localities where the Catholic priests work.  The bulletin serves as field for exchanges of experiences of the priests working in different countries.

   The declaration of Vatican Council II together with explanations and advices given in the bulletin, new concepts and new approaches of the Church to non-Christian religions show that instead of looking at other religions as  the mass of errors and the fruit of the sins of men as in the past, the new attitude is to accept all the beautiful and good in other religions, all of which are to be regarded as coming from God.  Only the Christian religion, the religion of God, is complete.  Other religions are mixture of good and bad, truths and falsities, but they can be used as means to consummate in Christianity.  Therefore, the true and the good in other religions can be the starting point to make pagans become Christians…

    The dialogue is to be understood as a looking at each other as equals, and not to attempt to convert other persons to ona’s religion.

   However, after considering the confidential publication of the Secretariat for non- Christian, this is dubious.  Evidences show that in the dialogue, cooperation, collaboration, mutual understanding and compromise are not the the real objectives.  They are only means or strategies leading to other objectives.  Since there are two organizations, each having different responsibilites, one is the Sacred Congregation of Propaganda Fide which is responsible for “MISSION” and the other is the Secretariat for non-Christians which is responsible for “DIALOGUE”, it is evident that the dialogue is not substituting the mission but to complement it.  The dialogue is a means to pave the way for the mission; it foregoes the mission.  In cases where the mission can take place immediately, the mission method can be employed.  But, if the situation is not ready, the dialogue has to be used.  Those who want to know the truth about this can examine different available documents.  For those who do not have opportunity to follow through all the documents, the important points quoted in this book will greatly help to clarify the real purposes of the Catholic activities.

   The documents quoted here are mostly written by high ranking officials of the Secretariat for non-Christians, i.e., the Chairman, the Secretary General and the Deputy Decretary General.  Therefore, they are to be regarded as the official policy and work plan of the Catholic Church.

   The Vatican which is the center of the Catholic Church is an independent state.  It has its own government.  The Catholic Church in Thailand is subordinate to the Vatican.  To understand all concerns the Catholic Church in Thailand, it is necessary to understand the network of the Vatican.

   The dialogue is initiated by the Catholics who perform the actions, the Buddhists are the objects of the actions and are deceived to join in the performance.  It is the Catholic who changed their approaches while the Buddhists remain friendly as ever.  It is natural that the performer of the actions will have prepared themselves with ideas, plans and personnel for the dialogue.  In such a situation, the Buddhists become the objects of the dialogue.  If hidden unhonest purposes are attached to the dialogue, the Buddhists will certainly become victims.

    One important characteristic of the dialogue is mutual understanding.  As initiators, the Catholics have made a thorough study of Buddhism to prepare themselves for the dialogue.  They accordingly know the Buddhists very well before they start the dialogue.  On the contrary, though the Buddhists have received the friendship and joined with the Catholic to a large extent, they do not seem to know much about the Catholic and their real motives.  Hence, the Buddhist need to study it in order to obtain mutual understanding.  If it is found that in the dialogue the Catholics have ulterior motives, we, the Buddhists, can warn them to be honest, candid and sincere to us.

    At least, in associating with anybody, we should know who he is, how he looks at us, what he thinks of us and what he wants from us, so we can act wisely…  In entering the dialogue with ignorance and lack of understanding, what is gained will not cover the loss in the long run.

   All the documents of the Catholic Church, both from the Vatican and in Thailand, inevitably lead to a conclusion that the dialogue is a strategy to carry out the plans of the Catholic Church to assimilate Buddhism into Christianity.  That this plot will be realized or not depends on whether the Buddhists aware of the motives of the relationship and know how to act in the relationship.  This is up to the discernment of the Buddhists.  Here, only the classified excerpts from the documents of the Catholic Church will be given for consideration of the readers.

   The purpose of this presentation is to warn the Buddhists and awaken them to the situation so that, in the first place, proper attitudes can be made whether is the approacher or the approached.  Secondly, dangers to Buddhism will arise if the Buddhists are negligent, not up to par, weak and slackened.  Without carelessness, Buddhism can not be endangered by anybody… Any danger, whether open or hidden, which has arisen should motivate the Buddhists to improve themselves both in their studies and practices, so that they will be confident in the Dhamma and work conscientiously to help people to really become happy.

   It should be noted that at present the Protestant Churches have also been utilizing similar strategies and techniques of the Dialogue.)

 

   Qua tài liệu trên của Phật Giáo Thái Lan, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm gì? 

   Đối với người Việt Nam, chúng ta cần phải ý thức được rằng chiêu bài “đối thoại” hay “liên tôn” của Ca Tô Giáo Rô Ma chỉ là những bình phong chiêu dụ những người Phật tử nhẹ dạ, ngây thơ, kém hiểu biết, hám danh, lao đầu vào cái bẫy của Ca Tô Giáo Rô Ma mà không biết đến những âm mưu của họ trong chính sách xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu, cũng như không biết rằng mục đích chính của Ca Tô Giáo Rô Ma không phải là “đối thoại” hay “liên tôn” mà chỉ là những chiến thuật giai đoạn nhằm mục đích đồng hóa Phật Giáo vào Ki Tô Giáo.  Cũng may, số Phật tử này không nhiều, không có uy tín trong quần chúng, thực chất chỉ là những con nội trùng kém đạo đức trong Phật Giáo, nên ảnh hưởng hay kết quả những cuộc hợp tác “đối thoại” hay “liên tôn” của họ với Ca Tô Giáo có thể nói là không đáng kể, không cần phải quan tâm.  Tuy vậy, Phật tử cũng không nên vì  thế mà lơi là, không chịu tìm hiểu kỹ các vấn đề, áp dụng hạnh từ bi một cách thiếu sáng suốt, và để mặc cho Ca Tô Giáo tự tung tự tác trong sách lược cải đạo Á Châu. 

   Thường thường chúng ta thấy một số chức sắc Ca Tô khởi xướng tiếp cận với một số lãnh đạo Phật Giáo chứ không có chuyện ngược lại.  Mọi tiếp cận đều đi kèm với một mưu toan nào đó để có lợi cho giáo hội chứ không phải là thật lòng muốn đối thoại.  Ví dụ có ông linh mục đến Thầy Mãn Giác và xin Thầy khuyên Trần Chung Ngọc không nên viết những bài “chống Công giáo” (sic), tưởng rằng Hòa Thượng cũng giống như Linh mục, và Phật tử cũng giống như giáo dân.  Nguyễn Văn Trung cũng làm nhiều chuyến Mỹ du và Pháp du để tiếp xúc với một số cư sĩ Phật Giáo để tìm hiểu nội bộ Phật Giáo và tuyên truyền cho Ca Tô giáo, tiếp xúc với chị Nguyễn Mạnh Quang, người Công giáo, để làm áp lực với anh Nguyễn Mạnh Quang đừng viết thêm những tác phẩm “chống Công Giáo”, nhưng mưu toan này bị thất bại hoàn toàn vì chị Quang là người rất sáng suốt nên nghe nói đã cho ông Nguyễn Văn Trung một bài học vỡ lòng về sự lương thiện trí thức, tôn trọng sự thật, và ý nghĩa thực sự của cuộc đối thoại tôn giáo..

   Chúng ta cần phải vạch trần âm mưu dùng “đối thoại” để truyền giáo và cải đạo của Ki Tô Giáo cho quần chúng biết rõ, báo động nguy cơ xâm lăng của Ca Tô Giáo, và nhất là buộc những người Ca Tô phải lương thiện, thẳng thắn và thành thật đối với chúng ta qua những hành động cụ thể chứ không chỉ có trên đầu môi chót lưỡi hay trên mặt văn tự.

   Ví dụ, người Ca Tô ngày nay nói rằng họ có tinh thần dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc.  Vậy hành động cụ thể của họ phải là từ bỏ tinh thần nô lệ Vatican, từ bỏ lệ thuộc Vatican về hành chánh cũng như về vấn đề tâm linh, vì thực chất Vatican là một ngoại bang, và tinh thần dân tộc Việt Nam là không bao giờ chịu nô lệ ngoại bang, và văn hóa Việt Nam thì không bao giờ có thể tương hợp với văn hóa Ca Tô.  Trong một phần sau tôi sẽ bàn nhiều hơn về những vấn đề này.

   Bài Dẫn Nhập trong cuốn Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo ở trên ghi là có những tài liệu trích dẫn từ những ấn phẩm mật của Vatican.  Hiển nhiên ở đây tôi không thể nào kê ra hết những tài liệu trích dẫn đó mà chỉ có thể đưa ra một số trích dẫn điển hình để chúng ta thấy rõ sách lược truyền đạo của Vatican.  Trong cuốn Âm Mưu Của Công Giáo Chống Phá Phật Giáo, những tài liệu trích dẫn phần lớn là từ những Bản Tin (Bulletin) của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, và được đánh số ví dụ như (1: 4-5) có nghĩa là từ Bản Tin Số 1, trang 4-5.

   Trước hết là một huấn thị từ Tổng Thư Ký Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ P. Humbertclaude:

 

   Vì tất cả những việc của chúng ta phải được thi hành với sự thỏa thuận của các giám mục xứ và qua họ, một phương tiện tiếp xúc với họ (Bản Tin) là điều cần thiết.  Đây là những nét đại cương:  chúng sẽ được cải tiến cùng với kinh nghiệm và cùng với những đề nghị mà Bộ trông đợi từ nhiều người đọc Bản Tin của Bộ. (1: 3)

   Thật là rất quan trọng cho lợi ích chung cũng như cho tương lai của Bản Tin, mọi người phải ý thức được rằng đây là một ấn phẩm mật dành riêng cho các giám mục xứ và cho những cá nhân mà các giám mục hay Bộ đã chỉ định trong nhiệm vụ đối thoại.  Nếu khi nào mà các giám mục xứ tin rằng cần phải in lại toàn phần hay một phần của bài nào hay văn kiện liên lạc nào họ có thể làm như vậy mà không được nêu xuất xứ.  Vì đây là một ấn phẩm mật, không được thông báo cho báo chí. (1: 4-5)

   (Since all of our work must be done with the agreement of the Ordinaries and through them, an instrument of contact was necessary.  Here it is its general outines: it will improve with experience and also with the suggestions that we await from many of our readers. (1: 3)     

   It is extremely important for the common good, as well as for the future of the Bulletin itself, that everyone be well aware that it is a confidential publication exclusively for Ordinaries and for persons that the Bishops or we have designated for dialogue.  If then the Ordinaries believe it useful to reprint entirely or in part a certain article or communication they should do so without citing the source.  Since it is a confidential publication, the press should not be informed. (1: 4-5))

 

   Đoạn (1: 3) chứng tỏ Vatican đã chỉ đạo đường hướng hoạt động của các giám mục địa phương và đường hướng này sẽ được thay đổi tùy theo tình hình địa phương qua hồi ứng của các giám mục địa phương.  Đọc tiếp những tài liệu trích dẫn từ những Bản Tin mật của Vatican chúng ta thấy rõ Vatican đã chỉ thị cho các giám mục địa phương và mọi tín đồ Ca Tô phải nghiên cứu kỹ tình hình Phật Giáo và dân tình địa phương để từ đó Vatican sẽ hoạch định những kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo thích ứng.  Vậy thực chất các giáo hội địa phương chỉ là những ổ gián điệp nằm vùng trong các quốc gia phục vụ cho Vatican, một ngoại bang.  Điều này chúng ta có thể thấy rõ ngay trong đoạn (1: 4-5) ở trên:  Tại sao một Bản Tin liên lạc với các giám mục địa phương của Ca Tô Giáo, một “tôn giáo” tự coi là thiên khải, tông truyền v..v.. có nhiệm vụ mang “Tin Mừng” đến cho nhân loại, lại phải là một ấn phẩm mật mà các giám mục địa phương phải tuân hành mà không được tiết lộ xuất xứ, và phải dấu báo chí, nếu trong đó không có những kế hoạch truyền đạo bất chính mà Vatican không muốn cho các tôn giáo khác biết?  Câu trả lời thật là rõ ràng: “Tin Mừng” của Ca Tô Giáo phải được rao truyền qua những phương tiện, thủ đoạn lắt léo, bất chính và “cấm ngoại thủy không ai được biết”.  “Nói có sách, mách có chứng”, tôi không có nói vu vơ. Phần phân tích một số tài liệu mật của Vatican về sách lược cải đạo Á Châu sẽ chứng minh điều này.  Trước hết là một nhận định tổng quát.

 

   Những huấn thị viết trong các Bản Tin là một loạt những khẳng định vô trách nhiệm, kiêu căng vô lối, hỗn hào, láo xược, đối với các tôn giáo phi Ki-Tô, kèm theo những tiểu xảo hạ cấp để truyền đạo.

   Chúng ta hãy xét đoạn sau đây trong Bản Tin (Bulletin) số 7, trang 12:

 

  Một chiến thuật trong cuộc bút chiến là mô tả qua loa những sự phong phú (trong các tôn giáo phi Ki-Tô) nhưng sự công nhận những sự phong phú đó không được để cho những người ngoại đạo được hưởng.  Do đó chúng ta phải công nhận giá trị theo nghĩa hòa nhập, vì tư tưởng Ki Tô Giáo là trên hết.  Trích dẫn từ những người ngoại đạo phải được chọn dựa theo Thánh Kinh: những biểu tượng (của người ngoại đạo) phải được sửa đổi để đưa vào đó khuôn mặt của Giê-su; và sau cùng làm cho những lời lẽ của ngoại đạo sẽ mang ý nghĩa khác hẳn.  Những tôn giáo ngoại đạo không có gì là quan trọng cho chính chúng, mà chỉ là cho những ốc đảo chân lý nhỏ bé có chứa trong chúng..

   Xét về toàn thể, những tôn giáo và triết lý ngoại đạo chỉ là một đống những sai lầmChúng là kết quả của tội lỗi con người và sau cùng là của quỷ.  Nhưng trong sự tối tăm đó cũng còn có lập lòe chút ánh sáng.  Chính trong cái ánh sáng đó chúng ta phải khám phá ra thiện chí từ những người ngoại đạo và đoan chắc chân lý của Ki Tô Giáo, vì những mảnh chân lý đó đến từ đức Ki Tô.

   (It is a polemical way of describing riches glimsed, credit for which must not be left to the pagans.  So we must speak of a recognition of value but in the sense of an integration, for the Christian thought is primary throughout.  The pagan quotations are chosen with reference to Scripture: the symbols are modified to throw more into the relief the face of Jesus Christ; and finally the pagan words take on a totally different meaning.  The pagan religions have no importance for themselves, but solely for the little islands of truth which are contained in them….

   Taking as a whole, the pagan religions and philosophies are for them merely a mass of errors.  They are the fruit of the sins of men and ultimately of the devil.  But in this darkness there are still some gleams of light.  In this virtue of this light that we must proceed to discover the pagans of good will and confirm thus the truth of Christianity, for those scraps of truth come from Christ.  (7:12))

 

   Những lời huênh hoang kiêu căng vô lối, và những lời hỗn hào, láo xược, xuyên tạc, mạ lỵ các tôn giáo phi-KiTô như trên, chỉ để tuyên truyền nhồi sọ cho đám tín đồ ngu dốt chứ đối với thế giới Tây phương và nhất là đối với giới trí thức hiểu biết, chính Ca Tô Giáo mới là một đống những sai lầm: sai lầm từ Thánh Kinh cho tới các tín lý Ca Tô, sai lầm từ nền Thần học Ki Tô Giáo cho đến những giáo lý của giáo hội Ca Tô, sai lầm từ đạo đức của các giáo hoàng xuống tới các linh mục v..v…  Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng.  Thật vậy, chân lý của Ki Tô Giáo là gì, nếu không phải là những niềm tin vào một Giê-su đã chết đi ba ngày rồi sống lại, bay lên trời, và quyền năng “cứu rỗi” của Giê-su trong ngày phán xét cuối cùng? Nhưng những niềm tin như trên ngày nay đã trở thành những điều mê tín của một thiểu số trên thế giới vẫn còn sống trong bóng tối của sự đần độn tâm linh, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, do đó không biết rằng những niềm tin này đã bị đa số trên thế giới, kể cả các giới trí thức trong các giáo hội Ki Tô Giáo, vứt bỏ, vì chúng không còn một giá trị nào trước những bằng chứng trong khoa học về vũ trụ, về nguồn gốc con người, về sự bất khả hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục v..v.. mà không ai ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo có thể bác bỏ được.

   Nhưng vấn đề ở đây không phải là những luận điệu thiếu văn hóa của Vatican như trên mà là thủ đoạn mượn, nói nôm na là ăn cắp, những điều hay trong các tôn giáo phi Ki Tô rồi biến đổi chúng thành của Ki Tô Giáo, một thủ đoạn không mấy lương thiện.  Mặt khác, cùng trong Bản Tin số 7, trong một đoạn sau, trước tình hình tôn giáo hiện nay của thế giới, sự thay đổi trong sách lược truyền đạo được hoạch định như sau (7:15):

 

   Giáo hội không còn sống trong thời của những tổ phụ lập giáo.  Trong những ngày đó giáo hội sống trong sự nở rộ trẻ trung; giáo hội công khai chứng tỏ những hứa hẹn của tương lai và sẵn sàng nhanh chóng chinh phục thế giới.  Tình hình ngày nay đã khác.  Những tôn giáo phi-KiTô góp chung lại thì có nhiều tín đồ hơn.  Đối với tuyệt đại đa số các tôn giáo đó, có vẻ như giáo hội không còn là một sức mạnh trong tương lai.  Đó là tại sao chúng ta phải từ bỏ ý tưởng tấn công trực diện và thay thế bằng đối thoại, và tìm ra những giá trị  nội tại và những điều quý báu của mỗi giáo lý…

   Thay vì nghĩ về các tôn giáo khác như là một đống những sai lầm trong đó cũng có rải rác vài chân lý, chúng ta hãy nhìn trong các tôn giáo đó những công cụ đã giúp hàng triệu người tìm thấy Thiên Chúa và ngày nay vẫn còn tìm như vậy.  Nếu chúng ta hiểu biết rõ hơn về phần vụ của những tôn giáo dân gian trong lịch sử tôn giáo thế giới thì điều này sẽ giúp chúng ta rất nhiều.

   Từ đó, nhiệm vụ truyền giáo đang được phát triển trong tầm nhìn rộng rãi hơn.  Nó không còn là cải đạo cá nhân mà là, nói cho đúng ra,  cải biến chính những nền văn hóa tôn giáo khác.

   (The Church is no longer living in the time of the Fathers.  In those days she was in the bloom of youth; she showed openly the promises of the future and was ready swiftly to conquer the world.  The situation is different today.  The non-Christian religions taken together have more followers.  To the great majority of these the Church does not appear to be the force of the future.  That why we must give up the idea of a frontal attack and substitute that of dialogue, while seeking the intrinsic values and the religious treasures of every creed…

   Far from thinking of them as a mass of errors in which some scattered truths have survived, we must rather see in them the instruments which have helped millions of men to find God and are doing still to-day.  It will be a great help also if we have a better understanding of the part played by the pagan religions in the religious history of the world.

   Since then, the missions are developing a wider perspective.  It is no longer one of converting the individual but of converting the religious cultures themselves, so to speak. (7:15))

 

   Huấn thị cho các giám mục địa phương ở trên đã nói lên mục đích truyền đạo hay cải đạo Á Châu của Vatican là biến cải những nền văn hóa phi Ki Tô chứ không phải chỉ cải đạo cá nhân.  Đây chính là sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican.  Đối với Việt Nam, đây là một hiểm họa có thực nếu Vatican có thể thực hiện được mưu đồ của mình.  Cho nên, người Việt Nam chúng ta, nếu còn lòng yêu nước, yêu quê hương, còn tinh thần dân tộc thì bổn phận của mọi công dân là phải ý thức được hiểm họa này và phải ra sức ngăn chận âm mưu cải đạo Á Châu của Vatican.

   Để cho vấn đề rõ ràng hơn và cũng để cho người dân biết rõ hơn về kế hoạch xâm lược văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican, sau đây tôi sẽ đi thêm vào một số chi tiết trong sách lược cải đạo Á Châu của Ca Tô Giáo Rô Ma và Tin Lành.

 

   Thủ đoạn rất quen thuộc của Ca Tô và Tin Lành trong sách lược cải đạo Á Châu gồm hai mặt: tấn công và chống đỡ.

   Trong mặt tấn công, họ dựa trên cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, lấy một số giáo lý của Phật giáo, xào xáo, thay đổi làm thành giáo điều của Ki Tô Giáo, đồng thời tung ra những bản văn xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo, mạ lỵ tăng đoàn, cố tình gây phản ứng trong Phật Giáo.  Khi Phật Giáo phản ứng để phản bác thì họ giữ im lặng, lợi dụng bản tính hiền hòa và khoan nhượng tôn giáo của người dân Á Châu, đưa ra mặt chống đỡ, tạo trong quần chúng một ý tưởng là chính Phật Giáo là phe khởi xướng cuộc tranh chấp tôn giáo, gây chia rẽ, làm mất tình hòa hợp đoàn kết quốc gia.  Ngoài ra, họ còn mua chuộc, hối lộ các chính quyền địa phương để ngăn chận sự phổ biến những tài liệu phản kháng, vạch trần âm mưu của họ, trong quần chúng.  Thủ đoạn này đã thành công phần nào ở Thái Lan và ở Việt Nam.  Người dân ít hiểu biết và ngay cả chính quyền cũng rất dễ bị lừa dối bởi thủ đoạn này, không nhận thức được bộ mặt thật của Ki Tô Giáo. 

   Những mánh mưu và luận điệu tuyên truyền lừa bịp của họ không thể kể hết và phân tích trong phạm vi bài viết này.  Ở đây tôi chỉ xin trích dẫn một tài liệu của Thái Lan để từ đó chúng ta có thể suy ra những kinh nghiệm cho Việt Nam, rồi tôi sẽ phân tích vài điểm cốt yếu nhất trong luận điệu tuyên truyền lừa bịp của Ca Tô và Tin Lành.

 

   Năm 1984, tuy chưa tới 1% dân Thái theo Ki Tô Giáo nhưng chính quyền Thái đã cho phép Giáo hoàng John Paul II đến Thái Lan viếng thăm tín đồ của ông.  Sau Công Đồng Vatican II, Ca Tô Giáo Rô Ma mở chiến dịch truyền đạo ở Thái với nhiều thủ đoạn bất lương và bất chính.  Trước tình hình như vậy, nhiều tổ chức Phật Giáo ở Thái Lan đã ra tuyên ngôn kèm theo bằng chứng, và viết thư phản đối gửi đến các chức sắc Ca Tô trong giáo hội Ca Tô tại Thái.  Nhưng giáo hội Ca Tô tại đây ù lì, không có một biện pháp sửa sai nào.  Cho nên, nhân dịp giáo hoàng sắp viếng thăm Thái Lan, nhiều tổ chức Phật giáo cũng như dân sự Thái Lan đã viết những bức thư ngỏ gửi giáo hoàng, trình bày và phản đối những hành động sai trái của Ca Tô giáo tại Thái Lan. Điển hình là Tỳ Kheo Sathienpong Wannapok đã viết một bức thư ngỏ gửi John Paul II.  Đọc kỹ bức thư, và nếu chúng ta hiểu về lịch sử và bản chất của Ca Tô Giáo Rô Ma, thì đây vừa là một cái tát vào mặt Giáo hoàng, vừa là một bài học về đạo đức tôn giáo cho giáo hoàng, tuy lời văn khiêm tốn và nhẹ nhàng.  Nguyên văn bức thư như sau:

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: