Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

TT.THÍCH CHÂN QUANG NÓI CHUYỆN VỚI TĂNG NI LỚP CAO CẤP GIẢNG SƯ – KHÓA V (2009 – 2012).

TT.THÍCH CHÂN QUANG NÓI CHUYN VI TĂNG NI LP CAO CP GING SƯ – KHÓA V (2009 – 2012).
24/03/2012

 

http://nuidinh.com

 

Nhận lời mời của TT.Thích Tấn Đạt – Ủy viên Thường trực HĐTS GHPGVN – Phó ban Thường trực BTC Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư, sáng ngày 17/03/2012 (nhằm ngày 25/02/năm Nhâm Thìn), TT.Thích Chân Quang (BRVT) đã đến thăm và có buổi nói chuyện, chia sẽ kinh nghiệm Hoằng pháp với Tăng Ni Giảng sinh Lớp Cao Cấp Giảng Sư BHP TW GHPGVN – Khóa V, tại Giảng đường Chùa Hòa Khánh (215 – Phan Văn Trị – F.11 – Q.Bình Thạnh – TP.HCM).

Buổi nói chuyện diễn ra hết sức gần gũi, thân tình và sôi nổi với phần phát biểu của các Giảng sinh nhưng chứa đựng nội dung vô cùng sâu sắc, phong phú với chủ đề KINH NGHIỆM THUYẾT GIẢNG.

TT.Thích Chân Quang là một vị Giảng sư đã thành công trong sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Hy vọng với sự chia sẻ bằng kinh nghiệm hơn hai mươi năm thuyết giảng của mình, Thượng tọa có thể đóng góp vào sự nghiệp hoạt động giảng dạy của các Tăng Ni Tân Giảng Sư tương lai. Nhân đây, Thượng tọa giới thiệu tập sách NHỮNG BÀI GIẢNG HOẰNG PHÁP cho Tăng Ni sinh tham khảo. Đây là tập sách tập hợp tất các bài về Kỹ năng Hoằng pháp do Thượng tọa giảng dạy tại trường TCPH tỉnh Long An. Phần nội dung của Giáo trình này là sự tổng kết kinh nghiệm sau nhiều năm giảng dạy của chính mình. Thượng tọa ước muốn được đóng góp thật nhiều cho giáo trình Hoằng pháp Diễn giảng của nền Phật học chung. 

Mở đầu buổi nói chuyện, Thượng tọa nhắc nhở các vị tân Giảng sư nên xác định hướng hoằng pháp và đối tượng hoằng pháp cho mình trong suốt cuộc đời để có sự chuẩn bị trước, giống như một sứ mệnh tự đặt cho mình. Ví dụ chúng ta có duyên với đồng bào sắc tộc miền núi, muốn đem ánh sáng Phật pháp đến đó thì nên hiểu qua một số đặc tính của họ (văn hóa, ngôn ngữ, tập tục, đời sống. v.v..,) để việc giao tiếp, giáo hóa được thuận lợi hơn. Hoặc một người nghĩ mình có thể bao quát giảng dạy tất cả mọi đối tượng thì nên nuôi dưỡng tâm hồn và tu hành thật kỹ. Chỉ những người vất vả chiến đấu với những sai lầm của mình mới là người hoằng pháp chân chính; đồng thời những lời được nói ra từ kinh nghiệm tu hành vất vả là cả một sức mạnh làm lay chuyển người nghe. Nên nhớ một điều “Chân lý ta dạy từ cái tâm tu hành chứ không phải từ cái ta hiểu biết”.  

 

Để thành một Giảng sư giỏi chúng ta phải có một nguồn đạo lý sung mãn tràn đầy để có thể chia sẻ với mọi người mãi mãi. Muốn có đạo lý trong tâm phải học hỏi rất nhiều những giáo lý căn bản từ kinh tạng nguyên thủy ban đầu của Phật như Luật Nhân Quả Nghiệp Báo, Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ, v.v… Trong đạo lý, càng tiếp cận xác ý của phật, biết ứng dụng vào đời sống tu hành để trở thanh giáo lý sống của mình (không phải nghe sao nói lại vậy) thì chúng ta có cơ duyên sau này mở ra giáo lý nhiếp hóa chúng sinh rất rộng. Ngược lại, cách càng xa ý của Phật chừng nào thì đối tượng mà ta giáo hóa càng hẹp chừng ấy, bởi vì ta đi theo ngọn. Còn nắm được cái gốc của đạo lý ta thấy hết toàn bộ. Do đó, tầm nhận thức của ta về giáo lý phải cố gắng tiếp cận xác ý của Phật.

Để gọi là một Giảng sư thành công thì giáo lý mình thuyết giảng phải hấp dẫn, có giá trị rõ ràng, tầng lớp nào nghe cũng thích vì có lợi cho họ và suốt cuộc đời làm Giảng sư tỉ lệ bài giảng hay phải tối đa. Ví dụ có 100 bài giảng mà tỉ lệ 5/5 (tức 50 bài hay và 50 bài dở ) thì cũng không gọi là Giảng sư thành công. Phải bảo đảm là 70 bài hay và 30 bài đạt mức trung bình thì đó là Giảng sư tốt, chứ  nếu tỉ lệ bài giảng hay ít quá thì cũng không được. Muốn giảng cho hay là cả một bí quyết, năng khiếu, tài năng, trí tuệ, công đức, kiến thức chứ không phải là chuyện đơn giản. 

Theo quan điểm của Thượng tọa “Đàm đạo là bước đầu của Diễn giảng”, muốn thuyết giảng được thì phải học đàm đạo trước, phải tự rèn luyện trên thực tập này đến thực tập kia, chứ không phải tự nhiên bước lên làm Giảng sư. Vì vậy, ai đã đi qua kinh nghiệm đàm đạo sẽ có thể ứng khẩu diễn giảng về sau.

Một vị Giảng sư làm thầy thiên hạ thì cần có hai điều hơn người, đó là giới hạnh đạo đức hơn người và trí tuệ – kiến thức hơn người. Chính tư cách đạo đức của ta là sự bảo đảm cho những lời ta giảng. Không chỉ vậy, một vị Giảng sư ngoài trình độ tâm linh vững chắc, uyên thâm Phật pháp, đạo đức chuẩn mực còn cần phải có kiến thức của thời đại, kiến thức nội điển, ngoại điển. Trong bài giảng mà chúng ta nói kiến thức khoa học chuẩn mực một chút thì bỗng nhiên có sự thu hút kỳ lạ, dù họ là đối tượng trí thức rất cao vẫn bị ta thuyết phục vì trong lĩnh vực ngành nghề của họ có những cái gốc mình hiểu hơn họ, vẫn dạy cho họ được, đó là cái khéo của ta.

Nếu quý Tăng Ni Giảng sư chấp nhận mình có đối tượng bao quát, ai mời cũng giảng được hết thì chúng ta phải am hiểu kiến thức nội điển, ngoại điển rất lớn. Ngoài ra, còn đòi hỏi ta có trí nhớ, thông minh và sự nhận thức cuộc sống nhạy bén. Nhìn điều gì trong cuộc sống cũng thấy vô số đạo lý hiện ra như câu nói “Tất cả các pháp đều là Phật pháp”. Ví dụ ăn cơm, uống nước hay kẹt xe cũng là Phật pháp.

Diễn giảng là phải ứng khẩu tại chỗ, tức thời. Thượng tọa đưa ra các mảng đề tài gợi ý được đặt ra trong cuộc sống, trong sự tu hành mà nếu ai đó mời ta giảng về vấn đề đó thì phải giảng như thế nào, để các Tăng Ni Giảng sinh tập hình dung về tính nhạy bén của mình đối với nhu cầu của thính chúng, bởi vì trong cuộc đời Giảng sư khi có ai hỏi phải trả lời liền dù không có thời gian chuẩn bị. Ví dụ, hiện nay vấn đề nóng bỏng của xã hội là ùn tắc giao thông nếu được mời giảng về đề tải này thì chúng ta trình bày như thế nào để thuyết phục được người nghe.

Đến đây, không khí buổi nói chuyện tại Giảng đường chùa Hòa Khánh bổng sinh động hẳn lên bởi ý kiến phát biểu của các vị tân Giảng sư và lời nhận xét của TT.Thích Chân Quang đối với những ý tưởng mà các vị phát biểu sau mỗi đề tài Thượng tọa gợi ý và buộc các Giảng sinh phải giải đáp liền. Tiếp theo, Thượng tọa phân tích cho thấy để gọi là một Giảng sư có tầm cở phải hội đủ những yếu tố nào.

Lại nữa, để có một bài giảng thuyết phục được người nghe thì cách nói rất quan trọng. Muốn nói cho dễ hiểu và hấp dẫn tất cả mọi người thì khả năng dùng từ phải phù hợp với người nghe, không sai ngữ pháp, không nặng nề học thuật. Ngoài ra, cách sắp xếp câu cú, chuyển ngữ phải hợp lý.

Để là một Giảng sư thành công, có 3 yếu tố lệ thuộc:

1/ Lệ thuộc vào duyên phước với chúng sinh trong quá khứ. Người nào trong quá khứ từng kết duyên lành với chúng sinh nhiều thì tự nhiên dễ được chúng sinh ủng hộ, khen ngợi và giới thiệu lẫn nhau. Có khi ta giảng chưa hay lắm nhưng lại được nhiều người thích mà không biết tại sao. Đây là lý do bí mật. Còn người ít duyên với chúng sinh quá sẽ rất khó là một Giảng sư thành công.

2/ Lệ thuộc vào sự gia hộ của Chư Phật, Chư Bồ tát trong hiện tại. Ai nghĩ rằng ta giảng bằng cái tài của mình thì thời gian sau không giảng được, hễ có một chút kiêu mạn thì dừng lại liền. Ngược lại, một người giảng bài rất thành công nhưng tự biết không phải do trí tuệ tài năng của mình mà được Chư Phật gia hộ. Người khiêm hạ như vậy thì sự nghiệp Giảng sư sẽ bền vững và còn tiến xa hơn nữa. Muốn được Phật gia hộ ta phải biết khiêm hạ, lúc nào cũng nghĩ ta chỉ là công cụ của Phật. Thượng tọa nhắc nhở “Sự kiêu mạn hay khiêm hạ là yếu tố quyết định sự nghiệp Giảng sư của ta. Nếu nghiệm kỹ mọi điều trong cuộc sống, chúng ta sẽ không dám kiêu mạn, trái lại càng khiêm hạ để tiếp tục vững bước trên con đường làm Phật sự”.

3/ Lệ thuộc vào sự khả ái vô hình nơi chính chúng ta. Đây gọi là phước duyên nhân quả. Cái khả ái vô hình này không phải là nét đẹp bên ngoài mà là duyên ngầm bên trong do cái đức tu tỏa ra của một người thường xuyên lễ Phật, sám hối, biết kính trọng các vị Tôn túc, biết yêu thương huynh đệ, đối với phật tử giữ sự khiêm hạ quý mến, thường hay giúp đỡ người khác, làm các công đức vô số v.v… Người có nét khả ái vô hình, khi người khác nhìn vào họ sẽ thấy dễ chịu. Có thể người đó chưa từng có duyên với chúng ta trong quá khứ nhưng trong hiện tại, tự nhiên nhìn họ ta thấy mến bởi sức hút vô hình của họ hay còn gọi là đức tu. Để có được đức tu thì phải thực hành ba nghìn oai nghi, tám muôn tế hạnh và Thượng tọa khuyến tấn mọi người hãy cố gắng tu.

Thượng tọa cảnh báo, có hai tiêu chuẩn vàng của Giảng sư là một bài giảng phài đúng ý Phật và phải hấp dẫn. Một vị Giảng sư mà thuyết giảng sai ý Phật, giảng nhầm tà kiến thì mang tội, thậm chí có khi chết rồi đọa địa ngục, đọa súc sanh. Hiện nay cách Phật đã hơn 2500 năm, liệu ai dám chấp nhận mình luôn luôn hiểu đúng ý Phật. Vì vậy, mục tiêu giảng cho đúng ý Phật là một điều mà vị Giảng sư nào cũng phải đau đáu suốt đời, nhất là sợ chủ quan theo ý mình mà giảng sai lời Phật dạy.

Hiểu đúng ý Phật là tiến trinh của nhiều kiếp, không lệ thuộc ai. Những điều Bổn Sư hay Giáo thọ Sư ta dạy chỉ là gợi ý mà thôi và chính ta, mãi mãi đi tìm cái bản ý chuẩn xác nhất của Phật là gì, để ta học, ta tu, ta theo đuổi và ta giảng dạy. Do đó là người Giảng Sư để gọi là làm lợi ích cho chúng sinh thì phải giảng đúng ý Phật. Để tìm ý Phật thì kết lại vẫn là học, nhưng sau đó phải tu. Thượng tọa nhấn mạnh  “Có tu” ta mới kiểm tra lại giáo lý đang học đúng hay không? Còn không, ta cứ nói như sách nói, nhiều khi không đúng lắm. Sách cổ của mấy ngàn năm qua cho đến sách hiện đại đều vẫn có thể nói sai ý Phật. Nên nhớ, các vị Tông sư ngàn xưa cho đến những vị Tông sư  – Danh Sư của thời nay, ai cũng chỉ là sự gợi ý cho ta để ta tìm tới ý của Phật, chứ không chắc ai đã hiểu đúng ý của Phật. Đừng bao giờ lệ thuộc vào bất cứ một tác phẩm nào dù ta nghe bao điều tôn vinh ca ngợi. Chỉ là ta phải tu và trải nghiệm để tìm ý của Phật. Cho nên, Giảng Sư phải là người giỏi tu rồi mới giỏi nói.

Chúng ta biết ơn tất cả những vị Tông sư, những vị Danh Sư, Bổn Sư, Giáo thọ sư vì họ là người gợi ý cho ta để tìm được bản ý đúng nhất của Phật. Khi tìm được bản ý tạm gọi là gần đúng nhất ý của Phật thì ta mới có được những lời dạy, những bài giảng lợi nhất cho chúng sinh. Còn nếu ta nói sai thì cửa địa ngục mở. Cho nên, đối với một vị Giảng Sư, tuy nhìn thấy có vẻ là vinh quang đó nhưng nguy hiểm cũng rất là lớn. Giảng Sư là lực lượng chủ đạo để phát triển Phật giáo nhưng họ cũng có thể là những người làm cho đạo Phật lụi tàn và chính họ cũng sẽ đọa vào ác đạo, rất là đáng lo. Do đó chúng ta phải rất khiêm hạ, lúc nào cũng cần cầu, lễ Phật sám hối, đừng bao giờ chủ quan là tự sức mình mà xin Phật gia hộ cho ta luôn hiểu đúng ý Phật, nói được đúng ý Phật. Mà ý Phật vẫn là cái gì cao xa, khó ai với tới được.

Yếu tố vàng thứ hai của một bài giảng là vị Giảng sư phải nói sao cho thật hấp dẫn. Nếu giảng đúng ý Phật rồi mà nói khô quá, nghe không lọt tai thì cũng không thành một bài giảng có lợi ích cho chúng sinh, cũng giống như mình có của báu cho mà người ta không lấy được. Vì vậy, ta phải giảng cho hấp dẫn.

Kế đến, Thượng tọa đưa ra một hình ảnh hết sức sống động và dễ hình dung về một bí quyết làm sao thuyết giảng cho hay được rút ra từ sự chiêm nghiệm bản thân và của các tài danh khác để có thể nói rằng “Không chỉ có lĩnh vực âm nhạc, kiến trúc mà trong lĩnh vực giảng dạy cũng vậy, khoảng những năm đầu đi giảng, ít khi ta giảng bài tự mình soạn mà cứ giảng lặp lại cho hay bài giảng của vị Giảng sư nổi tiếng nào mà ta cảm thấy thích. Tuy nhiên, trước khi giảng chúng ta nên nói rõ tựa đề và xuất xứ. Giống như ca sĩ, khi lên sân khấu cũng giới thiệu tên người hát, tựa đề bài hát và tên tác giả rồi họ hát. Chúng ta thấy, cũng một bài hát mà người hát chổ này… người hát chổ kia. Mỗi lần hát là một lần mới, mỗi lần hát là bộc lộ bản lĩnh của người ca sĩ và người ta không khen nhạc sĩ mà khen ca sĩ. Cũng vậy, những năm đầu trong đời làm Giảng sư, chúng ta cứ giảng lại cho hay bài giảng của những vị Giảng sư nào đó. Khi ấy người ta không khen tác giả cũ mà khen người đang giảng. Thật sự khi ta giảng lại bài giảng ấy, ta có quyền điều chỉnh chút xíu cho hay hơn. Đây là một lợi thế và trong khi diễn đạt nó vẫn bộc lộ bản lĩnh riêng cũng như công đức tu hành của ta trong đó, chứ không bao giờ giống y khuôn bài cũ.

Cứ vậy, chúng ta lặp lại những bài giảng của các Giảng sư khác trong một thời gian thì bổng nhiên ta có sức sáng tác, tự mình tạo ra được những bài giảng mới độc đáo và rất hấp dẫn. Lúc đó ta đạt được yếu tố thứ hai là giảng hấp dẫn.

Và một thú vị khác, Thượng toạ phân tích cái nhân quả vì sao chúng ta giảng bài của người khác cho đến khi tự tạo được bài giảng riêng thì ta giảng hay, lưu loát. Chung qui là do cái nhân của sự khiêm hạ. Nếu lúc nào chúng ta cũng yêu kính – tôn trọng những bậc đi trước vì có họ Phật pháp mới được nối tiếp, tồn tại. Lòng yêu kính các bậc Giảng sư tiền bối, những bậc Giảng sư cùng thời và luôn ủng hộ những huynh đệ đồng học với ta, đồng bước ra ngoài  làm các phật sự và tự biết sự giới hạn phạm vi của mình, đừng đi quá đà …đó là cái phước để ta trở thành Giảng sư giỏi. Còn đối với những bậc tiền bối đi trước mà có lòng bất kính, hay nói lời đố kỵ thì tự ta đánh mất sự nghiệp tu hành của mình. Một người Giảng sư đã thành danh hay những người tạm thành danh, trong cuộc đời giảng dạy cứ mong có nhiều người giảng giỏi hơn mình để nối tiếp Phật Pháp; đồng thời ai giảng cũng hòa với cái lõi chung của đạo Phật để đạo Phật không bị phân hóa.

Mạng mạch Phật giáo tồn tại được do 3 điều:

1/ Do những vị tu chứng, mặc dù chưa phải là A La Hán nhưng có công đặc biệt là người giữ gìn mạng mạch cho Phật giáo.

2/ Những người chưa tu chứng nhưng giới hạnh đàng hoàng.

3/ Do những bậc Giảng sư.

Tiếp theo, Thượng toạ trình bày những kỹ thuật để giảng hấp dẫn:

-Trong bài giảng ta đừng nói dài, nói lâu, vượt quá khả năng tập trung lắng nghe của thính chúng mà phải biết kiểm soát được bài giảng đúng thời gian theo hoàn cảnh lúc đó.

-Đừng dùng ngôn ngữ chuyên môn của mình nhiều quá, phải nói bằng ngôn ngữ của người nghe.

-Bài giảng hấp dẫn nhờ trích dẫn thơ ca hoặc đan xen những câu chuyện kể, nhưng tỷ lệ của chuyện kể cũng vừa chừng thôi.

Sau cùng, Thượng toạ nhắc nhở những người Hoằng pháp phải để ý đến quan điểm về chính trị, vì từ xưa đến giờ chưa có một tôn giáo nào thoát khỏi chính trị. Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy, thời đại nào mà đạo Phật được sự ủng hộ của quyền lực chính trị thì thời đại đó Phật giáo hưng thịnh. Ngược lại thì Phật giáo khó hoạt động, khó phát triển. Do đó, để quyết định sự phát triển của Phật giáo, người của đạo Phật phải có quan điểm chính trị vừa phù hợp với đạo lý, vừa phù hợp với xã hội.

Phương châm hoạt động của Giáo hội ta là Đạo pháp – Dân tộc – CNXH. Bằng cái nhìn của đạo đức Phật giáo, Thượng toạ phân tích cụm từ CNXH cho thấy ý nghĩa của nó không còn là chính trị nữa mà là một lý tưởng đạo đức. Chúng ta phải thông suốt về quan điểm này thì mới hoan hỷ làm việc, còn như cứ mơ hồ thì làm gì cũng là một sự gượng ép.

Tóm lại, buổi nói chuyện về chủ đề KINH NGHIỆM THUYẾT GIẢNG do TT.Thích Chân Quang đảm trách, đã mở ra nhiều quan điểm mới, giúp cho các Tăng Ni Giảng sinh định hướng được con đường đi của mình. Tuy rằng thời gian gặp gỡ, trao đồi với nhau ngắn ngủi nhưng trước tấm lòng nhiệt tâm chia sẻ hết kinh nghiệm hoằng pháp của mình cho thế hệ sau được giỏi hơn của TT.Thích Chân Quang, đã để lại một niềm tin sâu lắng, một niềm quý kính vô cùng trong lòng Tăng Ni sinh Lớp Cao cấp Giảng sư. Và từ cảm xúc đó, một vị Giảng sinh đã cảm tác bài thơ dâng lên cùng dường Thượng toạ Giảng sư trước khi chia tay.

TUỆ ĐĂNG

 

Dưới đây là hình ảnh buổi nói chuyện của TT.Thích Chân Quang với Tăng Ni Giảng sinh lớp Cao cấp Giảng sư khoá V tại chùa Hoà Khánh – TP.HCM:

 

 

 

 

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: