Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “Bài Giảng”

Bài Giảng Các Kinh trong Trung A Hàm (MP3)

Bài Giảng Các Kinh trong Trung A Hàm (MP3)

tại Chùa Già Lam (Quảng Hương Già Lam)

đường Lê Quang Định, P11, Q. Bình Thạnh

(2013 – 2014)

 

Giảng Sư: Hòa Thượng Thích Nguyên Giác

( GS thỉnh giảng tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh)

 

KINH TRUNG A-HÀM (I)

Hán dịch: Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ
Sài gòn 2002

 Ảnh

PHẨM THỨ 1: PHẨM BẢY PHÁP

MỤC LỤC PHẨM THỨ 01

 

(1) 11-11-13 Kinh Thiện Pháp – Trung A Hàm – MP3

http://www.mediafire.com/listen/zc7chmt2hja6p2l/11-11-13_kinh_thien_phap_(1_)Trung_A_Ham.MP3

 

(2) 11-11-20 Kinh Trú Đạc Thọ – Trung A Hàm – MP3(_2_)

http://www.mediafire.com/listen/z221lntppv695j8/11-11-20_kinh_tru_do_tho_(_2_)_Trung_A_Ham.MP3

 

(3) 11-11-27 Kinh Thành Dụ – Trung A Hàm – MP3(3)

http://www.mediafire.com/listen/51rf5u09h22028f/11-11-27_kinh_thanh_du_(3)_Trung_A_Ham.MP3

 

(4) 11-12-04 Kinh Thủy Dụ (4_)_trung_a_ham.MP3

http://www.mediafire.com/listen/zdfu82de68uauzp/11-12-04_kinh_thuy_du_(4_)_trung_a_ham.MP3

 

(5) 11-12-11 Kinh Một Tích Dụ (_5)_trung_A_Ham.MP3

http://www.mediafire.com/listen/uiq4bdh8r8ykxot/11-12-11_kinh_moc_tich_du_(_5)_trung_A_Ham.MP3

 

(6) 11-12-17 Kinh Thiện Nhân Vãng – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/4sra7crpsy916g5/11-12-17_kinh_thien_nhan_vang_(6_)_trung_ham.MP3

(6) 11-12-1817 Kinh Thiện Nhân Vãng (tt) (6) – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/9s6zln2vs4bpcu5/11-12-18_kinh_thien_nhan_(6_)_tt.MP3

 

(7) 11-12-31(7). KINH THẾ GIAN PHƯỚC
(8). KINH THẤT NHẬT(8)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/o0a7b4cc6znxtp8/11-12-31_the_gian_phuoc_kinh(7)_+kinh_that_nhat_(8).MP3

 

(9) 12-02-18 KINH THẤT XA(9)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/ux14slc9925imok/12-02-18_Kinh_that_xa_(9)_TAH.MP3

 

(10) KINH LẬU TẬN (10)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/z9ff482ea959r2o/12-02-19_Kinh_lau_tan_(10_)TAH.MP3

 

PHẨM THỨ 2: PHẨM NGHIỆP TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 02

11. KINH DIÊM DỤ(11)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/f6sr2arjsr75vp7/12-02-26_kinh_diem_du_(11_)_TAH.MP3

 

12. KINH HÒA-PHÁ(12) – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/bi13qyp68k0etlf/12-03-03_Hoa_pha_kinh_(12_)_TAH.MP3

 

13. KINH ĐỘ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/s3eh64860wqbbkw/12-03-04_do_kinh_(13_)_TAH.MP3

 

14. KINH LA-VÂN– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/g99xng8r5oadn9d/12-03-10_kinh_La_Hau_La_(14_)TAH.MP3

 

15. KINH TƯ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/lq8etsndje5jqd6/12-03-11_kinh_tu_(15_)_TAH.MP3

 

16. KINH GIÀ-LAM– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/1irjr19djlm3yge/12-03-17_kinh_gia_lam_(16_)_TAH.MP3

 

17. KINH GIÀ-DI-NI– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/j1w1tetk0nyfqcv/12-03-18_kinh_Gia_di_Ni_(_17_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/89rt886swrc85jd/12-03-19_Kinh_di_ni_(17)_tt.MP3

 

18. KINH SƯ TỬ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/5fwtwdhw4pmgd9q/12-03-24_Kinh_su_tu_(18_)_TAH.MP3

 

19. KINH NI-KIỀN– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/8xb57jjlu5je8d8/12-03-25_kinh_ni_kien_tu_(19_)TAH.MP3

 

20. KINH BA-LA-LAO– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/cuchmd4mmtdaybq/12-03-31_kinh_ba_la_lao_(_19_+20_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/askm08sueyrqv9l/12-04-01_kinh_ba_la_lao_(_20_)_TAH.MP3

 

Tóm tắt kinh về nghiệp từ bài 10 – 20

http://www.mediafire.com/listen/wf47tzzuv7sqy5g/12-04-07_Tom_tat_kinh_ve_nghiep_tu_bai_10-_20.MP3

 

PHẨM THỨ 3: PHẨM XÁ-LÊ TỬ TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 03

21. KINH ĐẲNG TÂM– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/5v91of9vr4n859x/12-04-08_kinh_dang_tam_(21_)_TAH.MP3

 

22. KINH THÀNH TỰU GIỚI– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/dvrk3dy06m855i5/12-04-14_kinh_thanh_tuu_gioi_(_22_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/17iw20793w8fp61/12-04-15_tom_tac_bai_22.MP3

 

23. KINH TRÍ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/32dcb54cyi47v31/12-04-21_kinh_Tri_(23_)TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/x3s0k4rmlgx0yv2/12-04-22_kinh_tri_(23_)_tt.MP3

 

24. KINH SƯ TỬ HỐNG

http://www.mediafire.com/listen/6kiv1k1olkywdqg/12-04-29__kinh_su_tu_hong_(24_)TAH.MP3

 

25. KINH THỦY DỤ

http://www.mediafire.com/listen/dyiq6lc1wdkn349/12-05-06_kinh_thuy_du_(_25_)_TAH.MP3

 

26. KINH CÙ-NI-SƯ

http://www.mediafire.com/listen/kjuc9yo5mmfaya1/12-05-12_kinh_Cu_Ni_Su_(26_)TAH.MP3

 

27. KINH PHẠM CHÍ ĐÀ-NHIÊN

http://www.mediafire.com/listen/v9ab5pnvsj4nvnp/12-05-13_Kinh_Pham_chi_Da_Thien_(27_)TAH.MP3

 

28. KINH GIÁO HÓA BỊNH

http://www.mediafire.com/listen/sxaspqmftd7ah2t/12-05-19_kinh_giao_hoa_benh_(28_)TAH.MP3

 

29. KINH ĐẠI CÂU-HI-LA

http://www.mediafire.com/listen/hned08pu4cpjb2g/12-05-20_kinh_dai_cau_hi_la_(29_)_TAH.MP3

 

30. KINH TƯỢNG TÍCH DỤ

http://www.mediafire.com/listen/j8bawv1cb3u1bwi/12-05-26_kinh_tich_du_(_30)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/box9z7ofhiaq8or/12-05-27_kinh_tich_du_(30_)tt_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/j6l3hrwnpjsr8e0/12-06-02_kinh_tich_du_(_30_)_tt_TAH.MP3

 

31. KINH PHÂN BIỆT THÁNH ĐẾ

http://www.mediafire.com/listen/t4dpk4odbuap8oo/12-06-03_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/h9eexgbsg4wpsx1/12-06-10_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)tt_(1).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/zmhz8b358e0i29i/12-06-10_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)tt_(2).MP3

 

 

PHẨM THỨ 4: PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP

MỤC LỤC PHẨM THỨ 04

32. KINH VỊ TẰNG HỮU PHÁP

http://www.mediafire.com/listen/c1fj6av4nv6gq1u/12-06-17_tom_tat_tu_bai_21-31_&_bai_(_32_)_TAH.MP3

 

33. KINH THỊ GIẢ

http://www.mediafire.com/listen/8ckoo5pfcugy3y6/12-06-23_Kinh_thi_gia_(_33_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/qhgyjf5s1jxzt5x/12-06-24_Kinh_thi_gia_(_33_)_tt_TAH.MP3

 

34. KINH BẠC-CÂU-LA

35. KINH A-TU-LA

http://www.mediafire.com/listen/gm0l7zdcjw0bf10/12-06-30_kinh_bac_cau_La_(34_)kinh_A_Tu_La_(35_)TAH.MP3

 

36. KINH ĐỊA ĐỘNG

http://www.mediafire.com/listen/q8cd2e8l4z585md/12-07-01_kinh__Dong_Dat_(36_)TAH.MP3

 

37. KINH CHIÊM-BA
38. KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (I)

http://www.mediafire.com/listen/7zra3rqi30llm0r/12-07-07_kinh_chiem_Ba_(37_)_&_(38_)kinh_uc_gia_truong_gia.MP3

 

39. KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (II)

http://www.mediafire.com/listen/9fr35q3ohb390zq/12-07-08_kinh_Uc_Gia_Truong_Gia_(_39_).MP3

 

40. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (I)
41. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (II)

http://www.mediafire.com/listen/8vtojnskn4onvwa/12-07-14_kinh_thu_truong_Gia_I_+II_(_40+41_).MP3

 

 

 

PHẨM THỨ 5: PHẨM TẬP TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 05

42. KINH HÀ NGHĨA

http://www.mediafire.com/listen/a08oxm6jv0vpw49/12-07-15_Tom_tat_tu_bai_(30-41)_&_42.MP3

 

43. KINH BẤT TƯ

http://www.mediafire.com/listen/18s8bxc5b7qlnh0/12-07-21_kinh_bat_tu_(_43_)_TAH.MP3

 

44. KINH NIỆM

 

45. KINH TÀM QUÝ (I)
46. KINH TÀM QUÝ (II)
47. KINH GIỚI (I)
48. KINH GIỚI (II)
49. KINH CUNG KÍNH (I)
50. KINH CUNG KÍNH (II)

http://www.mediafire.com/listen/xxoinhy7sgmcih3/12-07-22_kinh_tam_quy_(45_+46+47+48+49+50_).MP3

 

 

51. KINH BỔN TẾ
52. KINH THỰC (I)
53. KINH THỰC (II)
54. KINH TẬN TRÍ

http://www.mediafire.com/listen/aly2yuhnlhy0cdo/12-07-29_kinh_51_,52,_53_,_54.MP3

 

54. KINH TẬN TRÍ

55. KINH NIẾT-BÀN
56. KINH DI-HÊ

http://www.mediafire.com/listen/vmys0ciqhh4h5x5/12-08-04_(_54_+_55_+56_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

57. KINH TỨC VỊ TỲ-KHEO THUYẾT

 

PHẨM THỨ 6: PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 06

58. KINH THẤT BẢO
59. KINH TAM THẬP NHỊ TƯỚNG
60. KINH TỨ CHÂU

http://www.mediafire.com/listen/ndgdqgh6sg1b783/12-08-05__(_58_+_59_+_60_)_TAH_(Nguen_Giac).MP3

 

61. KINH NGƯU PHẤN DỤ
62. KINH TẦN-BỆ-SA-LA VƯƠNG NGHINH PHẬT

http://www.mediafire.com/listen/s21erbony0v897i/12-08-11__(61_&_62_)TAH_(_Nguen_Giac).MP3

 

63. KINH BỆ-BÀ-LĂNG-KỲ

http://www.mediafire.com/listen/25959ikvpift5gj/12-08-12_kinh_ty_ba_lang_ky_(_63_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

64. KINH THIÊN SỨ

http://www.mediafire.com/listen/2gz79usa1927dsz/12-08-18_kinh_thien_su_(64_)_TAH_(_Nguyen_Giac).MP3

 

65. KINH Ô ĐIỂU DỤ

http://www.mediafire.com/listen/ladbpopwi7b6nb4/12-08-19__kinh_O_dieu_du_(_65_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

66. KINH THUYẾT BỔN

http://www.mediafire.com/listen/t67idsfb8gh69ft/12-08-25_kinh_thuyet_ban_(66_)TAH_(Nguen_Giac_).MP3

 

67. KINH ĐẠI THIÊN NẠI LÂM

http://www.mediafire.com/listen/nv7wgleogerxdpv/12-08-26_kinh_Dai_thien_nai_lam_(67_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

68. KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG

http://www.mediafire.com/listen/16xy60dyg09ibjt/12-09-17_dai_thien_kien_kinh_(68_)TAH.MP3

 

69. KINH TAM THẬP DỤ

http://www.mediafire.com/listen/hsiv2chkvwv3qmt/12-11-10_kinh_tam_thap_du__69_(_TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/0ahb2c03kln8s8w/12-11-11_kinh_tam_thap_du_69_(TT)_TAH.MP3

 

70. KINH CHUYỂN LUÂN VƯƠNG

http://www.mediafire.com/listen/olb2pj2bntn6blh/12-09-22_kinh_chuyen_luan_vuong_(_70_)_TAH.MP3

 

71. KINH BỆ-TỨ

http://www.mediafire.com/listen/ph57r08cnc4qr03/12-11-17_Kinh_Ty_Tu_71_(TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/4oe2bu7qf8oare8/12-11-18_kinh_ty_tu_71_(TT)_TAH.MP3

 

PHẨM THỨ 7: PHẨM TRƯỜNG THỌ VƯƠNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 07

72. KINH TRƯỜNG THỌ VƯƠNG BỔN KHỞI

http://www.mediafire.com/listen/hv7fgvtl8d8pmmp/12-11-24_kinh_truong_tho_72_(_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/l1hq129q1zqh9qq/12-12-01_kinh_truong_tho__72_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ll72cf249dltvca/12-11-25_kinh_truong_tho_72_(_tt_)_TAH.MP3

 

73. KINH THIÊN

http://www.mediafire.com/listen/7xyiogjd7ym1y8d/12-12-08_kinh_thien_73_(TAH_).MP3

 

74. KINH BÁT NIỆM

http://www.mediafire.com/listen/g1fcfbvks8h78ix/12-12-09_Kinh_bat_niem_74_(_TAH_).MP3

 

75. KINH TỊNH BẤT ĐỘNG ĐẠO

http://www.mediafire.com/listen/j0apppoqppms475/12-12-15_kinh_tinh_bat_dong_75_(_TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/gz1iq92tci4960g/12-12-22_Kinh_tinh_bat_dong_75_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/i1q34dgsvea2nbh/12-12-23_Kinh_tinh_bat_dong_75_(tt_).MP3

 

76. KINH ÚC-GIÀ-CHI-LA

http://www.mediafire.com/listen/u1ye5mruvdl2evc/12-12-29_kinh_Uc_gia_chi_la_76_TAH.MP3

 

77. KINH SA-KÊ-ĐẾ TAM TỘC TÁNH TỬ

http://www.mediafire.com/listen/qa0y342ioq091jv/12-12-30_sa_ke_de_tam_doc_tu_77_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/pdduzlqu8vwlcvq/13-01-05_sa_ke_de_tam_doc_tu_77_(_tt_)_TAH.MP3

78. KINH PHẠM THIÊN THỈNH PHẬT

http://www.mediafire.com/listen/o4ymcqsndaqctlz/13-01-06_Kinh_Pham_thien_thinh_Phat_78_TAH.MP3

 

79. KINH HỮU THẮNG THIÊN

http://www.mediafire.com/listen/dop4juu7tgvmu2d/13-01-12_Kinh_huu_thang_thien_79_TAH.MP3

 

80. KINH CA-HI-NA

http://www.mediafire.com/listen/joc02qave3u0vcf/13-01-13_Kinh_ca_hi_na_80_TAH.MP3

 

81. KINH NIỆM THÂN

http://www.mediafire.com/listen/30p6ceqhnla9ife/13-03-17_Niem_than_81_TAH.MP3

 

82. KINH CHI-LY-DI-LÊ
83. KINH TRƯỞNG LÃO THƯỢNG TÔN THỤY MIÊN
84. KINH VÔ THÍCH
85. KINH CHÂN NHÂN
86. KINH THUYẾT XỨ

PHẨM THỨ 8: PHẨM UẾ

MỤC LỤC PHẨM THỨ 08

87. KINH UẾ PHẨM
88. KINH CẦU PHÁP

89. KINH TỲ-KHEO THỈNH

http://www.mediafire.com/listen/ik7itum2yicoli6/13-05-12_ty_Kheo_thinh_kinh__89_TAH.MP3

 

90. KINH TRI PHÁP
91. KINH CHU-NA VẤN KIẾN

http://www.mediafire.com/listen/f2e2rsvzd2ye6y8/13-05-19_kinh_tri_phap_90_&_Chu_la_van_kien_91.MP3

 

92. KINH THANH BẠCH LIÊN HOA DỤ
93. KINH THỦY TỊNH PHẠM CHÍ

http://www.mediafire.com/listen/5a1g5m7854psnb8/13-05-26_TAH_bai_92_&_93.MP3

 

94. KINH HẮC TỲ-KHEO

http://www.mediafire.com/listen/51j0ljz9t4urmu5/13-06-09_hac_Ty_Kheo_bai_94.MP3

 

95. KINH TRỤ PHÁP
96. KINH VÔ

http://www.mediafire.com/listen/8w45s5pfdzka7be/13-06-16_kinh_tru_phap_95_&_kinh_vo_96.MP3

 

 

PHẨM THỨ 9: PHẨM NHÂN

MỤC LỤC PHẨM THỨ 09

97. KINH ĐẠI NHÂN

http://www.mediafire.com/listen/zuear43b0y7l7yc/13-06-30_kinh_Dai_nhan__97.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/wnhnfkzzchrk0xi/13-07-14_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/6lukbiwuj5gcql9/13-07-07_kinh_dai_nhan_97_(_TT).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/wt10xhwcdebkln8/13-07-21_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/m3w7c911ymowk5r/13-08-04_kinh_dai_nhan__97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/dp8lsijxmzu5dgl/13-07-28_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

98. KINH NIỆM XỨ

http://www.mediafire.com/listen/goldd5dbmao9aj6/13-08-11_kinh_tu_niem_xu__98.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ys0ujeynrjjjxdy/13-08-12_kinh_niem_xu_98_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/fb42qavnri6wbz5/13-09-22_kinh_niem_xu_98_(_tt_).MP3

 

99. KINH KHỔ ẤM (I)
100. KINH KHỔ ẤM (II)

http://www.mediafire.com/listen/7dpazomkd7sbb62/13-09-29_Kinh_kho_am__99.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ocrjravmdw3z1hp/13-10-06_kinh_kho_am__100.MP3

 

101. KINH TĂNG THƯỢNG TÂM

http://www.mediafire.com/listen/2ozsmkm3kmfjd77/13-10-13_kinh_tang_thuong_tam_101.MP3

 

102. KINH NIỆM

http://www.mediafire.com/listen/hdgkz83uztkh8vx/13-10-20_kinh_niem_102.MP3

 

103. KINH SƯ TỬ HỐNG

http://www.mediafire.com/listen/eqc6byos488sji4/13-10-27_kinh_su_tu_hong_103.MP3

 

104. KINH ƯU-ĐÀM-BÀ-LA

http://www.mediafire.com/listen/p01fqd3s3gce5sc/13-11-03_kinh_uu_Dam_Ba_La_104.MP3

 

105. KINH NGUYỆN

http://www.mediafire.com/listen/6mk1qarrcjkihdz/13-12-01_kinh_uoc_nguyen_105_TAH.MP3

 

106. KINH TƯỞNG

http://www.mediafire.com/listen/ay2yyhr13l4yp9q/13-12-08_kinh_tuong_106.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/n8zl02b3q895ez9/13-12-22_On_bai_Kinh_tuong_106.MP3

 

 

PHẨM THỨ 10: PHẨM LÂM

MỤC LỤC PHẨM THỨ 10

107. KINH LÂM (I)
108. KINH LÂM (II)
109. KINH TỰ QUÁN TÂM (I)

http://www.mediafire.com/listen/y33pq6d9tzbud23/13-12-29_kinhlam_–107-108-109_-TAH.MP3

 

110. KINH TỰ QUÁN TÂM (II)

http://www.mediafire.com/listen/k88fle436lcsvym/14-01-05_bai_110-_va_Bat_nha_tam_kinh.MP3

 

111. KINH ĐẠT PHẠM HẠNH

http://www.mediafire.com/listen/vm87ye571qry7oc/14-01-12_kinh_dai_pham_hanh_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/b2tdcv9ykk1ebc8/14-03-02_Kinh_dai_pham_hanh_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/d5lq16a515jg93x/14-01-19_kinh_dai_pham_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/mk3mjp97rpp6so9/14-01-19_kinh_dai_pham_-111_(tt)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/5q7i9qct7b2v4il/14-02-28_nhin_DK_qua_than_phan_Thuy_Kieu.MP3

 

Cách download các bài giảng trên:

 

  1. Download từng file MP3 theo địa chỉ trên đây.
  2. Vào các blogs sau đây và dowwnload trực tiếp tất cả:

 

http://lichsuphatgiao.wordpress.com/

 

https://cusiphatgiao.wordpress.com/

 

 

Người cư sĩ tại gia – HT Thích Trí Quang

SỐ 410 THÁNG 10 NĂM 2004 Chủ Đề: PHẬT TỬ TẠI GIA
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
 
 

 

2004 401 402 403 404 405 406 407 408 409 410 411 412

NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA
 Hòa thượng Thích Trí Quang

1. Ðịa Vị Của Người Tại Gia:

Ngày nay cũng vẫn có những người tại gia nghĩ rằng mình chỉ là những kẻ tùy thuộc trong Phật giáo. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ tự ty phát sinh bởi tinh thần vô trách nhiệm.

Trong Phật giáo, tai gia cũng như xuất gia vốn là một tổ chức cố hữu, do đức Phật quy định. Ðiều đáng chú ý là trong sự quy định đó, càng cao địa vị người tại gia càng quan trọng.

Trong giáo lý Tiểu thừa, người tại gia chỉ được Dự lưu quả. Từ Thánh quả Nhất lai lên đến Bất lai và Vô sanh thì phải xuất gia mới tu chứng được. Tuy vậy, địa vị người tại gia cũng vẫn không phải không quan trọng., vì dầu ở trong dục lạc mà cũng có thể “thấy được dấu vết của giáo lý”. Cũng trong giáo lý Tiểu thừa, người tại gia giúp đỡ cho người xuất gia đủ điều kiện để truyền bá chánh pháp. Pháp bảo và Tăng bảo tồn tại được là nhờ người tại gia hộ trì. Như vậy, hiển nhiên, địa vị người tại gia là địa vị cần thiết và quan trọng đối với giáo lý Tiểu thừa.

Ðối với giáo lý Ðại thừa, sự qua trọng ấy lại càng rõ rệt, vì nếu một người tại gia như Giáo lý Tiểu thừa trên mà có phát bồ đề tâm thì tức gọi là tại gia bồ tát. Chỗ khác nhau sâu sắc nhất giữa Tiểu thừa và Ðại thừa, là Tiểu thừa quan niệm sự xuất gia tự nó là một cứu cánh rồi, nó thoát ly hẳn những tâm niệm và những hành vi liên hệ với thế gian, nên kết quả, được địa vị La hán là đã thấy hoàn toàn. Ðại thừa khác; Giáo lý Ðại thừa quan niệm rằng Phật đà mới là giai đoạn tuyệt đích của sự giác ngộ, nên đạt đến đó, tại gia hay xuất gia là những phương tiện đều quan trọng trong mỗi trườg hợp của nó. Cho nên xuất gia hướng thượng, tại gia thiệp thế, tuy bên trọng bên khinh hiển nhiên như thế, nhưng cái tâm chí mong cầu Ðại Bồ Ðề và cái trách nhiệm giữ gìn Chánh pháp vẫn như nhau. Vì vậy, nếu người Tại gia mà phát Bồ đề tâm, xác nhận và phục vụ trách nhiệm “Hộ pháp” của mình thì cũng được gọi là tu tập Bồ tát hạnh và sẽ trở thành quả vị Phật đà, Trong trường hợp nầy, địa vị của người tại gia mới thật quan trọng với tất cả cái nghĩa của chữ ấy đúng như ý muốn của đức Phật.

Giờ ta quay lại toàn bộ Phật pháp để một lần nữa, nhận thức tính cách hệ trọng của địa vị tại gia. Toàn bộ Phật pháp có thể phân chia ra hai phần: phần “Căn bản” và phần “Hướng thượng”. Phần căn bản là dùng Tam quy Ngũ giới để hoàn thành một tư cách Phật tử đối vói bản thân, đối với gia đình và đối với xã hội. Phần hướng thượng là từ căn bản trên, hướng lên trên đường giải thoát và giác ngộ cho đến tuyệt đích là địa vị Phật đà. Hai phần của toàn bộ Phật pháp, như vậy không những cần thiết cho mỗi người Phật tử mà cón hoàn thành thể Phật pháp, nếu lý luận thế nầy thì chứng tỏ địa vị tại gia cũng quan trọng như địa vị xuất gia; nhưng nếu lý luận rằng trong hai phần của toàn bộ Phật pháp, nếu phần “Căn bản” không được nâng cao và chú ý trước hết thì phần “Hướng thượng” không thành, toàn bộ Phật pháp cũng mất cơ bản, nếu lý luận như vậy thì lại thấy trong bước đầu của Phật pháp, địa vị người tại gia, quan trọng hơn một cách rõ rệt.

Tất cả lý lẽ trên đây chứng tỏ cho ta thấy địa vị người tại gia không phải kẻ tùy thuộc trong Phật giáo. Cho mình là kẻ tùy thuộc, tâm lý ấy không phải tâm lý khiêm nhượng mà thật là tâm tâm lý tự ty và vô trách nhiệm. Phật pháp đã suy tàm vì tâm lý đó. Và rồi đây, cũng vì tâm lý đó, Phật pháp khó mà tồn tại. Vì vậy, nêu lên tính cách quan trọng của địa vị người tại gia lả cho họ thấy cái nhiệm vụ của mình đối với Phật pháp. Người tại gia đã thấy được nhiệm vụ của họ thì tâm lý tự ti và vô trách nhiệm sẽ được trừ bỏ và thay thế vào, họ sẽ thành tâm làm tròn nhiệm vụ của họ. Nhiệm vụ của họ làm tròn thì con người của họ đổi mới, gia đình của họ hạnh phúc và xã hội của họ an lạc, nói tóm, Phật pháp sẽ sáng tỏa, sẽ tồn tại ngay trong cuộc đời. Nhiệm vụ đó là những căn bản cần thiết và cần làm như sự trình bày đại cương sau đây.

2. Người Tại Gia Là Thế Nào?

Việc đầu tiên, Người Tại Gia phải biết cái ý nghĩa của từ ngữ mình đã mang vào đời mình, vì từ ngữ ấy nó rẽ hai đời mình ra và định đoạt cho mình một lý tưởng cùng một cuộc sống theo lý tưởng đó.

Tại gia tức là không thoát ly gia đình, không thoát ly hình thức sinh hoạt của thế gian mà thật hiện cơ bản của Phật pháp vào ngay trong hình thức sinh hoạt đó. Ðịnh nghĩa như vậy thật chưa phải đã bao gồm tất cả những điều cần phải biết và cần phải làm của một người tại gia, nhưng, người tại gia, cũng đủ để thấy không phải với những tâm lý hời hợt mà làm một người tại gia được.

Cơ cấu của xã hội loài người là gia đình. Nhưng không phải chỉ một lý do ấy mà đức Phật quy định có một tổ chức tại gia trong hàng Phật tử. Gia đình cũng chỉ là một hình thức sinh hoạt của thế gian. Chính hình thức sinh hoạt hình thức của thế gian mới là vấn đề đức Phật chú ý. Hình thức sinh hoạt nầy, căn bản là con người, nhưng phạm vi của nó cố nhiên bao gồm cả gia đình và xã hội của con người nữa. Hình thức sinh hoạt nầy, đối với đức Phật, ghét bỏ hay ưa thích đều không thành vấn đề; vấn đề là hình thức sinh hoạt đã có mà cái có ấy lại cần phải hóa cải và có thể hóa cải được. Mà người tại gia là những người trực tiếp trong việc hóa cải đó. – Người xuất gia, đối lại, cao hơn, lãnh đạo công việc hối cải của người tại gia. Vì vậy, trong khi đức Phật quy định Phật tử có tổ chức tại gia thì phải có tổ chức xuất gia. – Và chính đó, không tránh bỏ một hình thức dĩ nhiên là hình thức sinh hoạt mà ngược lại, đem Phật pháp để hóa cải hình thức sinh hoạt, đó là cái ý nghĩa của từ ngữ tại gia và là cái lý do tại sao có ra tổ chức nầy.

Hình thức sinh hoạt của đời người (xin nhớ là cả con người và gia đình, xã hội của con người), theo Phật pháp, có hai chiều: Sinh hoạt xuôi chiều theo dục vọng và bản năng mà không có một chút chỉ huy gì của lương tâm và lương tri thì chính đó là tất cả nguyên nhân phá sản sự sinh tồn của con người. Ngược lại, sống một cuộc sống có ý thức, biết tự nghĩ hạnh phúc của mình và nghĩ đến hạnh phúc chung, thì đó chính là sự sinh hoạt đúng với nguyên lý của nó. 

– Sống theo chiều thứ nhất thì dầu có dán nhãn hiệu Phật tử vào đời mình cũng vẫn là “người thế gian”. 
– Sống theo chiều hướng thứ hai thì sự sống đ8ó tức là đem Phật pháp hoán cải sự sinh hoạt, sống như vậy là một “người tại gia”.

Cho nên khi làm một người tại gia trong hàng Phật tử là ta làm một cuộc tái sanh cho đời ta, rẽ hai đời ta ra, từ bỏ cuộc đời xuôi dàng manh muội, bước vào cuộc sống có lý tưởng chân thật và hữu ích.

Trong Phật pháp không kể vấn đề tuổi tác. Ðiều kiện cần phải có là hiểu rõ đời mình, hiểu rõ lý tưởng nào đời mình phải có và quan trọng hơn hết là quyết chí sống theo lý tưởng đó. Ðiều kiện nầy có là có thể làm một người tại gia. Lắm khi mới trên mười lăm tuổi mà đã có thể có đủ điều kiện đó, nhưng trái lại, cũng có lúc điều kiện đó ta không thấy ở một người tuổi tác. Giữa đàn ông và đàn bà cũng vậy. Ðiều kiện trên không hiếm ở người phụ nữ trong khi phía đàn ông vị tất ai cũng có cả. Cho nên muốn làm một người tại gia, không kể tuổi tác mà cũng không phân biệt đàn ông hay đàn bà. Có đủ điều kiện cần thiết là có thể sống đời sống một người tại gia của hàng Phật tử. Bởi vậy, trong tổ chức người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử), đức Phật đã không hạn chế tuổi tác mà cũng không quy định đàn ông hay đàn bà, giai cấ hay chủng tộc. Tổ chức của người tại gia (tức tổ chức hàng Cư sĩ Phật tử), vì vậy, có hai phần: Ðàn ông gọi là Ưu bà tắc, đàn bà gọi là Ưu bà di.

Tuy nhiên, điều kiện rộng rãi như trên đây vẫn không dung những kẻ nầy:

1. Những kẻ “tặc trú”, tức những kẻ trá hình làm người tại gia, lẫn vào Phật pháp để xoay xở, quấy rối hay dó xét.

2. Những kẻ “đạo pháp”, tức những kẻ trá hình làm người tại gia để lợi dụng Phật pháp, ăn cắp lý thuyết của Phật pháp để trang sức cho tư tưởng của mình hay dùng ngay lý thuyết ấy phản công lại Phật pháp.

Ngoài hai hạng mà từ ngữ trong kinh gọi là ”người địa ngục trong Phật pháp” trên đây, trong tổ chức tại gia cũng không thể có những kẻ trẻ tuổi, chưa hiểu biết lý tưởng của người tại gia, chưa đủ năng lực sống theo lý tưởng ấy, hay tệ hơn nữa là tuổi chưa biết nói. Cho nên ngaỳ nay có những người đem con mới đẻ đến chùa quy y, hành động đó thật là vô ý thức và chỉ là bắt chước theo tà ma ngoại đạo. Thâm tâm của họ chỉ vì thương con, nghĩ quy y như thế là bán gởi con cho Ngài để nó được sống còn và đời nó hạnh phúc. Nhưng muốn được như vậy thì chính mình phải cố gắng sống đúng lý tưởng một người tại gia, nghĩa là duy nhất với tam quy, kiên chí trong ngũ giới, chứ đâu phải làm như thế.

3. Mục Ðích Của Người Tại Gia

Hiểu được do ý nghĩa nào và điều kiện gì gọi là một người tại gia (một Cư sĩ Phật tử) thì đã biết được đại cương mục đích của người tại gia rồi. Mục đích ấy thực là điều mà mọi người tại gia không thể lơ mơ, vì chẳng có một cuộc sống lý tưởng nào mà không có mục đích và sự nhận thức mục đích ấy.

Ðại cương mục đích của người tại gia (tức Cư sĩ Phật tử), như trên đã nói, là “hóa cải sự sinh hoạt”, sự sinh hoạt của con người và gia đình, xã hội của con người. Trước khi đích chỉ thực tế của mục đích nầy, điều cần nhất là người ta phải xác nhận để mà tin tưởng rằng sự sinh hoạt “cần phải hóa cải và có thể hóa cải được”.

Ai muốn nói gì thì nói và đưa chủ nghĩa gì ra để bịp người ta thì đưa, cho ngay đến cả con người đi nữa, có muốn tự lừa dối mình thì lừa dối, nhưng thực trạng của cuộc sống vẫn là một thực trạng hiển nhiên nhất trong các thực trạng, thực trạng ấy là khổ não. Thực trạng nầy phủ nhận đi được thì nước mắt và thở dài đã chẳng có và con người cũng đã chẳng xuất toàn lực ra chống chõi, thế hệ nầy kế tiếp thế hệ khác. Nhưng cũng thế hệ nầy kế tiếp thế hệ khác, cuộc sống của con người cứ ngập chìm trong khổ não. Sanh lão bệnh tử đã làm cho con người được xem như một quá trình của khổ não rồi, cuộc đời ấy lại còn ân ái mà phải biệt ly, oán thù mà phải gặp gỡ, mong cầu mà không thỏa mãn, và ngay nơi nội bộ của bản thân, những gì mà có nó mới gọi là con người có, nhưng chúng thật như những tên giặc lợi hại bậc nhất, quy tụ lại một nơi và tung hoành nơi ta như tàn phá một làng xóm điêu tàn. Khổ vì mưu sanh, khổ bởi lừa đảo, khổ vì nhục nhã, vì oan ức, vì hàng vạn lý do, hầu như cuộc sống đụng đến đâu là nguyên nhân của khổ não ở đấy. Sung sướng? Danh từ ấy chỉ có trong khi đau khổ trá hình mà kẻ đương cục không tự biết, thế thôi.

Trước thực trạng khổ não như vậy, có những người thật tình là thiếu can đảm hơn ai hết, trong khi nước mắt họ ứa ra mà họ lại cười cái cưới “lạc quan” để, trước hết, tự lừa dối mình được từng nào qua ngày từng ấy, trong cuộc sống khổ não của họ, của mọi người. Họ còn đi xa hơn nữa; họ cười khoái trá trước nước mắt đau đớn của đồng loại, bất chấp cái khổ não cho chính họ, họ sống khoái lạc bằng nỗi khổ não của mọi người. Ðó là những kẻ lạc quan. Khác với những kẻ nầy, có những kẻ trước khổ não họ chỉ biết cam phận chịu đựng, sống khổ não mà vẫn xuôi dòng theo nguyên nhân gây thêm khổ não. Những kẻ nầy không thể gọi là gì nữa. Không thể gọi là “bi quan”. Danh từ nầy phải để dành cho những người cầu khẩn nơi duy vật, vì họ tuy khác nhau đến chống nhau trong quan niệm, tín ngưỡng, nhưng thật đều giống như những kẻ mở to mắt ra để đi tìm con mắt của chính mình, cuống lên chỗ nầy, hoảng lên chỗ khác, mà lại tự gọi là biết hơn ai cả, và gây thêm sóng gío nhiều nhất trên bể khổ vô biên của người đời.

Người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) không có những thái độ như vậy, dầu chỉ là những thái độ tương tự. Việc trước hết đối với thực trạng khổ não là họ phải tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng ấy. Nguyên nhân ấy họ không trao quyền cho thần linh hay đổ lỗi cho vật chất. Người tại gia xác nhận rằng cái gì của con người là do con người tạo ra. Khổ não của con người cũng vậy, do hành động của con người mà có. Ai làm tội tình nhau ? Ai giết  nhau ? Ai làm cho nhau đổ nước mắt, oán hận và trả thù ? Ai, nếu không phải chỉ con người với con người ? Nhưng, những gì đã do cong người với con người gây ra thì những cái ấy con người với con người có thể diệt sạch đi được. Hiểu rõ như vậy tức xác nhận rằng khổ não của cuộc sống là do hành vi manh động, hành vi ấy cần phải hóa cải và có thể hóa cải được. Mọi việc đều do con người sắp thì cũng do con người xóa. Và con người có thể xóa được để thay vào đó những thứ mà cuộc sống con người cần thiết và mong mỏi, nếu con người can đảm nhận kẻ thù chính của đời mình là khổ não và quyết chí chiến đấu để diệt trừ khổ não đó.

Nói tóm, hóa cải đời sống bằng cách diệt nguyên nhân của khổ não, đó là mục đích mà tất cả tổ chức Phật tử đều theo đuổi, trong đó tổ chức tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) là một. Mặt phải của mục đích nầy, chúng ta cần nói thêm là để làm cho đời sống an lạc, đồng thời, chiều cao của mục đích nầy chúng ta cần phải nói rõ là muốn làm cho đời sống được giác ngộ và cuối cùng, đạt đến địa vị Vô thượng giác.

Mục đích trên đây, người tậi gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) nhắm nó một cách thực tế vào con người của mình. Phải làm sao tạo cho mình một nhân cách xứng đáng với danh nghĩa của con người, phải làm sao cho nhân (gia đình) và đồng loại (xã hội) của mình cũng như mình, đó là mục đích cơ bản của người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử). Mục đích nầy mà đạt được – và chỉ do mục đích nầy mà thôi – mới hóa cải được hình thức sinh hoạt của mình, thật hiện cho mình, cho cả gia đình và xã hội của mình nữa, một hạnh phúc đúng nghĩa của nó và không bao giờ tan rã, hạnh phúc do diệt trừ nguyên nhân khổ não mà có chứ không phải là cái bánh vẽ của bàn tay tàn ác và gian ngụy.

4.Nhiệm Vụ Hộ Pháp Của Người Tại Gia

Con người là căn bản của gia đình và xã hội loài người, tất cả mọi vấn đề đều do con người phát sanh và đều phát sanh vì con người, bởi vậy, muốn đổi mới tất cả, căn bản là con người không thể không tự đổi mới trước hết bằng Phật pháp. Ðó là một kết luận. Kết luận đó làm một lý do chắc chắn chứng minh một kết luận nữa: Như vậy, con người tuyệt đối phải có trong gia đình và xã hội loài người thì với con người ấy, Phật pháp tuyệt đối phải có và tuyệt đối phải được bảo vệ. Vấn đề “Hộ pháp” được nêu lên trong trưpờng hợp nầy. Nó là vấn đề tự lợi lợi tha mà muốn sống có ý nghĩa và muốn phổ biến ý nghĩa ấy trong mọi tầng lớp và mọi thế hệ, bổn phận chúng ta buộc chúng ta phải có.
Muốn”Hộ pháp” – duy trì Phật pháp – thì người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải làm gì ?

a. Phải áp dụng Phật Pháp vào đời sống của mình.

Ðó là công việc căn bản. Vì Phật pháp gọi là còn, không phải còn ở ngoài chúng ta mà phải ở chính trong con người của mình. Ðó là chưa kể rằng muốn duy trì Phật pháp thì phải phổ biến ra cho mọi tầng lớp và cho tất cả thế hệ mai hậu, mà muốn vậy thì vấn đề “phải làm để làm gương mẫu” là một nguyên tắc không thể thiếu được. Cái thành kiến quái gỡ cho rằng “tôi phải hy sinh sự tự lợi của tôi cho sự lợi tha” cũng sẽ phải tan rã vì nguyên tắc nầy, bởi vì không có sự lợi tha nào đúng nghĩa từ ngữ ấy mà thiếu tự lợi tức sự áp dụng Phật pháp trước hết, hay đối lại, cũng chẳng có một sự tự lợi nào đúng nghĩa của danh từ ấy mà không vì mục đích lợi tha tức vì lợi ích chung mà áp dụng Phật pháp.

b. Phải luôn luôn tỏ ra mình là người Phật tử.

Thật là một lỗi lầm đáng khinh bỉ khi một người đã sống trong Phật pháp vô thượng mà không thẳngthắn bộc lộ ra. Họ bảo như thế để mọi người thấy mình không cố chấp tín ngưỡng của mình, nhưng họ biết đâu rằng cố chấp là một việc mà thành thực lạ là một việc khác. Không thành thực bộc lộ tư cách Phật tử của mình ra thì làm sao cảm hóa người được. Họ lại còn đi hợp tác với ngoại đạo tà ma. Họ bảo để tỏ tư cách quảng đại của Phật tử, nhưng lời ấy chỉ là che đậy những lý do lấy Ðạo làm bàn đạp cho lợi lộc cá nhân của mình mà htôi, chứ Phật tử sao đi hợp tác với ngoại đạo ?  Như thế, Tam quy mà họ đã thọ, làm sao còn được ?  Họ lại càng ngây ngô mà trở lại công kích trong nhà không biết tổ chức, trong khi đó họ đem năng lực đáng lý phải góp vào công việc tổ chức đó mà hợp tác với tổ chức khác. Bởi vậy, khi xác nhận Phật pháp là Vô thượng và chỉ hoạt động cho Phật pháp mà thôi mới là công cuộc hữu ích cho con người đúng với cái nghĩa của danh từ ấy, thì họ phải luôn luôn tỏ ra mình là Phật tử trong tất cả mọi trường hợp, bằng mấy cách bắt buộc sau nầy:

b.1 Thường đeo tượng Phật và kính trọng, thân mến với người đồng đạo.

b.2 Thường phải ăn chay và đi chùa mỗi tháng hai ngày, dầu gặp tiệc tùng hay lý do sanh sống cũng không được tạm bỏ.

b.3 Góp của và góp sức vào trong các tổ chức của Phật pháp để làm những công việc hữu ích.

b.4 Khước từ thực sự những sự hợp tác với ngoại đạo tà ma và trừ khử những cử chỉ rụt rè thái độ chạy chối và thụ động.

Mọi người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải nhớ rằng xã hội nào người ta cũng chỉ dung và hơn nữa, chỉ cảm hóa vì những người thành thực trong tín ngưỡng của mình. Trái lại, không ai mà không khinh bỉ và nghi kỵ những kẻ kém thành thực. Phải nhớ như vậy để – trút bỏ đi những ý nghĩ vơ vẫn về những sự nguy hiểm tưởng tượng. Nói tóm, tỏ ra mình là Phật tử chính là duy trì Phật pháp rồi đó. Ngược lại, sự tỏ ra đó thiếu đi thì ý thức Phật tử đả không còn nữa mà ý thức nầy không thì luôn theo đó, tất cả những gì của Phật tử phải có, họ sẽ quên mất hết.

c. Phải có tinh thần chịu trách nhiệm và trừ bỏ sự tự ty mặc cảm.

Tự ty mặc cảm là tự nghĩ mình thấp kém, tùy thuộc, chứ không phải chủ động. Nhưng trái lại, thực tế chứng tỏ sự duy trì Phật pháp trong gia đình và xã hội, người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) là người chủ động mà lại là chủ động trực tiếp. Bởi vậy, Phật pháp còn hay không còn trong gia đình và xã hội là trách nhiệm trực tiếp của người tại gia. Thực tế nầy nó kêu gọi người tại gia hãy bỏ cái thành kiến cho rằng Phật pháp quan trọng ở các Thầy và bắt buộc người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải có tinh thần chịu trách nhiệm, cái trách nhiệm duy trì Phật pháp để hóa cải bản thân, hóa cải gia đình và xã hội. Trách nhiệm ấy cũng không riêng gì đối với Phật pháp; vì sự hóa cải cần phải có nên mọi tầng lớp, mọi thế hệ đòi hỏi người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) cái tinh thần trách nhiệm ấy.

d. Phải hành động tích cực và thực tế.

Vấn đề “Hộ pháp” quan trọng và hợp lý như vậy nó bắt buộc người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải có những hoạt động tích cực, thực tế, một cách tế nhị. Phải chống trả với mọi mưu mô ở ngoài và mọi xu hướng ở trong nếu những mưu mô và những xu hướng ấy không làm hại Phật pháp trong hiện tại cũng như làm hại về sau. Và tự mình, mình phải thắng những gì ở mình mà chính nó có thể lôi kéo mình vào những hành động phản bội Phật pháp. Phải tự giác mãnh liệt và đừng lòa mắt vì mối lợi nhãn tiền hay lo sợ vu vơ cái hại trong tư tưởng. Phải chống trả với những gì mà mình biết không trực tiếp cũng gián tiếp, không ngày nay cũng ngày mai, không có thiện ý đối với sự sinh tồn của Phật pháp. Tất cả những lý lẽ trên nầy nó thiết tha kêu gọi sự hoạt động tận lực của chúng ta, to từ việc xả bỏ thân mạng, nhỏ đến việc bỏ ra từng đồng xu, tất cả tiềm lực nào mình có, mình không từ. Do ý thức nầy, người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải bỏ cái thành kiến hiện giờ vẫn còn vương trong tư tưởng một số đông, rằng việc Ðạo phải có tài và có sức. Nhưng cái tài hưởng ứng cũng cần thiết như cái tài hướng đạo, cái sức tùy hỷ lại cần hơn cái sức đồ sộ, bởi vì một bên chỉ có một thiểu số mà một bên là một hậu thuẩn hùng hậu. Cho nên những công việc vặt và những đồng bạc nhỏ, đối với Ðạo, lúc nầy, mới thật là quý giá; chúng nó là những tấm lòng thành thực và sẽ góp thành một lực lượng to lớn. Và chỉ có vậy mới thật là hoạt động thực tế của tín đồ và cố nhiên cũng chỉ có vậy mới duy trì Phật pháp được trong tất cả mọi tầng lớp.

Nói tóm, vấn đề “Hộ pháp” nó quan trọng ở chỗ người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) thành thực bộc lộ tín ngưỡng của mình và có tinh thần gánh vác trách nhiệm, phối hợp với những hoạt động dù nhỏ nhưng thực tế, dũng mãnh. Chính đó, Phật pháp sẽ càng ngày càng xán lạn huy hoàng, không những với những hình thức đồ sộ mà còn với những sự cải hóa tốt đẹp đối với toàn diện của đời sống con người.

(Trích trong tập Người Tại Gia của Hòa thượng Thích Trí Quang)
 
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 09-2004
Down Load ” Word Document” (WinZip File 458 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2003 301 302 303 304 305 306 307 308 309 310 311 312

                 TVHS

Các bài giảng audio của TT Thích Chân Quang

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

11. Nhân và Duyên
Download

12. Kiếp Người
Download

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

19. Trưởng Thành
Download

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

22. Nhân Quả
Download

23. Như Thế Vẫn Chưa Đủ
Download

24. Triết Lý Bàn Tay
Download

25. Thực Tập Hạnh Phúc
Download

26. Mùa Xuân
Download

27. Tiền Bạc
Download

28. Trung Đạo
Download

29. Xây dựng cho kiếp sau
Download

30. Hạnh nguyên người trụ trì
Download

CHIẾN THẮNG CHÍNH MÌNH – TT THÍCH CHÂN QUANG

CHIẾN THẮNG CHÍNH MÌNH
                                                                                           THÍCH CHÂN QUANG

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Bài giảng của thầy ở Từ Tân lần này là lần cuối của năm này. Qua tới tháng giêng, mình lại tổ chức khóa thiền ngoài biển, đi ra biển mình vừa tu, vừa chơi, vừa tắm biển. Tới tháng 2, ta mới có bài giảng trở lại. Pháp Cú nhiều bài cũng hay, có những chuyện tích rất lý thú, qua những chuyện tích đó ta học được nhiều điều bổ ích.
Hôm nay, ta nghe bài Pháp Cú có sự tích câu chuyện cực kỳ lạ lùng. Hai bài kệ là như thế này:
“Dẫu nói trăm câu kệ
Mà không lợi ích gì
Tốt hơn chỉ một câu
Nghe xong được an lạc”

• “Dẫu tại bãi chiến trường
Thắng muôn ngàn quân địch
Sao bằng tự thắng mình
Là chiến thắng tối thượng”

Sở dĩ mà Phật nói 2 bài kệ liên tiếp vì liên quan đến câu chuyện như thế này:
Có một cô con gái tên là Kundalakesì = Bhadda Kundalakess. Có hai tài liệu ghi hai cái tên khác nhau một chút, nhưng cùng là một câu chuyện. Trưởng lão Ni Kệ nói đến tên bà là Bhadda Kundalakess, còn trong truyện tích Pháp Cú, cũng nhắc đến bà với tên là Kundalakesì. Bà là con gái duy nhất của một thương gia rất là giàu có. Bố mẹ thương cho con gái mình chỉ cho ở trên lầu cao.
Lần đó, cô đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ, thấy dưới đường phố xôn xao. Cô mới ghé ngang cửa sổ xem, thấy mấy người lính đang áp tải một tên cướp đi. Tên cướp vừa bị bắt này mặt trông rất ngầu, có râu quai nón, mặt trông lầm lầm lì lì, không nói tiếng nào, tỉnh queo, mặt không sợ hãi.
Bỗng nhiên trong giây phút đó, một tiếng sét ái tình đánh trúng cô gái một cái ầm… Cô tê tái lặng người, run rẩy toàn thân. Cô yêu tên cướp Satthuka đang bị bắt dưới đường, đang bị lôi đi. Chuyện thật khó tưởng tượng nổi. Đây cũng là một kỷ lục thế giới, một tình yêu ngu nhất thế giới, kỷ lục từ xưa tới nay.
Một tên cướp cướp ngay trước mặt mình, mới vừa bị bắt, cả đường phố ai cũng xôn xao hết, thế mà cô lại bị tiếng sét ái tình đánh, đem lòng yêu tên cướp đó. Đây là kỷ lục từ xưa đến nay ta chưa nghe chuyện này lập lại về việc một cô tiểu thư yêu một tên cướp vừa bị bắt. Tình yêu đến thật chớp nhoáng, và quả là một mối tình ngu nhất thế giới.
Tên cướp bị bắt xong, người ta xét xử rồi chuẩn bị đem ra pháp trường xử tội, chém luôn. Trong thời gian tên cướp bị bắt đem ra pháp trường, cô gái kia ở nhà đòi nhảy lầu tự tử, nếu không cho cô lấy tên cướp đó. Cô không chịu ăn uống nữa, bây giờ chỉ xin cho cô lấy được tên cướp mà thôi. Nếu không, cô dọa leo cửa sổ nhảy xuống lầu, chết theo tên cướp luôn.
Bố mẹ cô không biết tính sao, quá thương con mà không ngờ con gái mình nó ngu quá, nhưng cũng không biết làm sao vì chỉ có một đứa con gái duy nhất. Ở đây đừng ai là con gái duy nhất mà bắt chước kiểu này nha, tiêu cha mẹ mình hết.
Không biết sao, cuối cùng vì ông bố là một thương gia khôn ngoan, nên ông bí mật liên lạc với người coi ngục, trả hối lộ một số tiền rất lớn để tráo người. Tức là bữa đem ra pháp trường là người khác, một tử tội khác thế vô, che mặt cho khuất cho đừng ai thấy để đem ra chém luôn. Còn tên cướp thật sự thì lén đem đưa về nhà để làm chồng cô gái này. Chuyện rất là éo le.
Như vậy tên cướp có thương cô này không? Không, tất nhiên là đâu có thương. Tên cướp rất may mắn, vừa thoát chết vừa lấy được một cô gái đẹp, xinh và hưởng được một gia tài nữa. Không biết phước đây có từ đời nào, không hiểu nổi anh ta đã làm cái phước gì ngày xưa nữa.
Nhưng máu của anh ta là máu ác độc và tham lam. Bố mẹ vợ sợ người ta thấy mặt, không cho ra đường, cứ ở trong nhà yên đó với cô con gái. Tên cướp thầm nghĩ là tự nhiên sao mình chỉ sống quanh quẩn như vậy. Còn cô con gái thì rất hạnh phúc. Thấy con gái mình hạnh phúc, hai ông bà cũng chiều con. Chồng cô lại có máu giang hồ tứ chiến, rày đây mai đó, nay ăn nằm với cô này mốt ăn nằm với cô kia làm sao mà ở với một người được. Máu giang hồ nổi lên, hơn một tháng sau, anh ta chịu hết nổi. Một con người dong ruổi yên cương gặp đâu chém đó, gặp cô nào lấy cô đó, nay cứ ở một nhà, chung thủy với một cô gái, dù giàu đến đâu cũng không chịu nổi. Anh ta mới nảy ra một ý nghĩ rất là ác là phải giết cô này lấy gia tài, lấy gia sản rồi đi luôn. Nhưng trong nhà, nhiều gia nhân quá nên không thuận tiện ra tay. Anh ta mới nghĩ ra một kế, nói với vợ: “Hồi lúc bị bắt, anh có khấn với một ông thần ở một cái vực. Nếu thoát chết, anh sẽ tới cái vực đó để cúng. Hôm nay, em nên đi với anh tới đó để tạ lễ, mà em nhớ ăn mặc cho đẹp, mang nhiều nữ trang để trang nghiêm”. Cô vợ cũng “mê trai” rồi nên đâu có biết, đâu có suy xét gì, sai gia nhân lấy xe, đưa đến chân núi.
(Có những loại hành hình có khi là người ta chém bêu đầu giữa chợ, có khi người ta mang tử tội đến vực thẳm, xô tên cướp đó rớt xuống dưới chết, còn nếu sống thì thôi tha. Vực đó gọi là Vực Kẻ Trộm)
Vì phải leo lên dốc nên bỏ gia nhân ở lại hết, kêu gia nhân đứng đấy, anh ta dìu vợ lên. Đến nơi, anh ta trở mặt ngay, đổi thái độ khác liền. Người vợ liền nhận ra thái độ chồng bắt đầu biến đổi, sắc mặt từ từ trở nên lạnh lung. Bất cứ con người bình thường nào, từ chỗ thân thiện cho tới khi ra tay giết hại người khác, phải có một giai đoạn biến chuyển thái độ. Thật ra, cô gái không ngu, cô chỉ si tình thôi chứ cực kỳ thông minh. Cô bắt đầu nhận ra thái độ của anh ta vì trên đường đi, khi cô hỏi chồng những điều âu yếm, anh ta không còn nói những điều âu yếm nữa mà trở nên lạnh lùng, từ từ lộ mặt sát nhân ra.
Khi lên tới đỉnh vực rồi, anh ta ngoắc cô lại gần. Vì anh ta nghĩ mạng sống cô gái trong tay mình rồi, chẳng cần giấu diếm chi nữa. Anh ta ra lệnh: “Cởi đồ nữ trang ra đây”. Với bộ mặt tên cướp ra, anh ta nói “Chẳng tình nghĩa vợ chồng gì nữa. Nói thật hôm nay, ta giết ngươi, bởi vì ta không thể sống trong một gia đình hoài được. Máu ta là máu giang hồ tứ chiến”.
Cô gái kia ngỡ ngàng, nhưng cũng không ngạc nhiên lắm, vì trên đường đi, cô đã bắt đầu nhận thấy có cái gì lạ lạ, và bây giờ hiểu ngay cái lạ đó là đây: Người mà mình thương yêu, từng cứu mạng là người không hề thương yêu mình, chẳng hề biết ơn mình, bản chất chỉ là một tên cướp vô loại mà thôi”.
Ngay trong thoáng chốc, cô nghĩ ra một kế. Cô mới nói “Thôi thì đã lỡ là vợ chồng, một ngày cũng là vợ chồng, trước khi chết cho em được một lần bày tỏ tình thương đối với người chồng của mình trong một tháng qua”. Anh ta chấp thuận. Cô này mới từ từ cởi nữ trang ra rồi đi chung quanh, cũng giả vờ âu yếm nhưng rồi khi đi ngang tới lưng, cô mới xô mạnh một cái thì tên kia rớt xuống vực chứ không phải cô.
Khi xô tên kia rớt xuống vực rồi, cô mới gom hết nữ trang chạy xuống. Nhưng khi đang chạy xuống để gặp những gia nhân đang chờ mình, cô chợt nghĩ lại. Cô nghĩ “Bây giờ ăn làm sao nói làm sao đây vì cái ngu của mình với cha mẹ. Tự nhiên bây giờ làm cho cha mẹ mình khốn đốn khổ, sở lấy chồng về giờ chồng mình nó giết mình rồi bây giờ mình giết nó, không biết ăn sao nói sao”. Cô bỏ nữ trang giữa đường, rẽ con đường khác đi luôn. Cô đi tu.
Khi xuất gia cô gặp nhóm Ni Kiền Tử là nhóm khổ hạnh lõa thể. Nhóm khổ hạnh lõa thể này họ có lý luận rất là cao siêu. Thời đó giáo chủ của nhóm Ni Kiền Tử là Niganthaputta cũng gần như kẻ đắc đạo, chỉ thua Đức Phật thôi chứ khả năng nhập định, thần thông cũng rất là cao, lý luận cũng rất là dữ dội, và họ không hề mặc quần áo. Họ xem việc không mặc quần áo như là một sự tự tại. Mùa nắng họ không cần che mát. Mùa đông họ không cần giữ ấm. Và xem như việc mình bày cơ thể là một việc tự tại giữa cuộc đời, bất chấp dư luận. Họ xem đó là triết lý, đạo lý của họ. Họ cũng thuyết phục được khá nhiều người tin theo họ.
Không hiểu duyên như thế nào mà cô gái gia nhập vào, xin xuất gia theo nhóm đó. Mình không có tài liệu ghi rõ trong nhóm đó người nữ ăn mặc như thế nào mà chỉ biết rằng người nam của đạo lõa thể này thường ở trần ở truồng. Ví dụ như ở mức độ thấp nhất thì họ che một cái khố, che vừa đủ, còn lúc sống với nhau, họ chỉ ở truồng thôi.
Cô gái gia nhập nhóm này, cô tu hành tinh tấn, trí tuệ cô phát ra. Con người ngu nhất thế giới, si tình nhất thế giới không ngờ lại ẩn chứa một trí tuệ nhất nhì thế giới, nên đã chuyển tình huống bại thành thắng, rồi bây giờ vào đạo, trí tuệ phát ra. Cô ngồi thiền, học lý luận, trở thành người biện luận của giáo phái Ni Kiền Tử không ai qua nổi. Lúc đó cũng giống như có sự khuyến khích, vừa là niềm tự hào về mình, cô đi khắp nơi để thách thức mọi người biện luận đạo lý.
Theo phong tục của những người Ấn Độ thời xưa, khi muốn tranh luận họ sẽ đến một cổng thành hay một cổng làng, họ sẽ dựng lên một cái cây, một cái cành, một cái cây như một cây tre cao, trên đó họ treo một miếng vải hay một biểu tượng gì đó chứ thời đó chưa có chữ viết. Thời đó không có in hi-flex giống như mình bây giờ công bố: “Hôm nay có cuộc tranh luận của người nào, tên gì, ở đâu đó, mời mọi người đến tham dự”. Hồi đó không có chữ viết. Chữ viết chỉ dành cho những người rất quý tộc của Bà La Môn nên họ dùng biểu tượng cho người ta hiểu. Theo tập quán, họ thường cắm một cây nêu rất cao và treo trên đó một mảnh vải. Cô này thì không có vải vóc, cô chỉ đến cô đắp một đụn cát rồi bẻ một cành cây hơi dài dài cắm lên đó, ngay chính con đường đi vào, nghĩa là ai đi qua phải tránh né. Dấu hiệu đó người Ấn Độ họ hiểu là có một người thách thức tranh luận với tất cả mọi người trong làng này, trong thành này.
Và cô đi nhiều nơi như vậy cũng chưa ai biện luận nổi với cô về đạo lý. Khả năng cô thực đáng nể.
Một lần nọ, cô đến Xá Vệ. Xá Vệ là một kinh đô lớn nhất nhì của Ấn Độ thời đó. Thành Xá Vệ là lớn nhất đất nước Kosala, còn thành Vương Xá lớn nhất đất nước Ma Kiệt Đà. Cô dám đến thành Xá Vệ đắp một đụn cát, cắm một cành cây lên trên ngay giữa cổng thành như vậy, thách thức cả thành luôn dù nơi đó có biết bao giáo sư, học sĩ. Cô thách thức tất cả người trong thành, vì đi khắp nước, không ai tranh luận lại cô.
Không ngờ, hôm đó ngài Xá Lợi Phất đến đó. Ngài thấy cành cây, bèn sai người đạp lên cành cây đó. Bên Ấn Độ, người nào nhổ cái cành cây đó đi, bẻ cành cây đó đi hay đạp bỏ cành cây đó đi có nghĩa là người này chấp nhận lời thách thức tranh luận của mình. Thế là cô ra mặt và mời rất đông người đến chứng kiến buổi tranh biện này, với ý đồ cho thấy đây là lần đầu tiên thấy một người nữ của phái Ni Kiền Tử sẽ tranh biện, thắng một đại đệ tử của Sa môn Cồ Đàm.
Khi mọi người đến tập họp đông, ngồi nghe hai người tranh biện. Đầu tiên, tuy thời xưa người ta trọng nam khinh nữ, ngài Xá Lợi Phất lại lịch sự mời cô hỏi trước. Thế là cô hỏi, hỏi từ sáng cho tới chiều, hỏi câu nào ngài trả lời xong, cô hỏi tiếp câu khác ngay, hỏi dồn dập để dí ngài Xá Lợi Phất vào chỗ bí. Nhưng ngài không bí, nghe hỏi và trả lời các câu hỏi thong suốt từ sáng tới chiều.
Đến chiều, cô hết hỏi nổi nữa, ngài mới bắt đầu hỏi lại.
– “Bây giờ ta hỏi lại cô”.
Cô đành phải nói:
– “Dạ, xin ngài”
– “What is the One? – Một là cái gì?”.
Một câu đơn giản, câu nổi tiếng nhất thế giới, đơn giản nhất thế giới và khó nhất thế giới. “Một là cái gì?”
Hồi sáng, cô hỏi ngài câu hỏi rất dài, đủ thứ chuyện Niết Bàn, an lạc, giải thoát, tu tập,… đủ thứ chuyện trên đời câu nào câu nấy dài thòong. Bây giờ, ngài hỏi lại một câu ngắn gọn: “Một là cái gì?”
Ở đây, lần nữa, ta thấy trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất. Cô hỏi câu nào câu nấy phức tạp, ngài đều trả lời được hết, tới chừng ngài hỏi lại một câu cực kỳ ngắn gọn, cô bí liền, rời khỏi tòa, quỳ xuống đảnh lễ ngài:
– “Xin ngài dạy con “Một là cái gì?””
Đây là câu trả lời của ngài Xá Lợi Phất:
“Niết Bàn là duy nhất, đỉnh cao duy nhất của sự giải thoát, bình an tự tại không gì có thể so sánh được”.
Nghe xong, cô thán phục liền vì chỉ có người chứng được Niết Bàn thì mới nhìn thấy rõ, trả lời rất nhanh. Cô lạy một lạy.
Ngài mới nói tiếp:
– “Thế Tôn là duy nhất. Giữa Chư Thiên và loài người chỉ có một đấng Thánh cao nhất, không có người thứ hai có thể so sánh được”.
Cô quỳ xuống, lạy thêm một lạy. Ngài mới nói tiếp:
– “Sự hòa hợp của những vị Thánh tăng đệ tử theo Đức Phật là duy nhất, không ai có thể phá vỡ được tình thương yêu đoàn kết của Thánh tăng đệ tử theo Phật, bởi vì tất cả là Vô ngã, là một cái duy nhất”.
Cô quỳ xuống, lạy một lạy tiếp theo nữa.
Chúng ta nghe, mình không biết Một là cái gì, trong khi Ngài kể ra chừng 100 cái Một, không gì có thể so sánh được, cái nào cũng tuyệt đẹp, cũng cao cả như vậy.
– “Tứ Diệu Đế là Chân lý duy nhất, muôn đời và mãi mãi. Muôn đời trước và muôn đời sau, không có gì có thể cao hơn giáo lý Tứ Diệu Đế này, để đưa chúng sinh đạt được sự giác ngộ”.
Sau đó ngài mới đưa cô về đảnh lễ Phật xin cho cô được xuất gia. Lúc nghe kể lại câu chuyện tranh luận giữa hai người, Đức Phật mới nói bài kệ là:
Dẫu nói trăm câu kệ
Mà không lợi ích gì
Tốt hơn chỉ một câu
Nghe xong được an lạc”

Ám chỉ rằng cô hỏi ngài Xá Lợi Phất từ sáng tới chiều cả trăm câu nhưng mà rỗng, chẳng bằng ngài Xá Lợi Phất nói một câu là cô thay đổi liền, được lợi ích liền. Lúc đó, người biết chuyện của cô, mới kể cho Phật nghe chuyện của cô đã chuyển bại thành thắng, đã giết được tên cướp là chồng để thoát thân được. Đức Phật nói tiếp bài kệ thứ hai:
“Dẫu tại bãi chiến trường
Thắng muôn ngàn quân địch
Sao bằng tự thắng mình
Là chiến thắng tối thượng”

Phật vừa nói xong câu kệ đó, cô chứng A La Hán, và được ghi tên vào trong Trưởng Lão Ni Kệ luôn. Trong Tiểu Bộ Kinh, Trưởng Lão Ni Kệ ghi lại những vị Ni chứng A La Hán, trong đó, có tên cô này, là Baddha Kundalakess, với chuyện tích rất nổi tiếng này.
Ngày nay, học về lịch sử của Đức Phật mà ta không biết về những vị Thánh Tăng chung quanh Đức Phật vào thời đó thì quả là thiếu sót. Ta cứ tưởng rằng cuộc đời Đức Phật bình thường, chứ nếu ta biết có rất nhiều người rất đặc biệt, chung quanh Đức Phật vào thời điểm đó, ta mới thấy cuộc đời Đức Phật cực kỳ phong phú, cực kỳ đẹp.
Bây giờ ta phân tích một chút.
Ta nhắc lại kỷ lục mà cô đạt được đầu tiên là một tình yêu ngu nhất thế giới, yêu một tên cướp sắp bị đem ra chém. Có một lần, thầy đọc một câu chuyện, kể chuyện tình yêu của một cô gái. Cô gái đi trên đường, bị một đám cướp giật tấn công, có một người võ nghệ cao cường xuất hiện, đánh bay hết bọn kia cứu cô. Thế là cô đem lòng yêu thương người đó, yêu rất là si mê. Cho đến một ngày, cô mới vở lẽ ra người cứu mình cũng là một tên cướp. Lúc đó, anh ta nổi máu anh hùng, cứu một cô gái thôi, chứ bản chất anh ta cũng là một tên cướp, cũng du đãng, du côn chẳng ra gì. Nhà văn Vũ Hạnh đã viết câu chuyện đó, tựa là “Yêu nhầm”. Yêu xong rồi, mới biết đó là cướp! Còn ở đây, cô này đặc biệt hơn, biết cướp mà vẫn yêu. Rất là lạ! Tại sao như vậy? Ta có thể nói vì hai điều:
• Điều thứ nhất là trên yếu tố tâm lý học: Tình cảm thường thắng lý trí. Dù ta biết rất nhiều điều hay lẽ phải nhưng một khi tình cảm thương ghét nổi lên, ta vẫn bị tình cảm thương ghét sai khiến, còn những hiểu biết trước kia, dường như trở thành bất lực. Ví dụ ta thương một người, mà nhiều người biết họ là xấu, chính ta cũng biết họ là xấu nhưng mà tình yêu thương gì bí mật bên trong sai khiến, ta vẫn yêu thương vẫn bảo vệ, vẫn bênh vực mặc dù tận trong lý trí mình vẫn biết người này không tốt.
Hoặc là ta ghét ai cũng vậy. Ta ghét ai rồi, mọi người chứng minh cho ta biết rằng người đó là tốt mà ta vẫn không nghe, cứ luôn luôn tìm cách chứng minh người đó là xấu. Ta chỉ nói điều xấu, không nói điều tốt người đó ra mặc dù người đó vẫn có điểm xấu có điểm tốt, đâu phải hoàn toàn xấu. Nhưng mình cứ chửi và chỉ moi móc điểm xấu, gán điểm xấu, bóp méo sự thật để nói điều xấu, không bao giờ công nhận một điểm tốt nào của người ta. Đây cũng là một loại tình cảm thắng lý trí.
Ta thấy tâm lý con người ta như vậy: tình cảm thắng lý trí. Người ta hay bị như vậy.
• Điều thứ hai là nguyên nhân của nghiệp duyên từ quá khứ. Ta thương yêu ai vì ta mắc cái nợ gì từ kiếp xưa, mắc cái nợ gì đó. Nợ này có mấy trường hợp:
Trường hợp ta mắc nợ vì ân nghĩa. Trường hợp thứ hai là ta có lần nói dối như thế này.
Thí dụ như có một anh chàng đó tán tỉnh một cô gái vì cô đó giàu. Thật ra, anh ta cũng chẳng thương lắm, nhưng ngày đêm, cứ viết thư qua. Thời đó, chưa có nhắn tin thư điện tử, chưa có nhắn tin điện thoại, chỉ có viết thư hay gặp nhau nói: “Anh yêu em, anh yêu em mãi mãi, anh yêu em suốt đời, dù biển cạn non mòn tình yêu của anh đối với em không bao giờ thay đổi,…”. Nói dóc như thế thành cái nhân khiến cho đời sau, gặp lại, yêu si mê luôn mà không biết lý do gì.
Chỉ vì ta nói dối nên đã thành cái nhân, bắt ta phải thực hiện lời nói dối đó. Ai đã từng nói dối, qua kiếp sau sẽ gặp một người rồi thương si, thương mê chính vì lời nói dối này. Bởi vậy ta không nên bừa bãi, gặp ai, ta cũng nói “Anh thương em ghê!”.
Lời nói dối đó sẽ thành món nợ buộc ta phải thực hiện điều đó. Ai lỡ nói câu đó rồi, hãy kiếm gặp người ta, rút lại lời. Nói rằng: “Hồi tháng trước, em có nói là em thương anh đó, nhưng sự thật là em nói dối. Nay, em nghe giảng rồi em sợ, em xin rút lại, em hổng có thương anh”.
Còn trường hợp cô này si mê tên cướp một cách kỳ lạ như vậy, vì đời xưa, được người này có sức mạnh đứng ra cứu mạng cô trong lúc mình gặp nguy hiểm, như vô rừng bị cọp rượt hay bị cướp bao vây. Người ta cứu một lần rồi bỏ đi mất, nhưng cô chịu ơn này, cứ tơ tưởng suốt cả đời, mong được dịp mà đền ơn. Người đã cứu mình một lần chẳng phải là người tốt. Tình cờ, thấy ai gặp nạn rồi ra tay cứu một lần nên chưa chắc người đó là người tốt. Kiếp sau người này làm ăn cướp nhưng mà khi gặp lại, cô này do nợ xưa bùng khởi lên. Ơn cứu mạng ngày xưa khiến hôm nay cô nhất quyết cứu lại mạng người này. Vì vậy, bằng mọi giá cô thương yêu và cứu mạng người này. Cha mẹ do thương con, nghe lời con, giúp con cứu người này, chẳng qua để cô đền được ơn cứu mạng cô ngày xưa.
Nhưng rồi chính cô lại là người giết người này. Vì sao? Vì người này cứu cổ xong, lúc nào đó có chuyện gây gổ, rồi giết chết cô. Ai tốt với mình một lần cũng chưa bảo đảm. Cũng giống như kiếp xưa, tên cướp này cũng từng cứu cổ mà không yêu thương rồi quay lại giết cô. Và bây giờ cô gái cứu tên cướp xong, chính cô lại giết tên cướp đó. Nhân quả là như thế.
Nhân quả kỳ lạ chi phối tình cảm con người, nên ta phải hiểu một điều là tình cảm thương yêu trên đời không có thật lắm, chỉ do ân nghĩa mà thành. Ta sống với nhau có tình có nghĩa, có đạo đức thì tình thương mới được bồi đắp dần dần, rồi trở thành thiêng liêng, bền bỉ, trở thành đẹp như huyền thoại. Chứ sự thật tình thương không là gì hết. Con người thương nhau mà không vun đắp tình thương, chỉ sống giả dối hoặc không đối xử tốt với nhau, ân nghĩa xưa cũng tàn dần, tình cảm kia cũng phai nhạt dần. Cho nên tình yêu không phải là tuyệt đối như nhiều người đã tưởng. Ta phải hiểu tình thương chỉ là tương đối.
Nhân quả khiến cho cô gái xuất gia bên Ni Kiền Tử thì ta không hiểu. Nhưng việc chọn phái tu đều có nhân duyên. Trước khi tìm được một vị Minh sư, nhiều khi ta cũng phải đi qua nhiều giai đoạn, nhiều bậc thầy khác, nhiều phái tu khác cho đến khi cuối cùng ta gặp một phái tu thích hợp nhất với mình, một đường lối thích hợp nhất với mình, mới làm cho ta tiến đạo được. Còn trước đó, mọi điều chỉ là sự chuẩn bị. Hiểu được điều này rồi, ta sẽ không công kích ai nữa.
Ví dụ như có một người trước đây theo đạo Kitô, sau này gặp được đạo Phật, họ mến đạo rồi đi theo. Ta chớ nên nghĩ rằng trước kia, họ đi sai đường, về sau mới biết đi con đúng đường. Vì nhiều khi cái duyên của họ là trong bối cảnh đó, đạo Ki tô cho họ được một số điều thiện nào đó, giúp họ giữ mình trong điều thiện, không bị sa lầy, không vấp ngã trước khi họ gặp được đạo Phật. Khi gặp được đạo Phật, họ được thăng tiến tâm linh nhiều hơn nên theo. Ta nên nghĩ như vậy.
Hoặc có người tu Thiền, nhưng trước khi đến với tu Thiền, họ đã gặp pháp môn Tịnh độ, chuyên tâm niệm Phật. Mới ban đầu, họ nghĩ chuyên tâm niệm Phật là một pháp môn hiệu quả nhất. Cho đến bước sang Tu thiền, họ buông câu niệm Phật mà tìm được tâm linh chứng ngộ từng giờ, từng phút trong cuộc sống, chứ không muốn tìm sự hứa hẹn vào một cuộc sống nào đó sau khi chết. Dẫu cho người này nghĩ là qua tu Thiền hay hơn, ta cũng đừng cho rằng Tịnh độ là thấp. Ta phải nghĩ rằng, Tịnh độ là một giai đoạn. Chính vì nhờ người đó có một thời gian dài nhiếp tâm niệm Phật, mà nghiệp được tẩy rửa, tâm linh được nuôi dưỡng để chờ đợi, để chuẩn bị cho ngày gặp được Thiền, rồi đi sâu vào định luôn. Hiểu như vậy, ta sẽ dễ bao dung khi nhìn mọi điều trên đời này.
Bhadda Kundalakess cũng vậy. Triết lý phái Ni Kiền Tử cũng cao siêu, giáo chủ cũng vĩ đại lắm, cũng ảnh hưởng sâu rộng lắm, tồn tại mấy mươi thế kỷ qua bên Ấn Độ, cho tới bây giờ. Chỉ có điều giáo lý không rốt ráo lắm như đạo Phật. Vì giáo phái đó cũng không phải là dở, và cô gái đây là người có trí tuệ, không phải là người tầm thường, chọn đi theo giáo phái Ni Kiền Tử nên cô trở thành người biện luận đệ nhất của giáo phái đó, đi khắp nơi tranh biện mà không ai qua nổi. Chỉ đến khi cô gặp ngài Xá Lợi Phất là bậc thượng thủ tướng quân, một người trí tuệ đệ nhất, ngài đã nhiếp phục được cô. Trong kinh, không ghi lại cô có gặp một vị tỳ kheo nào của Phật trước đó hay không, nhưng ta có thể giả định rằng, cô đã từng gặp một số tỳ kheo đệ tử của Phật mà cũng chưa ai tranh biện lại với cô. Mãi đến ngày cô đến thành Xá Vệ, lúc đó nhân duyên gặp ngài Xá Lợi Phất rồi, cô mới bị nhiếp phục.
Phong cách ngài Xá Lợi Phất nhiếp phục một người giỏi lý luận và ngoại đạo làm cho ta phải ngạc nhiên và thán phục. Đầu tiên, ngài có thái độ rất trầm tĩnh, không vội vàng, không cần hơn thua, và nhường nhịn đối phương, nhường cho cô hỏi trước.
Khi cô hỏi, ngài trả lời từng điểm. Tiếc là kinh điển không ghi lại toàn bộ cuộc tranh luận đó. Nếu có phương tiện nào ghi lại hết câu chuyện hỏi – đáp thì thật là thú vị, ta sẽ biết cô nêu từng điểm nào, ngài Xá Lợi Phất trả lời từng điểm như thế nào để đưa cô dần đến gần chánh pháp.
Có một số điều thấp thấp ban đầu của Đạo Phật và giáo phái Ni Kiền Tử rất giống nhau, nên khi ngài trả lời, cô đồng ý ngay. Cô càng hỏi tiếp, ngài trả lời càng sâu dần, đưa cô đến càng gần Chánh Pháp. Tới buổi chiều, khi mà cô thỏa mãn hết mọi điều mà ngài trả lời, không còn gì để hỏi nữa, tâm cô đã mềm lắm rồi. Bản ngã đã xuống rất nhiều. Lần đầu tiên gặp một người ung dung, bình thản tự tại giải đáp hết mọi điều, mọi câu hỏi chất vấn của mình, mà trả lời cực kỳ sâu sắc, trả lời cực kỳ mới lạ, chứ không phải trả lời cái điều mà mình đã đoán trước, đã biết trước.
Ví dụ như bây giờ mình gặp một người, mình hỏi “2 với 2 là mấy?”. Mình đoán trước câu trả lời là mấy? Mình đoán trước là 4. Nhưng có một người không trả lời điều mà mình đã đoán trước. Người đó trả lời thế này: “Khi ta nhìn thấy 2 số 2 đặt gần nhau thì ta đừng nghĩ rằng đó là 2 cộng với 2 để thành 4. Ta cũng đừng nghĩ đó là 2 nhân với 2 để thành 4. Ta cũng đừng vội nghĩ rằng đó là con số 22, cũng đừng nghĩ rằng đó là con số 2 lũy thừa 2. Biết đâu rằng con số 22 nằm phía trước giấu đằng sau nó một con số khác, tạo thành một công thức toán học mới. Một con số ẩn sau lưng đó là gốc, con số 22 đó là con số mũ lũy thừa, tạo thành một con số lớn khủng khiếp không thể tưởng tượng được trong trời đất này”. Người mà dám trả lời một câu mà ta không lường trước được, đó là một con người làm cho ta thán phục. Chứ còn ai đưa con số 2 với 2, người kia trả lời là 4, và chính ta cũng đã biết trước câu trả lời là 4, nên câu hỏi này không có gì đặc biệt.
Cái hay của ngài Xá Lợi Phất là ngài không trả lời như cô này đoán trước, mà ngài trả lời theo cách rất đặc biệt, rất sâu sắc và rất mới lạ, làm cho cô thán phục.
Đến buổi chiều, cô mềm lòng, ngài mới nói rằng “Bây giờ cô không còn gì để hỏi thì ta bắt đầu hỏi nhé. Cô phải trả lời “Dạ, thỉnh ngài”.
Ngài chỉ hỏi một câu đơn giản ngắn ngắn thôi: “Một là gì?”. Cô đành im. Vì sao vậy? Vì chưa có tâm chứng. Khác nhau giữa một người giỏi biện luận và một người có tâm chứng là đây. Người có tâm chứng nhìn thấy rõ chuyện, như nắm hẵn vấn đề trong lòng bàn tay. Còn người không có tâm chứng mà chỉ giỏi biện luận là chỉ suy luận bằng đầu óc, qua tư tưởng, qua trung gian những sự kiện chứ không nhìn thẳng được vấn đề.
Ví dụ như có một thiền sư hỏi đáp với một đệ tử. Người đệ tử trả lời xong, ông thiền sư nói một câu: “Nửa đêm đi thả gà đen”. Người ngoài nghe không biết ông thiền sư ổng nói gì. Cuộc hỏi đáp giữa hai thầy trò ông thiền sư với thiền sinh hết. Chấm dứt, sau khi ông thiền sư ổng phê bình một câu “Nửa đêm đi thả gà đen – Bán dạ phóng kim ô”. Người ta nghe người ta không hiểu. Nhưng mà người có chứng ngộ họ nghe câu đối đáp trước kia họ biết người thiền sinh đã trả lời đúng toàn bộ câu hỏi của ông thầy, đúng hết rồi nên cuối cùng chắc chắn phải là câu khen ngợi. Khen ngợi kiểu gì mà “Nửa đêm thả gà đen”?
Nếu mà ta không tin chắc người học trò đúng thì sẽ không giải thích được câu “Nửa đêm thả gà đen”.
Nhưng nếu thiền sư chứng ngộ, ta cũng là người chứng ngộ, lắng nghe từ đầu tới cuối cuộc đối đáp giữa hai người mà ta biết người đệ tử đã đối đáp đúng hết rồi, ta biết rằng người học trò là người chứng ngộ. Vì từng câu người học trò đối đáp đúng hết, hợp hết, tâm chứng đúng hết. Người ngoài nghe không hiểu nhưng ta nghe ta biết là họ đúng hết. Ông thầy phán rằng “Nửa đêm thả gà đen”, ta biết ngay là một câu khen mà người ngoài không biết đó là một câu khen.
Khen ở chỗ nào? Thường, khen thì phải mặt trời sáng, hào quang chiếu. “Nửa đêm thả gà đen”. Ta nghe ta biết câu khen liền. Khen nghĩa là gì?
Màu của ban đêm là màu gì? Màu đen.
Con gà màu đen luôn nghĩa là sao? Hợp nhau.
Ý nói rằng tâm của người học trò này hợp với tâm của ông thầy. Vì ông thầy chơi chữ “nửa đêm thả gà đen”, ta chẳng biết lời khen hay lời chê. Thiền sư khen mà nghe tưởng như chê, nhưng sự thật đó là một lời khen.
Tại sao ta biết đó là lời khen? Bởi vì ta đã quan sát cuộc nói chuyện ta biết được.
Ở đây, ta phải hiểu là cô đó dù biện luận giỏi đến đâu nhưng chưa phải là người chứng ngộ nên không thấy được vấn đề. Còn ngài Xá Lợi Phất là người chứng ngộ nên ngài thấy vấn đề như nắm trái xoài trong lòng bàn tay.
Hỏi “Một là gì?” cô kia chịu thua liền vì cô không phải là người chứng. Vì mình không phải là người chứng nên trong đầu mình có 1000 chuyện trong đó, còn người chứng, trong đầu chỉ có duy nhất cái Một thôi: Niết Bàn, chứ không có gì khác nữa. Khi nghe hỏi “Một là gì?”, lấy cái Một duy nhất đó ra trả lời liền.
Còn mình bây giờ hỏi “Một là gì?”, mình không biết, vì trong đầu mình không hề có cái gì là Một cả. Trong đầu mình có cái gì ở trong đó? – Có một triệu thứ ở trong đầu mình.
Thứ nhất là gì? Tết sắp tới.
Thứ hai là gì? Tiền đang mất giá.
Thứ ba là gì? Ngân hàng sắp đáo hạn tới nơi. v.v.
Một triệu vấn đề trong đầu mình, nào là kinh tế thì khủng hoảng, mưa gió bão bùng, model đời này… Ta có một triệu vấn đề, nên khi hỏi cái gì là Một, ta không thấy. Còn người chứng đạo, trong tâm họ chỉ có duy nhất cái Một, nên hỏi “Một là gì?”, họ đã có sẵn câu trả lời.
Cũng vậy, đến khi cô Baddha Kundalakess quỳ xuống, xin ngài giải đáp, ngài nói Một là Niết Bàn; bởi vì trong tâm ngài, ngài thấy chỉ có Niết Bàn, một thứ duy nhất trong tâm. Và muốn hỏi nữa thì từ trí tuệ về Một trong Niết Bàn trong tâm ngài, ngài nói tiếp cho cô nghe: Phật là Một, một bậc Thánh duy nhất trên đời không ai có thể so sánh được, cả cõi trời và cõi người…
Cứ như vậy, ngài nói cả trăm điều Một, đều đẹp giữa đời này, trong đó có một điều làm ta cảm động: Tình thương yêu hòa hợp giữa những Thánh tăng đệ tử của Phật là duy nhất. Sự đoàn kết là một, không ai có thể chia rẽ hoặc phá vỡ được. Vì sao vậy? Vì các ngài là vô ngã.
Khi ta có bản ngã, mỗi người một ý, tình thương yêu đoàn kết có vấn đề. Người nào đến rỉ tai ta một chút xíu, ta nghe lời chút xíu, lòng của ta bớt yêu thương Tăng đoàn của mình, ta bớt yêu thương thầy mình. Bây giờ, ngay khi mình xuất gia, mình đi tu theo thầy mình, mình nguyện lòng thương yêu thầy mình cả đời nhưng vì bản ngã mình còn, ngày nào đó có người đến rỉ bên tai mình, nói “Ông thầy này ổng hổng có hay, ổng xấu, ổng bệnh, ở trên mạng người ta chửi ổng hoài…”. Nói một lát, mình nghe có lý, lòng mình phai nhạt liền, bị lung lay liền, vì mình chưa phải là Thánh tăng đệ tử. Còn những bậc Thánh đệ tử của Phật, tâm các ngài vô ngã không còn tư chấp riêng của mình nên không có ai thủ thỉ, vận động hành lang, nói gì mà làm các ngài lung lay được nữa. Nên ngài nói : Tình yêu thương hòa hợp đoàn kết của các vị Thánh tăng đệ tử Phật là duy nhất, không gì có thể phá vỡ được. Câu trả lời này của ngài cũng là bài học cho tất cả chúng ta.
Hiện nay, chúng ta ngồi ở đây, chúng ta đều là con của Phật. Nếu ta chưa thể yêu thương nhau bằng tình yêu thương duy nhất như là ngài Xá Lợi Phất nói, phải biết rằng việc tu của ta còn rất là kém. Từ hôm nay, trước Tam bảo, ta nguyện lòng sẽ tu thế nào để tất cả chúng ta trên trần gian này cùng hướng đến một tình thương yêu duy nhất như ngài Xá Lợi Phất đã ca ngợi tình thương yêu của chúng Tăng, đệ tử của Đức Thế Tôn là duy nhất. Được không? Ráng phấn đấu như vậy.
Bây giờ, câu hỏi “Thế nào là Một?” nghe khó quá, vậy ta hỏi “Thế nào là Hai?” cho dễ trả lời một chút.
Cái gì là Hai? Hai là cái gì? – Ta và người là Hai. Ta thấy ta khác với mọi người. Ta và người là Hai.
Chính vì có hai cái đối đãi này mà trần gian đã sinh ra lắm chuyện phiền não, thương đau, rắc rối, cho nên ta nguyện là sẽ vượt qua cái Hai này, cái Ta và Người thế này.
Cái gì là Hai nữa? – Động và Tĩnh là Hai. Tâm ta lúc nào cũng xao động, mà tâm của bậc Thánh lúc nào cũng yên tĩnh, cho nên ta phải ráng tu để vượt qua được cái này, để làm sao tâm ta, tâm chúng sinh thật sự là tĩnh lặng, nhất như.
Cái gì là Hai? – Phàm và Thánh là Hai. Chánh và Tà là Hai.
Nhiều lắm, nếu ta có thì giờ ta suy nghiệm. Ngài hỏi cái gì là Một, ta đùa ta đặt câu hỏi cái gì là Hai để ta biết rằng trên đời có nhiều đạo lý lắm.
Bây giờ, ta trở lại bài giảng. Học Pháp cú mấy năm nay ta mới gặp ở bài kệ với câu nói của Đức Phật rất nổi tiếng này: “Tự chiến thắng mình là chiến thắng oanh liệt nhất”. Vì sao? Vì “kẻ thù lớn nhất của mình là chính mình”. Tại sao?
Tại sao “kẻ thù lớn nhất của đời mình là chính mình”? Nghe câu đó mình có thấy hay không? Có cái gì đó mình cảm thấy rất là hay phải không?
Tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Vì ước mơ lớn nhất của người tu là vô ngã. Hạnh nguyện lớn nhất của người tu là sống một đời vị tha, nên để đạt được vô ngã, để sống được một đời vị tha, ta phải chiến thắng với những cái gì đó ở trong lòng mình. Chứ không phải nói kẻ thù lớn nhất của mình là chính mình, rồi mình cầm dao mình đâm ngược vào mình, gọi là thắng mình. Không phải như vậy. Mà kẻ thù là những cái gì ở trong mình sai sử mình.
– Thứ nhất là gì? Ích kỷ. Chỉ nghĩ xem mình là quan trọng nhất. Cái gì mình cũng chú ý mình phục vụ mình trước hết. Mọi điều trên đời này là mình ưu tiên mình lo cho mình hơn cả.
Bây giờ trong đời sống ta tập xoay ngược lại. Thí dụ ta bước vào trong Chánh điện lễ Phật, thay vì tìm một vị trí ngon nhất, một chỗ chính giữa, mình nhìn qua nhìn lại chung quanh xem có ai không, nếu không có ai, mình hãy vào, quỳ ở giữa, lễ Phật. Nếu có ai thì mình xin ngồi nép sang một bên, mình nhường cho người ta trước. Trước một việc rất nhỏ, mình đã nghĩ đến người chung quanh.
Khi bước vào một phòng ăn, thay vì mình ngồi xuống, ăn liền, hãy nhìn chung quanh xem còn có ai chưa ăn, họ ngại ngùng, họ là người lạ mới đến họ chưa ngồi được, mình hãy mời họ trước… Tập trong đời sống hằng ngày là vậy, biết từng chút từng chút nghĩ đến người chung quanh mình. Được như vậy, ta diệt được tâm ích kỷ của mình, sống một đời vị tha, lo cho người khác từng chút một. Và đó là chiến thắng chính mình. Cuộc đấu tranh để chiến thắng chính mình này chừng mấy tháng sẽ xong? Mấy tháng?
– Cả đời này và những đời sau. Đó là một cuộc đấu tranh rất là đẹp.
Ví dụ như vô chùa, ông thầy hỏi: “Trời, ai làm đổ nước đây?” mà mình không có làm đổ. Nếu mình nhận: “Thưa thầy con làm đổ” tức là mình nói dối. Thực ra, mình biết có một người huynh đệ đã làm đổ. Ta có 2 cách giải quyết thế này. Hoặc là mình im lặng, không nhận tội, vì mình không có làm đổ. Hai là mình nhận mình làm đổ, để người huynh đệ mình đừng bị la, chấp nhận thầy cứ la mình cho xong chuyện, rồi mình đi lau. Nhưng như vậy là mình nói dối. Vậy làm sao? Bài toán này khó đó vì là bài toán của lòng vị tha.
Nhiều điều trong cuộc sống này phức tạp. Nếu muốn xử lý được để có được một đời sống đạo đức vị tha, ta xử lý rất khó, chứ không phải dễ.
Thầy nêu một bài giải mẫu như thế này. Khi ông thầy hỏi ai làm bể cái ly làm nước chảy tràn đầy trên bàn Tổ như thế này, mà mình không phải là người làm đổ, và mình biết người kia làm đổ đang đứng nép mình sợ thầy la không dám nói, nói ra sợ thầy hết thương. Mình thì muốn nhận để thay cho bạn mình vì mình tập đời sống vị tha mà. Nhưng nếu nhận, là mình nói dối nên mình sẽ xử lý cách này.
Mình nghĩ trong đầu thế này: Thật ra việc mà người kia làm đổ bể có liên quan tới mình, vì lúc đó mình cũng đứng gần đó, mà mình đã sơ ý không nhích cái ly đó vô một chút. Mình đã hơi thờ ơ nên trách nhiệm này có phần của mình ở trong đó chứ không phải không. Thôi thì một phần trách nhiệm đó mình nhận được, mới thưa thầy: “Thưa thầy, con có làm bể cái ly này”. Tức là mình nói mình có phần đó. “Con có làm bể cái ly này”, thế là ông thầy ổng đập cho vài cây, la cho vài câu xong là mình đi dọn cái ly. Thế là mình nhận cái tội cho bạn mình mà không mắc tội nói dối, vì mình nghĩ rằng mình có liên đới trong đó. Không nói dối, mà nhận được tội thay cho bạn mình.
Với từng chút từng chút trong cuộc sống như vậy, trước nhiều điều phức tạp mà ta tập sống đời vị tha quả là không đơn giản. Những lúc khó như vậy, ta phải hết sức khôn khéo mới giữ cho được vẹn toàn nhiều mặt.
Hoặc là mình chiến thắng sự lười biếng. Tuy lười biếng không thành tội lắm nhưng làm cho mọi thứ đều trì trệ, đen tối và suy tàn. Mình không gắng đi chùa, không gắng lễ Phật, công đức mình mất dần. Không gắng ngồi thiền, tâm linh mình không tăng tiến. Không siêng giúp người, phước mình từ từ hết sạch. Không ráng đem giáo lý đến với người, thì Phật Pháp từ từ suy tàn. Lười biếng thoạt nghe không làm thành một cái tội nhưng mà là tội, nên cần phải quyết tâm chiến thắng cái lười biếng trong lòng mình.
Mình đang đạp xe qua đường, thấy có cục gạch, mình lách cục gạch mình đi luôn. Đó là lười biếng. Lát nữa sẽ có người u đầu sứt trán vì cục đá mình không chịu lượm trước đó. Thấy là không tội mà làm thành cái tội. Chiến thắng lười biếng mình dễ không? Khó đó.
Rồi chiến thắng những tâm lý đố kỵ, thấy ai thành công mình ghét. Chiến thắng tâm lý tham vọng, lúc nào cũng muốn làm cha thiên hạ. Chiến thắng tâm lý thù dai, ai làm gì mình mích lòng, ghét người ta suốt đời. Chiến thắng cái tật hay nói xấu người khác. Chiến thắng cái tật kiêu ngạo thấy mình hơn người. Chiến thắng cái tật khoe khoang, làm gì được chút nổ rân trời rân đất hơn pháo tết nữa. Chiến thắng cái tật tự mãn nửa chừng, mới vừa tốt tốt cái thấy mình ngon lành trong khi biết đường đi còn rất là xa, sự thành công trọn vẹn còn rất là khó…
Chiến thắng những tâm lý thầy vừa nói như ích kỷ, đố kỵ, tham vọng, thù dai, nói xấu, kiêu ngạo, khoe khoang, tự mãn không dễ chút nào. Đó mới là những kẻ thù nguy hiểm của ta.
Ví dụ bây giờ, người ta nói mình thế này: “Ủa, sao lúc này sao chị xấu quá vậy?”, thì lúc đó mình mới trả lời một câu: “Tại em giống chị”, tức là mình nói lại người kia cũng xấu. Mình nói một câu vậy là mình thắng người ta phải không? Đó là thắng người đó. Thắng người. Mà Đức Phật nói thắng người không ngon bằng thắng mình. Làm sao mà người ta nói mình “xấu quá vậy”, mình không giận, không phản ứng lại, không chê lại, không nói xỏ lại mà vui vẻ nhận lời nói xấu của người ta để mình thắng cái tâm giận của mình, tâm nhỏ nhặt của mình. Cái thắng đó mới ngon lành. Mỉm cười nói: “Dạ, lúc này chắc em tu dở. Cám ơn chị, em sẽ ráng tu”. Nói được câu đó là mình thắng mình, còn mình nói xỏ người ta lại một câu “Tại em giống chị” thì mình thắng người ta, nhưng chiến thắng đó không oanh liệt.
Rồi trong khi ngồi thiền, vọng tưởng cứ chập chùng, chập chùng cho ta không tu tốt được mà một ngày nào đó, với sự kiên trì ta vượt thắng được vọng tưởng, đó cũng là chiến công oanh liệt. Khi vọng tưởng lắng rồi thì ảo giác bắt đầu xuất hiện, ta thấy hào quang, ta thấy Chư Thiên và ta cũng phải vượt qua điều đó vì điều đó rất hấp dẫn trong thiền định. Rồi đến khi thần thông hiện ra, ta vứt bỏ thần thông không dùng đến luôn vì dùng thần thong, bản ngã tái trở lại làm ta ngã xuống liền, bỏ thần thông cũng là một chiến công cực kỳ oanh liệt, vì khi có thần thông thì thường ai cũng dùng đến, ai cũng đem ra khoe. Vì vậy, chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất.
Tuy nhiên, câu nói này cũng mang tính chất tương đối, vì nếu ngày nào đó, đất nước ta lâm nguy, đạo pháp ta lâm nguy, mà ta cứ nghĩ “Thôi ta cứ chiến thắng mình đã”, không lo bảo vệ đất nước mình, đạo pháp mình thì ta lại mang tội. Lúc này, cần phải bảo vệ đất nước, bảo vệ đạo pháp.
Giờ ta nghe một bài kệ khác:
“Thắng mình và thắng người
Thắng mình tốt đẹp hơn
Ai chiến thắng chính mình
Nội tâm luôn an tịnh”

Câu này rất giống bài trước nhưng chuyện tích thì hơi khác
“Dù Thiên Thần, Thát Bà
Ma vương hay Phạm Thiên
Không thể làm gì được
Người tự thắng như thế”

Người tự chiến thắng mình rồi thì không ai có thể chiến thắng mình được nữa.
Bài kệ này có chuyện tích ngắn ngắn thế này: Ở gần Kỳ Viên, có vị Bà la môn, ông này có tật hay triết lý. Khi nghe mọi người khen Phật, ông cũng hay đi dò nghe Phật nói những gì. Phật nói: “Người tu tốt sẽ được đạo quả thế này, được đạo quả thế kia, được bao nhiêu là điều lợi ích”. Ông ngồi suy nghĩ “Phật chỉ nói toàn những điều lợi ích, nhưng trên cuộc đời này còn nhiều thứ bất lợi mà không nghe Phật nói, hay ta đến ta hỏi thử, có thể Phật nói những điều có lợi để dụ người ta đến với đạo nên không biết những điều bất lợi”. Ông đã chủ quan thôi vì việc gì mà Phật không biết được! Ông đến hỏi Phật: “Thưa Ngài! Tôi nghĩ rằng Ngài chỉ nói những điều có lợi, tu được lợi này, lợi kia, tôi không nghĩ rằng Ngài nói những điều bất lợi, trên đời này còn nhiều điều bất lợi”. Đức Phật nói: “Có những điều bất lợi thế này:
“Thứ nhất là ngủ dậy muộn
Thứ hai là lười biếng
Thứ ba là ánh trăng soi
Thứ tư là giàu sang mãi
Thứ năm là thích đi du lịch hoài
Và thứ sáu là ngoại tình”

Những cái như ngủ dậy muộn, lười biếng và ngoại tình thì mình dễ hiểu, nhưng có 3 cái làm mình hơi thắc mắc mà Phật nói bất lợi đó là ánh trăng soi, giàu sang mãi, và thích đi du lịch.
Tại sao nói ánh trăng soi là bất lợi? Vì người Ấn Độ thời xưa không có đèn điện như mình bây giờ, đêm xuống, người ta đi ngủ để dành sức khỏe hôm sau ra đồng áng làm việc tiếp. Khi đêm xuống, cuộc sống dừng lại hết, người ta đi ngủ sớm thì ánh trăng soi không có lợi cho ai hết.
Còn về giàu sang mãi? Điều độc đáo mà Phật nói giàu sang mãi là một điều bất lợi. Điều này cực kỳ hay. Người mà giàu hoài, giàu từ đời cha sang đời sang đời con, đời cháu thì rõ ràng là một bất lợi lớn, bởi vì mình không hiểu rõ nỗi khổ của người nghèo, bản ngã mình sẽ tăng lên cao, coi thường mọi người. Và chính vì bản ngã tăng lên cao, xem thường người khác là điều khủng khiếp, nhanh chóng đưa mình xuống địa ngục. Vì vậy giàu sang mãi là một điều bất lợi! Cho nên ai là giàu sang thì xin hãy cư xử như một người nghèo, mới giữ được cái Đức của mình bền bỉ, còn mình giàu sang rồi mà cứ cư xử như một người giàu sang, ăn cơm phải có người cung phụng, bước ra là phải có xe hơi, ăn trên ngồi trước, mặc đồ đẹp… Đức của mình sẽ sớm mất đi. Cho nên khôn ngoan nhất là nếu mình có được Nghiệp giàu sang thì hãy cư xử như một người nghèo. Nghĩa là mình tìm việc tay chân gì mà làm, như quét đường, nhặt rác, đi về miền quê đắp đường,… làm những điều như một người hèn mọn, mặc đồ bình thường, không mặc đồ hàng hiệu, gặp ai cũng tôn trọng, cũng cung kính dù là với một người nghèo trong xóm.
Ví dụ có bà già trong làng rất nghèo, lâu lâu con cháu mới mang tiền về cho bà, nhưng khi gặp bà ấy, mình cũng phải khoanh tay, cúi chào cung kính như mình là con cháu của bà. Nếu mình cư xử được như vậy, Đức của mình lớn hoài và không bị mắc lỗi.
Một điều bất lợi nữa Phật nói là thích đi du lịch hoài! Vì sao? Vì đi du lịch nhiều, mất thời gian, nên mình cũng bị mất phước, chứ không phải “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” đâu, đi hoài mất phước hết.
Ông khen Phật nói sáu điều bất lợi hay, Phật mới hỏi ông làm nghề gì, ông mới nói ông làm nghề đánh bài. Đọc bài này, ta mới phát hiện ngày xưa bên Ấn độ cũng có đánh bài, mà ông này là giai cấp Bà la môn mà làm nghề đánh bài. Vậy ta hiểu thế này: giai cấp là một chuyện mà nghề nghiệp là một chuyện khác. Ông này sinh ra trong giai cấp Bà la môn, nhưng không phải tất cả những người Bà la môn đều làm giáo sĩ, họ cũng làm đủ thứ nghề trong đời này kể cả nghề đánh bạc như ông này.
Đức Phật mới hỏi: “Với nghề đánh bạc này ông luôn luôn thắng hay sao?”. Ổng mới trả lời rằng: “Thưa Ngài, với nghề đánh bạc này có khi tôi thắng, có khi tôi thua, người khác thắng”. Đức Phật mới nói: “Khi ông thắng thì ông vui, người khác thắng thì người đó vui. Việc mình thắng người không hay, nếu mình chiến thắng chính mình, mới là hay”. Người thắng được mình mới là người vĩ đại, người đã chiến thắng mình rồi, từ trên trời đến cõi ma, không ai xâm phạm đến mình được nữa. Từ chuyện tích này mà có bài kệ như vậy.
Qua bài này, thầy nhắc lại hai điều làm ta yếu đuối: điều thứ 1 là cái ta muốn, điều thứ 2 là cái ta sợ.
Một người nào đó muốn khống chế ta họ thường điều tra xem ta sợ điều gì, tâm lý ta muốn điều gì. Họ điều tra biết ta như thế nào, họ tấn công vào 2 điều đó làm cho ta chịu thua liền. Vì vậy, là đệ tử Phật, tuy sống trong đời mình không cần phải làm anh hung, nhưng tu làm sao để không còn muốn điều gì và không còn sợ điều gì. Được như vậy, không còn ai thắng nổi mình nữa, vì mình đã chiến thắng chính cái ngã của mình, vượt qua cái muốn, vượt qua cái sợ.
Ở đây, mình muốn điều gì? – Muốn đẹp, muốn giàu.
Họ sẽ lấy những thứ đó ra dụ mình. Chẳng hạn, họ nói “tu theo họ, trong 3 tháng, họ sẽ làm cho mình đẹp lên” hoặc “nghe lời họ ra lệnh, họ sẽ giúp cho mình giàu lên”. Đánh đúng vào cái muốn của mình rồi, mình sẽ nghe theo liền!
Và mình sợ điều gì? – Mình sợ chết! Khi người ta kề dao vào cổ mình, nói: “không theo họ thì sẽ phải chết” nhưng nếu mình không sợ và nói: “có giết thì cứ giết đi”, sẽ không ai xâm phạm mình được nữa, mình mới nói tiếp “ai muốn nói chuyện gì với mình, chỉ được đem chính nghĩa đạo lý ra mà nói, đừng bày đặt hù dọa”, mình không sợ.
Ta nghe bài kệ khác:
“Mỗi tháng tốn nghìn vàng
Hoặc tế lễ trăm năm
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”

Hoặc 1 bài kệ khác:
“Dù suốt cả trăm năm
Thờ lửa trong rừng sâu
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”

Sở dĩ Phật nói hai bài kệ này là vì có hai câu chuyện về hai người, một là chú của Ngài Xá Lợi Phất, người còn lại là cháu của Ngài Xá Lợi Phất.
Ngài Xá Lợi Phất có cái hay là Ngài Phật hóa gia đình rất là quyết liệt. Khi Ngài đắc đạo rồi, Ngài cứ về nhà kéo từng người, từng người theo Phật. Ngài có một người chú rất giàu. Ông chú này theo giáo phái Ni kiền tử, mỗi tháng ông chú bỏ rất nhiều tiền cúng dường những vị bên giáo phái đó. Ngài Xá Lợi Phất biết chú mình làm một điều không phải, nhưng ở cương vị một người cháu mà nói ra thì không hay, nên Ngài rủ chú mình đi đến gặp Đức Phật.
Đức Phật hỏi: “Thường thường ông làm hạnh nghiệp gì?”. Ông này trả lời: “Thưa Ngài, mỗi tháng con bỏ ra rất nhiều tiền để cúng dường cho những vị tu hành bên Ni kiền tử”. Đức Phật mới nói bài kệ:
“Mỗi tháng tốn nghìn vàng
Hoặc tế lễ trăm năm
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”

Các bậc tự thắng là đệ tử Phật, là những người vô ngã, những bậc đó mới đáng cho ta cúng dường. Nếu ta tốn tiền cho những người không phải tự thắng mình, phước đó không nhiều.
Khi ta nghe câu chuyện ta sẽ hiểu thế này: nếu giáo phái kia nghe được, họ sẽ rất tức giận vì lời khuyên này giống như Ngài phá bỏ nồi cơm của họ, chặn đứng nguồn kinh phí tài trợ của họ. Vì vậy, Đức Phật thời đó bị công kích rất dữ dội. Bây giờ, trong kinh điển ghi lại, ta chỉ còn nghe một số trường hợp công kích Đức Phật. Ví dụ như: có một bà độn bụng, phao tin có bầu với Đức Phật hoặc có xác chết một cô gái chôn trong Kỳ Viên được đào lên và Đức Phật bị vu khống là đã dan díu với cô gái này rồi giết cô để thủ tiêu…
Ông chú của Ngài Xá Lợi Phất sau khi nghe Đức Phật thuyết phục, không còn cúng dường bên Ni kiền tử nữa. Và bên kia rất tức giận, cho nên phong trào công kích, nói xấu Đức Phật tràn ngập và kéo dài.
Còn người cháu của Ngài Xá Lợi Phất lại có một tín ngưỡng khác là đốt lửa trong rừng sâu. Vì nói trong rừng sâu không một bóng người nào mới linh thiêng, và nơi ngọn lửa đang bùng cháy đó, người này đổ dầu thơm vào để cho dầu thơm đó mang hương thơm lên cõi trời, mang theo ước nguyện thế này, thế kia. Ngài Xá Lợi Phất cũng đưa người cháu này về gặp Đức Phật và Phật cũng nói như vậy:
“Dù suốt cả trăm năm
Thờ lửa trong rừng sâu
Chẳng bằng có một lần
Cúng dường bậc tự thắng”
Qua câu chuyện, ta mới thấy một điều như thế này: tôn giáo nào cũng giống nhau là đều hứa hẹn một cái gì cao đẹp ở phía sau và cũng yêu cầu sự hiến cúng. Tôn giáo nào cũng bảo nếu theo tôn giáo tôi, bạn sẽ được cái này, cái kia, trong thời gian được cái này, cái kia, bạn cúng cho tôi cái này…
Người làm chính trị cũng nói: Khi tôi lên làm tổng thống, tôi sẽ làm thế này, thế kia hay thậm chí còn hứa riêng “tôi lên làm tổng thống, sẽ cho ông làm bộ trưởng liền; nhưng trước khi tôi làm tổng thống, anh lo tiền cho tui để ứng cử, bầu cử”…
Chính trị và tôn giáo đều giống nhau ở sự hứa hẹn và sự đóng góp cũng giống hệt! Bây giờ, giữa những tôn giáo giống nhau như vậy, ta phải chắt lọc ra được những gì được xem là chân chính để ta đem cả cuộc đời mình đi theo, mà không lầm đường, không uổng phí, chứ tôn giáo nào cũng giống nhau, cũng hứa hẹn cả!
Khi ta theo đạo Phật, ta cũng được hứa hẹn sẽ giải thoát giác ngộ, nhưng cái hứa trong đạo Phật là hứa mà không hứa. Vì sao? Vì hứa giải thoát giác ngộ là gì, có ai biết không? Nên đạo Phật hứa rất kỳ lạ, hứa mà như không hứa! Hoặc trong đạo Phật nói cái gọi là Vô Ngã, ta đau khổ vì ta có bản ngã, ta gây tạo tội lỗi vì ta có bản ngã, ta tu theo đạo Phật, ta không còn bản ngã nữa. Như vậy, đạo Phật hứa ta một điều không có gì trong khi các tôn giáo khác đều hứa một cái gì có!
Ví dụ như bên Hồi giáo hứa “khi một chiến binh Hồi giáo ra trận không trở về được mà chết vì đạo thì Ala sẽ giữ cho các ngươi một chỗ trên thiên đường, nơi đó có sẵn 74 trinh nữ chưa có người đàn ông nào đụng đến da thịt, đang chờ người đó”. Điều này dễ hiểu, vì đó là điều của trần gian được đem lên trên thiên đường để ở đó, nên người ta dễ cảm nhận, chấp nhận mang bom lao vô chỗ đông người, chịu chết, mà không cần biết mình kéo theo bao nhiêu người khác cùng chết theo mình. Có phải họ lên cõi trời có 74 trinh nữ có chờ ở trên đó hay không, điều này, ta không biết nhưng ta chỉ biết một điều là sau đó, có rất nhiều tiếng khóc than, những người vô tội đã chết đầy, cơ thể tan nát, máu me tung tóe… Vậy tại sao đạo Phật hứa với ta một cái không có gì, không còn là ta mà ta lại đi theo?
“Không còn là chính mình
Người đã là tất cả”

Vì sao? Ta đi theo đạo mà hứa với ta không có gì bởi vì ta thuộc một trong hai hạng người.
Một, ta là người cực kỳ trí tuệ, ta tin rằng nơi cái không còn là ta nữa, mới thật sự là bến bờ hạnh phúc, an vui, giải thoát. Ta tin điều đó, trong từng giờ từng phút ta đi trên con đường đó, ta thấy cái đúng hiện ra trong từng bước chân ta đi, mỗi một lời ta nói đúng, ta thấy an lành, mỗi một việc ta làm ta thấy an lành, và ta đi dần đến chỗ không còn là ta nữa, ta thấy đây là lẽ phải, là chân lý.
Còn nếu ta không thấy những điều đó mà ta vẫn đi theo thì ta thuộc dạng khùng khùng, vì hứa cái không có gì mà cũng đi theo.
Đó là điều khác nhau giữa đạo Phật và các tôn giáo khác!
Ở đây, Đức Phật nói với bà con những người Xá Lợi Phất là cúng chỗ đó không nên, mà cúng dường những bậc tự thắng như đệ tử của Ngài mới là đáng quý. Thoạt nghe, mình tưởng như Phật cũng hơn thua với các đạo khác, nhưng tâm ý của Phật là khen ngợi ngài Xá Lợi Phất với thân quyến ngài Xá Lợi Phất, tức là những người này có được một người bà con vĩ đại như vậy mà không biết, cứ đi cúng ở đâu mà không quan tâm đến vị Thánh bậc nhất trong hàng đệ tử Phật. Ý của Phật nói là để tôn vinh Ngài Xá Lợi Phất trước bà con của ngài để những người này trở về, sẽ nói lại “trong bà con chúng ta có một bậc thượng thủ tướng quân siêu việt”. Chúng ta nên hiểu như vậy.
Ta nghe bài kệ cuối của kỳ này:
“Suốt năm cúng tế vật
Để cầu phước ở đời
Không bằng một phần nhỏ
Kính lễ bậc chính trực”

Bài kệ này cũng giống bài kệ trên, nhưng câu chuyện hơi khác một chút. Lần này ngài Xá Lợi Phất, sau khi độ hết bà con rồi, chuyển sang độ bạn bè của mình. Người bạn này cứ mỗi tháng giết một con vật để cúng tế thần linh. Ngài Xá Lợi Phất cũng đưa bạn của ngài đến gặp Phật, sau khi nghe ông khoe công đức là mỗi tháng cắt cổ một con vật cho đổ máu ra để cúng lên trên thần linh. Đức Phật nghe vậy mới rầy:
“Suốt năm cúng tế vật
Để cầu phước ở đời
Không bằng một phần nhỏ
Kính lễ bậc chính trực”
Điều này ta nghe cũng dễ hiểu, cũng giống như lúc nãy thầy vừa nói, có một loại tôn giáo xem sự giết hại như là một điều tốt, họ tạo nên một tà kiến nguy hiểm vào trong lòng chúng sinh. Nếu ai nghe như vậy, bị nhiễm ác kiến đó, rồi đi giết hại chúng sinh lại tự cho là điều tốt. Đây là điều hoàn toàn ngược với chân lý. Đây là Tà đạo, làm chúng sinh đau khổ lại tự cho là điều tốt.
Nhân Quả không cho phép ta làm điều này! Đây chính là điểm khác nhau giữa Đạo Phật và các tôn giáo khác. Khi nào ta đem an vui, lợi ích lại cho chúng sinh, ta sẽ được an vui, hạnh phúc trở lại; còn nếu ta đem đau khổ đến cho chúng sinh thì chắc chắn rằng chỉ có đau khổ chờ đợi ta mà thôi. Đó là điều khẳng định!
Tuy nhiên, cũng có những giáo sĩ, những giáo lý dám lật ngược vấn đề, họ nói gây đau khổ cho chúng sinh nhưng làm đẹp lòng thần thánh vẫn được phước lành. Đây là một điều gian dối trắng trợn, bẻ ngược vấn đề!
Là đệ tử Phật, ta phải giải thích cho bạn ta nghe khi bạn ta lỡ theo một tà đạo. Ta bắt chước như ngài Xá Lợi Phất giúp bạn thoát khỏi tà kiến khi biết bạn mình rơi vào ác kiến.
Chính vì bạn của ngài Xá Lợi Phất, nghe sự xúi giục của một giáo sĩ nào đó, giết, cắt cổ con vật mỗi tháng để cúng thần thánh mà cho rằng đây mới là phước lành nên Ngài mới đem người kia về, nhờ uy đức Phật hóa độ. Cho nên ngày hôm nay, ta nghe được lời Phật hóa độ này, ta phải trang bị cho chính mình lý luận này để ta giải thích cho bạn bè ta: “Sống trên đời là có Nhân có Quả, ta không thể mong cầu thần thánh bởi một ít lễ vật mọn, một con vịt quay, một nải chuối mà cầu về trúng số bao nhiêu triệu, làm ăn khấm khá quanh năm,… nó không công bằng, không có Nhân Quả”.
Ta kính trọng những bậc thần thánh nhưng ta chỉ cúng tế những vị đó với lòng kính trọng, vì ta tin chắc, ta biết chắc vị này cũng có hiện thực. Ví dụ nói có bà mẫu. Hỏi bà mẫu này lý lịch ở đâu, sinh năm nào, mất năm nào, làm được công hạnh gì ở đời? Ta không biết, chỉ nghe nói bà này ở trên trời, không được sinh ra ở dưới trần gian nhưng thấy nhiều người tin quá nên ta lỡ dại cũng tin theo. Cho nên, trong đạo Phật, khi ta bày tỏ sự kính trọng đối với một vị Thần Thánh, vị đó phải có lý lịch rõ ràng, tức là trong lịch sử người đó đã sinh ra năm nào, mất năm nào, khi còn sống đã làm được điều gì có ích lợi cho quốc gia, cho xã hội, cho dân tộc, cho thế giới thì mới là người cho ta kính trọng. Ta biết rõ, mới tin vị đó với công đức như thế, sau khi chết an trú trong cõi thần linh, và tiếp tục sự linh thiêng, huyền nhiệm, đáng nhận được sự kính trọng của mọi người. Nếu ta không biết lý lịch người đó, ta chỉ tin là người đó linh lắm, chỉ là một niềm tin đầy mê tín, điều đó không phải đúng đạo Phật, phi Nhân Quả, là một ác kiến, tà kiến. Nếu ta cứ đi trên con đường đó, ta dễ gây nên nhiều tội lỗi.
Ví dụ bây giờ có một ông giáo sĩ nào đó đến nói với ta:
– Ngươi hãy giết đủ 10 người ta sẽ phong cho ngươi chức này, và khi chết, ngươi sẽ được lên cõi trời.
Mình ngạc nhiên, mới hỏi:
– Ủa sao kỳ vậy?
Ông giáo sĩ mới nói rằng:
– Tối hôm qua ổng ngủ thấy ông trời xuống nói với ổng như thế”
Và như vậy là mình tin theo và đi giết 10 người.
Hành động như vậy có đúng không? – Sai hoàn toàn! Vì mình có trực tiếp nghe ông trời dạy như thế không? – Không ai trực tiếp nghe ông trời nói hết. Chỉ có ông giáo sĩ đó nói mà thôi. Ông nói lời bậy bạ, xúi giết người, xúi làm hại nhân loại. Khi mình làm như vậy, mình chỉ phục vụ theo ý đồ, sắp xếp của tay giáo sĩ đó, chứ không có ông trời nào trực tiếp dạy mình làm điều xấu xa, ác độc ấy cả.
Nếu như ta điểm lại giáo lý của các tôn giáo từ xưa tới nay, không hề có ai được trực tiếp nghe ông trời nói cái gì, toàn là nghe trung gian giáo sĩ thôi, và qua trung gian các tay giáo sĩ thế này, bao nhiêu điều ác độc đã xảy ra nơi chốn trần gian. Tay giáo sĩ như thế, với ác kiến của mình, với tư kiến riêng tư của mình, với thành kiến méo mó của mình, dám mệnh danh là nghe từ Thượng đế, đã đem đến cho loài người biết bao là giáo điều, bao nhiêu là tín điều cực kỳ độc ác.
Vừa rồi, ở Mumbai Ấn Độ, một nhóm chiến binh nào đó thản nhiên cầm súng xả thẳng vào người ta, cầm súng ria ria ria ria, nhóm người vô tội ngã gục xuống. Họ đặt bom, làm chết mấy trăm người, bị thương cả nghìn người. Người ta là những người hiền lành vô tội, không hề bị tòa án tuyên án về bất cứ tội gì. Người ta đang đi mua sắm, sống cuộc đời bình yên lặng lẽ và hạnh phúc, vì quyền của con người là được hạnh phúc như vậy, được sống như vậy.
Vì vâng lời một giáo sĩ nào đó, cầm súng bắn xối xả cho người ta ngã xuống, thật là phi lý. Chỉ có tay giáo sĩ nào đó nói chứ chẳng ai nghe Thượng Đế sai sử chuyện tàn ác như thế bao giờ.
Sau này, khi ta có gặp bạn bè ta thì hãy nói như thế này “Bạn chỉ nghe lời từ tu sĩ, giáo sĩ của bạn nói. Chưa bao giờ bạn trực tiếp nghe thần thánh. Bạn có bảo đảm là giáo sĩ này nói đúng lời của Thượng Đế nói hay không?”.
Các vị thầy theo đạo Phật không nghe lời Đức Phật nói nhưng cùng nói giống như nhau “Không bao giờ gây đau khổ chúng sinh mà mình gặt hái hạnh phúc được. Chúng ta chỉ đem hạnh phúc đến cho chúng sinh, rồi nhân quả sẽ đem hạnh phúc đến cho ta.”
Những lời công bằng như thế, tốt đẹp như thế, dù chúng ta không được nghe trực tiếp từ Đức Phật, chúng ta cũng biết rằng đây là lẽ phải, là chân lý.
Từ lâu ta thường nghe câu này “Đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành”. Nhưng từ nay câu đó xưa rồi vì không phải là đạo nào cũng tốt.
Hôm trước, cách đây không bao lâu, có một ông người Đức lên trên núi chơi. Hôm đó, thầy có nói chuyện với ông người Đức này. Ông nói rằng, ông đi nghiên cứu qua nhiều tôn giáo, làm ăn qua nhiều quốc gia, bây giờ về Việt Nam đầu tư một ngành gì đó. Ông cho biết ông không tin nhiều vào tôn giáo lắm, vì ông chỉ tin vào những gì mắt thấy, tai nghe. Ví dụ như đạo Phật nói nhân quả, luân hồi, ông không tin, vì không thấy. Cũng giống như một số đạo nói Thượng Đế, ông không tin, vì ông không thấy.
Lúc đó thầy mới nói thế này: “Có những điều anh không thể nhìn bằng mắt nhưng mà nó vẫn có mặt, vẫn hiện hữu. Ví dụ như sóng điện từ trong không gian. Mở ti vi lên ta thấy là nhờ sóng điện từ lan trong không gian mà ta bắt được. Mắt anh đâu có thấy, nhưng mà nó hiện hữu. Hoặc là những hoạt động của một microchip trong máy tính điện tử, hoạt động đó cực kỳ phức tạp, anh không thấy được nhưng nó tạo thành bao nhiêu điều kỳ diệu cho cuộc đời ngày hôm nay. Nó là trí tuệ nhân tạo. Nên có những điều anh chỉ nhìn bằng trí tuệ, chứ không thể nhìn bằng mắt được. You must see by your wisdom, not by your eyes”.
Ông ngồi, gật gù một chút. Mình đem khoa học ứng dụng vào trong đạo học, sẽ thuyết phục được những người đi vào cực đoan không tin gì hết.
Có hai cực đoan: không tin gì hết và cái gì cũng tin không cần suy xét.
May mắn giữa hai cực đoan đó, đạo Phật cho ta một trung đạo, một trung đạo là ta tin. Chữ tin ở đây chúng ta không dùng chữ tin – believe – tin một cách không suy xét, mà chữ tin ở đây là accept – sự chấp nhận. Ta chấp nhận một điều gì sau khi ta đã suy xét thấy rất là hợp lý, ta đã kiểm nghiệm bằng tất cả lương tâm, ta thấy điều đó hợp lý, chứ không phải ta believe without wisdom, tin không có trí tuệ. Ta chỉ chấp nhận một giáo điều sau khi ta đã suy xét rất kỹ.
Ví dụ như luật Nhân Quả là sự công bằng, đem lại đạo đức cho con người, làm cho loài người ổn định, ta chấp nhận. Phật cho ta một giáo lý mà ta được quyền suy xét kỷ lưỡng trước khi ta chấp nhận. Vì vậy ta yên tâm đi theo con đường mà Phật đã dạy, cũng giống như ta đã cho rằng mình may mắn khi ta được làm đệ tử của Đức Phật. Giữa thế giới rối ren nhiễu nhương, phức tạp, hỗn loạn, mê mờ này, bao nhiêu tín điều, giáo điều cạnh tranh như thế này, ta có một nơi chốn bình yên, có một con đường sáng để ta vững chân ta bước đi từng ngày, ta an lòng sống cuộc sống hạnh phúc này. Dù phải đi qua rất nhiều khó khăn vất vả nhưng ta có ánh sáng, có trí tuệ trong tim ta, ta có Đức Phật trên đầu ta, trong lòng ta. Đức Phật cho ta một giáo lý đi đến một nơi không còn ta nữa. Ta đi trên con đường mà ta biết đó là con đường của nhân quả, của sự công bằng.
Hôm nay, ta có một câu hỏi để ta hỏi các bạn của ta: “Bạn nghe những điều này trực tiếp từ thượng đế hay qua trung gian giáo sĩ?” Và một lời khuyên các bạn của ta: “Hãy suy nghĩ lại (think over) trước khi bạn đem đau khổ đến cho nhiều người khác.” Vì hôm nay, sau vụ thảm sát ở Mumbai, đã đến lúc thế giới bị đặt trước một thử thách khốc liệt, một câu hỏi khốc liệt: “Tôn giáo nào là chân chính nhất?”.
Thầy cảm ơn mọi người đã lắng nghe. Xin chúc cho mọi người một mùa xuân hạnh phúc, an vui và thăng tiến.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                                                            THÍCH CHÂN QUANG (Chùa Phật Quang)

MỘT SỐ BÀI GIẢNG AUDIO CỦA TT THÍCH CHÂN QUANG

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

NỘI TÂM VÀ NGHIỆP BÁO – TT THÍCH CHÂN QUANG

NI TÂM VÀ NGHIP BÁO

                                                                            THÍCH CHÂN QUANG

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Hôm nay nhân ngày hiệp kị chư vị tổ sư tiền bối của tổ đình Phước Lâm. Kính thưa chư vị tôn túc đang ngồi phía sau quan sát, con xin phép chư vị cho con trao đổi với quí Phật tử một vài đạo lí đơn sơ, căn bản để các Phật tử có thêm hành trang để tu học.

Bây giờ Thầy hỏi quí Phật tử: “Cái gì là cái quí trên đời này?!”

Ví dụ khi chúng ta nghe một bài hát trữ tình, hay một bài thơ tình, chúng ta sẽ thấy người thi sĩ thường ca ngợi người yêu của họ ở điểm nào? Thường ca ngợi sắc đẹp.

Tóc em dài em cài hoa thiên lý, miệng em cười anh để ý anh thương… Tức là hình dáng bên ngoài.

Khi trưởng thành, người ta yêu thương nhau thì điểm người ta quí chính là hình thức bên ngoài. Nhưng khi sống lâu với nhau thì bắt đầu người ta thấy hình thức hết quan trọng mà tiền mới quan trọng. Vì có tiền mới có thể mua gạo, mua thức ăn, xây nhà,…

Có một cô gái lấy được một ông chồng rất đẹp trai nhưng sau này khi tâm sự với người bạn gái của mình rằng cái đẹp của chồng không tạo ra cơm được mà chỉ làm cô bận tâm ghen. Lúc ban đầu thì mừng vì lấy được một ông chồng đẹp nhưng khi lấy ông về rồi, có nhiều người đem lòng yêu ông. Thế là đau khổ, ghen tức. Nghĩa là cái đẹp đó chẳng làm được gì hết, chỉ thấy tiền quan trọng hơn. Tài sản là cái quan trọng thứ hai.

Sống trên đời này cái gì quí nữa? Mới ban đầu là hình thức rồi đến sức khỏe, tiền bạc, bản lĩnh, tài năng,… Đó là những cái quí trên đời.

Và người có hiểu biết lại quí nhau về tâm hồn.

Ví dụ khi gặp một người bạn, mình thương họ. Hỏi thương vì cái gì? Nếu trả lời: “Tôi thương vì đẹp trai”. Tình bạn như thế sẽ không bền vì sắc đẹp sẽ phôi pha theo thời gian.

Nếu nói: “Tôi thương vì anh ấy đàn hay, hát giỏi”. Chẳng lẽ hôm nào anh ấy té lọi tay hết đàn hay miệng bị đớ hết hát được thì hết thương sao? Nghĩa là đàn hay, hát giỏi cũng mong manh và vô thường.

Nếu nói: “Tôi thương vì anh giàu”, chẳng lẽ đến khi nghèo, lại hết thương nhau?

Nên mình nói mình thương ai vì tâm hồn người đó đẹp, mới là lí do chính đáng nhất, đẹp nhất.

Cũng vậy, một người con gái, lớn lên đến khi chọn vợ gả chồng được hỏi: “Bạn thương thằng đó ở chỗ nào?” Nếu cô gái nói thương vì tâm hồn của người đó đẹp, vì ảnh mộ đạo, ảnh yêu kính Phật pháp vì ảnh hay đi chùa Phước Lâm, vì ảnh suýt tí nữa là xuất gia… thì cái thương là chính đáng. Chứ thương một người vì có râu quai nón, có một ruồi duyên là thua, vì những cái đó không bền, không chính đáng.

Cho nên con người chấp nhận tâm hồn là cái đáng quí nhất hơn bất cứ gì trên cuộc đời này. Nhà cửa, tài sản, danh vọng, sắc đẹp đều là chuyện phù phiếm. Cái mà chúng ta phải chú ý, phải xây dựng, phải trân trọng, phải giữ gìn chính là tâm hồn của mình.

Nhưng không phải ai cũng có một nội tâm đẹp. Trong chúng ta còn có rất nhiều người ẩn chứa trong nội tâm của mình những điều không tốt. Và chúng ta không bao giờ chấp nhận để cho nội tâm chúng ta còn nhiều góc tối, còn nhiều bóng đen trong đó. Vì sao? Vì các góc tối, các bóng đen trong nội tâm chúng ta, sẽ dắt ta, đưa ta đi về nơi đọa lạc, nơi đau khổ. Cho nên chúng ta không bao giờ thỏa mãn với nội tâm đang có của mình. Ai mà nghĩ: “Tôi tu như vậy là được rồi, tâm tôi như vậy là được rồi”. Thì người đó hiểu nhầm, chủ quan. Theo lời Phật dạy, người này rơi vào ngu si bởi vì cứ tưởng tâm mình như vậy là tốt, là được rồi.

Tâm ai mới là được rồi? Chỉ có tâm Alahán và tâm Phật thôi. Ngoài Phật và Alahán ra, chưa có tâm ai gọi là được hết. Nếu lỡ một lúc nào, ai đó nghĩ trong tâm mình rằng: “Tâm mình như vậy là được rồi, vì mình biết đi chùa, không hại ai. Như vậy là được rồi”. Đó là một điều sai lầm. Chưa có được gì hết.

Vì vậy, để có thể xây dựng một nội tâm tốt lành, để cho nội tâm tốt lành đó đưa cuộc đời chúng ta về nơi cao cả, trong sáng thì phải biết về nó và biết phương pháp. Vì vậy hôm nay chúng ta nói với nhau đề tài là: “NỘI TÂM VÀ NGHIỆP BÁO”. Đây là đề tài chúng ta trao đổi với nhau ngày hôm nay.

Tâm là khởi điểm của nghiệp mà tâm cũng là kết cuộc của nghiệp. Tâm cũng là khởi điểm và cũng là kết cuộc. Có nghĩa là sao?

–              Chính tâm ta nghĩ ra cái gì đó rồi, chúng ta mới làm; khi ta làm, việc ta làm sẽ thành cái nghiệp; và nghiệp đó đưa chúng ta đến quả báo và quả báo đó lại hình thành trở lại cho chúng ta một nội tâm khác. Rất là lạ. Cho nên, khi một người tâm xấu tạo được một nghiệp tốt, những quả báo lành của họ đạt được giúp cho tâm họ bỗng nhiên chuyển từ xấu thành tốt. Ngược lại cũng vậy, nhiều khi tâm ta tốt, nhưng chúng ta lỡ gây nghiệp xấu, hình thành quả báo xấu và chính quả báo xấu đó khiến cho tâm ta xấu thêm một chút.

Đó là lý do ta nói tâm là khởi điểm của nghiệp mà cũng là kết cuộc của nghiệp.

Ví dụ như, hôm nay chúng ta đi đến chùa Phước lâm đây, chúng ta thấy con đường vào chùa như thế nào? May mắn là hôm nay trời nắng, nếu trời mưa sẽ thê thảm hơn nữa! Đường vào chùa hẹp, đường đất chưa tráng nhựa và có nhiều ổ gà. Ban đêm, không thấy đường đi, rất dễ bị té. Nếu té ở trên đường không sao, ngộ nhỡ té luôn xuống sông thì quả thật không may!

Có người khi đi vào chùa thấy đường khó khăn như vậy, trong đầu nghĩ: “Ước gì con đường bằng phẳng để cho Phật tử đi chùa dễ dàng.”

Người nghĩ như vậy có khi họ chưa phải là người tốt, cũng còn sân si, hơn thua, ích kỷ nhưng hôm nay, nhờ đi chùa nên thiện tâm mở ra một chút, và khởi nên ý niệm lành là ước gì con đường đó tốt hơn.

Nhưng ngồi ước như vậy con đường có tốt hơn không? Không. Và lần sau, đi chùa, con đường đâu còn nguyên đấy. Thế là người này bắt tay làm, tự mình lấy cuốc sửa con đường lại. Chỗ nào gồ ghề thì cứ ban ra cho bằng. Và kiếm tiền mua đá, cát. Chỗ nào lầy lội quá thì đổ đá, đổ cát vào để cho bớt sình. Từ ý niệm muốn cho con đường nó tốt dẫn đến hành động là cầm cuốc đi đấp đường. Và người thực hiện được việc đó rồi, việc làm trở thành phước in trong nhân quả luân hồi của mình.

Quả báo vẫn chưa hiện ra liền nhưng phước đã có rồi. Vì đã tạo được nghiệp lành cho nên phước dính vào cuộc đời mình, dính vào nhân quả luân hồi của mình và không biết khi nào trổ ra. Có khi ngay kiếp này, quả báo đó trổ ra. Có khi khoảng mười năm sau, người này tự nhiên gặp nhiều may mắn, có xe, làm ăn được thuận lợi…

Nhưng có người bị nghiệp che nặng quá, làm hết con đường này, bắt hết cái cầu kia mà đến khi chết cuộc đời vẫn đầy khổ sở. Lúc chết, người này vẫn tỉnh táo nhưng chết trong nghèo khổ vì nghiệp đời xưa. Và những nghiệp lành do mình đấp đường, bắt cầu vẫn còn nguyên đó. Mãi lúc đầu thai kiếp khác, lập tức được sinh vào nhà giàu, được người ta bồng bế, chìu chuộng, đẩy xe đi, đi đâu cũng có xe đưa xe rước… Cái phước người này đã đấp đường bắt cầu trong kiếp này không hưởng ngay trong kiếp này; phải qua kiếp sau mới hưởng. Đó cũng là tâm khởi điểm của nghiệp và tạo nghiệp rồi mới đưa đến quả báo. Ban đầu, người đó muốn làm đường; sau đó, ý muốn đưa đến hành động đấp đường, bắt cầu cả đời và đưa tới cái phước và quả báo mới bắt đầu hiện ra. Như vậy, ta có thể nói tâm là khởi điểm của nghiệp.

Hoặc là chúng ta thấy trong xóm mình, có một gia đình, khi người bố chết đi rồi, những người con giành chia gia tài, cầm dao rượt nhau chạy vòng vòng khắp xóm, suýt nữa gây án mạng nếu mọi người không chận lại kịp. Lúc đó, chúng ta mới suy nghĩ: “Tại sao tình anh em cốt nhục, chung một dòng máu huyết thống như vậy mà chỉ vì một rẻo đất có thể giết nhau, bất chấp cả việc tù tội?! Tại sao lòng người ác độc như vậy?! Trong cuộc sống, ngoài những người trong gia đình này, còn biết bao con người, nếu ai cũng ác độc như vậy thì cuộc sống này quả là cực kỳ đau khổ. Người ác thì chính họ đã bất an rồi, nhưng họ cũng gây khổ và gây bất an cho người khác”.

Cứ nghĩ như vậy, lòng chúng ta khởi lên một ước muốn: muốn làm sao ai cũng đạo đức. Mong rằng trong cuộc đời này ai cũng biết thương nhau, ai cũng sống có đạo đức. Đó mới chỉ là cái muốn thôi, là ý niệm thôi, tâm chỉ mới khởi lên thôi. Niệm của tâm khởi lên là muốn cho ai cũng có đạo đức, ai cũng đều thương nhau. Sau đó, ta mới nghĩ tiếp: “Làm cách nào để gieo rắc đạo đức, thương yêu giữa cuộc đời này?!”.

Trong lúc suy nghĩ như vậy, không biết làm cách nào, ta đi lang thang, cuối cùng đến chùa Phước Lâm, gặp Thượng Tọa trụ trì Thích Minh Trí. Thượng Tọa đem giáo lý của đạo Phật dạy cho. Sau khi người này nhận được giáo lý rồi, đem những giáo lý đó truyền bá trong làng trong xóm làng của mình: “Sống trên đời là có nhân có quả, mình gieo nhân gì mình gặt quả đó. Sống trên đời mình phải biết thương yêu”.

Thương yêu là điều khó vô cùng. Từ lúc biết đạo Phật, chúng ta nghe chữ từ bi ít nhất cả ngàn lần, có đúng không ạ? Nhưng hãy nhìn lại mình đã từ bi được chút nào chưa?! Chưa!

Cho nên ta cứ đem nhân quả nói với mọi người, khuyên con người thương nhau, cứ đem tình thương yêu gieo rắc mãi; như vậy sẽ tạo thành một cái phước. Cái phước đó có thể trong đời này người đó chưa hưởng, nhưng khi chết, chắc chắn người đó lên cõi trời. Thật vậy, những ai cả một đời đem nhân quả và đạo đức reo rắc vào lòng người, khi chết chắc chắn lên cõi trời. Rồi khi mãn kiếp ở cõi trời, người này có duyên hay do phát nguyện sinh xuống lại cõi đời này, chắc chắn người này có tư cách của một bậc Thánh.

Cái nhân đem đạo đức reo rắc cho đời, quả báo sẽ thành một bậc Thánh. Vì vậy, ai muốn làm Thánh thì suốt đời của mình hãy đem thương yêu, đem đạo đức gieo rắc giữa cuộc đời này.

Ví dụ, một người làm nghề chăn nuôi, nuôi heo, nuôi bò, nuôi dê, nuôi cá,… những người chăn nuôi như vậy trong đầu họ muốn cái gì? Muốn con vật mình nuôi đẻ nhiều. Bò đẻ một lần một con thì trách: “ Sao con bò không sanh đôi dùm cho tôi một lúc được hai con?!”.

Với cái tâm muốn cho con bò, con dê hay con heo đẻ cho nhiều đó thì bắt đầu ta nghĩ việc cho thụ tinh nhân tạo cho chúng đẻ nhiều, để ta có lợi nhiều. Và quả báo là như thế nào? Ai biết? Quả báo là chính mình chui vô bụng con bò, con dê đó để sinh ra lại! Nghĩa là nếu ta từng muốn cho chúng đẻ nhiều thì mình sẽ được đầu thai làm con của chúng để  chúng có thể đẻ ra nhiều!!! Mình sẽ bị đọa làm thú và làm giống cái để phải đẻ nhiều. Ý của mình đối với chúng sinh thế nào thì nó sẽ trở lại như vậy. Cho nên, ta nói ý là khởi điểm của nghiệp, rồi từ cái ý đó, chúng ta bắt tay làm và khi ta làm, việc làm sẽ tạo ra quả báo. Đó là ta nói về tâm khởi điểm của nghiệp.

Và tâm cũng là kết quả của nghiệp.

Như vừa nói, chúng ta giúp người, thương người, đắp đường, bắt cầu,… qua kiếp sau khi quả báo hiện ra, nó hiện ra trên rất nhiều phương diện. Chúng ta hãy nhớ, gieo một là hưởng một ngàn. Nhân quả là như vậy, gieo một là hưởng một ngàn, một triệu. Tại vì một nhân không bao giờ ra một quả mà cho ra rất nhiều quả báo.

Từ cái nhân đắp đường, qua kiếp sau người này có đôi chân khỏe mạnh, có phương tiện đi lại, làm việc gì cũng suôn sẽ, may mắn, đi trên đường không bị tai nạn xe, học rất giỏi và thích làm nghề cầu đường. Đặc biệt người này vừa thông minh lại vừa tốt bụng.

Chúng ta thấy quả báo hiện ra từ hoàn cảnh mình sống, từ cơ thể của mình và cả tâm trí. Như về dung mạo, ta sẽ đẹp trai hơn. Ví dụ kiếp trước, mình xấu, mình gieo nhân lành và tuy nhân lành mình gieo là không có ý làm cho đẹp trai. Nhưng khi quả báo lành hiện ra rồi, ta trông cũng đẹp trai hơn.

Một nhân thường cho ra nhiều quả. Quả là hoàn cảnh, dung mạo, sức khỏe, bản lĩnh, trí tuệ và của tâm ý của mình luôn. Cho nên, ta nói một nhân cho ra nhiều quả và trong nhiều quả đó có nội tâm trong đó – một nội tâm mới không còn giống như nội tâm cũ.

Đời trước, khi chúng ta đắp đường, bắt cầu, sự thật tâm ta cũng chưa tốt hết, nhưng đến kiếp sau, khi quả báo trổ ra rồi, tâm ta đẹp ra: ta trở nên tử tế, tốt bụng, hi sinh, tận tụy, chịu khó, sống vì người. Cho nên, chúng ta thấy nội tâm của chúng ta cũng là kết cuộc của nghiệp.

Từ cái tâm chúng ta tạo nghiệp, rồi từ cái nghiệp nó tạo lại cái tâm của chúng ta. Chúng ta nhắc lại, từ cái tâm tạo nghiệp, rồi từ nghiệp nó tạo lại tâm của chúng ta.

Lúc đầu, chúng ta đã đồng ý với nhau tâm hồn là cái quí nhất trên đời. Nếu có ai hỏi: “Anh cần cái gì?”. Chúng ta trả lời: “Tôi không cần tiền, không cần tài sản, danh vọng. Tôi chỉ cần một điểu là có được nội tâm tốt lành, thánh thiện, đạo đức, biết thương người, biết nhẫn nhục, biết khiêm hạ. Vì chính nội tâm này sẽ cho tôi tất cả mọi điều trên cõi đời này. Nếu tôi không có cái tâm tốt như thế dù tôi có tiền muôn bạc vạn rồi tất cả cũng đều sẽ sụp đổ. Cho nên nội tâm là quí nhất”.

Nhưng chúng ta phải hiểu rằng: Để có một nội tâm tốt như vậy, chúng ta phải dựa vào luật nhân quả. Chứ không phải nói, tôi muốn tâm tôi tốt là lập tức tâm tôi tốt liền. Không bao giờ có chuyện đó.

Chúng ta nhắc lại, đây là điểm chủ yếu của bài nói chuyện hôm nay. Đừng tưởng rằng tôi muốn tâm tôi tốt là ngay lập tức tâm tôi tốt liền. Không có chuyện đó. Câu nói này là để gở đi những hiểu lầm của vô số người học Phật.

Vô số người học Phật, sau khi đọc một bài kinh Phật, sau khi nghe xong một bài giảng đạo lí, thấy hay quá và lúc đó cứ tưởng rằng mình đã tốt như lời Phật dạy, tưởng rằng tâm mình đã tốt như bài giảng mà ông giảng sư đã nói. Cứ tưởng như vậy. Không ngờ ít lâu sau, mình làm nhiều chuyện tồi tệ, xấu xa. Lúc đó có nhiều người ngạc nhiên nói: “Ủa, ông đó ổng hay đi chùa, tôi thấy ổng đọc kinh Phật, nghe bài giảng. Sao bây giờ ổng lại làm nhiều chuyện tệ bạc như vậy? Ổng nghe kinh, nghe giảng, rồi ổng nói lại, tôi nghe ổng nói chuyện như là ổng rất tốt trên đời. Tại sao bây giờ ổng lại là một con người hơn thua, nham hiểm, thủ đoạn, ích kỷ như vậy?!”. Mình thắc mắc.

Cũng chỉ bởi vì một điều: một người muốn có tâm tốt phải có nhân quả tốt, chứ không phải ta hiểu được đạo lí là tâm ta tự tốt đẹp. Không phải khi mình muốn mình là người hiền lành, lập tức mình trở thành hiền lành. Không có chuyện đó.

Đây là điều gây nên sự hiểu lầm bấy lâu trong vô số Phật tử. Rất nhiều Phật tử đến chùa đọc kinh, nghe giảng, hiểu được, thích thú và cứ tưởng rằng kể từ đó mình đã tốt rồi. Nhưng sự thật nếu nói theo nhân quả chưa tốt chút nào hết. Chưa hề tốt chút nào hết.

Hôm nay, chúng ta nói với nhau bài này để chúng ta biết hai điều.

  • Điều thứ nhất, tâm là cái quí nhất trên đời. Cái vô hình, cái không ai thấy nhưng là cái quí nhất trên đời.
  • Điều thứ hai, muốn cho tâm chúng ta tốt, chúng ta phải kiên trì, tích cực làm tốt bằng cả một công trình, một công lao dựa theo nhân quả. Chứ không phải chỉ cần ta muốn tốt, hay ta hiểu được đạo lí tốt, là tâm ta lập tức trở thành tốt liền.

Xin quí Phật tử hãy nhớ dùm, yếu chỉ của bài giảng hôm nay là hai điều này.

Một, tâm là cái quí nhất.

Hai, muốn cho tâm tốt là cả một công phu cực khổ.

Nếu chúng ta nghe qua một đoạn đạo lí, nghe một đoạn kinh Phật, chúng ta hiểu được, thích được, rồi tưởng rằng, từ đây mình là người tốt rồi : đó chỉ là sự hiểu lầm nghiêm trọng. Phải nhớ rằng tâm ta vẫn còn rất xấu, muốn cho tâm ta tốt đó là cả một công phu tu hành rất cực khổ.

Người hay xây cầu, bắt cầu, đời sau tự nhiên có nội tâm giỏi về xây dựng và thông minh.

Người hay lễ kính Phật tự nhiên có nhiều nhân quả hiện ra, dung mạo đẹp dẽ, trang nghiêm, đi đâu ai cũng thương mến, có chất Thánh trong người mình và tự nhiên tâm mình hay xét nét, kỷ lưỡng về đúng sai, tội phước. Trước kia, khi chưa biết lễ Phật, làm việc gì, ta cũng làm bừa, không để ý tội phước. Nhưng khi mình lễ Phật được rồi, trí tuệ phát ra, làm điều gì cũng cân nhắc tội phước rất kỹ, không dám tùy tiện nữa. Đó là khi tâm mình đã trở nên tốt.

Còn một nhạc sĩ hay viết nhạc tình yêu, hay một ca sĩ quen hát nhạc tình sướt mướt, sẽ tạo nên cái tâm chứa tình cảm đa đoan, dễ dãi, lăng nhăng. Đó quả là điều không hay.

Những bài nhạc tình tràn lan hiện nay cho chúng ta biết một điều là người viết nhạc bị rơi vào nghiệp tình ái lăng nhăng, không ra gì. Và cả người hát nhạc đó cho mọi người nghe, cũng cùng chung một nghiệp, cũng tình ái lăng nhăng, không ra gì. Vì âm nhạc, nghệ thuật dễ gây ảnh hưởng vào lòng người. Ta gieo rắc vào đời thế nào thì tâm mình sẽ trở nên thế ấy.

Người mà sống trên đời hay giữ lời hứa. Ví dụ mình hứa: “À, nhà tôi có lọ hoa này đẹp lắm, hôm nào tôi đem cho chị”. Vẫn giữ lời, nhiều khi bận công việc gần hai tháng, không đem cho được; nhưng qua tháng thứ ba, cố đem cái lọ đến cho, không có nuốt lời. Nghĩa là hứa với ai điều gì đều thực hiện, đều giữ lời hứa. Thì người này đươc nội tâm gì? Quả báo gì? Quả báo thì sẽ rất nhiều, nhưng trong đó, có một quả báo rất đáng quí – đó là không bao giờ bị lú lẫn, bị quên, bị mê mờ, mà sẽ tỉnh táo cho đến chết. Nghĩa là khi chết, gọi con cháu lại hết dặn dò xong rồi mới chết. Là vì sao? Mình biết ngay người này trong suốt cuộc sống này giữ lời hứa rất kỷ.

Những vị tu theo đạo Nho thời xưa họ tôn thờ năm điều đạo lý là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Chữ tín là giữ lời hứa rất kỷ. Vì thế hầu hết những vị tu theo đạo Nho mà giữ được năm điều đó họ tỉnh táo cho đến giờ chết. Đây là nhân quả rất rõ. Nếu chúng ta hay quên lời hứa thì sao? Thì ngược lại, mọi người tự hiểu.

Nếu một người hay dùng rượu hay ma túy để gây cảm giác, có nhân quả gì? Nhân quả sẽ rất nhiều nhưng mà trong đó, nhân quả chi phối nhiều nhất là đầu óc mê mờ, đau đớn và khổ sở. Những người hay dùng thuốc để tạo ra ảo giác sung sướng thì phải bù lại, khi quả báo đến, mình sẽ rơi vào buồn thảm, khổ sở, đau đớn vô cùng. Đó là nhân quả. Cho nên người mà lỡ nghiện rượu hay nghiện ma túy phải giải nghiệp của mình bằng cách lao động công ích. Đây là nhân quả rất rõ.

Ở miền bắc, vùng Nam Định, có một câu chuyện như thế này. Có một thanh niên không có nghề gì, bỏ quê đi đãi vàng. Trong khu vực những bãi vàng, có đầy những người xã hội đen và tội phạm, nên anh bị ảnh hưởng, nghiện ma túy. Đến khi vàng hết, phải bỏ đi, trong túi anh không còn đồng nào. Đã khổ sở vì ‘thiếu thuốc’, khi xét nghiệm, lại biết mình đã bị nhiễm HIV. Đời coi như bỏ. Khi anh quay về quê, mọi người xa lánh. Cả làng nghe tên anh là sợ, nói với nhau: Thằng đó vừa bị nghiện vừa bị si đa nên không ai dám đến gần, không ai dám chơi. Hầu hết những người rơi vào hoàn cảnh đó rồi, chỉ còn chờ chết thôi. Có những người trước khi chết, quậy phá, đi cướp vài trận, rồi cũng bị bắn chết.

Thường thì cuộc đời người nghiện rơi vào bế tắc. Nhưng anh này không biết có phước gì từ đời xưa, bỗng nhiên có một cô gái đem lòng thương yêu dù biết anh vừa nghiện ma túy, vừa bị HIV. Đây là điều chúng ta không thể lí giải nổi. Cô gái này thương ảnh và đây chính là cái phao cuối cùng trong đời vì cả gia đình đã ruồng bỏ anh. Cô gái chấp nhận làm vợ anh. Thật là lạ, không hiểu nổi, anh còn cái phước gì sót lại.

Cô khuyên anh cai nghiện, giúp anh quyết tâm cai nghiện. Dù cai nghiện được nhưng HIV vẫn còn nằm trong người. Mà anh này vì quá thương vợ, quá cảm động, cả cuộc đời không còn ai thương mình ngoại trừ cô gái, nên anh nguyện sống trọn cuộc đời còn lại vì người con gái ấy. Anh quyết cai nghiện. Khi cơn nghiện lên, anh trói tay chân mình lại, những lúc lên cơn, đau đớn như là ai đóng đinh vào trong xương, như muôn ngàn con vòi ở trong xương bò ra. Chịu không nổi anh phải bứt dây ra, chạy đi kiếm thuốc thật là khổ sở.

Anh đau buồn vì thấy cai nghiện quá khó, một khi dính vào ma túy rồi, rất khó gở ra. Một lần nọ, buồn quá, anh đi lang thang dọc bờ sông, anh nhìn thấy con sống nó uốn dòng, đâm thẳng vô làng và dòng nước mỗi khi lũ lên làm cho làng bị ngập, phá tan nhà cửa hoa màu và mọi người phải chạy lũ và có nhiều người bị chết. Anh đứng nhìn dòng sông và nghĩ tại sao mình không nắn dòng chảy lại để khi lũ lên không đâm vào làng mình? Anh nói ý nghĩ của mình với nhiều người, và chỉ nhận được những nụ cười chế giễu anh là thằng điên, thằng khùng, thằng bị si đa sắp chết mà nghĩ chuyện đội đá vá trời. Không ai tin anh.

Lúc đó, anh hối hận vì trước đây, anh đã làm những chuyện sai lầm, bây giờ, anh muốn chuộc lại bằng một việc tốt cho cuộc đời. Thế là lủi thủi một mình, anh lấy cuốc, đào đất nắn dòng sông lại. Chỉ một mình anh làm. Cứ đào đất, đào đất. Khi đào, đất lòi ra những lớp sỏi. Anh sàng lấy sỏi đem đi bán cho những người xây dựng để có được ít tiền về phụ với vợ. Trong khi anh đang nắn dòng chảy, vợ anh có bầu và sinh được một đứa con. Điều kì lạ là anh bị HIV dương tính còn vợ anh và con anh là HIV âm tính, có nghĩa là không hề bị si đa. Hai vợ chồng ôm nhau mừng rỡ. Đây chính là một phép lạ. Khoa học không thể giải thích được chuyện này, bởi vì chồng bị si đa, thì chắc chắn vợ và con đều bị si đa. Nhưng anh bị si đa mà vợ con anh lại không bị. Đến bây giờ người ta vẫn không giải thích được. Anh vẫn đào đất, nắn dòng sông cho đến năm vừa rồi, dòng chảy anh nắn lại vẫn chưa hoàn tất.

Theo thường năm, cơn lũ đổ về, mọi người thấy dòng lũ kéo đến cuồn cuộn, đoán chừng mực nước lũ để chuẩn bị chạy. Nhưng kì lạ thay, con sông đó nó không đâm vào làng nữa mà nó lách đi đường khác theo như anh thanh niên kia đã nắn dòng. Cả làng vui mừng, từ đây xem ảnh là ân nhân.

Từ một con người không còn giá trị gì trên cuộc đời, bị nghiện ngập và bị si đa nhưng bởi lao động công ích của mình đối với cuộc đời đã biến thành một người hùng, một người ân nhân, một người có giá trị trong cuộc sống, khỏe mạnh, cơn nghiện cũng bay mất luôn, vợ con cũng không bị nghiệp đó. Đây rõ ràng là một phép lạ.

Chúng ta thấy phép lạ này là từ tấm lòng cao đẹp: muốn làm điều công ích cho đời. Cho nên phép lạ đã xảy ra. Chúng ta thấy người bị cai nghiện dù có trói lại, nằm một chỗ bơm thuốc nhưng vẫn không hết. Chỉ có lao động công ích, làm những việc gì mà đem lại lợi ích cho đời thì nó mới phá được nghiệp ghiền ở trong não. Vì thế, chúng ta cũng nên góp ý điều này với Nhà Nước, và những cơ sở cai nghiện. Phải lao động vất vả, đổ mồ hôi, đem lại kết quả, tạo phúc lợi xã hội mới chuyển được nghiệp nghiện, mới phá tan thuốc trước đây làm cho đầu óc mê mờ.

Chúng ta có hai trạng thái tâm trái ngược hẳn nhau: một là sự sáng suốt cực độ của Thánh – hai là sự mê mờ của những người bị tâm thần.

Người bị tâm thần thì quá mê mờ, không còn biết gì nữa. Họ tưởng đúng khi họ làm, nhưng sự thật là sai, có người thích đốt nhà, cả đêm tru tréo, chửi mắng cả làng cả xóm, có khi giết người, … Ngược lại là sự sáng suốt của một bậc Thánh. Một bậc Thánh nhìn suốt hết cả nhân quả ba đời, nhìn con người, nhìn sự việc hiểu được hết tất cả, xử sự việc gì là đúng việc đó.

Hai trạng thái tâm hồn trái ngược đó bởi hai nhân quả trái ngược nhau. Nhân quả của một người luôn luôn làm điều tốt, mãi mãi làm điều tốt thì sẽ tạo nên tâm hồn của một bậc Thánh cực kì sáng suốt. Còn một bên là một người cứ hay làm chuyện sai lầm, cứ hay nói bậy, phỉ báng, làm điều ác thì kết cuộc cuối cùng là tâm hồn mình tan vỡ để trở thành bệnh tâm thần. Đó là hai trạng thái cực độ.

Còn chúng ta không phải bệnh tâm thần mà cũng không phải là Thánh. Chúng ta lưng chừng ở giữa. Nghĩa là sao? Chúng ta không có làm gì quá đáng. Nếu nói làm tốt, chúng ta chưa đạt chỗ tốt cực độ; nếu nói làm ác, chúng ta không làm ác cực độ. Chúng ta lưng lửng, có tốt có xấu, cho nên bây giờ chúng ta còn ngồi đây để làm một người phàm phu. May mắn cho chúng ta là tuy làm người phàm phu nhưng ta còn biết quí kính Tam bảo, có nghĩa là chúng ta đang cố gắng hướng về vị trí Thánh. Nhân quả của chúng ta là như vậy. Hi vọng một ngày nào đó công viên quả mãn, chúng ta làm được vô số điều tốt cho đời này rồi, tâm hồn của chúng ta bỗng nhiên nở hoa, kết trái, để ta biến thành một vị Thánh chói sáng giữa cuộc đời này. Mong sao mọi người đều được như vậy.

Sau khi luận đi luận lại, chúng ta thấy nội tâm đúng là cái quí nhất trên đời này. Cho nên người trí tuệ là người chú ý xây dựng cho mình một nội tâm hoàn hảo trước, trước hết, lo xây dựng nội tâm của mình làm gốc.

Như Đức Phật đã dạy:

Tâm làm chủ các pháp

Tâm là người chủ tạo tác

Khổ não hay an lạc bước theo sau, và nghiệp theo ta như bóng không rời hình.

Nên vì vậy, khi được hỏi chúng ta đi tìm cầu những gì, mỗi người sẽ có một câu trả lời khác nhau. Hỏi: “Anh đi tìm cái gì?”.

–        Tôi đi tìm bằng cấp,

–        tôi đi tìm danh vọng,

–        tôi đi tìm mái ấm gia đình hạnh phúc,…

Nhưng nếu là một người có trí tuệ, sẽ trả lời:

–        Trước hết, tôi đi tìm nội tâm hoàn hảo trước.

để có được một nội tâm hoàn hảo, chúng ta phải biết sửa mình, biết tu tập, biết làm các công đức – đó là điều quan trọng mà ông bà mình thường hay nói là làm gì làm cũng phải biết “tu tâm dưỡng tánh”.

Tâm, tánh là cái gì đó vô hình, khó thấy nên rất khó tu, khó dưỡng.

Trong khi, con đường bị méo, ta có thể thấy rõ, có thể lấy cuốc ban, đắp được. Nhà dột, ta nhìn thấy, ta sửa được. Mũi ta xẹp, ta đến bệnh việc phẩu thuật kéo lên được. Lông mày ngay, ta vuốt cho cong được. Tóc ta bạc, ta đi nhuộm đen được,… Nhưng tâm ta như thế nào thì ta không thể thấy được.

Tâm ta, tánh ta là cái gì vô hình, nhưng ông bà, cha mẹ ta cứ dặn đi, dặn lại, “Con làm gì làm nhớ tu tâm dưỡng tánh nghe con”. Ông bà mình cứ mãi nói như vậy, nhưng tâm tánh là cái gì ta không thấy.

Chính cái không thấy đó mới là cái quí nhất. Cái tuy không thấy đó mà buộc chúng ta phải ráng tu, ráng sửa, ráng nâng niu, quí trọng, uốn nắn để làm cho trở nên sáng chói giữa cuộc đời này.

Thưa Thầy, tâm tánh không thấy được vậy làm sao sửa?

–                  Đúng vậy, tâm tánh là cái không thấy được nhưng ta phải biết cách làm cho nó hiện ra. Chúng ta phải tìm cho ra để sửa, ta phải biết nó như thế nào, để biết ta tốt xấu ở mức độ nào mà ta sửa.

Dựa vào đâu mà biết tâm ta tốt xấu?

–                  Giống như những nhà thiên văn nhìn lên trời cao. Trong vũ trụ, có một vật thể người ta gọi là những hố đen. Hố đen là những vật thể cực kì lớn, cực kì nặng mà không bao giờ lộ ra, không có hình dáng, không ai nhìn thấy, cả kính viễn vọng không bao giờ nhìn thấy. Các nhà khoa học biết chắc là có những cái hố đen nhưng không bao giờ nhìn thấy hố đen. Như vậy làm sao các vị biết là có? Bởi vì ảnh hưởng của nó tỏa ra làm những thiên thể xung quanh nó chuyển động, bị thay đổi. Nhìn vào những thiên thể bị chuyển động, bị thay đổi đó, nhà khoa học biết ở nơi đó, có một vật thể hoàn toàn tối không nhìn thấy được nhưng đang hiện hữu.

Cũng vậy, bây giờ ta nói tâm vô hình, vô tướng thì làm sao thấy được? Thấy ở chỗ nào? Thấy ở lời nói và việc làm của mình. Không thấy tâm con người, nhưng nghe người đó nói một câu, mình biết tâm người đó ra sao. Nhìn người đó sống, nhìn việc người đó làm, ta biết tâm người đó ra sao. Ta cứ nhìn việc làm và nghe lời nói của một con người, chúng ta biết tâm người đó ngay.

Nên bây giờ, chúng ta hãy tự đánh giá lại việc làm và lời nói của mình, để ta thấy được chính tâm của mình.

Ví dụ, ta gặp một người đáng kính mà ta không kính, ta bỡn cợt thì tâm mình là tâm gì? Tâm kiêu mạn! Hoặc chúng ta thấy một người tàn tật, tật nguyền đi cà nhắc, tay cà vẹo. Đáng lẽ ta thương họ nhưng ta không thương ta còn buông lời trêu cợt thì ta biết ngay là tâm ta không có từ bi.

Nhìn lời nói việc làm, ta biết tâm ta liền. Vậy ở đây có ai thấy người tật nguyền mà trêu cợt không?

–        Hầu hết chúng ta đều không vì chúng ta là Phật tử, ta biết thương người.

Còn khi thấy một bậc đáng kính mình có kính không? Kính. Như vậy mình không có kiêu mạn.

Khi thấy người Phật tử huynh đệ bạn đạo, cũng đi chùa như mình, nhưng không hiểu tại sao ông thầy lại thương người đó hơn mình. Tâm mình ganh tị. Ai hỏi đến người này, mình nói: “Ông thầy đó thiên vị quá, tôi đi chùa lâu hơn ông đó, tại sao ông thầy không thương tôi mà lại thương ông đó. Ông thầy này thiên vị, tu hành không có trí tuệ”. Vì không vừa lòng mình, mình sẵn sàng kết tội thầy mình.

Như vậy tâm ta là tâm gì? Đúng là tâm ganh tị. Khi ganh tị, ta sẵn sàng chà đạp tất cả, đổ lỗi cho người khác để không thấy lỗi của mình. Đáng lẽ ra ta phải thấy rằng, người huynh đệ kia có những ưu điểm gì mà mình không có, nên thầy thương quí hơn. Không hiểu được như vậy mà ta lại kết tội ông thầy là người xấu, vô tình ta phủi hết đạo đức của mình, phủi hết phước của mình luôn. Cho nên khi mở miệng nói lời nói như thế, ta phải biết rằng tâm mình còn xấu.

Đi chùa, ta thấy huynh đệ ta được thầy thương, bạn mến, ta phải mừng. Ta sẽ nói rằng: “À, vì bạn tốt như thế, mới được thầy thương, bạn mến. Thầy mình là người có trí tuệ, còn bạn mình là người có đạo đức”. Khi nói câu đó ra, ta mới là người có tâm tốt.

Bởi thế, ta nói: Qua lời nói, qua việc làm, ta biết được tâm mình, chứ tâm ta vô hình, vô tướng không sao thấy được. Và từ đây về sau, ta phải nhìn thẳng vào tâm mình trước khi nói hay làm điều gì, để ta không phải nói và làm những việc không hay do tâm xấu ác của ta sai sử.

Một điều quan trọng trong việc tu tâm dưỡng tánh nữa là ta phải nghiêm khắc với chính mình. Nghiêm khắc với chính mình là sao? Nghĩa là cương quyết không tha thứ khi mình sai lầm. Người khác sai, ta cho họ cơ hội làm lại, chứ chính mình sai thì không thể tha thứ, buộc chính ta phải sửa chứ không nuông chìu, bỏ qua.

Ví dụ hôm đó, mình gây gỗ với ai, mình nóng giận, mình cầm cái ly đập xuống bể tan nát hết trước mặt mọi người. Hành động đó rất thô tháo. Lẽ ra, ta phải nghiêm khắc với chính mình, phải đến trước Phật sám hối và đi xin lỗi mọi người.  Nhưng không, ta cố biện hộ, cho rằng: “Lúc đó tôi không thể kiềm chế được, nghe nói câu đó rồi, tôi không thể nào nhịn được. Tánh tôi là như vậy đó”. Một câu nói tự biện hộ như thế có nghĩa là mình tự tha thứ cho mình, nghĩa là mình không dám nghiêm khắc với mình. Và một người sẵn sàng tự tha thứ cho mình, không nghiêm khắc với mình được, lại là người không thể tu tâm dưỡng tánh được.

Còn người nghiêm khắc với bản thân, nhất định không tha thứ cho mình. Đã lỡ cầm cái ly đập bể trước mặt mọi người rồi, người này hối hận, ăn năn, buồn khổ, lạy Phật sám hối rồi đi xin lỗi từng người. Xin lỗi xong rồi, mà lòng vẫn ăn năn, ray rứt, không vui, vì người này biết nghiêm khắc với chính mình. Như vậy, chúng ta  phải chọn lựa để có thể tu tâm dưỡng tánh được.

  • Một là chúng ta cứ tiếp tục bênh vực cho mình cho đến khi chết, rồi xuống địa ngục.
  • Hoặc là ta không bao giờ tha thứ cho mình, luôn luôn rầy quở trách chính mình. Cứ mãi mãi suốt đời như vậy thì sau khi chết sẽ lên cỏi trời.

Thế thì, chúng ta chọn cách nào? Bênh vực mình thì rất sung sướng trong hiện tại. Làm bất cứ việc gì, ta cứ tự bênh mình là đúng, còn người khác là sai thì rất sung sướng, thoải mái vô cùng và khi chết rồi, ta phải xuống địa ngục. Còn ta tự trách cứ chính mình, ăn năn, ray rứt, không tha thứ cho mình thì cảm giác khó chịu lắm, mang mặc cảm tội lỗi, thấy mình nhỏ bé lại, thấy mình thua kém hẳn mọi người. Điều đó làm ray rứt cả đời ta, nhưng sau khi chết, ta có cơ hội lên cõi trời.

Chúng ta chọn cách nào? Ta nên dễ dãi hay nghiêm khắc với chính mình? Cách nào đây? Nếu muốn sung sướng hiện tại, cứ dễ dãi và bênh vực cho bản thân. Nếu ta muốn hạnh phúc lâu dài ở những kiếp về sau, mình phải nghiêm khắc với chính mình, không tha thứ cho mình, khi mình biết mình phạm sai lầm.

Nhưng để có thể nghiêm khắc với bản thân, có dễ hay không? – Không dễ chút nào hết. Bởi vì sao? – Vì đòi hỏi một sự can đảm phi thường.

Ví dụ bây giờ, trong đêm tối mờ mịt, có người nói rằng: “Ở xóm kia, có một bà đang đau đẻ, anh băng qua nghĩa địa đến nhà, chở bà ấy vô bệnh viện dùm, vì chồng bà đi vắng, không ai đưa bà đi. Rất là tội nghiệp”.

Là Phật tử, mình cũng muốn làm phước lắm nhưng kẹt cái nghĩa địa giữa đường.

–        “Thôi mà, sợ ma rồi bỏ người ta chết làm sao? Ráng đi đi”.

–        “Thôi mà, ai đi với con, chứ một mình con đi không dám. Bả đẻ thì cho bả đẻ ở nhà đi, nghĩa địa ghê như vậy, đừng bắt con đi qua”.

Chỉ vì mình sợ ma, cũng muốn làm điều phước nhưng không thể can đảm băng ngang qua nghĩa địa.

Hoặc lúc đó, có ba bốn đứa gây lộn với nhau, mình thấy có một người nhỏ bị đánh.  Thế là mình đứng ra bênh vực, bảo vệ người đang bị cô thế, không để mấy người kia ăn hiếp nữa. Về nhà, ai cũng nói: “Trời, thằng này nó gan ghê! Mấy đứa kia cô hồn các đảng như vậy mà nó dám đánh để bảo vệ người cô thế.” Mọi người sẽ khen ta có lòng can đảm, khi trong đêm, ta băng qua nghĩa địa để cứu giúp người gặp nạn hoặc ta dám đối đầu với những đứa du côn để bảo vệ người cô thế.

Nhưng can đảm này không ăn thua gì so với sự can đảm mình tự trách mình, tự nghiêm khắc với chính mình – vì khó thực hiện hơn rất nhiều. Mình có thể đi qua khó khăn, đi qua dầu sôi lửa bỏng để làm một việc gì đó bên ngoài một cách dễ dàng. Nhưng ngồi một chỗ, tự trách cứ mình, tự nghiêm khắc với mình điều đó khó vô cùng – dù không tốn một giọt mồ hôi vẫn khó hơn việc chinh phục Hi Mã Lạp Sơn.

Ta có thể nói, người nào có thể nghiêm khắc với chính mình, không tha thứ cho mình, không bao giờ cho phép mình làm điều bậy, hoặc sau khi lỡ làm điều sai quấy, lòng ăn năn không nguôi, chính là những người vừa có trí tuệ và vừa có can đảm. Những người được như vậy, chắc chắn khi chết sẽ lên cõi trời.

Nãy giờ chúng ta nói nhiều về một nội tâm tốt, về tu tâm dưỡng tánh bây giờ chúng ta sẽ xây dựng một số hạng mục tốt trong tâm mình. Những hạng mục tốt trong tâm thì chúng ta đã nói với nhau rất nhiều ở những bài giảng khác, vì đề tài hôm nay nói về nội tâm, chúng ta nhắc lại một vài điểm một chút. Quí Phật tử cố gắng nghe.

Kho báu thứ nhất là lòng từ bi. Phải làm sao đạt được từ bi trong tâm mình, phải cài đặt từ bi sẵn trong tâm mình. Ở đây ai giỏi vi tính? Có biết việc cài đặt chương trình phần mềm không? Ta phải cài chương trình từ bi bỏ vào tâm mình, set up nhấn enter cho nó chạy trong tâm mình. Có dễ hay không? – Rất khó bởi vì chúng ta đụng đến tập khí ích kỷ nhiều đời của mình. Từ nhiều đời, mình chỉ biết thương mình, chỉ biết lo cho mình, gia đình, vợ con, quyến thuộc. Chúng ta không thể mở lòng từ bi thương yêu đối với người dưng nước lã được. Nhưng bây giờ, chúng ta theo Phật rồi, bắt buộc chúng ta phải thương được nhiều người, kể cả những người dưng nước lã.

Ví dụ ta vào trong chùa, gặp toàn những người lạ mặt, có những người nhìn mặt thấy dễ ưa nhưng cũng có những người mặt mũi đăm đăm, ngầu ngầu nhìn thật khó ưa. Vậy mà, chúng ta buộc mình phải thương cho được tất cả mọi người.

Những người rất lạ, có phước từ nhiều đời trước, chúng ta nhìn mặt, thấy mến thương liền. Khi gặp một người như vậy mình thương rất dễ. Chung quanh chúng ta là những Phật tử có gương mặt khả ái do phước từ đời trước chiêu cảm, khi ta nhìn thấy, lòng khởi thương liền. Đồng thời, cũng có những người gương mặt rất khó ưa, bởi vì họ bị nghiệp gì đó, như hay nghĩ xấu người khác, hoặc còn ích kỷ,…khiến ta không thương được. Nhưng đây chính là điều thử thách lòng từ bi của chúng ta. Chúng ta phải nguyện lòng, xin Phật cho con thương hết những người này. Xin cho con thương hết những huynh đệ như thế này. Mình cứ nói đi nói lại và cầu xin Phật như vậy.

Một chút nữa đây, rời khỏi chùa, trên đường đi về nhà, mình gặp những người khả ái, dễ mến và cũng có những người khó ưa. Hễ chúng ta thấy ai khó ưa, mình kêu Phật liền, “xin Phật gia hộ cho con được lòng từ bi thương yêu được hết tất cả những chúng sinh như thế này”. Cứ kêu Phật như vậy chừng ba năm. Ba năm sau, tự nhiên mình thành một con người có lòng từ bi tràn đầy và khi đó mình thành tựu được một điều quí giá ở trong tâm mình.

Đây là điều vô giá. Khi từ bi cài đặt được vào trong tâm hồn của mình rồi, chính là ta đã sở hữu một kho tàng quí hơn mọi kho tàng trên đời. Từ đây, ta không cần đi tìm bản đồ kho báu nào nữa, tốn công mà thôi. Chỉ cần chúng ta cài đặt lòng từ bi của Phật vào trong tâm mình sau ba năm là trong tâm ta đã có một kho báu, xài hết đời này qua đến những đời sau mà không bao giờ hết.

Kho báu thứ hai là tâm khiêm hạ. Khiêm hạ là mình thích tôn trọng mọi người. Khi đến đây, chúng tôi gặp Thượng Tọa Thích Minh Trí, trụ trì tổ đình Phước Lâm đây, vừa gặp là thấy mến ngay, vì khuôn mặt thầy phúc hậu dễ mến. Cũng không biết do nhân quả gì, bởi vì không có chứng đạo cho nên không biết thầy đây gieo nhân gì đời trước. Đến lúc nghe thầy nói hai câu, chúng tôi chợt hiểu ra nhân quả ngay. Thầy đây quả là một con người cực kì khiêm tốn, đối với bất cứ ai thầy luôn luôn giữ lòng tôn trọng. Chính do lòng khiêm tốn và từ bi cho nên hiện ra dung mạo khả ái, ai gặp cũng cảm mến. Một con người khiêm tốn là luôn luôn thích tôn trọng người khác. Cho nên quí Phật tử muốn mình có một gương mặt khả ái ai gặp cũng thương thì mình phải tu hạnh khiêm tốn. Cài đặt khiêm tốn trong tâm mình, luôn luôn tôn trọng mọi người, không muốn nói một lời nào để hạ thấp giá trị của người khác, không muốn nói một lời nào xúc phạm làm tổn thương người khác mà chỉ luôn nói những lời để thương quí, tôn trọng, nâng cao phẩm giá của mọi người mà thôi. Và như vậy chúng ta thành tựu được tâm khiêm hạ trong lòng mình. Đó là kho báu thứ hai.

Kho báu thứ ba là lòng tôn kính Phật đà. Chúng ta có một bậc Thánh tuyệt đối của vũ trụ đã sinh về với loài người hơn 2500 năm trước, mở ra một chân lý sáng ngời cho thế giới này. Một con người với nhân cách tuyệt đối, hoàn chỉnh, với trí tuệ, từ bi tuyệt đối, hoàn hảo, là một con người đến với cuộc đời này là điểm son, là ánh mặt trời không bao giờ tắt giữa cuộc đời này. Nếu chúng ta không biết yêu kính Người thì chúng ta là thứ vứt đi. Cho nên, là Phật tử, chúng ta phải nguyện hết lòng yêu kính Người. Khi nào quỳ trước Phật đài, ta nên lễ Phật tha thiết, ít nhất ba lễ đến mười lễ. Còn chúng ta đi trên đường hay đi làm ăn xa không có dịp vào chùa hay gặp bàn thờ lễ Phật, nên thường hay niệm Phật. Niệm Phật như một lời tâm sự. Ví dụ như ta đang đi trên sông, ngồi ghe đi buôn ở Xã Tân Phú Đông, Thị Xã Sa Đéc, Đồng Tháp. Ta đi thâu đêm suốt sáng, đi buôn từ nơi này đến nơi kia. Trong lúc ghe chạy, ta ngồi trên ghe, không có việc gì làm, hãy nhớ đến Phật, niệm danh hiệu Phật.

Ta niệm danh hiệu Phật để làm chi ? Ta không kêu tên Phật một cách vô ích. Ta kêu tên Phật ra và mình tâm sự với Phật. Ta sẽ nói thế này: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, câu thứ hai mình nói là: “Hơn hai ngàn năm trước, Đức Phật đã đến với trần gian này, nhưng con vì nghiệp chướng nặng nề nên con không sinh ra được vào đời có Phật. Đến bây giờ, con mới biết được Phật pháp, xin Phật hãy thương con, hãy soi rọi tâm hồn con, hãy dìu dắt cuộc đời của con, để cho từng giây từng phút của cuộc sống này, con được tắm trong hào quang của Phật, được Phật hướng dẫn soi lối cho con đi, để con không nói một điều gì, để con không làm một điều gì mà sai với đạo lí Phật dạy. Xin Phật gia hộ cho con để bất cứ lúc nào, con cũng thương yêu được tất cả chúng sinh, lúc nào con cũng hiểu rằng đời là vô thường và chỉ có sự giác ngộ giải thoát là vĩnh viễn, là vĩnh hằng, cao quí. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”.

Khi không có Phật để lễ lạy, ta cứ niệm Phật, tâm sự với Phật như vậy thì tâm hồn chúng ta thăng hoa lên từng ngày. Chúng ta nuôi dưỡng được chất Thánh trong lòng mình. Đó là kho báu thứ ba.

Kho báu thứ tư là sự nhẫn nhục. Từ nhiều kiếp qua, có những lúc chúng ta nóng giận, tham lam, si mê, và đã làm khổ người khác. Chắc chắn là trong vô lượng kiếp qua, nhiều người phải chịu đau khổ vì chúng ta. Bây giờ oan gia sẽ gặp lại và người đó sẽ xúc xiểm ta, mưu hại ta, đánh đập ta, thậm chí giết hại ta và kho báu thứ tư trong tâm ta cần phải có là sự nhẫn nhục. Khi đối mặt oan trái và nghiệp chướng, lòng ta bình an, không giận hờn, không đau khổ, không buồn bực. Dù người hại ta, xúc xiểm ta, nói xấu ta, ta không giận họ, vẫn thương họ. Ta chỉ cầu mong cho ta trả nghiệp sớm, đồng thời, mong cho người đó biết được Phật pháp để người đó đừng phạm điều sai quấy như ta đã cư xử không phải với họ. Cầu mong như vậy cho nên lòng ta không ghét họ, vẫn bình an, thản nhiên, vui vẻ hoan hỉ và chịu đựng.

Nhờ sự nhẫn nhục này, oan trái nhiều đời được hóa giải, chấm dứt. Còn nếu ta không nhẫn nhục được, ta phản kháng, ta mưu hại lại, trả thù lại, làm ác lại, oan trái ấy đời đời cứ tái đi tái lại mãi, không hết được và ta không thể giải thoát được. Cho nên muốn giải thoát, muốn vượt khỏi cuộc đời tầm thường này, chúng ta cần phải có một đức hạnh rất lớn trong tâm và điều thứ tư đó là chịu đựng những thử thách, những khó khăn gian khổ, ác độc của cuộc đời này với nội tâm thương yêu và bình thản. Đó là hạnh nhẫn nhục và là kho báu thứ tư cần phải có.

Và kho báu thứ năm, ta cần phải có, đó là sự can đảm. Can đảm là gì? Là không sợ bất cứ điều gì, không sợ bất cứ điều gì thi ta mới có thể giữ vững mình được trong chính nghĩa.

Trong đời, có hai điều để làm cho ta rời bỏ chính nghĩa, rời bỏ đạo lí là một cái gì đó ta thèm muốn và một cái gì đó ta sợ hãi. Khi trong tâm ta có một cái gì đó để thèm muốn, trong tâm ta có điều gì đó để sợ hãi, ta  lập tức bị lôi kéo rời xa chính nghĩa, xa đạo lí ngay.

Ví dụ ‘muốn giàu’, chính cái muốn sớm đưa ta rơi vào tà đạo. Cũng vậy, ‘muốn có quyền chức lớn’, chính cái muốn đó sẽ làm cho ta rơi vào tà đạo.

Hoặc là một người có điều gì đó để sợ. Ví dụ sợ người ta nói nặng mình, nói xấu mình. Lúc nào cũng sợ: “Thôi, thôi có gì, họ nói xấu mệt lắm”. Hoặc có khi sợ người ta đánh mình, giết mình hoặc mưu hại gia đình mình. Khi có điều để sợ, chính là lúc chúng ta dễ rơi vào tà đạo.

Để làm một người đệ tử Phật chân chính, chúng ta phải trang bị cho mình một tấm lòng không muốn bất cứ điều gì và không sợ bất cứ điều gì dù phải chết. Không ai có thể uy hiếp mình bằng bất cứ điều gì khiến mình phải từ bỏ chính nghĩa, đạo lí kể cả việc họ đe dọa giết sạch cả nhà mình. Phải có lòng can đảm tột độ, và tuyệt đối như vậy, ta mới giữ mình được trong chính nghĩa, trong đạo lí. Cái can đảm phi thường như vậy, không sợ bất cứ điều gì trên đời đó là kho báu thứ năm rất hiếm có. Rất hiếm có!

Kho báu thứ sáu là sự siêng năng tận tụy. Siêng năng tận tụy là gì? Nghĩa là khi làm việc gì cho đạo, làm việc gì cho đời, cho xã hội, cho quốc gia chúng ta làm thấu đáo, làm đến nơi đến chốn, làm cho kỷ lưỡng, làm cho thành công vượt bậc để đem lại lợi ích tối đa cho mọi người. Phải chịu cực, chịu khó, chi ly, sâu sắc làm đến nơi đến chốn đó gọi là siêng năng, tận tụy. Điều này không phải ai cũng có.

Ví dụ một vị Thầy nói: “Chùa dơ quá, con dẫn các bạn vào phụ Thầy dọn dẹp vệ sinh vì chùa sắp có lễ”. Mình kêu các bạn vào dọn dẹp, người đi hái trái, nhặt củi, người đi lượm rác, hốt rác. Mình cũng làm công quả theo lời Thầy dạy, mình đã làm mọi việc xong rồi. Nhưng người có tính siêng năng, tận tụy không nghĩ như vậy là xong, là đủ.

Sau khi mọi người quét rác hết rồi, mình mới nhìn kỹ, mới suy nghĩ thêm: Thầy sai mình như vậy là xong rồi đó, nhưng đối với mình vẫn chưa xong. Khi ngày lễ đến, sẽ có rất nhiều người đến đây, nhà vệ sinh sẽ không đủ, lối đi chỗ đó người ta sẽ bị vướng, khi mọi người đến ở chỗ này sẽ bị nắng v.v… Thế là mình xin Thầy cho làm tiếp thêm một số việc nữa, làm cho đến nơi đến chốn, cực kì thấu đáo, cực kì hoàn hảo. Người làm công viêc mà phục vụ đời, phục vụ đạo mà làm hơn cả yêu cầu, mới gọi là người siêng năng tận tụy.

Người đó phước phi thường, đời đời vượt lên hơn mọi người hết bởi vì sao? Bởi vì họ luôn luôn làm nhiều hơn cái mà họ được yêu cầu. Người đó sẽ được phước vượt bậc và đó chính là kho tàng thứ sáu. Mai mốt gia đình mình kêu làm chuyện gì, mình phải làm nhiều hơn ba mẹ mình sai. Thầy mình sai mình làm cái gì, mình phải làm kỷ hơn, nhiều hơn điều Thầy mình sai để rèn luyện phẩm hạnh thứ sáu này.

Nói về những vấn đề tâm lí đạo đức thì có vô số điều để nói. Hôm nay, chúng ta không có thời gian để nói nhiều, chỉ điểm sơ qua mà thôi. Ít nhất trong tâm mình phải có sáu kho tàng như thế để xây dựng nội tâm này. Và từ nội tâm có sáu kho tàng đó chắc chắn nội tâm mày sẽ đưa chúng ta đi qua nhiều kiếp luân hồi chỉ đi trong vinh quang, trong ánh sáng, trong hạnh phúc và trong sự giác ngộ mà thôi.

 

Tâm mà có đạo đức rồi, trí tuệ, bản lĩnh, tài năng sẽ xuất hiện kế theo sau. Đây là nhân quả. Người tốt rồi ắt người đó sẽ giỏi.

Còn người giỏi rồi mà không tốt, từ từ sẽ dở trở lại. Chúng ta hãy nhớ như vậy. Ví dụ chúng ta chưa giỏi nhưng cứ ráng tốt, ráng có sáu điều trong tâm mình thì từ từ ta sẽ giỏi lên, bản lĩnh, trí tuệ sẽ xuất hiện. Đó là nhân quả. Vì người ta làm việc kĩ hơn, chu đáo hơn tự nhiên tài năng nảy nở liền, trí tuệ mở ra liền. Còn người đáng lẽ làm công việc thành công viên mãn nhưng hời hợt, chỉ làm tám phần thôi. Ví dụ Thầy bảo mình làm mười phần, mình dư sức làm mười nhưng mình chỉ làm tám phần thôi. Quả báo là tài năng của mình sẽ bị tuột xuống một chút. Mai mốt cơ quan mình kêu mình làm mười, mình chỉ làm bảy tám phần thôi thì mai mốt tài năng của mình cũng tuột xuống. Ví dụ thủ trưởng cơ quan giao công việc mười mà mình làm chu đáo đến mười một, mười hai thì nhân quả là mai mốt tài năng của mình vượt lên trên khỏi khả năng hiện tại. Đó là nhân quả. Nhân quả giống như khả năng thứ sáu chúng ta vừa nói, làm rất chu đáo tận tụy, làm được nhiều hơn người trên mình yêu cầu thì chúng ta vừa có phước và vừa có tài năng nảy nở, trí tuệ sẽ thăng hoa cao hơn.

Một điều quan trọng nữa là khi làm được việc đừng có chấp công, kể công, hãy quên công của mình đi để không bị kiêu mạn và không bị thất bại trở lại. Đáng sợ nhất là người có tài, làm được việc, kể công thì sau này sẽ thất bại, tài năng cũng sẽ mất đi.

Thường thường người có tài là gì? Là khi gặp việc, đụng chuyện, tự nhiên trong đầu của họ lóe lên nhiều sáng kiến, mà bình thường họ không có.

Ví dụ một người thợ đang bắt đường dây điện, tự nhiên trong đầu lóe lên ý kiến, phải gắn chỗ này thay vì gắn chỗ kia thì đường dây điện sẽ rẻ hơn, an toàn hơn. Hay lúc đóng ghe, mình có những sáng kiến bất ngờ làm cho ghe xuồng tốt hơn, chắc hơn, bền hơn. Hoặc khi xây cất, phải chuyển vật liệu lên chùa, mình nghĩ cách mở một con đường nào đó tiền vận chuyển rẻ hơn, an toàn hơn.

Người có sáng kiến mà nó lóe lên như vậy được gọi là người có tài. Nhưng nếu hỏi ở đâu anh lóe ra sáng kiến đó, mình sẽ không biết từ đâu mà trả lời. Tại sao vậy? Vì sự thật do cái phước, chính cái phước làm cho tâm ta cứ lóe lên hết sáng kiến này đến sáng kiến kia trong cuộc sống làm cho ta thành công. Người ngoài nhìn vào nói ta có tài chứ chính ta không biết được.

Ví dụ như Thầy, Thầy là người biết soạn nhạc, thỉnh thoảng Thầy cũng soạn nhạc đạo để hát cho vui, cũng có bài nghe cũng hay. Có người mới hỏi: “Tại sao Thầy lại nghĩ ra giai điệu hay như vậy?”. Câu trả lời của Thầy là không biết, không biết. Lúc muốn soạn tự trong đầu nó khởi ra dòng nhạc như thế, mình chấp nhận được thì mình viết ra thành một bài nhạc, không chấp nhận thì bỏ, lựa dòng nhạc khác.

Nhưng ở đâu sáng kiến hiện ra? Cái lóe lên đó từ đâu hiện ra? Sự thật đó là phước chứ không phải là tài. Người ngoài thường khen mình có tài, nhưng khi hiểu kĩ trong tâm mình, ta biết do phước mà có. Nghĩa là, người mà tâm có đạo đức rồi sẽ có trí tuệ, có tài năng.

Trong nhiều tâm tốt, có một tâm quan trọng là tâm thiền định. Tâm thiền định là gì? Đức Phật thị hiện ngồi thiền 49 ngày nhập định rồi đắc đạo thành Phật. Điều này có ý gì? Là Ngài muốn dạy cho chúng sinh rằng người nào muốn giác ngộ thì phải tu tập thiền định. Cho nên tâm thiền định là đỉnh cao của tâm hồn.

Chúng ta đã đồng ý tâm là quí hơn mọi điều trên đời. Nhưng cái quí nhất trong tâm là gì? Chính là tâm thiền định. Ví dụ một người nói: “Tôi không màng tài sản, danh vọng, sắc đẹp, tôi không màng gì hết, tôi chỉ cần tâm hồn”. Người nói câu đó là người rất hay, rất chuẩn. Nhưng có người khác nói rằng: “Trong tâm hồn, cái quí nhất của tâm chính là tâm thiền định” thì người này là số một. Đúng như vậy, nội tâm là điều quí hơn cả mọi điều trên đời, và trong nội tâm đó, có nhiều thứ đáng quí, có nhiều đạo đức đáng quí – và quí nhất chính là tâm thiền định. Vậy tâm thiền định là tâm gì?

Tâm thiền định là tâm vô niệm và vô ngã. Vô niệm là gì? Vô niệm là trong tâm mình trống hoàn toàn không suy nghĩ gì hết. Bây giờ chúng ta thử ngưng bặt ngay, không suy nghĩ gì hết.

Chắc chắn không bao giờ nghe đếm một, hai, ba vừa dứt tiếng mà ta dứt hết niệm, dứt hết suy nghĩ liền, và đạt được vô niệm vì Đức Phật còn phải nhập định 49 ngày mới dứt niệm. Nếu người nào vừa đếm xong một, hai, ba mà hết suy nghĩ, nhập định liền tức thì, người này quả là siêu xuất, hơn cả chư vị Hòa Thượng đấy !

Việc tu để đạt được vô niệm, không còn suy nghĩ gì hết là một công trình rất lớn. Có khi suốt kiếp này chúng ta vẫn chưa xong mà phải qua nhiều kiếp, mặc dù tu rất tinh tấn, phải hẹn qua nhiều kiếp sau. Nhưng đừng bỏ, bỏ sẽ không bao giờ được. Đó là tâm thứ nhất, vô niệm.

Tâm thứ hai là vô ngã. Vô ngã rất sâu xa, khó nói được trong một hai lời vì thời gian cũng không có nhiều. Vô ngã là không có cái ta. Thế giới sắp tới là hướng về thiền định. 2500 năm trước Phật đã dạy về thiền định. Từ đó đến nay, đã có một số người biết tu thiền định. Nhưng cuối cùng, phải làm sao cả thế giới này, mấy tỉ con người này, ai cũng phải biết tu tập thiền định vì thiền là nền văn minh tương lai của nhân loại.

Mong sao những nhà lãnh đạo chân chính của thế giới phải hướng loài người đi về thiền định. Nếu nhà lãnh đạo nào chỉ lo kinh tế, chiến tranh, chính trị, giáo dục, người này chỉ lo những cái thấp, những cái bình thường. Nếu nhà lãnh đạo nào mà nhìn ra được giá trị của thiền định, dùng quyền lực của mình để đưa loài người đi về thiền định, chúng ta biết đó là một vị minh quân, một vị Thánh quân, một vị Thánh vương, một người nêu được chính nghĩa rực rỡ nhất cho thế giới này.

Ta hãy chờ đợi một ngày nào đó, thế giới có một lãnh tụ phi phàm, dùng quyền lực của mình đưa hết loài người đi về con đường thiền định để cho trái đất này trở thành cõi tịnh độ, trở thành chốn thiên đường. Và bấy giờ, thiền định không còn là sắc thái riêng của đạo Phật nữa, mà trở thành tài sản chung cho cả nhân loại.

Chúng ta hôm nay còn đau khổ, còn mê mờ vì ta không biết tâm thiền định vô niệm và vô ngã. Nếu chúng ta tu tập để đạt được vô niệm và vô ngã, nội tâm của ta vượt bậc, cao siêu, không còn vướng mắc ích kỷ, tham lam, oán hận, ganh ghét của kẻ  phàm phu bình thường nữa mà lòng ta chỉ có thể đầy ấp từ bi, độ lượng, thương yêu, trí tuệ mà thôi. Cho nên ta nói với nhau, thiền định là đỉnh cao là con đường để chúng ta đi đến Thánh vị. Là đệ tử Phật, tất cả chúng ta phải biết tu thiền.

Thiền là tương lai mà tất cả loài người đều phải hướng về. Nhân loại sau này buộc phải đi về con đường thiền định, trẻ em từ nhỏ phải được học thiền. Bổn phận ta là đệ tử Phật, ta phải đi trước nhân loại một bước.

Từ bây giờ, chúng ta phải biết tu tập nội tâm thiền định, tu tập tâm vô niệm và vô ngã. Từ bây giờ, quí Phật tử phải đi tham cầu học đạo, nghe vị nào biết thiền định chúng ta đến để học hỏi, tu tập. Tuy nhiên Thầy cảnh báo một điều, dạy thiền thì rất nhiều nơi dạy nhưng để dạy cho đúng thì rất hiếm nơi dạy đúng. Vì vậy phải cẩn thận. Để lựa được nơi nào dạy thiền chuẩn nhất, đúng nhất thì ta phải cầu Phật gia hộ. “Xin Phật gia hộ cho con tìm được người dạy thiền chân chính nhất, đúng ý Phật nhất”.

Một điều nữa là tâm sẽ qui định nơi chúng ta đến sau khi bỏ thân này. Khi được hỏi con người sau khi chết sẽ sinh về nơi đâu, chúng ta trả lời : hãy xem nội tâm của người đó, sẽ biết người đó sinh về nơi đâu. Nếu tâm một người nặng nề, người đó sẽ rơi xuống địa ngục, và nếu tâm một người nhẹ nhàng, người đó sẽ về cõi trời. Chỉ vậy thôi.

Thế nào là tâm nặng? Thế nào là tâm nhẹ? Tâm nặng là tâm có đeo đá nên nó nặng. Còn tâm nhẹ là tâm có cột bong bóng bay nên nó nhẹ.

Tâm nặng sẽ làm cho ta khi chết rồi rơi xuống địa ngục liền. Cái gì làm tâm ta nặng? Vì tâm ta bị đeo bởi một cục đá to. Cục đá to đó là cục đá gì? Ác độc, tham lam, ích kỷ, sân hận, câu mâu, si mê, nói điều sai trái, mưu hại người khác,… chính là những cục đá. Lúc sống, tâm ta đã nặng nề, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng không giãn ra được. Mình nhìn gương mặt một người, mình thấy nặng nề thì biết ngay tâm người đó nặng nề, người này khi chết sẽ rớt xuống dưới.

Còn cái gì làm tâm ta nhẹ? Đó là tâm vô ngã, không thấy có ta, tâm không có suy nghĩ, chỉ có từ bi, chỉ có độ lượng, vị tha. Nhìn gương mặt một người, ta thấy sáng rỡ và hân hoan, ta biết người này chết bay lên. Vì thế, muốn biết một người chết đi về đâu, ta hãy nhìn gương mặt, qua gương mặt ta biết nội tâm, và biết nội tâm họ năng nhẹ rồi, ta sẽ biết khi chết, họ sẽ đi về đâu.

Chúng ta tu như thế nào mà nhìn gương mặt ta thấy sáng, nhẹ nhàng và thanh thoát, ta biết mình sẽ bay lên. Còn ta tạo tội, gây nghiệp gì đó, khi nhìn gương mặt ta, thấy nặng như đeo đá, chầm dầm, ngầu ngầu, chắc chắn khi chết, ta chỉ rơi xuống mà thôi. Đơn giản vô cùng.

Như vậy, ai hiểu được nguyên tắc này rồi, có thể về mở một văn phòng coi bói, để đoán xem người chết đi về đâu.

Đa phần chúng sinh chết đi về đâu? – Đa phần chúng sinh chết không đủ ác để xuống địa ngục mà cũng không đủ thiện để bay lên cõi trời, nên thường vất vơ vất vưởng ở cõi này. Có rất nhiều chúng sinh không có chỗ đầu thai đang vất vơ vất vưỡng chúng quanh chúng ta, và trong số đó, tương lai sẽ có chúng ta. Tình trạng chết rồi vất va vất vưởng không có chỗ đến, không có chỗ đầu thai, không xuống địạ ngục, không lên cõi trời, không ai cúng cho ăn, cứ đi lang thang đầu đường xó chợ, lâu lâu có ai cúng thí thực, chạy đến giựt, đúng là rất nhiều người gặp phải.

Vì sao vậy? Vì lúc sống, nếu những người đó làm điều ác thì xuống chỗ địa ngục hoặc làm việc thiện thật nhiều sẽ được lên cõi trời. Hay thương yêu, giúp đỡ con người để mai mốt chết, đầu thai lại vào nhà người đó làm con cho người ta nuôi mình. Còn ở đây chúng ta không như vậy. Chúng ta không quá thiện để lên cỏi trời, không quá ác để xuống địa ngục, chẳng thương yêu ai lo lắng cho ai nên cũng chẳng có ai chịu nhận mình làm con để mình đầu thai vô, thế là cứ phải vất va vất vưởng.

Chúng ta thử xét lại xem mình có đúng “ba không” hay không?

Nếu mình đạt được ba không, đó là không quá ác để xuống địa ngục –  không quá thiện để lên cõi trời – cũng chẳng thương quí chăm sóc ai cả đời để có thể đầu thai được, thì chúng ta sẽ đạt được tình trạng chết rồi vất va vất vưởng ở ngoài đường. Biết thế, chúng ta tránh « ba không » đó !

Suốt cuộc đời của mình, sống chỉ làm điều thiện, từ bi, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tận tụy, chu đáo để khi chết rồi, bất cứ nhà nào cũng muốn mình đầu thai vô làm con, mình sinh vô nhà nào cũng được hết, mình được quyền tự do lựa chọn. Còn người không đủ phước, không ai cho mình vô đầu thai hoặc chỉ được duy nhất một gia đình nghèo chấp nhận mình vô đầu thai mà thôi. Lúc đó, mình tìm nhà nào khá khá xin đầu thai, nhưng Diêm Vương nói: “Trước giờ nhà ngươi đâu nuôi ai, đâu thương ai, chỉ có cái nhà đó nhà ngươi có chút ân nghĩa, hãy đầu thai đại đi”. – “Nhà đó nghèo quá, làm sao con đầu thai?”. – “Phước nghiệp nhà ngươi có bấy nhiêu thôi, đòi hỏi cái gì? Muốn làm người, nhà ngươi chỉ có thể đầu thai vô đó làm con nhà nghèo thôi”.

Trong khi đó, người có phước, muốn đầu thai có hàng trăm gia đình đang chờ, vì họ có nhiều duyên lành. Trước kia, người này có gieo nhân nghĩa với cả trăm người, bây giờ cả trăm gia đình đó sẵn sàng chấp thuận, người này muốn đầu thai vào nhà nào cũng được. Người này bắt đầu mới lựa chọn. Ví dụ, vô nhà này được gene đẹp nhưng nhà kia được gene cao, gene nhà nọ thì có râu quay nón, nhà kia thì có năng khiếu âm nhạc, mình tùy thích mà lựa chọn. Cuối cùng, ta chọn gia đình nào biết tu, biết Phật pháp xin đầu thai vô.

Đến khi chết, nếu chưa lên cõi trời được, để được tự do lựa chọn nơi đến, tự do chọn lựa gia đình mình đầu thai vào, lúc sống trên đời, ta nên gieo ân nghĩa với rất nhiều người, giúp đỡ rất nhiều người. Vì vậy, ta nên ráng từ đây cho đến ngày chết, nguyện trọn cuộc đời còn lại ta sống cực kì tử tế với con người, với chúng sinh, và xây dựng nội tâm mình hoàn hảo.

Bây giờ, Thầy nói về bản chất vô ngã của tâm. Vấn đề này lớn nhưng ta không còn nhiều thời gian.

Chúng ta thường lầm tưởng có một cái ta bên trong, tưởng có một cái ngã bên trong. Bởi ta nói: tôi suy nghĩ, tôi biết, tôi nghe, tôi tưởng tượng, tôi mơ mộng. Dường như có một cái ta để biết, có một cái ta để suy nghĩ, mơ mộng nhưng – Xin thưa, sự thật không hề có cái ta ở trong đó.

Tất cả là một khối tâm niệm ta quyện chặt với nhau ở trong đó. Khi tâm ta khởi điều này khi tâm ta khởi điều kia, làm cho chúng ta tưởng như có một bản ngã trung tâm nhưng kỳ thật không có cái ta trung tâm nào hết. Đó là bản chất vô ngã của tâm mà Phật đã dạy.

Nếu ai thường nhớ rằng cái ta này không có thật thì đó là người đã gieo nhân giác ngộ rất sâu xa. Bài giảng ý vẫn chưa hết nhưng thời gian thì đã hết và cũng không thích hợp để Thầy trình bày sâu hơn.

Hôm nay chúng ta nói với nhau đề tài “Nội tâm và nghiệp báo” để chúng ta thấy một điều nội tâm là cái quí hơn tất cả mọi điều trên đời này. Mà muốn xây dựng, thể hiện một nội tâm tốt đẹp, hoàn hảo, ta phải làm phước rất nhiều.

Không phải mình muốn tốt là nội tâm ta tốt liền. Không phải ngồi nghe một bài pháp xong là tâm mình tốt liền.

Ta phải tu tập rất vất vả mới có một nội tâm tốt. Và khi đã có một nội tâm tốt rồi, chính nội tâm ấy sẽ đưa chúng ta đi trên những nẻo luân hồi, tìm đến những nơi tươi sáng, tốt đẹp và cuối cùng là đi về nơi Thánh vị cao siêu.

Xin tất cả mọi người, chúng ta hãy chấp tay, cùng cầu nguyện cho tất cả chúng sinh đều đạt được một nội tâm hoàn hảo, thánh thiện để cho ai cũng được giác ngộ giải thoát.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

                                                               THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

500 KIẾP CHỒN: (1) Nhân Quả Thế Gian

                   NĂM TRĂM KIẾP CHỒN: (1)

                         Nhân Quả Thế Gian 

 

T

hiền sư Bá Trượng Hoài Hải thoáng nhìn đã biết đây là người khác lạ ông già này mấy lúc gần đây thường theo chúng Tăng nghe sư thuyết pháp. Hôm nay chúng Tăng đã ra khỏi pháp đường mà ông vẫn nán lại và chậm chậm đi về phía sư.

Bá Trượng hỏi:

– Ông là người gì?

Ông già thưa:

– Bạch Hòa Thượng, con không phải là người, con là con chồn ở sau núi. Nguyên đời Đức Phật Ca Diếp con là vị Tăng. Vì có người hỏi con:

“Bậc đại tu hành có rơi vào Nhân Quả chăng?”

Con đáp:

“Không rơi vào Nhân Quả!”

Thế là con đọa làm thân chồn đã năm trăm kiếp. Nay dám xin Hòa Thượng nói lại một lời để con thoát thân chồn.

Bá Trượng bảo:

– Ông hỏi lại ta.

 

– Bạch Hòa Thượng, bậc đại tu hành có rơi vào Nhân Quả chăng?

Bá Trượng bảo:

– KHÔNG LẦM NHÂN QUẢ!

Ông già chợt đại ngộ, thưa:

– Thế là từ nay con thoát thân chồn, dám xin Hòa Thượng lấy lễ Tăng chêt tống táng cho con.

Nói rồi biến mất.

Bá Trượng sai bạch kiền chùy với chúng:

“Trưa mai ăn cơm xong đưa đám một vị Tăng”

Chúng Tăng ngạc nhiên vì nhà bệnh không có ai nằm, không có ai chết.

Hôm sau Bá Trượng dẫn chúng Tăng đi vòng sau núi đến cái hang lấy gậy bươi ra xác một con chồn rồi đem về làm lễ trà tỳ trịnh trọng.

Câu chuyện trên đây được lưu truyền rộng rãi trong Thiền Tông khiến nhiều người kinh sợ, dè dặt bớt lời nói đại ngôn của mình. Vì sao chỉ đáp sai một câu mà bị đọa làm thân chồn ngót năm trăm kiếp?

Giáo lý đạo Phật đặt trên nền tảng NHÂN QUẢ, phủ nhận NHÂN QUẢ tức là phủ nhận toàn bộ giáo pháp của Phật. Trong một câu đáp ngắn gọn nhưng thật ra đã phế bỏ tất cả Phật pháp và quả báo của tội lỗi đó là năm trăm kiếp làm thân chồn.

 

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy sự quan trọng của luật Nhân Quả lớn lao đến dường nào, và sự cần thiết của người tu Phật là phải quán triệt đường đi phức tạp của Nhân Quả để áp dụng cho đời sống tu hành của mình được vững chắc.

Trên căn bản là “nhân nào quả nấy”, nhưng luật Nhân Quả cũng biến hóa không cố định. Nếu ai khéo hiểu biết có thể biến nghiệp nặng thành nhẹ, chuyển phước nhỏ thành phước lớn.

Có LUẬT NHÂN QUẢ THẾ GIAN và cũng có NHÂN QUẢ XUẤT THẾ GIAN. Chúng ta sẽ xét từng đặc tính của NHÂN QUẢ.

1. NHÂN QUẢ THẾ GIAN

Trên danh từ, chúng ta tạm dùng chữ NGHIỆP để chỉ cho sự tích chứa những ác tác qua hành vi lời nói và ý tưởng. Phản nghĩa với NGHIỆP là PHƯỚC. NGHIỆP và PHƯỚC là sự tích lũy trung gian để chuẩn bị cho quả hình thành.

                         NGHIỆP

NHÂN                              tích lủy              QUẢ

                        PHƯỚC

Nghiệp tích lũy để chực hờ sẵn sàng đợi duyên đem lại những quả báo đau khổ cho người. Ngược lại, phước tích lũy sẵn sàng đợi duyên kết thành những quả báo thiện lạc cho con người.

 

Thế cho nên từ một loại nhân cũng có thể gặp duyên kết thành nhiều loại quả, và một quả có thể từ nhiều nhân hợp thành.

Ví dụ người chỉ tu hạnh bố thí cúng dường rất nhiều nhưng không để ý các công hạnh khác. Phước tích chứa có thể trở thành những quả báo khác nhau.

Vì bố thí tài vật nên được nhiều của cải.

Vì khi bố thí khiến người nhận có thể đạt được điều họ mong cầu, nên được quả báo sở cầu như ý.

Vì khi bố thí có thể khiến người được ăn uống thuốc thang, nên cảm quả báo khỏe mạnh sống lâu.

Nếu đợi người tìm đến mình mới bố thí, đến lúc cảm quả báo phải đi đây đi kia mới làm ra của cải. Ngược lại, nếu mang tài vật đến tận nơi để bố thí thì sẽ cảm quả báo ngồi một chỗ ở nhà mà tiền của tự đến.

Nếu khi bố thí mà vẫn hạ mình nhúng nhường tôn trọng người nhận sẽ cảm quả báo vừa giàu có vừa được quyền cao chức trọng.

Nếu bố thí mà xem thường người nhận sẽ cảm quả báo giàu có nhưng không được quyền chức, đôi khi ở một đẳng cấp thấp kém.

Nếu khi bố thí mà muốn mọi người biết cái tốt của mình, sẽ cảm quả báo được danh, nhưng phước tích chứa giảm bớt, quả báo giàu có bớt đi.

Nếu khi bố thí mà kín đáo thì phước tích chứa trọn vẹn, được giàu có đầy đủ.

 

Nếu thường hay bố thí nhưng lại khó tính khắc khe những việc khác, sẽ cảm quả báo giàu có nhưng phải sống trong môi trường ràng buộc ít tự do.

Phước bố thí kết thành bởi tấm lòng và tài vật đem thí. Có khi vì nghèo khó, người bố thí ít tài vật, nhưng lòng họ rất ân cần rộng rãi, cũng được  phước lớn. Tâm tốt dễ cảm quả báo cõi trời.

Có khi người quá giàu có, việc bố thí là điều dễ dàng không cần phải cố gắng, và họ bố thí rất nhiều tài vật. Nếu thiếu tâm chân thành ưu ái tha thiết thì chỉ cảm quả báo giàu có lớn ở cõi nhân gian.

¯ Khi ông Cấp Cô Độc vừa khởi sự xây dựng tịnh xá cho Đức Phật và Tăng chúng thì tại các cõi trời đều hiện ra lầu các rực rỡ dành  sẵn cho ông. Nhưng theo lời khuyên của tôn giả Xá Lợi Phất, ông chỉ hướng tâm chọn cõi trời Đao Lợi vì nơi đó có Phật pháp. Liền đó lầu các tại những  cung trời kia biến mất chỉ còn tòa lầu các tại cung trời Đao Lợi vẫn không mất dành cho ông. Ở đây ông Cấp Cô Độc vừa cúng dường tài vật vừa thêm tâm ý rất ân cần cung kính tột độ đối với Phật và chúng Tăng.

¯ Đem cúng dường đèn để bày tỏ lòng tôn kính trí tuệ của Phật, vua Ba Tư Nặc và quần thần thắp các loại đèn với dầu thơm sáng rực cả Tịnh Xá. Có một bà già ăn xin nghèo khổ ngay hôm đó chỉ xin được một muỗng dầu, đã đem muỗng dầu đó thắp đèn cúng Phật với lời đại nguyện sẽ thành Phật. Đức Phật đã thọ ký Phật quả cho bà. Tuy tài vật cúng dường ít oi nhưng chí nguyện tha thiết lớn lao đã tích một công đức vĩ đại.

 
 

¯ Một người phụ nữ nghèo nàn ở  mướn cho chủ đến gánh nước tại bờ sông, buồn bã về số phận cực khổ của mình và định quyên sinh. Tôn giả Ca Chiên Diên đi đến giảng về luật Nhân Quả cho cô nghe, Tôn giả bảo: “Ta có thể cho con một ít tài vật để tạm bớt khổ, nhưng điều này càng làm cho con tổn phước và thêm khổ về sau. Với trọn tấm lòng chân thành của con, hãy đem cho ta bất cứ cái gì của con.”

Cô gái nói qua tiếng nấc:

– Nhưng thưa Ngài, con không có bất cứ gì cả. Đến thùng này cũng là của chủ.

– Hãy múc cho ta miếng nước!

Cô gái vâng lời xuống sông múc nước đem lên rót vào bát của Tôn giả Ca Chiên Diên. Tôn giả trân trọng uống hết và chú nguyện cho cô gái.

Nhờ phước đức ấy mà cô gái mạng chung sinh lên cõi trời. Nhớ đến ơn củaTôn giả, thiên nữ kia đem hoa trời xuống cúng dường Tôn giả và siêng năng tạo nhiều phước thiện.

Nếu đắp đường bắt cầu cho mọi người qua lại sẽ cảm quả báo  có phương tiện di chuyển tốt, trên đường đi được bình an thuận tiện. Nhưng giao thông là mạch máu của sinh hoạt xã hội, bồi tạo cầu đường để người qua lại khiến sinh hoạt của họ được dễ dàng cũng cảm quả báo có đời sống thuận lợi hanh thông.

Xây dựng trường học sẽ cảm quả báo được nhà cửa to lớn và được trí thức học vấn tài giỏi.

Xây dựng bệnh viện sẽ cảm quả báo được nhà cửa to lớn và được khỏe mạnh trường thọ.

 

Trồng cây xanh, đào giếng nước cũng là những việc phước thiện đáng nói, vì cây xanh làm bóng mát cho bộ hành đi đường, lọc không khí sạch, ngăn tiếng ồn, và có gỗ củi cho người sau được dùng. Nhà nước hiện nay đang khuyến khích trồng rừng, đây là việc phúc lợi công cộng mà mọi người cần đóng góp.

Đào kênh mương dẫn nước đi khắp nơi là việc phước lớn. Nước làm ruộng xanh tốt, và quả báo cũng theo đó thành tựu lớn.

Thường thì người ích kỷ khó làm được việc phước thiện, vì phước thiện là phải hy sinh san sẻ nhường nhịn, vì phước thiện là quên mình thương người. Nếu người khéo ở trong môi trường tập thể, biết lo cho tập thể  xây dựng cho tập thể sẽ được quả báo thuận lợi lớn về sau. Càng bao dung được nhiều người phước càng thêm lớn.

Bảo vệ sự sống cho mọi loài là nhân lành to tát. Chúng ta hãy đừng giết hại chúng sinh nào, đừng vì việc ăn uống bồi bổ cho cá nhân mình mà sát hại chúng sinh. Hãy thương yêu mọi loài, bảo vệ sự sống mọi loài. Đôi khi chúng ta giết hại một con thú, không ngờ con thú đó hết tội trở lại thân người. Người mới trở lại đó sẽ gặp gỡ kẻ đã giết nó và chúng ta cũng thừa biết việc gì sẽ xảy ra. Thù ghét và mưu hại, đánh đập và giết chóc là chuyện đương nhiên.

Chúng ta sợ chiến tranh, muốn hòa bình nhưng mỗi ngày các lò sát sinh thi nhau giết thịt quá nhiều, và các đoàn quân đã đối diện nhau để thanh toán nợ cũ.

Người giết các chúng sinh nhỏ như tôm, cá, ốc, hến, sẽ cảm quả báo bệnh hoạn, đoản thọ. Nếu dùng lưỡi câu móc mồi để dụ cá thì cảm quả báo hay bị lừa gạt rất tuyệt vọng đau khổ.

¯ Chuyện này tôi được nghe kể lại:

 

Sư trụ trì chùa Thiền Lâm được một ông đại phú đến xin giúp đỡ cho cô con gái ông đang bệnh nặng mà nhà thương Grall đã cho đem về nhà không chữa nữa. Ông đại phú năn nỉ mãi. Sư chợt nhớ đến luật Nhân Quả, bảo:

– Ông tìm mua thật nhiều chim đang bị nhốt sắp làm thịt đem về đây.

Ông kia vội làm theo. Sư quy y và phóng sanh cho bầy chim và chú nguyện cho cô gái. Ông kia về đến nhà thì cô con gái đã trổi dậy kêu đói và bệnh tình hết dần.

¯ Người mẹ dắt cô con gái đang là sinh viên đến nhờ thầy Thông Lạc cho ý kiến vì cô đang mắc bệnh phong giật, rất là mắc cỡ và bất tiện khi cơn bệnh phát ra giữa lớp học. Thầy Thông Lạc viết vội bài Hành Thập Thiện và bảo:

– Con hãy tự tay chép ra mười bản và đưa cho mười người bạn con thực hành để hồi hướng công đức cho con.

Cô sinh viên về làm theo và bệnh hết hẳn.

Thập thiện là phép tu mười điều lành nơi hành vi, lời nói và việc làm. Tuy gọi là mười, nhưng với người hiểu biết Nhân Quả sâu xa sẽ thành vô lượng thiện.

Một loại nhân có thể tích phước để tùy duyên mà thành nhiều loại quả. Và ngược lại, một quả có thể từ nhiều loại nhân hợp thành.

Người có gương mặt đẹp đẽ cũng có nhiều nhân duyên để thành tựu. Hoặc trong quá khứ người ấy là người đức hạnh đoan chính, giữ giới kỹ lưỡng. Người ấy tâm tư diệu dàng từ ái, hay nghĩ tốt cho người – kẻ nổi sân, hay nghĩ  xấu người khác sẽ cảm quả báo có khuôn mặt dữ và xấu – hoặc trong quá khứ người ấy tô vẽ hình tượng Phật, Bồ tát, Thánh tăng rất đẹp. Hoặc đã cúng hoa nơi điện Phật, làm trang nghiêm các Thánh địa, bằng các hình thức trang trí. Hoặc đã khen ngợi tùy hỷ vẻ đẹp của người khác một cách chân thành.

 

Người nữ vì có tâm dịu dàng tình cảm nên thường cảm quả báo đẹp mà yếu đuối lãng mạn.

Người nghệ sĩ có nét đẹp đa tình, mơ mộng cũng bởi quá khứ thường đem lời mơ mộng tình cảm để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của bạn bè, của người tình yêu dấu!

Ngược lại, người khó tính gay gắt hẹp hòi, hay công kích chỉ trích người khác sẽ cảm quả báo có khuôn mặt khó nhìn.

¯ Một cô gái nghèo khổ phải ở mướn ba năm mới sắm được xấp vải đẹp. Nhưng trên đường trở về, cô gặp một vị Sa Môn đã chứng quả Alahán với tấm y rách rưới. Cô chợt động lòng đem dâng cúng hết xấp vải mà với sự khó nhọc ba năm qua mới được. Vị Alahán ấy vào bụi rậm thay tấm y bước ra. Cô sững sờ nhìn vị ấy đẹp đẽ rực rỡ trong tấm y mới và buộc miệng:

– Nguyện làm sao con đẹp như Ngài!

Từ ấy, đời nào cô cũng được sắc đẹp tuyệt vời và luôn luôn giàu có danh vọng lớn lao.

Người bị khuyết tật ở chân như cụt chân, què chân, liệt chân đi không được cũng từ nhiều nguyên nhân hợp thành.

 

Hoặc vì rào đường lắp ngõ gây khó khăn cho sự đi lại của mọi người nên đời này chân đi không được.

Nếu hay bẻ gãy chân cẳng của thú vật thì cảm quả báo què chân.

¯ Có bà cụ bị liệt chân đi không được. Sau bà phát tâm đắp sửa một đoạn đường dài trong làng và tự nhiên chân đi trở lại bình thường.

Người bị khuyết tật ở miệng như sứt môi, miệng méo là do quá khứ nói những lời không chánh đáng, phỉ báng Phật pháp, Nhân Quả chửi mắng người, giải thích sai giáo lý, sai sự thật.

Người bị khuyết tật ở mắt như mù, lòa, mây vảy che là do quá khứ làm mất ánh sáng nơi công cộng khiến mọi người không trông thấy cảnh vật. Hoặc do chỉ đường cho người đi lạc, dạy sai giáo pháp của Phật, hoặc chọc ghẹo chê bai người mù. Nếu ác tâm móc mắt thú vật sẽ cảm quả báo bị mù trong sự đau nhức ghê gớm. Còn ác tâm móc mắt người thì phải đọa địa ngục.

Ngược lại, người nào trong quá khứ đem đèn thắp sáng nơi công cộng, sẽ cảm quả báo có đôi mắt tốt, sức nhìn rõ. Hoặc dùng lợi ích tìm lợi ích cho người cũng được mắt sáng.

“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”, ánh mắt biểu lộ rõ tính tình của mỗi người. Nếu người tâm ý thanh tịnh sẽ có trực giác đọc được tính tình của người khác qua ánh mắt.

 

Người thông minh trí tuệ cũng từ nhiều nhân duyên được thành tựu. Hoặc do quá khứ biết khen ngợi trí tuệ của người khác. Hoặc đem những hiểu biết của mình dạy cho mọi người không giấu giếm. Hoặc đem sự tài giỏi của mình để làm việc lợi ích cho mọi người, để bênh vực chánh pháp, xiển dương thánh đạo, bảo vệ chúng sinh. Hoặc tìm cách truyền bá những lời dạy quý giá của các bậc thánh cho mọi người được biết.

¯ Ngài Xá Lợi Phất được ca ngợi trí tuệ đệ nhất vì nhiều đời Ngài thường dùng trí tuệ làm lợi ích hóa độ chúng sinh. Ngài Mục Kiền Liên được ca ngợi thần thông đệ nhất vì quá khứ thường dùng thần thông để giáo hóa.

¯ Trong một đời quá khứ, tôn giả A Nan là người giàu có, ủng hộ một thầy Tỳ kheo đầy đủ để thầy ấy có thì giờ học thuộc các kinh điển. Từ chánh nhân đó, thêm nhiều nhân khác tiếp tục, tôn giả được quả báo có trí nhớ siêu việt, những điều gì đã nghe qua một lần là vĩnh viễn không quên.

¯ Một lần vua Ba Tư Nặc đến bạch Phật về việc một trưởng giả rất giàu vừa qua đời mà không có con cái thừa tự nên vua đã sung tài sản đó vào công quỹ. Ông Trưởng giả này tuy giàu có nhưng sống một đời rất khắc khổ hà tiện. Phật bảo rằng vì trong một đời quá khứ ông cũng là người giàu có. Thuở ấy có một vị Bích Chi Phật mỗi ngày đều đi ngang qua nhà ông để khất thực. Mỗi ngày ông đều sai người mang thức ăn đem ra cúng dường, nhưng cũng mỗi lần cúng dường xong lại sinh tâm tiếc rẻ.

Do phước cúng dường vị Bích Chi Phật đó, ông cảm quả báo bảy lần sinh lên cõi trời, bảy lần ở cõi người được giàu có. Nhưng vì không có tâm hoan hỷ, mà lại khởi tâm tiếc rẻ nên ông luôn tự ý sống một đời khắc khổ đạm bạc như người nghèo khó. 

Vì ông đã từng giết con của em mình để đoạt gia tài nên đời này không con thừa tự tài sản.

Người ngu đần cũng từ nhiều nhân duyên hợp lại. Có thể người đó đã từng làm thú liên tiếp mấy đời rồi mới vừa được sinh làm người. Hoặc đã đốt sách, xé kinh, phỉ báng các thánh, lừa gạt người ngu, giấu giếm điều mình biết, giải thích sai sự thật.

¯ Tôn giả Châu Lợi Bàn Đặc là một vị A La Hán thời Đức Phật tại thế. Nhưng trước khi chứng Thánh quả tôn giả là người trí tuệ kém cỏi, học bài kệ ngắn suốt mấy tháng không thuộc. Sau này có người hỏi về nguyên nhân, Phật bảo thuở quá khứ tôn giả là một pháp sư tài giỏi, nhưng không nói hết những điều mình biết vì sợ người hơn mình, nên đời này cảm quả báo tối tăm một thời gian.

Nghiệp tà dâm cũng chiêu cảm những quả báo đáng kể. Cái vị ngọt của dâm dục chính là cái đưa chúng sinh đến khổ đau hơn cả. Nếu không phạm tà dâm với người ngoài nhưng còn nghiệp ái dục thì mầm gốc sanh  tử ngu si tội lỗi vẫn chực chờ khởi dậy để sai sử người tạo ác, phạm tà dâm cảm quả báo làm thú, các loài thú không biết hổ thẹn tàm quý thường giao cấu một cách lộ liễu. Nếu quá nặng phải đoạ địa ngục. Có được trở lại thân người phải làm thân nữ ở chốn lầu xanh.

 

Nếu người mai mối tác hợp cho người khác sẽ cảm quả báo bị ái dục nung nấu thúc bách không yên. Người tu giữ giới thanh tịnh chớ bao giờ làm việc dại dột này.

Những người viết sách, viết tiểu thuyết mà hay nói về ái dục, diễn tả ái dục để lôi cuốn độc giả sẽ cảm quả báo đọa địa ngục, vì sách phổ biến quá nhiều người.

Những bài hát tình tứ lãng mạn ca ngợi yêu đương khiến người nghe chìm trong tình cảm, trở nên kém cỏi trí tuệ, yếu đuối ý chí, cũng khiến người soạn và người nghe, người hát cảm quả báo đọa lạc vào những loài tối tăm, nhiều luyến ái. Chỉ nên hát lời ca ngợi đức hạnh, tuyên dương giáo pháp, gợi tâm cao thượng của người sẽ cảm quả báo đẹp đẽ trang nghiêm, sanh về cõi lành, danh thơm đồn khắp.

Người hay nói lời ly gián chia rẽ sẽ cảm quả báo sứt môi – môi bị chia đôi, và sống đời cô độc.

Người hay ban ân, giúp đỡ, che chở cho mọi người sẽ trở thành hạng lãnh đạo, và người thọ ân trở thành thuộc hạ.

Người anh cả, chị cả trong nhà là người đã từng lo lắng giúp đỡ những người em.

 

Thế nên đừng ước mơ làm lãnh tụ vô ích vì đó là tâm tham danh vọng hão huyền. Chỉ nên đem cả cuộc đời mình phụng sự cho mọi người trong yêu thương tôn trọng và quả báo lớn sẽ đến tự nhiên.

Chúa Jésus bảo:

“Người chen lên trước sẽ phải ở lùi lại phía sau và người nhường nhịn đứng ở sau sẽ được đưa lên đứng trước”

Người thích danh vọng tranh giành địa vị, xem thường mọi người sẽ cảm quả báo hạ liệt. Ngược lại người khiêm hạ nhường nhịn tôn trọng mọi người sẽ được phước ở địa vị cao.

Có những người trí thức văn hóa nhưng lại nghèo thiếu vì quá khứ thường nghiên cứu văn hóa, làm việc văn hóa nhưng không biết bố thí và khuyến khích mọi người bố thí. Nếu biết dùng văn hóa để tuyên dương đạo đức sẽ cảm quả báo thiện lạc lớn lao.

Người biết dấu điều dở, bày chổ hay của người khác cũng cảm quả báo đẹp đẽ, tài hoa, danh tiếng và dễ thành công.

Người biết im lặng không khoe chỗ tốt của mình thì phước tích chứa không bị tổn.

Nếu người hay dạy người khác tạo phước đến khi người đó được địa vị cao thì mình được làm cố vấn. Quốc sư thầy của vua là trường hợp như vậy.

Tuy nhiên trên cuộc đời tương đối này cũng có những trường hợp một việc được phước ở khiá cạnh này nhưng là tội ở khía cạnh khác.

 

Người chiến sĩ cầm súng giết kẻ thù (tội) để bảo vệ sự bình yên cho đồng bào (phước), người nông dân xịt thuốc giết sâu rầy (tội) để làm ra lúa gạo cho con người dùng (phước). Người hiệp sĩ hạ một tên cướp (tội) để cứu lấy một đoàn du khách (phước).

Người lương y chế thuốc trị bệnh từ mạng sống của một số động vật.

Người thầy giáo la rầy quở phạt, đôi khi đánh học trò để buộc nó phải cố gắng học tập.

Ông  thầy đã đuổi một đệ tử để răn những người khác ở lại.

 Thiền sư Đơn Hà chẻ đốt tượng Phật để phá chấp cho viện chủ.

Người bác sĩ giết con thú để thí nghiệm tìm phương pháp chữa bệnh  cho con người.

Rất nhiều trường hợp mà tội phước cùng thành lập một việc tính ra “lời” hơn phước lớn tội rất nhiều.

Luật Nhân Quả có thể chuyển đổi tội phước tăng thêm hay giảm đi.

Một nắm muối tội bỏ vào một tô nước phước thì quá mặn không uống được.

Một nắm muối tội bỏ vào một lu nước phước thì tạm uống được.

Một nắm muối tội bỏ vào một ao nước thì như không có gì.

 

Chúng ta đã từng gây tội từ nhiều kiếp, đó là điều hiển nhiên không thể chối cãi, nhưng hãy tạo cho mình một hồ nước phước lớn lao, và tội lỗi sẽ được hóa giải.

Khi chúng sinh gặp gỡ tác thiện tạo ác với nhau và đó là sự liên quan với nhau. DUYÊN – trong những kiếp luân hồi về sau mãi. Nếu người gây duyên lành với nhau, đời khác gặp lại, vừa trông thấy mặt đã có thiện cảm. Ngược lại, đã tạo ác với nhau, khi gặp lại liền sinh ác cảm.

Những người có duyên luyến ái với nhau nhiều đời, khi gặp lại tình xưa liền bộc phát mà ngôn ngữ thế gian gọi là tiếng sét ái tình.

Nếu người giết các loài thú lớn như heo, bò, trâu, ngựa, chó, khỉ…, mà những loài này dễ trở lại thân người sau này kẻ đó phải bị rơi vào cảnh đấu tranh ác liệt với những kẻ thù mới trở lại thành người, và tùy theo phước mà phải đền nợ nhiều hay ít.

Người thường ban ân, giúp đỡ, săn sóc người khác, hoặc với thú vật, về sau gặp lại, được những kẻ kia thương mến phục tùng.

Người đốt rừng đốt cỏ chết nhiều chúng sinh cảm quả báo bệnh phỏng, chết cháy, gặp chúng sinh không ưa.

Cách thức mà một người chọn để tự tử cũng tùy nghiệp mà thành.

Nếu hay giết chúng sinh bằng cách nào, về sau mình cũng hay bằng cách đó để tự tử.

 

Những đời trước thường thông thạo kỹ thuật nghề nghiệp gì, đời này cũng dễ dàng thông thạo nghề nghiệp kỹ thuật đó.

Hiện tượng thần đồng, đứa trẻ từ nhỏ đã xuất sắc các môn của người lớn bởi kiếp vừa rồi đã là người nghiên cứu tài giỏi.

Môn ngoại ngữ mà mình ưa thích và có khiếu nhất bởi do đã từng là người của nước đó sinh qua đây, hoặc đã từng học nhiều về ngoại ngữ đó.

Sự xuất hiện của một người làm mọi người khác phải lo âu, suy tính, bất an khiến người ấy cảm quả báo khó được một nột tâm an tĩnh.

Người sống thầm lặng ít quấy rầy ai hoặc người mà sự xuất hiện của mình khiến kẻ khác hân hoan an ổn sẽ cảm quả báo có một nội tâm thanh thản.

Người biết quý kính thầy, sẽ có những học trò tốt. Người hay phá phách tinh nghịch sẽ có những học trò khó dạy.

Người bị điên loạn là do tích chứa nhiều tư tưởng ác độc tội lỗi hoặc phỉ báng hiền thánh hoặc thiêu hủy kinh sách đạo đức, hoặc tà dâm quá độ, hoặc giết hại chúng sinh nhiều quá. Muốn giúp người điên loạn phải hướng dẫn họ làm rất nhiều việc phước thiện, hy sinh rộng rãi vì mọi người, bỏ dần thói quen vị kỷ ác độc, tâm trí sẽ bình tĩnh dần dần trở lại.

Nếu đời này được giàu có sung sướng nhưng phải trãi qua một giai đoạn khốn đốn vất vả, bởi đời trước biết gieo nhân lành, nhưng có một giai đoạn đổi tâm bực tức bỏ việc thiện làm khổ người.

 

Người càng về già càng có sắc diện tốt đẹp tức là người hiện đời biết tạo phước, khi lâm chung sẽ về nơi vui sướng.

Người đang khỏe mạnh bình thường, bổng nhiên ngã ra chết đột ngột nhanh chóng ít đau đớn, tức là nghiệp ít phước nhiều, sinh về chỗ vui.

Người trước khi chết phải trãi qua tình trạng u ám tối tăm hôi hám bệnh hoạn tức là hiện đời tạo tội khá nhiều chết về cảnh khổ.

Người khi sống làm võ sĩ đấu đài cho chủ phe này, chủ phe kia để kiếm sống, chết sẽ sinh làm thân gà chọi trả nợ cho các chủ.

Người hay nuôi chim trong lồng, cá trong chậu sẽ cảm quả báo bị tù vô cớ, ở tù mà không cực khổ.

NHÂN HOA QUẢ CỎ

Sư phụ chúng tôi kể chuyện khi Người ở Phương Bối am, được Phật tử cho ít giống hoa đem gieo gần thất. Thời gian sau nơi ây cỏ mọc đầy mà hoa thì không thấy lên cây nào. Ngạc nhiên, Người tự hỏi tại sao nhân hoa lại ra quả cỏ, rồi đến vạch cỏ xem đường kiến di chuyển. Người theo dấu kiến bò đến hang kiến mới khám phá hạt giống hoa được đem về làm lương thực tại đấy.

Kể chuyện đó và sư phụ bình phẩm rằng, có những nhân lành chúng ta gieo không thành quả vì nhiều duyên khác phá hoại mà chúng ta không biết.

 

¯ Một bà nuôi thêm một đứa con nuôi đến lớn thì nó phản bội bà, bà ngạc nhiên vì quả báo kỳ lạ này. Sau khi nghe sư  phụ giải thích điều trên, bà tự  xét và tìm ra nhiều con kiến nhỏ đã phá hư việc tốt của bà. Đứa con nuôi đươc sống chung trong gia đình bà nhưng quyền lợi thì lại luôn luôn thua kém con ruột của bà. Sự bất mãn âm ỉ kéo dài nhiều ngày tháng cho đến khi nó đủ lông đủ cánh.

Có khi chúng ta gieo nhân bố thí, nhưng song song theo đó thường gây nghiệp sát sanh quá nhiều cũng khiến quả báo lành không xảy ra được.

Trong trứng gà, trứng vịt đã có thần thức chúng sinh rồi, thế nên chiên, luột, đập trứng đều bị tội.

Rượu làm điên loạn tâm não người, tự uống thì gây hại cho mình đã đành, nếu mời rượu, bán rượu sẽ cảm quả báo si mê điên loạn, nếu mình có phước trí tuệ không bị si mê, cũng phải chịu quả báo bị hành hạ bởi người thân điên loạn vì say rượu.

Nếu cùng tùy hỷ, nhúng tay vào nghiệp giết hại sẽ chiêu quả báo chết tập thể trong một tai nạn giao thông hoặc bom đạn, hỏa hoạn.

Tùy theo phong tục, tính tình, hành vi chung của một xứ khiến có thể bị thiên tai như ngập lụt, hạn hán, giông bão (tội), hoặc được lợi lớn như trúng mùa, kinh tế phát triển, sản xuất nhiều hàng hóa, thời tiết thuận tiện. Đây là do đạo đức chung của một xứ mà cảm thành.

 

Chiến tranh là một tai nạn cho cả nhiều nước, và chiến tranh luôn luôn xảy ra mãi bởi vì con người còn giết thịt quá nhiều. Hòa bình chỉ thật sự vững chắc khi nhân dân không còn nghiệp sát nữa.

Tuy nhiên dù ở một đất nước bị chiến tranh khói lửa ngút ngàn, nhưng cũng có những người biết ăn chay không mang nghiệp giết hại, họ vẫn sống ở những hoàn cảnh bình yên không chứng kiến súng đạn, không thấy xác người chết, không nghe tiếng bom đạn nổ. Đây gọi là “biệt nghiệp” trong cái “cộng nghiệp”.

TÙY HY

Nếu thấy người khác làm các việc thiện, lòng chúng ta vui vẻ tán thán sẽ tích được phước lớn. Chỉ cái phước do tùy hỷ cũng rất là thiện lạc, và từ cái nhân tùy hỷ này chúng ta cũng sẽ làm được nhiều việc thiện tương tự.

Ngược lại, nếu chúng ta khởi tâm đố kỵ việc lành người khác sẽ tích nghiệp đáng kể, khó thành công trong các việc làm, gương mặt khó nhìn, và khổ đau chồng chất.

Nhân thành hình do chúng ta tự làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người làm sanh tâm tùy hỷ.

Nếu bậc cha mẹ không tự làm, nhưng đã khuyên bảo và tạo điều kiện cho con cái làm việc thiện thì cả nhà chung hưởng phước.

Nếu thấy một người đang chọc huyết con thú, nhiều người khác đến góp ý kiến trợ giúp tùy hỷ và như thế quả báo cùng nhau trả.

Người hiểu biết Nhân Quả chuyện chiến tranh sát hại nên bỏ qua, không khởi tâm vui mừng theo phe thắng, oán hận giùm phe thua, vì tâm đó sẽ dẫn ta vào đấu tranh đẫm máu.

      NĂM TRĂM KIẾP CHỒN

Thấy người tạo công đức, ta tùy hỷ là phải, thấy người được thành công kết quả, ta cũng nên tùy hỷ, không nên đố kỵ, và đau khổ, cảm quả báo khó thành công. Tùy hỷ là đức hạnh của con người có tâm hồn bao dung quảng đại, và vì họ quảng đại nên phước họ không nhỏ. Tự cái tâm tùy hỷ đã là một niềm hạnh phúc ngay hiện tại rồi.

Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện cuối Kinh Hoa Nghiêm Bồ Tát Phổ Hiền tuyên bố nơi hạnh Tùy Hỷ công đức:

“Lại nữa, này thiện nam! Hạnh tùy hỷ công đức nghĩa là:

Như có chư Phật nhiều như số bụi rất nhỏ của tất cả cõi Phật Pháp giới, khắp hư không giới, khắp mười phương, suốt ba đời chung góp lại, từ lúc mới phát tâm vì cầu nhất thiết trí nên siêng năng tu tập tích lũy phước lành chẳng tiếc thân mạng. Trải qua số kiếp nhiều như số bụi rất nhỏ của tất cả vô lượng cõi Phật góp thành. Cũng nhiều như thế các Ngài đã làm tất cả những khổ hạnh khó làm, được viên mãn các môn Ba La Mật, được chứng nhập các địa của trí tuệ Bồ Tát, được thành tựu Phật quả vô thượng bồ đề, cho đến nhập Niết Bàn phân chia Xá Lợi. Tất cả những thiện căn ấy ta đều tùy hỷ vui theo.

 

¯ Cả đến các loài trong sáu đường, sinh ra theo bốn cách ở khắp mười phương thế giới, có được công đức dù nhỏ như hạt bụi, ta đều vui theo tùy hỷ.

“Tất cả các vị Thanh Văn, Bích Chi Phật, hàng hữu học hoặc vô học ở khắp mười phương, suốt cả ba đời, có công đức gì ta đều vui theo tùy hỷ.

“Tất cả Bồ Tát siêng tu vô lượng khổ hạnh khó làm thiết tha cầu công đức quảng đại nơi vô thượng chánh đẳng Bồ đề, ta đều tùy hỷ.

Như thế dù cho cõi hư không tận, cõi chúng sinh hết, nghiệp chúng sinh diệt, phiền não chúng sinh không còn, mà hạnh tùy hỷ của ta vẫn không hề dứt.”

Chỗ cảm động nhất là Bồ Tát đã dạy chúng ta tùy hỷ dù công đức nho nhỏ như hạt bụi. Thường chúng ta dễ bỏ qua không để ý đến việc tốt của người khác, nhưng lại thấy rất rõ chỗ sở đoản của họ. Đôi khi chúng ta tô vẻ tưởng tượng thêm lỗi lầm của người mà không chịu tìm thấy cái hay của họ để tùy hỷ. Thấy người giàu sang danh vọng, ta liền moi móc quá khứ khiếm khuyết. Thấy người Trí Tuệ thông minh tài giỏi, ta liền biếm nhẻ dòng họ gia thế. Nhân Quả đã bắt đầu từ chỗ tác ý.

 

Thế nên người muốn xa lìa ác nghiệp, chiêu tạo thiện duyên phải kiểm soát nội tâm kỹ lưỡng, dứt trừ tham lam, sân hận và si mê. Chính tham sân si đã sai sử  lời nói và hành vi tạo nên vô số ác nghiệp. Dù chúng ta có hiểu biết Nhân Quả mà chưa nhiếp phục tham sân si trong tâm, đến khi gặp việc khó phiền não tham sân si rất mạnh mẽ. Chúng ta phải đào sới nội tâm xem kỹ bộ mặt nham nhỡ của tham lam, bộ mặt ác độc của sân hận và cái đờ đẫn của si mê.

Tham lam là muốn thêm nhiều cho mình!

Chúng ta có nhiều của cải vật chất, muốn có nhiều người thương yêu kính trọng, nhiều danh dự quyền chức, nhiều tô điểm đẹp thân, nhiều ngũ dục khoái lạc. Từ đây chúng ta biết tham muốn là nguồn gốc tạo tội nên bỏ tâm tham muốn, khởi tâm ban phát buông xả. Khi gặp lại những cái mà từ trước vẫn ham thích, chúng ta hãy mạnh mẽ tự nhắc mình đừng đắm luyến, vì những cái đó có vẻ hấp dẫn, nhưng chỉ đưa đến tội lỗi và ràng buộc. Đối với tiền của đang có thì không nên nắm giữ, hãy rộng rãi ban phát giúp đỡ mọi người. Đối với danh dự, đối với khoái lạc, hãy xem như mây nổi, như lửa nóng mà xa lánh. Lịch sử từ  xưa đến nay quá nhiều người đã giết nhau vì tranh giành quyền thế. Thiên đường của Homère diễn tả cuộc chiến tranh dài dẳng suốt chín năm trời tại thành Troic, nguyên nhân chỉ vì giành giật một người đàn bà hư hỏng.

Sân hận là thái độ khi lòng tham không thỏa mãn!

Bị người chửi mắng làm mất danh dự, ta không nhẫn được sẽ nổi sân. Bị người tranh giành chiếm đoạt tài sản, giành mất quyền chức, giành lấy người đẹp, ta sẽ nổi sân. Từ lòng sân hận này ta sẽ hại người, tạo thành vô số ác nghiệp. Có khi hiểu biết Nhân Quả, mà khi lửa sân nổi dậy, cũng khó bề kiềm chế, vẫn tạo nghiệp như thường. Dừng ác nghiệp thì trước phải bỏ được lòng sân hận, gặp việc trái ý vẫn bình thản không oán giận. Thường xuyên tự nhắc mình phải biết thương yêu mọi người.

 

“...Dù người không yêu ta

Vẫn cứ yêu thương người

Dù người bạc đen lừa dối

Dù đời cay đắng như vôi…

Khi lòng từ phát triển thì lòng sân hận bị chế phục. Lòng từ ái yêu thương mọi người như dòng nước suối trong mát mùa xuân chảy qua thung lũng đầy hoa thơm cỏ lạ, có bầy thú rừng vô tư tới lui uống nước. Dòng nước này mới dập tắt được ngọn lửa sân hận, hoặc cháy bừng bừng, hoặc cháy ầm ĩ trong tâm hồn man dại của chúng ta.

Nếu vì tham lam rồi biến thành sân hận, thì ngược lại lòng từ sẽ đưa đến ban phát.

  TỪ                                       SÂN

BAN PHÁT                             THAM

Khi chúng ta chuyển đổi tâm sân thành tâm từ và nơi mảnh đất tâm từ này mọi hạt giống thiện lạc sẽ nảy mầm vươn cao, xòe tán, ra hoa, kết trái. Bạn sẽ nhường ghế ngồi trên xe lại cho người khác, và lấy chiếc bánh định mang về cho em mình để dỗ đứa bé đang khóc trên tay mẹ nó. Bố mẹ nó sẽ mĩm cười, và hỏi thăm bạn đôi điều. Khi bạn xuống  xe có mấy đôi mắt nhìn theo ưu ái.

Bạn sẽ mang quà đến thăm người hàng xóm nhuốm bệnh.

Hoặc giữ  lại lon gạo để nấu cháo chiều nay và san sẻ phần kia cho người láng giềng đói khổ…

Lòng từ không thể nói suông, tưởng tượng rỗng, mà phải được củng cố, phát huy bằng hành động thực tiễn. Và thưa bạn, không  phải đợi đến khi quả báo cảm ứng kết thành bạn mới có hạnh phúc, mà ngay trong phút giây ban phát, thương yêu hiện tại, hạnh phúc cao cả đã ngập tràn tỏa sáng.

 

Si là không biết rõ!

Trước hết không biết rõ luật Nhân Quả báo ứng. Lại không biết rõ tham sân là động lực tạo nghiệp. Không biết rõ lòng từ là gốc của thiện lạc. Không biết rõ thế gian là vô thường biến đổi, mọi khoái lạc tiền của, danh vọng, sắc đẹp rồi sẽ biến mất. Không biết rõ các pháp là do duyên hợp không có tự tánh cố định. Không biết rõ từng vọng niệm khởi lên trong tâm. Không biết rõ Niết Bàn an lạc giải thoát khỏi luân hồi sinh tử  khổ đau.

Ngày nào mà những điều trên chưa được biết rõ thì ngày đó chúng ta hãy còn si mê, hãy còn suy nghĩ, nói năng hành động trong mờ mịt sai lầm để đưa đến đau khổ. Ngày nào mà những điều trên chưa được biết rõ thì ngày đó chúng ta chưa sống đúng tư cách của một con người, hãy còn sống như kẻ man rợ sơ khai gần với loài thú. Thật vậy, loài thú là do quả báo ngu si tạo nghiệp mà thành. Nếu chúng ta si mê tạo nghiệp thì việc thành thú là điều không khó lắm. Biên giới giữa người và thú không xa. Người làm tội sẽ thành thú. Thú hết tội sẽ thành người.

 

Hiểu biết rõ Nhân Quả là điều cần thiết đối với tất cả chúng ta. Hằng ngày trong đời sống chúng ta hãy tập suy luận về Nhân Quả. Khi thấy người giàu mà diện mạo xấu xí, hãy tự suy luận xem vì sao như thế. Khi thấy người làm việc gì cũng thành công nhưng rất ít học, hãy xem vì sao như thế. Khi thấy người gánh đất đắp lại đoạn đường hư trong làng, hãy suy luận quả báo sẽ ra sao. Khi thấy người thường an ủi khi kẻ khác buồn, giúp đỡ khi kẻ khác thiếu, nhận lỗi khi kẻ khác làm… hãy suy luận xem quả báo sẽ ra sao?

Vô số những cảnh tượng trong  cuộc đời đều không ngoài Nhân Quả, chúng ta phải phát triển trí tuệ Nhân Quả để áp dụng sống cho đúng và dạy bảo mọi người về luật Nhân Quả, về việc phát triển lòng từ, xa lìa tham sân.

Một số gạo, một ít tiền có thể giúp người thiếu tạm qua cơn đói khổ, nhưng trí tuệ Nhân Quả sẽ giúp họ vĩnh viễn được thiện lạc yên vui. Thế nên công đức truyền bá trí tuệ Nhân Quả rất là lớn lao vì nó là gốc của mọi công đức khác. Một gia đình đều biết Nhân Quả, gia đình đó sẽ đoàn kết, giàu mạnh và hạnh phúc. Chỉ có sự hiểu biết Nhân Quả, phát triển từ  tâm, chế phục tham sân, mới thật là phương cách kỳ diệu nhất để chuyển đổi cõi đời này thành cõi nhân gian tịnh lạc vinh quang. Thêm một người hiểu biết Nhân Quả là thêm một người sáng suốt. Thêm một người phát triển từ  tâm là thêm một người cao thượng. Thêm một người chế phục tham sân là thêm một người hạnh phúc.

 

                                                                                                            THÔNG HUYỀN (Thường Chiếu)

7 Câu hỏi về thiền

7 câu hỏi về Thiền

(Thượng toạ Thích Chân Quang giảng)

Câu 1: Tại sao phải ngồi thiền đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động?

Ta buộc phải ngồi đúng tư thế kiết già mà mười phương, ba đời Chư Phật đều ngồi như vậy. Vì sao? Vì đó là cấu trúc của tâm và sinh lý phù hợp cho việc nhiếp tâm trong tu tập Thiền định. Nếu đứng, không thể đứng lâu và không vững. Nếu nằm thì giải đãi. Ngồi là tư thế trung dung giữa đứng và ngồi, đảm bảo chịu đựng được lâu. Đó là nói về sự cố gắng. Ngoài ra, trong cái ngồi đó mình phải bắt kiết già để khóa chân lại, hai tay nắm lại giữa lòng, không bung ra, lưng phải thẳng cho nên hợp lại với nhau và phù hợp với sinh lý của não nhất, khiến cho não dễ dàng được thanh thản. Tất cả các thế ngồi khác,như khi ngồi bán già hoặc ngồi trên ghế…đều không thể hỗ trợ cho việc nhiếp tâm vào sâu. Tư thế kiết già đảm bảo khoảng cách từ lòng bàn chân đến não là thích hợp nhất, đảm bảo để máu từ tim lên não và xuống lòng bàn chân, điều này có tính khoa học.

Tại sao phải thẳng lưng? – Thầy chỉ nói một ý vắn tắt. Sau này mọi người đi dậy người ta thì phải nói nhiều hơn.

Giữ thân mềm mại bất động. Vì mọi hoạt động của thân đều liên quan đến não. Do đó nếu thân nhúc nhích thì não sẽ bị động. Phải giữ toàn thân mềm mại, bất động để não được thư giãn. Đó là điều bắt buộc. Mà nếu ta gồng thân thì sao? – Thì não sẽ căng thẳng. Bởi vậy ta buộc phải giữ thân mềm mại, bất động để não bất động, thư giãn. Sự thật, tu thân chính là tu tâm. Ở đây có một điều lạ, đó là nói “Thiền là điều phục tâm” nhưng có nhiều nơi tu thiền mà trực chỉ thẳng vào tâm, nắm cái tâm tu luôn. Không ngờ cái đi thẳng lại là cái sai, không bao giờ thành công. “Đi vòng một khắc, đi tắt một ngày”. Chính cái đi vòng, đi từ cái nền theo thiên nhiên đã bày ra mà ta làm chủ được cái tâm mình. Ta muốn đi thật cao thì ta phải bò xuống thật thấp, muốn đi thật xa thì hãy đi thật chậm. Cũng vậy, muốn điều phục tâm, ta hãy lo chuẩn bị, sửa soạn thân cho thật kỹ. Vì thế, giữ thân mềm mại bất động chính là giữ cho tâm mình bất động, yên lắng và thư giãn.

Câu 2: Tại sao khi ngồi thiền phải cảm giác toàn thân, an trú toàn thân?

Giống như mình hồi nhỏ, khi mình học toán thì diện tích hình chữ nhật là cái gì? Là dài x rộng, mình không biết tại sao. Nhưng khi mình lớn lên tới lớp 12 thì phải biết tại sao. Do đâu biết tại sao? Do ta học Tích phân. Giống như hồi nhỏ ta học diện tích hình tròn thì bằng bình phương bán kính nhân với số Pi. Cứ học thôi, không biết tại sao. Nhưng tới lớp 12, ta phải biết tại sao, khi ta được học môn Tích phân thì ta biết tại sao nó như thế.

Thì cũng vậy, khi ta mới đến học Thiền thì căn bản là biết rõ toàn thân. Biết rõ thân này là vô thường, bắt đầu biết hơi thở. Biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng và không điều khiển. Ta cứ học vậy thôi, từ từ tâm ta thanh tịnh. Từ từ phá vỡ hết những phiền não cấu trúc trong não ta, ta đi vào thanh tịnh. Nhưng ta không cần biết tại sao. Nhưng mà khi không biết tại sao thì trong lòng ta vẫn có cái gì đó hồ nghi nhỏ nhỏ. Còn khi ta biết tại sao như thế thì ta rất vững lòng ứng dụng pháp môn của mình.

Bây giờ Thầy giải thích. Mình sẽ hiểu được các pháp môn khac họ tu đúng chỗ nào, sai chỗ nào.

Theo sinh lý học về não của y học, ghi trong y văn, thì nguyên vùng vỏ não của chúng ta, mỗi vùng vỏ não gánh một bộ phận cơ thể. Toàn cơ thể phía dưới đều được phản ứng trên vỏ não. Ví dụ chân nằm ở đây, ngón chân nằm ở kia, gan, thận, phổi, lá nách, phổi, cánh tay, lưng, bụng, đùi đều nằm trên vỏ não. Bây giờ ta dùng kim chích vào vùng vỏ não đầu gối thì đầu gối đau liền mặc dù không đụng tới đầu gối.

Hoặc là có những người bị tật nguyền mà mất chân vì lý do tai nạn, họ cứ thấy bị ngứa ngón chân cái, nhưng mà có để gãi không? Ngón chân cái không có để gãi nhưng vẫn bị ngứa, thì cái ngứa đó ở đâu? Vì vùng não của ngón chân cái còn. Vùng não bị cái gì đó nên ngứa ,nhưng nó phản ánh toàn thân là có ngón chân cái mà rờ không có chỗ nào để gãi hết. Ta hiểu như vậy, vỏ não của ta phản ánh cơ thể của ta. Nó có chức năng, trách nhiệm phản ánh toàn cơ thể của ta. Tự nhiên, bình thường và bình yên như thế. Thế nào khi ta sống mà ta bị căng thẳng, khi ta sống mà ta được thư giãn? Tức là vỏ não làm việc đúng chức năng của nó.

Ví dụ như là phần vỏ não thể hiện về cánh tay của ta mà nó được an trú nơi cánh tay của ta thì nó là thư giãn, nó bình yên. Nếu vỏ não đó buộc nó phải suy nghiệm về vấn đề khác thì nó trở nên căng thẳng dần, gọi là tâm ta động. Ta mệt, ta phải làm việc. Khi não ta làm việc nghĩa là gì? Là nó không thực hiện đúng với cái chức năng tự nhiên của nó, bắt đầu nó phải động qua vấn đề khác. Nhiều ý niệm khác đi vào. Như cái vùng đó chịu trách nhiệm về lưng nhưng vây giờ nó không chịu trách nhiệm về lưng nữa mà lúc đó đang suy nghĩ về người hàng xóm, về việc hơn thua, cãi lẫy… là nó rời khỏi chức năng đó. Gọi là não ta bắt đầu đi vào Stress, căng thẳng. Còn nếu vùng não của cái lưng mà nó phản ánh đúng cái lưng, an trú đúng cái lưng thì nó trở nên nhẹ nhàng, bình yên. Đây là mấu chốt phải hiểu được chỗ này mới hiểu sâu hơn nữa vào Thiền từ từ.

Nói lại, một ví dụ khác. Ví dụ như một người canh trước Chánh Điện, họ ngồi đó, biết hết mọi vấn đề từ hồi nào tới giờ rồi, như là cửa trên có mấy phần, cửa dưới có mấy phân, ai đi ra đi vô đều biết hết. Nhưng bây giờ họ ngồi đó mà không cho họ canh Chánh Điện nữa, bắt họ ngồi đó tính toán kế toán của chùa, thì lúc đó họ phải mệt hơn. Còn bây giờ không tính toán, cho họ về đứng yên đó trở lại làm công việc đúng chức năng thì họ thoải mái, bình yên lại liền.

Từng vùng não phản ánh mọi điểm trên toàn thân chúng ta, đó là mấu chốt làm cho mình định hay động. Vì thế, khi ngồi thiền mà ta an trú toàn thân, ta không nghĩ chuyện khác nữa, có nghĩa là cái vỏ não bình yên. Nó trở lại trạng thái tự nhiên của nó. Đó là bước thứ nhất để đi về phía thư giãn chứ Thầy chưa nói định. Đó là lý do tại sao ngày xưa Đức Phật bảo ta là phải cảm giác toàn thân, là để cho vỏ não trở lại đúng chức năng từng vùng của nó. Đó là công thức bí mật vô cùng. Bây giờ ta mới thấy sợ Đức Phật. Thời đó Đức Phật không thể giải thích vì khoa sinh lý học của não chưa ra đời. Nên Đức Phật dậy ta rất kỹ về điều này mà không giải thích. Đến hàng ngàn năm sau cũng không ai giải thích được. Rồi người ta bỏ luôn cái thân, vì cứ nghĩ tu tâm là nắm tâm mà tu, không ngờ rằng thân chính là gốc của tâm.

Sự thật, khi tu hầu như không ai an trú toàn thân cho kỹ mà luôn luôn bị rời khỏi thân. Rất nhiều lần tâm ta bị rời khỏi thân. Có 3 lý do khiến tâm bị rời khỏi thân:

– Vọng tưởng kéo ta đi, hễ động tâm là rời khỏi thân liền. Nguyên nhân này người mới tu thường hay bị.

– Khi tâm ta bắt đầu yên, rỗng sáng làm cho ta thích thú, ta chiêm ngưỡng, ngắm và an trú trong đó, ta cũng bị rời khỏi thân. Người tu tốt cũng dễ bị mất cái thân, mà mất thân là mất cái gốc, rồi sẽ bị loạn trở lại. Nguyên nhân thứ hai này người tu lâu thường bị mắc phải, khi gặp trạng thái rỗng sáng, thích thú là bỏ thân để an trú trong đó. Mà trạng thái đó nằm trên đầu. Vì thế lâu dần lực sẽ từ từ chạy lên đầu gây Tẩu hỏa nhập ma, điên loạn.

– Do ta không xác định vững lập trường phải an trú toàn thân. Ta còn mơ hồ về công phu là phải an trú toàn thân, tức là tâm ta lúc nào cũng phải an trú trên da của ta, không rời khỏi da. Ta không xác định lập trường rõ ràng nên bất cứ chuyện gì cũng làm cho ta không an trú toàn thân đầy đủ, vững chắc, rõ ràng, đầy đủ. Cho nên nói biết rõ toàn thân thì cũng chỉ biết hơi hơi thôi. Tâm vẫn bị để ý chỗ này, chỗ kia nên không an trú tòan thân một cách vững chắc, rõ ràng. Nhưng đừng chặt chẽ vì chặt chẽ thành ra dằn ép, nghĩa là phải thật nhẹ nhàng nhưng kỹ lưỡng.

Câu 3: Khi nào vọng tưởng khởi lên ta phải làm gì?

Chỉ cần trở lại an trú toàn thân, chỉ như vậy, đơn giản vậy thôi. Thật ra, ta biết được vọng tưởng để trở lại an trú toàn thân là ta đã có phước rồi nên mới sực nhớ là ta đang bị vọng tưởng để mà trở lại an trú. Còn ta không có phước thì sao? – Ta cứ đi mãi đi mãi. Nên chỗ này là nhờ cái phước mà ta gây tạo từ đời xưa cho đến đời này, ta cẩn thận từng chút một trong ý nghĩ, trong đời sống, mà đến khi vọng tưởng khởi lên ta sực nhớ mà nhớ rồi thì bắt đầu mỗi pháp môn đi theo pháp môn của mình. Người niệm Phật thì quay lại niệm Phật, người tri vọng quay lại tri vọng, hơi thở quay lại hơi thở, thoại đầu quay lại thoại đầu. Mình thì quay lại an trú toàn thân.

Khi ta an trú toàn thân đúng rồi, ta sẽ thấy một điều tự nhiên thế này ( điều này khí công gợi ý cho ta) ta từ từ an trú nhiều ở nơi vùng da bụng. Nhưng vùng da bụng không phải là tất cả mà chỉ giống như là một sự chữa trị cho ta, lâu nay ta cứ để tâm trên đầu, mắt nhìn theo sắc, tai theo tiêng, mũi đắm theo hương, đầu ta chạy ra ngoài theo ngoại cảnh. Cho nên ta an trú toàn thân một thời gian thì từ từ ta an trú phần da bụng. Khi có kết quả Thiền định thì ta lại an trú toàn thân. Nhưng ban đầu, cái tự nhiên cả ta thường là an trú nơi bụng. Vì thế, lúc đầu ta tập khí công là để gợi ý điều đó. Khi mà tự nhiên cũng đạt như vậy.

Ta an trú toàn thân sẽ hết vọng tưởng. Đây là điểm khác nhau của ta và các pháp môn khác. Thân là gốc của tâm. Khi ta an trú thì thân sẽ rỗng suốt, nhẹ nhàng.

Câu 4: Tại sao phải biết thân vô thường và biết sâu xa, biết cho tới khi mà xương sau này sẽ tan thành bụi bay mất?

Khi ta biết toàn thân thì não ta bình an lại, thư giãn lại, nhẹ nhàng lại. Nhưng thẳm sâu bên trong thì những bản năng vẫn còn nguyên vẹn. Bản năng là những ham muốn của thân, những khát vọng của cuộc sống, những cái cố chấp của tâm nó tiềm tàng là do ta chấp thân. Vì khi ta biết thân thư giãn rồi nhưng ta vẫn quý cái thân thì toàn bộ cái chấp vẫn tồn tại và phát triển. Khi biết rõ toàn thân có thể làm ta quý cái thân này. Và đây chính là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Ngoại đạo tu, họ cũng biết thân. Họ biết cái luân xa này, cái luân xa kia để khai mở từng luân xa nhằm đạt được quyền năng, vì vậy họ quý thân. Ngang chỗ này là phân biệt ra đạo Phật với ngoại đạo liền. Tại sao khác nhau giữa Thiền và Yoga, khí công của ngoại đạo. Cũng là chỗ này. Ta biết thân, ta quý thân, ta biết huyệt này huyệt kia, ta trở thành ngoại đạo. Ta biết thân nhưng biết thân này là vô thường thì lần lần ta phá tan hêt những bản năng, những cố chấp trong thẳm sâu, trong tâm hồn mình, trong cuộc đời mình luôn.

Ví dự như thế này, Thầy nói một cái ngặt nghèo nhất của người tu là vấn đề ái dục. Ái dục nó là bản năng tự nhiên. Nó mãnh liệt ghê lắm, không có gì cản lại được. Nhưng nếu ta ngồi Thiền ta thấy thân vô thường thời gian dài dài… thì những cái đó mất. Bắt đầu ta mới thấy được cái như Đức Phật nói là ví dụ như một người nam nhìn một người con gái đẹp, ta không hề quán họ là vô thường, không hề quán họ là bất tịnh, không cần, ta chỉ quán chính ta. Ta chỉ quán chính ta là vô thường. Nhưng bây giờ người con gái đẹp xuất hiện là mìn nhìn ra: người này đẹp như thế nhưng rồi nhan sắc họ sẽ tàn phai, tánh tình họ sẽ thay đổi, họ nhăn nheo, già nua. Ngày hôm nay thấy vậy ngày hôm sau nhìn khác. Hôm nay nhìn thấy người dịu dàng, bóng áo nâu in trên đường trăng, nhưng ngày mai nhìn thành ác quỷ không hay. Mọi chuyện trên đời là vô thường, thay đổi.

Mà nhìn cái đó xuất hiện chính là do ta quán thân vô thường, khi cái bản năng của ham muốn hết thì mình nhìn vấn đề ra rất là rõ và nhìn trùng hợp như Đức Phật đã dạy trong kinh. Nên cái quán thân vô thường lâu ngày nó phá dần các bản năng của ta hết. Và trong cái không chấp thân đó sẽ mở ra những cánh cửa trí tuệ, đi sâu vào tâm thức, phá những thói hư tật xấu, những bản ngã của ta. Những cái ngày xưa ta tham bây giờ hết tham, những cái ngày xưa ta sân bây giờ hết sân. Rất là vi diệu. Cho nên Thầy nói bước thứ nhất mà biết rõ toàn thân làm cho não chúng ta trở lại đúng chức năng, thư giãn.

Và nếu ta không thấy thân vô thường, ta quý thân thì những bản năng tiềm tàng vẫn nằm trong đó. Tuy thư giãn mà trong người đầy tham muốn thì vẫn ẩn chứa một sự sa đọa dữ dội về sau. Còn ta biết rõ toàn thân, rồi biết thân vô thường thì nó mất dần và hết luôn. Mà cái biết toàn thân luôn đi đôi với thân vô thường. Biết vô thường là biết đến mức độ nào? – Là biết tới khi thấy xương tan thành bột bay đi mất luôn. Luôn luôn phải biết cho tới cái đó, chứ không được biết một cách cạn cợt. Biết như vậy mới phá được cái chấp sâu thẳm trong bản năng ta được. Khi mới bắt đầu, ta phải mất vài phút để quán cho thật kỹ nhưng sau này, chỉ thoáng một sát na thôi là sẽ thấy suốt quá trình đó liền.

Câu 5: Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển?

( Bài trả lời ba câu hỏi tại sao?)

Khi thần kinh thở được hưng phấn thì những vùng thần kinh não khác tự nhiên đi vào ức chế. Nghĩa là khi ta chú ý thở tự nhiện thì não không động tâm vì những chuyện khác, tự nhiên nó vào định. Ngành y học và thần kinh não đã phát hiện ra điều đó, rất phù hợp với Thiền cùa đạo Phật, cũng như với Yoga và khí công của Trung Hoa. Nhưng Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Hoa đều thua Thiền của đạo Phật ở chỗ là Thiền của Đạo Phật chỉ biết hơi thở mà không điều khiển.

Hơi thở phản ánh hoạt động của tâm thức. Ví dụ như ta động tâm những vấn đề bình thường thì hơi thở nó sẽ thở như thế. Ta căng thẳng tập trung thì hơi thở nó sẽ mạnh như thế, nếu ta có thêm cảm xúc, sợ hãi, thương ghét, hơi thỏ sẽ càng thấy rõ hơn nữa. Tức là mọi hoạt động của tâm thức được biểu hiện qua hơi thở. Vì vậy, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động tâm thức ta. Ta không cân nhìn trực tiếp vào tâm ta đang vui hay đang buồn mà chỉ cần biết hơi thở ra vào thế nào là ta đang biết tâm của ta. Khi thở nhẹ nhàng, bíết tâm đang yên dần, khi hơi thở mạnh, biết tâm đang động.

Bây giờ nói ta thấy hơi thở mạnh nên kìm lại cho tâm êm lại, được không? Đó chỉ là cách chữa trên ngọn. Giống như nói tay mình thiếu đường chỉ này nên nghèo, lấy dao cắt một cái cho nó giầu vậy. Cho nên, hơi thở là biểu hiện của tâm, nhưng không phải là ta ép, điều khiển hơi thở mà làm tâm hết vọng tưởng. Đúng là kiềm chế hơi thở thì tâm yên, nhưng một nguy cơ thứ hai phát sinh, đó là sự tăng trưởng bản ngã. Cái ý điều khiển hơi thở sẽ làm tăng trưởng ngã chấp. Nên người mà ta thấy họ tu điều khiển hơi thở trong khí công hay Yoga ta thấy bản ngã họ tăng lên dần dần.

Còn những người khi thấy hơi thở mạnh, liền biết tâm mình động. Chỉ cái biết đó thôi là như đã sám hối rồi, nên chỉ lát sau hơi thở tự dịu lại, ta không điều khiển. Như vậy, tâm thức cũng giảm động mà không tăng trưởng bản ngã. Cái ưu việt của việc biết mà không điều khiẻn hơi thở là làm tâm thức lắng xuống mà không làm tăng trưởng bản ngã. Mấu chốt nằm ở chỗ này. Đó chính là lý do mà tại sao Phật dậy ta: “Hơi thở dài biết dài, hơi thở ngắn biết ngắn, hơi thở ít biết hơi thở ít, hơi thở nhiều biết hơi thở nhiều”. Chỉ cái biết đó thôi là đã điều chỉnh được tâm thức, còn nếu ta điều khiển, bản ngã tăng trưởng dần dần liền.

Những điều sâu xa trong việc tu tập như thế này là ưu việt của đạo Phật. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Đức Phật, có nói thế nào cũng không bày tỏ được hết lòng biết ơn của chúng ta với Đức Phật.

Qua một thời gian tu tập thì ta được rỗng suốt từ thân tới tâm. Lúc đó, những vọng tưởng manh nha thì ta biết hết. Tới chỗ này mới biết được cái tri vọng của Hòa thượng Thanh Từ. Mỗi pháp môn giao nhau ở chỗ tri vọng. Tu đúng rồi vọng tưởng khởi biết liền. Nhưng dù biết vọng tưởng rồi, nhớ đừng rời khỏi thân vì lúc đó nó nhử ta.

Khi công phu của ta vững rồi, rỗng suốt rồi thì ta sẽ bị hai nhược điểm là lúc đó mình rời khỏi thân mình để chiêm ngưỡng sự rỗng rang đó. Lúc đó ta rời khỏi cái thân là ta vi phạm nguyên tắc căn bản thứ nhất. Nghĩa là sao? Là não của ta lúc đó không còn an trú đúng chỗ của nó nữa. ta nhì cái rỗng, không để ý cái thân nữa, bắt đầu sai.

Cái thứ hai nữa là ta thích thú, ta quan sát cái vọng tưởng vì nó nhớm nhớm rồi tan biết liền làm ta rất thích thú cái công phu đó. Vọng tưởng tế vừa mới phát triển, ta thấy là phải buông liền. lúc đó ta không rời thân để nhìn tâm. Nó sẽ dụ ta nên hãy nhớ là nhiều lúc xuất hiện trạng thái rỗng suốt rồi những vọng tưởng vi tế xuất hiện, ta thấy, ta phát hiện ngay từ đầu thì chớ dại mà bỏ thân mình. Tiếp tục biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển. Cứ như vậy mà đi, giống như mũi thuyền phía trước nhưng mình điều khiển thuyền thì mình cầm cái bánh lái đằng sau. Đừng thấy mũi thuyền đi phía trước qua những thác những ghềnh, những qua bãi hoa đẹp thì ta đi điều khiển mũi thuyền. Ta ta có biến chuyển qua bao nhiêu trạng thái thì kệ nó, ta chỉ cần biết thân. Biết thân vô thường, biết hơi thỏ vào ra mà không điều khiển.

Hôm nay, thầy trả lời câu này, cũng là nâng cấp lý luận rất lớn về công phu tu tập Thiền của chùa ta cho đại chúng hiểu như vậy.

( Bài trả lời bẩy câu hỏi về Thiền)

Khi ta an trú toàn thân thì ta còn hơi chấp thân, khi ta biết thân vô thường thì trong thẳm sâu của thân ta tự nhiên buông lỏng, buông chấp ra là nhẹ liền. An trú thân là an trú tâm rồi, nhưng mà mình biết thân vô thường thì mức an trú sâu hơn, làm ta lỏng tâm ra liền. Khi tâm bắt đầu thanh thảnh thì ta thấy hơi thở vào hơi thở ra. Lúc này khi biết hơi thở rồi thì luôn luôn tự nhiên nó phải điều khiển. Đó là bệnh tự nhiên của chúng sinh, khi điều khiển hơi thở thì ý chí tăng lên và bản ngã cũng tăng lên. Người tu tập nhiều mà có điều khiển hơi thở thì sinh ra nóng nẩy. Vì vậy, ta thấy hơi thở nhưng không điều khiển. Nhưng nếu chỉ biết hơi thở thôi là một sai lầm. Đây là cái sai của rất nhiều bậc đạo sư trên thế giới. Khi ta thấy hơi thở hiện ra và ta chỉ còn biết có một hơi thở mà quên mất cái thân, ta sai liền. Nói gì thì nói, ta vẫn có điều khiển, mà muốn không điều khiển thì phải biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, trong đó có biết hơi thở thì lúc đó ta mới biết hơi thở vào ra một cách thanh thản, tự nhiên mà không điều khiển.

Câu 6: Trong đời sống hàng ngày nếu phải lao tác, sắp xếp, tính toán thì phải dụng công thế nào?

Nhiều người trả lời trật câu này, cứ tưởng trong đời sống ta phải làm phước hay đạo đức. Đó là căn bản của Thiền, không cần nói lại.

Bây giờ mọi người nhìn Thầy, hướng về Thầy thì tâm hướng về đâu? Tất nhiên là hướng về Thầy, nhưng mọi người phải để lại một cái tâm ở nơi cái thân cho Thầy, nhẹ nhàng biết là đang giữ tâm lại ở thân. Khi mình bước vào làm việc, hoặc nghe người ta nói chuyện, tai vẫn nghe, miệng vẫn nói chuyện nhưng vẫn có cái tâm ở lại nơi thân mình.

Trong đời sống hàng ngày, ta phải dụng công như thế. Trong sổ nhật trình, ta ghi ngày hôm nay, trong khi làm việc mình đã ở lại với thân mình được nhiều hay ít hay luôn luôn bị mất, bị gián đoạn, bị hoàn cảnh lôi kéo, tác động. Làm sao mà suốt ngày, khi ăn cơm, khi nói chuyện mình vẫn giữ được một cái tâm nơi thân cho mình. Còn khi không có việc gì hết thì sao? Thì an trú thân hoàn toàn, thanh thản. Và luôn biết thân vô thường, hễ biết toàn thân là phải biết thân vô thường. Nếu công việc căng thẳng thì có một cái tâm biết thân. Nếu công việc không căng thẳng thì thêm ý niệm thân vô thường, còn nếu không có công việc thì hơi thở hiện ra luôn, giống như lúc ngồi thiền. Khi ngủ cũng như vậy. Trước khi ngủ ta có vài tâm nguyện gì đó tùy mỗi người rồi an trú thân và thấy hơi thở vào ra không điều khiển.

Câu 7: Kết quả Thiền định bắt đầu từ đâu?

Kết quả bắt đầu từ đâu. Mà sự thật do tâm, tâm an đến mức độ nào đó thì kết quả hiện ra nơi thân. Ở câu này, ai tu tới đây thì sẽ biết, sau đó nói Thầy nghe. Thầy không nói. Ta nghe người nào nói họ tu Thiền đạt tâm thế này thế kia mà không nói về kết quả của thân, ta biết người này đi lạc hướng, không có căn bản.

                                                                        THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

MOT SO BAI GIANG AUDIO CUA TT THICH CHAN QUANG

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

19. Trưởng Thành
Download

Thế nào là “Quy Y Tăng” ? TT Thích Chân Quang

THẾ NÀO LÀ “QUY Y TĂNG”?

                                      Thích Chân Quang

  ( Giảng tại chùa Phật Quang vào đêm Trung Thu )

           Thực ra, hầu hết chúng ta ở đây đều đã quy y và có pháp danh . Khi quy y, chúng ta đã được giảng về “ Quy Y Phật – Quy Y Pháp – Quy Y Tăng “.  Ý nghĩa của Quy Y không chỉ có nghĩa là trở về nương tựa , mà là đem hết cuộc đời để tôn thờ , phụng sự , đi theo Phật – Pháp – Tăng .

           Chúng ta quy y Phật bởi vì Phật là một bậc thánh tuyệt đối trên đời nầy . Cả đến cỏi Trời và cỏi Người , cũng  không ai hơn Phật được . Cỏi Trời đầy những người có phước lớn , nhưng các vị Vua ở cỏi Trời vẩn phải xem Phật là Thầy của mình . Phật là một vị thánh tuyệt đối cho nên chúng ta tôn kính Phật tuyệt đối . Dù chúng ta có phải hy sinh thân mạng mình vì Phật , chúng ta cũng sẳn sàng chết không hối tiếc .

            Quy y Pháp là tôn thờ lời Phật dạy

            Quy y Tăng là tôn thờ các chư Tăng . Thực ra , khi chúng ta quy y , chúng ta được giảng là phải tôn thờ các bậc xuất gia , tức là những người từ bỏ gia đình , đi theo Phật , giử gìn giới hạnh ,  tu tập Thiền Định và bảo tồn Phật Pháp . Nhưng sự thật không phải vậy . Nếu nói ra sự thật này , thì nó sẽ động chạm đến tất cả giới Tăng – Ni , nhưng vẩn phải nói .

            Quy y Tăng là : chúng ta phải đem hết cuộc đời và tâm hồn chúng ta để tôn thờ các vị Thánh Tăng đắc đạo . Vào thời Đức Phật còn tại thế , Quy Y Tăng có nghĩa là tôn thờ Tăng như Phật bởi vì vào thời đó Tăng đoàn gồm toàn những vị A – La – Hán đắc đạo . Nếu chúng ta tôn thờ các vị đó , chúng ta sẽ được phước rất lớn . Ngoài ra , các vị đó rất xứng đáng để tôn thờ . Khi người được tôn thờ xứng đáng với sự tôn thờ và tín đồ tôn kính đúng nơi đúng chổ để tăng được phước duyên , Phật Pháp sẽ phát triển . Khi chúng ta tôn kính các bậc Thánh đáng kính , chúng ta sẽ được nhiều may mắn trong cuộc đời và khi tái sinh , chúng ta sẽ được sinh trong trong gia đình quyền quý , giàu có  và có nhiều thuận lợi hơn người khác .

             Nhưng khi chúng ta phải sống trong thời đại vắng bóng hết các vị Thánh , chỉ còn lại các vị Tăng bình thường . Nếu theo cơ chế , thì chúng ta cũng vẩn  phải tôn kính tuyệt đối . Nhưng xuất hiện sự kiện không tương xứng : các vị Tăng thường không xứng đáng với sự tôn kính tuyệt đối của chúng ta . Nếu các tín đồ tôn kính tuyệt đối quá mức , các vị Tăng đó sẽ bị tổn phước . Một vị Tăng – Ni xuất gia và nhận được sự tôn kính quá mức so với phẩm hạnh hay đạo hạnh mà mình có được . Qua đời sau ,vị đó không còn có sự thuận lợi tốt đẹp để tiếp tục tu hành . Đó là một điều có thật . Bởi vậy , những vị đạo cao đức trọng và biết nhân quả đều khiêm đức nghĩa là không muốn nhận sự tôn kính quá mức của người khác . Chúng ta đã gặp những vị hòa thượng , các vị tôn túc có trí tuệ đều giống nhau ở điểm nầy . Các vị đó rất dè dặt khi đón nhận sự  tôn kính vô hạn , bởi vì những vị nầy biết rằng kết quả tu hành và phẩm hạnh của mình vẩn còn có giới hạn , nên không thể đón nhận sự tôn kính và cúng dường một cách thoải mái từ các tín đồ . Cho nên hôm nay chúng ta nói ra điều nầy để chúng ta có sự cư xử đúng đắn nhằm tránh cho chư Tăng – Ni không bị tổn phước và từ đó Phật Pháp được phát triển .

        Có nhiều nguyên nhân giải thích tại sao có nhiều thời kỳ đạo Phật của chúng ta không được phát triển thậm chí suy thoái . Trong những thời kỳ suy thoái , tín đồ không đi theo đạo Phật bởi vì họ  không còn tôn trọng giới tu sỉ nửa và các vị Tăng – Ni có làm những việc tổn phước . Ngược lại , nếu các vị xuất gia không bị tổn phước và cứ từ từ tu tiến lên dần dần mặc dù  có thể người phước nhiều người phước ít , người bên ngoài gặp quý Thầy sẽ có tấm lòng nể trọng thực sự và sẽ đi theo ít nhiều . Một người xuất gia sẽ có vài trăm tín hay vài ngàn tín đồ . Khi tín đồ đổ xô theo quý Thầy đông , đạo Phật sẽ phát triển . Vì vậy , phước của Tăng – Ni rất quan trọng trong việc phát triển Phật Pháp . Phước của Tăng – Ni lại lệ thuộc vào mối quan hệ giửa Tăng – Ni và Phật Tử . Mối quan hệ nầy lại bị chi phối bởi cơ chế đã có từ xưa “ kính Phật , trọng Tăng “. Chúng ta kính trọng tất cả những người xuất gia “ đầu tròn , áo vuông “, nhưng có những vị rất xứng đáng cho Phật Tữ kính trọng và có những vị kém xứng đáng hơn . Vì lợi ích chung của Phật Giáo , ta không bao giờ được phép moi móc lổi của chư Tăng vì điều đó là chính mình bôi xấu đạo mình . Mình chỉ có thể có thái độ cư xử thích hợp với mổi trường hợp riêng biệt mà thôi . Mình sẽ có cách đóng góp sửa đổi thích hợp : hoặc là qua trung gian hoặc là gặp gở trực tiếp hoặc im lặng khi chưa đủ duyên , nhưng không được nói rộng rải lổi của Tăng – Ni ra ngoài .

        Trong vấn đề nầy , quan điểm căn bản là chúng ta thương yêu quý trọng người xuất gia . Nhưng thương quý theo mức độ nào ? Nếu chúng ta thương quý theo đúng mức độ thì Tăng – Ni không bị tổn phước và  nếu Tăng – Ni không bị tổn phước thì Phật Giáo sẽ phát triển . Lâu lâu một số vị Thánh Tăng  xuất hiện và cũng được tín đồ sùng bái như Phật . Một số thiền sư  như ngài Ngưởng Sơn đắc đạo và có thần thông đến nổi một vị sư từ Ấn Độ gọi ngài là Tiểu Thích Ca .Chúng ta đã nghe truyện về Phật sống chùa Kim Sơn đắc đạo .Còn  Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên đã dùng thần thông chửa bệnh và giáo hóa . Vào thời Pháp thuộc , Phật giáo chính thống bị đàn áp và suy đồi nên xuất hiện các vị thánh tăng đem đạo Phật vào dân gian lập nên nhiều đạo mới . Những nhân vật như Đức Phật Thầy Tây An hoặc Đức Huỳnh Giáo Chủ của đạo Hòa Hảo cũng được các tín đồ tôn sùng và coi như Phật. Nếu có một vị thánh tăng đắc đạo xuất hiện , chúng ta vui mừng và đạo Phật lại có cơ hội hưng thịnh trở lại . Ngày nay, không có một vị thánh tăng nào xuất hiện , nhưng theo cơ chế chúng ta vẩn tôn kính người xuất gia . Người tín đồ tôn kính thì nhận được nhiều phước cho chính mình , nhưng nếu sự tôn kính vượt quá mức , hơn hẳn đạo hạnh thực sự , thì uy đức  cũng như sự thu hút của người xuất gia giảm dần và đạo Phật bị suy tàn .Nếu người xuất gia cho rằng mình có quyền hưởng sự tôn kính , cúng dường của người khác vì mình là người xuất gia thì hoàn toàn sai .

          Vì vậy , chúng ta phải có sự phân biệt đối với người xuất gia để có thái độ thích  hợp để không rơi vào lổi làm cho vị ấy bị tổn phước và vì thế Phật Pháp bị suy tàn theo .

       Thứ nhất ,  tiêu chuẩn thời gian : chúng ta phân biệt người xuất gia theo năm tháng . Theo tương đối , thì những người xuất gia lâu năm đáng cho ta kính trọng , tin tưởng hơn những người mới xuất gia .

       Thứ hai , tiêu chuẩn về giới phẩm : Chúng ta vẩn thương yêu những người mới xuất gia nhưng sự tôn kính của chúng ta tăng theo giới mà người xuất gia thọ như sa di , thức xoa ,  tì kheo , tì kheo 25 năm , tì kheo 40 năm.

       Thứ ba , tiêu chuẩn về lý tưởng : Chúng ta phân biệt những người xuất gia có lý tưởng nhiều hay ít . Hầu hết những người xuất gia đều có lý tưởng , nhưng cũng có những người không có lý tưởng . Nếu không có lý tưởng , người xuất gia sẽ không làm tăng tiến phẩm hạnh của mình . Nếu người xuất gia có lý tưởng nhiều , chúng ta tôn kính  nhiều . Nếu người xuất gia có lý tưởng ít , chúng ta tôn kính ít . Tiêu chuẩn này khó nhận xét hơn vì lý tưởng nằm sâu thẳm trong nội tâm người xuất gia . Mình phải sống gần và tiếp xúc nhiều mới đánh giá được . Những người có lý tưởng tuyệt đối sẽ trở thành cây đại thụ che mát người trong thiên hạ và chúng ta có phước lớn mới gặp được những người như thế . Những người nầy sẽ tăng tiến đạo hạnh  dần dần và là chổ dựa dẩm vửng chắc cho chúng ta .

          Người có lý tưởng tuyệt đối là người như thế nào? Đó là người quyết tâm tu hành nhằm đạt đến giác ngộ giải thoát . Vị đó hết lòng tôn kính Phật thậm chí sẳn sàng chết vì Phật . Bình thường , vị đó rất quý trọng thân mạng , nhưng khi cần thiết vị đó sẳn sàng hy sinh thân mạng  vì Phật Pháp . Vị đó nguyện lòng thương yêu chúng sinh vô hạn , thương yêu cả những người lầm lổi.

          Thứ tư , tiêu chuẩn đạo đức . Chúng ta sẽ xét coi vị xuất gia đó có nhiều ưu điểm như : từ bi , dể thương , can đảm hoặc còn có nhiều nhược điểm như : kiêu mạn , nóng nẩy , cố chấp chút ít . Từ đó , chúng ta có lòng tôn kính thích hợp . Ví dụ , nếu vị đó còn quá cố chấp , ta vẩn thương yêu vị đó nhưng thương yêu vừa phải . Ngược lại , nếu vị đó vị tha , độ lượng , hiền lành , khiêm tốn ,  dủng cảm thì vị đó xứng đáng cho chúng ta đặt niềm tin yêu kính trọng lớn lao .

          Thứ năm , tiêu chuẩn về giới . Chúng ta sẽ xét coi vị đó có giử được những giới quan trọng hay không ? Nếu vị đó giử được những giới quan trọng chúng ta đặt nhiều niềm tin yêu kính trọng , bằng không chúng ta giảm bớt .

         Thứ sáu , tiêu chuẩn phật sự . Chúng ta xét coi vị đó có đóng góp được nhiều công lao phật sự hay không ? Ở trong chùa , vị đó phụ với thầy mình làm được nhiều phật sự và công quả . Ở ngoài chùa , vị đó tạo được tình đoàn kết , nối đạo tình đến với mọi người ,  truyền bá được  Phật Pháp . Những vị nầy xứng đáng cho chúng ta yêu thương kính trọng sâu sắc . Ngược lại , chúng ta nhận thấy nhiều vị chỉ lo chuyên tu , trong chùa cũng ít công quả , đối với quần chúng cũng ít tiếp xúc để giáo hóa . Đối với những vị nầy , lòng kính trọng của chúng ta cũng giảm bớt .

           Thứ bảy , tiêu chuẩn thiền định . Chúng ta xét coi vị đó có thực hành và thân chứng được thiền định hay không ? Trong đạo Phật , người tu hành phải thực hành Bát Chánh Đạo và phải đi tới chánh định nghĩa là đạt được một định lực tương đối cao . Nếu vị đó có nội tâm thân chứng được thiền định , chúng ta có thể tin tưởng  nhiều hơn những vị có nội tâm chưa chứng được gì nhiều.

            Cuối cùng , tiêu chuẩn thánh quả . Chúng ta xét coi vị đó có chứng được thánh quả hay chưa ? Người chứng được thánh quả thường không cho chúng ta biết , vì thế rất khó biết ai chứng được thánh quả . Người chứng được bốn mức độ thánh quả : tu đà hoàn , tư đà hàm , a na hàm , a la hán đều có trí tuệ và thần thông . Nếu chúng ta có duyên may biết được vị đó có trí tuệ và thần thông , chúng ta suy đoán là vị đó có chứng được thánh quẩ , chứ chúng ta không biết đích xác là thánh vị nào . Nhiều khi chính vị đó cũng không biết . Vị đó chỉ suy đoán là mình có đắc.  Nhiều vị thiền sư hay mắc lổi này: chứng thấp mà tưởng là cao . Chỉ có Phật mới biết chính xác . Thời Đức Phật còn tại thế , khi các đệ tử chứng được điều gì đều đến trình với Phật . Phật cho biết chính xác đó là mức độ nào . Nhờ biết như vậy nên ráng tiến tu không dám chủ quan . Nếu gặp những vị đã chứng thánh quả , thì đó là duyên lành , chúng ta có thể tôn kính vô hạn như tôn kính Phật . Tuy nhiên , nếu gặp những vị tăng chưa chứng thánh quả , chúng ta có thể xét theo những tiêu chuẩn khác đã nói trên đây .

           Cho nên , khi chúng ta nói “ Quy Y Tăng “, điều đó có nghĩa là chúng ta đều thương quý các vị xuất gia mà chúng ta gặp ở những chùa khác nhau , nhưng chúng ta có sự tôn kính ủng hộ thích hợp là do các tiêu chuẩn trên đây để các vị không bị tổn phước . Nếu một vị thấy phẩm hạnh  mình còn kém và không được Phật tử ủng hộ , vị đó sẽ ráng tu và trau dồi phẩm hạnh . Điều đó có lợi cho vị đó và cho Phật Pháp . Còn nếu theo cơ chế , ai cũng như ai , vị đó nghĩ rằng tôi đã đi tu rồi tôi đương nhiên hưởng sự cung kính cúng dường như những người khác và vị đó sẽ không cần tinh tấn để  được tín đồ cung kính ủng hộ nhiều hơn . Vị đó sẽ chỉ giử hình thức bên ngoài mà thiếu nổ lực bên trong.

          Từ đây về sau , khi nhận thấy Phật tử cung kính chính xác các tăng ni theo phẩm hạnh , các tăng ni sẽ cố gắng trau dồi phẩm hạnh và tinh tấn tu hành. Chúng ta sẽ không đặt sự cung kính theo hình tướng nửa . Điều đó buộc người xuất gia phải thăng tiến  về phẩm hạnh . Phật tử chính là người giám sát . Chư tăng sẽ tinh tấn hơn và Phật Pháp sẽ hưng thịnh .

          Có nhiều người xuất gia tệ hại nhận thấy : trong cơ chế nầy , họ mang hình thức tu sỉ sẽ được nhiều ưu đải . Cho nên họ không chịu từ bỏ hình thức xuất gia mặc dù tâm hồn họ rổng tếch và không còn lý tưởng nửa . Chính vì những người nầy mà đạo Phật bị suy tàn và thần thánh rời bỏ không ủng hộ người xuất gia . Đạo Phật muốn phát triển phải được chư Thiên và chư Bồ Tát ủng hộ . Chư Bồ Tát ủng hộ chính xác từng con người chứ không ủng hộ chung chung . Chư Bồ Tát ủng hộ ông thầy nào , ngôi chùa nào và nếu ông thầy đó , ngôi chùa đó không xứng đáng , chư Bồ Tát sẽ quay lưng liền và mọi điều sẽ dần dần tệ hại . Con người có thể che dấu với nhau , nhưng không ai che dấu được thần thánh .

           Đạo Phật đặc biệt hơn các tôn giáo khác là lệ thuộc rất nhiều vào các vị Hộ Pháp , Bồ Tát  và Chư Thiên .Các tôn giáo khác thì nhờ vào tài tổ chức và cơ cấu tổ chức . Họ có bộ phận truyền đạo hoạt động rất mạnh , họ biết làm kinh tế ,  họ tung tiền , họ móc nối lôi kéo tín đồ , nên họ có số tín đồ rất đông . Đạo Phật ta dở ở điểm đó , nhưng ta sống được là nhờ ở sự ủng hộ của thần thánh . Vì vậy , khi đạo hạnh của chư tăng phát triển , thần thánh sẽ ủng hộ che chở chúng ta .

           Bây giờ , nói về chư tăng ni . Nếu chư tăng – ni không muốn bị tổn phước thì đừng nghỉ mình hơn người . Thường thì lúc mới đi tu , tăng ni thường vì lý tưởng giác ngộ giải thoát chứ không ai đi tu vì muốn hơn người  Nhưng sau khi trở thành tăng – ni một thời gian , ý niệm giai cấp phát triển rất mạnh . Người xuất gia nhận thấy mình vượt hơn người cư sỉ , được người cư sỉ  tôn kính , cúng dường ,  ủng hộ . Ý niệm được người khác tôn trọng chi phối rất mạnh trong tâm hồn người xuất gia . Đây chính là ý niệm đổ vở , thất bại . Nếu người xuất gia vẩn giử mải những ý niệm ban đầu lúc mới đi tu , không thấy mình hơn người , thì đạo pháp sẽ phát triển . Còn nếu mình mặc bộ đồ tỳ kheo rồi , nhận thấy mình hơn hẳn người chưa thọ giới  gì hết , thì đó là nguyên nhân của mọi đổ vở của tâm hồn , đức  hạnh và phước .

           Vậy thì ,có cách nào giúp tăng ni đừng nghỉ mình hơn người khác ? Tăng ni phải nghĩ mình là người chịu ơn thiên hạ . Trước nhất là ơn Phật . Nhờ có Phật khai sáng đạo mà mình mới có chổ để tu . Kế đó là ơn các vị Tổ , các vị tôn túc , các vị Thầy đã giử đạo đến ngày nay . Sau đó , là ơn cha mẹ đã cho mình hình hài nầy . Ơn đà na tức là các Phật tử đã cúng dường giúp đở mình tu hành . Ơn quốc vương thủy thổ đã gìn giử yên lành cho mình . Chính nhờ có một nhà nước bảo vệ luật pháp , giử gìn an ninh , nên mình mới không bị giặc cướp , yên ổn tu hành . Nghĩa là , mang ơn tất cả người đời  kể cả mang ơn một người quét rác đã giử cho con đường sạch sẽ . Trong tâm mình phải nghĩ tất cả mọi người đều là ân nhân , còn mình mới là người chịu ơn . Khi đó , mình sẽ không còn “ lên mặt “ coi rẽ người đời nửa . Người tu sẽ khiêm cung , cố gắng tu , làm việc cho đạo và hoằng truyền giáo lý . Mình đã chịu ơn những người đã mang đạo đến cho mình và mình đền ơn bằng cách đem đạo đến cho người khác . Chính cái tâm quý trọng hết mọi người , coi mọi người đều là ân nhân khiến cho chư tăng khiêm hạ và không bị tổn phước . Khi đó thì chư Thiên sẽ tìm về ủng hộ và Phật pháp được hưng thịnh .

        Đây là yếu tố rất quan trọng . Khi người tu kiêu mạn thì thần thánh quay lưng , còn khi người tu khiêm hạ thì thần thánh ủng hộ . Từ nay người tu phải lật ngược suy nghĩ của mình lại. Mình phải là người phụng sự người khác chứ không phải là người ngồi yên để người khác phục vụ lại . Khi phụng sự , thì phải phụng sự không có sự phân biệt . Người xuất gia không được nghĩ là mình chỉ cần phụng sự chúng sinh bằng cách thuyết giáo , truyền giới , làm thầy mà phải chấp nhận làm bất cứ công việc “ hèn kém “ nào như rửa chén , quét nhà . Khi nghĩ là người phụng sự chúng sinh rồi thì việc gì làm cũng được . Chẳng hạn , khi thấy nền nhà dơ , không ai quét , nếu có cây chổi ở đó thì mình cầm lấy quét liền . Đã đến giờ thuyết pháp , nếu không có ai thuyết pháp được thì mình lên thuyết pháp liền . Dù công việc hèn kém hay cao quý , nếu điều đó có ích cho chúng sinh , người xuất gia cũng sẳn sàng làm . Vì thế , chúng ta mong tăng ni dù mới xuất gia hay xuất gia đã lâu luôn luôn có tâm niệm phụng sự mọi người như mình là một người nhỏ , nên việc nhỏ hay lớn cũng vẩn làm .Chính người có suy nghỉ như thế sẽ dần dần làm được những việc lớn lao hơn nhiều . Nhưng về sau , dù có lo được trăm ngàn công việc vỉ đại khác , tâm vẩn không tự hào .  Nếu người nào đợi cho đến khi có việc lớn mới chịu làm thì sẽ không còn có việc để làm nửa . Công việc mất dần mất dần . Còn nếu người nào không nề hà công việc lớn hay nhỏ . Công việc tự tìm đến mình .

          Về phần người cư sỉ , chúng ta thương yêu người xuất gia , vì nếu không có người xuất gia , ai sẽ giử gìn Phật Pháp ? Dù nhìn người mới xuất gia còn trẻ , mình vẩn thương , vì đây là những người giử gìn Phật Pháp cho  đời sau . Dù nhìn vị hòa thượng già lọm khọm không còn đóng góp gì cho Phật Pháp nửa , mình vẩn thương , vì đây là người đã gìn giử Phật Pháp truyền thừa đến ngày hôm nay . Chính cái đạo tình , người cư sỉ thương yêu người xuất gia , làm cho đạo Phật phát triển . Chính vì thương , người cư sỉ mới sẳn sàng ủng hộ cho người xuất gia tiến tu . Ví dụ , biết được một ngôi chùa mới được thành lập còn nghèo , các vị xuất gia còn mới , đạo hạnh cũng chưa cao , chưa thuyết pháp được gì nhiều , nhưng mình vẩn phải cúng dường , bởi vì nhờ sự ủng hộ của mình , các vị đó mới có cơ hội tiến tu . Nếu không , các vị đó phải làm quần quật suốt ngày để kiếm sống , không có thì giờ nghiên cứu kinh điển , ngồi thiền , giúp đạo Phật phát triển . Điều đó có nghỉa là mình phải đầu tư , dù chưa thấy vị đó làm gì nhiều , nhưng sau nầy vị đó sẽ làm được rất nhiều việc . Kế đó , nếu thấy vị đó là chân tu , có giới hạnh , thì lòng tôn kính tăng lên dần . Còn đối với những vị đạo cao ,  đức trọng thì mình hết lòng tôn kính .

         Còn đối với những vị xuất gia chỉ có hình tướng , bên trong hư rổng , dù đã tu lâu , mình nên tránh xa để cho vị ấy biết là : nếu vị ấy mới đi tu thì được quyền có khuyết điểm nhỏ , nhưng nếu tu lâu thì không được quyền có khuyết diểm lớn . Thái độ đó giúp cho vị đó không ỷ lại : tôi có mang hình tướng nầy thì người khác phải kính trọng . Vị đó phải trau dồi phẩm hạnh để xứng đáng với hình tướng của mình . Nếu vị ấy mới đi tu , mình có thể dể dải , nhưng nếu vị đó tu lâu , mình phải nghiêm khắc . Nếu có cơ hội , mình có thể đóng góp xây dựng , nhưng mình không nên nói lổi của vị đó rộng rải ra bên ngoài .

         Từ đây , cư sỉ đối xử với tăng ni tùy theo đạo hạnh , chứ không còn tùy theo hình tướng nửa . Lòng tôn kính tăng hay giảm tùy theo đạo hạnh người xuất gia cao hay thấp . Lối cư xử này công bằng , buộc người xuất gia luôn trao dồi đạo hạnh , có lợi cho Phật Pháp . Điều gì công bằng , điều đó sẽ phát triển . Điều đó đúng trong mọi trường hợp , ở mọi nơi . Đó là lý do chúng ta phải tôn thờ luật Nhân Quả , bởi vì đó là luật của sự công bằng tuyệt đối .

          Tại sao ta gọi đó là tuyệt đối ? Bởi vì ta có 3 loại luật công bằng khác nhau :

          Thứ nhất , sự công bằng do luật pháp mà con người tạo ra . Sự công bằng nầy chỉ có tính cách tạm thời , bởi vì con người có thể mua chuộc làm nghiêng lệch cán cân luật pháp . Có những người đã hối lộ che dấu tội lổi của mình . Có những người gài bẩy lợi dụng luật pháp để hại kẽ khác . Luật pháp được đặt ra do thiện chí của con người nhằm thiết lập công bằng , nhưng đã bị phá vở do chính những âm mưu của con người .

          Thứ hai , sự công bằng của thần linh . Thần thánh trên cao sẽ phù hộ những người tốt và phạt những kẽ xấu . Nhưng con người cũng mua chuộc luôn cả thần thánh . Thần thánh bị mua chuộc bằng cách nào ? Nếu con người muốn mua chuộc luật pháp , họ sẽ gỏ cửa sau của ông quan để đút lót và năn nỉ . Nếu con người muốn mua chuộc thần thánh , họ sẽ quỳ lạy và năn nỉ . Thần thánh vẩn còn cảm tình nên vẩn bị mua chuộc . Điều nầy có thật . Có một ông quan đó khi sống đã tạo nhiều công lao cho cuộc đời , khi chết trở thành thần , được nhân dân lập đền thờ để sùng bái . Đền thờ nầy rất thiêng . Ai cầu xin điều gì cũng được linh ứng kẻ nào hổn xược sẽ bị bẻ lọi giò . Đây cũng là sự cầm cân nẩy mực .Nhưng có một tay đó mua gian bán lận , tháng nào cũng đến cúng và năn nỉ . Vị thần đó vẩn bị xiêu lòng độ cho tay đó . Nhiều người xấu nhưng mộ đạo , hay cầu nguyện cầu xin , vẩn được tai qua nạn khỏi . Kiếp nào đó sẽ phải trả quả xấu , nhưng kiếp này vẩn được che chở . Sự công bằng của thần thánh cao hơn sự công bằng của luật pháp nhưng vẩn chưa tuyệt đối .

         Thứ ba , sự công bằng của luật Nhân Quả . Luật này không bao giờ bị mua chuộc bởi vì không có con người nào cầm cân nẩy mực để bị mua chuộc . Đó chỉ là sự vận hành khách quan bàng bạc khắp vủ trụ . Ai làm tốt thì được hưởng sung sướng , ai làm xấu thì sẽ bị quả báo đau khổ . Ai làm xấu vẩn có thể che đậy đối với luật pháp thế gian , che đậy đối với thần thánh , nhưng  vẩn bị Luật Nhân Quả lật tẩy và chịu sự trừng phạt tương xứng trong tương lai . Cho nên , Luật Nhân Quả chính là sự công bằng tuyệt đối . Ngày nào trên Trái Đất nầy , mọi người đều tin Luật Nhân Quả , đây sẽ là cỏi Tịnh Độ

               Hể cái gì công bằng , thì cái đó sẽ phát triển tốt đẹp. Hôm nay , chúng ta nói về “ Quy Y Tăng “ , chúng ta muốn dành cho quý vị tăng ni sự kính trọng chính xác, tương xứng , công bằng . Được như vậy , Phật Pháp sẽ phát triển .

                       Long Xuyên, ngày 11/6/2009

                                                 Liểu Đạo

                (chép lại theo bài giảng thu được)

MOT SO BAI GIANG AUDIO CUA TT THICH CHAN QUANG

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

Post Navigation