Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “Hồi Giáo”

Cựu tướng Mladic bác bỏ cáo buộc phạm tội trước toà

Cựu tướng Mladic bác bỏ cáo buộc phạm tội trước toà

(Dân trí) – Cựu chỉ huy quân đội Serbia tại Bosnia, ông Ratko Mladic, vừa xuất hiện lần đầu tiên trước Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh và tuyên bố không có tội trước các cáo trạng mà ông gọi là đáng ghê tởm.
 >>  Cựu tướng Serbia Mladic bị bắt sau 16 năm lẩn trốn

 


Ông Mladic là nhân vật quân sự cao cấp nhất ở Bosnia trong thời chiến.

Cựu chỉ huy trưởng quân đội người Serbia gốc Bosnia chào tòa án và nói với 3 vị thẩm phán là ông “bảo vệ dân tộc và đất nước trong suốt cuộc chiến những năm 1990 chia cắt quốc gia trước đây là Nam Tư”.

Mladic nói ông cần thêm thời gian để đọc “những từ quái đản” trong bản cáo trạng.

Ông Mladic bị buộc tội chủ mưu tàn sát 8.000 người Hồi Giáo vào năm 1995 tại Srebrenica và 44 tháng bao vây Sarajevo, thủ đô Bosnia, làm 10.000 người thiệt mạng.

Tòa án quốc tế đưa ra các cáo trạng ông Mladic tội diệt chủng, hành quyết, giết người, trục xuất, đối xử vô nhân đạo, khủng bố, và bắt làm con tin.

Các công tố viên nói đây là phần trách nhiệm của ông trong một âm mưu để đạt được “việc loại trừ hoặc vĩnh viễn đẩy đi” những người Hồi giáo khỏi các khu vực rộng lớn của Bosnia để có một nước Serbia lớn mạnh hơn. Ông Mladic bị bắt tuần trước tại Serbia.

Luật sư và gia đình ông nói ông quá yếu để có thể ra trước tòa. Tuy nhiên, các bác sĩ cho tới nay tuyên bố ông đủ sức khỏe để ra tòa.

Việt Hà

Theo AP, BBC

http://dantri.com.vn/c36/s36-486850/cuu-tuong-mladic-bac-bo-cao-buoc-pham-toi-truoc-toa.htm

Hồ sơ tội ác của “đồ tể” Ratko Mladic

Hồ sơ tội ác của “đồ tể” Ratko Mladic

27/05/2011 12:39

 
 

(TNO) Trước ống kính camera, các vệ sĩ của tướng Ratko Mladic thân thiện tặng chocolate cho những đứa trẻ người Hồi giáo Bosnia, hứa hẹn với các phụ nữ đang khiếp sợ rằng bạo lực đã chấm dứt.

>> Serbia bắt nghi phạm gây tội ác chiến tranh Ratko Mladic

“Không ai sẽ bị làm hại”, Tư lệnh quân đội người Bosnia gốc Serbia nói vào ngày 12.7.1995 trong khi dịu dàng vuốt đầu một đứa bé Hồi giáo, “Các bạn không có gì phải sợ. Tất cả sẽ được di tản”.

Trong khi Mladic nói, hàng ngàn binh lính của hắn đã thiết lập một vòng vây rộng lớn xung quanh thị trấn Srebrenica, khu vực an toàn do Liên Hiệp Quốc (LHQ) bảo vệ vừa mới thất thủ.   

Trong 10 ngày kế tiếp, binh lính của Mladic đã lùng sục, bắt bớ và hành quyết ngay tức khắc 8.000 người đàn ông và con trai trong thị trấn. Phụ nữ bị hãm hiếp và những lời khẩn cầu kiềm chế từ cộng đồng quốc tế bị nhạo báng.

 Ratko Mladic quan sát một trận chiến ở thành phố Gorazde vào tháng 4.1994 – Ảnh: Reuters

“Trên 500 nạn nhân của vụ diệt chủng Srebrenica là những đứa trẻ dưới 18 tuổi”, Hasan Nuhanovic, một người trốn thoát khỏi Srebrenica có cha, mẹ và một người em trai bị hành hình, kể lại, “Chúng đều chỉ mới 16, 17 tuổi khi bị hành quyết”.

Vụ tàn sát Srebrenica đã biến Mladic trở thành nỗi kinh hoàng của nhân loại. Sự căm phẫn sau vụ tàn sát đã thúc đẩy cộng đồng quốc tế ra tay chống lại quân Bosnia gốc Serbia, sau nhiều năm lực lượng này đẩy người Hồi giáo và người gốc Croatia ở Bosnia ra khỏi lãnh thổ mà họ khẳng định thuộc về người Serbia một cách có hệ thống.

Trong vòng vài tuần, chiến dịch không kích của NATO đã đảo ngược tình thế cuộc chiến. Vài tháng sau, một hiệp định hòa bình được ký kết và Mladic trở thành kẻ lẩn trốn cho đến khi bị CH Serbia bắt giữ vào hôm 26.5.2011.

Trong đầu những năm 1990, Mladic ủng hộ Tổng thống Serbia (khi đó) Slobodan Milosevic. Hắn kích động sự chia rẽ dân tộc và cố gắng biến phần lớn lãnh thổ Bosnia trở thành vùng “Đại Serbia” do dân tộc Serbia thống trị. Trong thời gian đó, giao tranh đã nổ ra giữa ba nhóm sắc tộc chính ở Nam Tư – người Chính thống giáo Serbia, người Thiên chúa giáo La Mã Croatia và người Hồi giáo Bosnia, trong một loạt các cuộc nội chiến chồng lên nhau.

Vụ thảm sát Srebrenica không phải là hành động tàn bạo đầu tiên của Mladic. Nó là đỉnh điểm của những năm tháng bạo lực bắt đầu bằng cuộc bao vây Sarajevo vào năm 1992, cuộc vây hãm dài ngày nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Các cuộc oanh tạc trong 4 năm đã làm thiệt mạng 10.000 người, bao gồm khoảng 1.500 trẻ em. Tại Sarajevo, Mladic đã ra lệnh sử dụng trọng pháo và các tay súng bắn tỉa nhắm vào dân thường. Lực lượng của hắn cũng bị tố cáo sử dụng việc hãm hiếp có hệ thống như một vũ khí chiến tranh.

Vào năm 2003, trong thông báo về phiên xử một thuộc cấp của Mladic, các công tố viên tội phạm chiến tranh đã nói: “Một quân đội chuyên nghiệp đã thi hành chiến dịch bạo lực không thương xót. Không có nơi nào an toàn cho người dân Sarajevo, từ nhà đến các trường học hay bệnh viện, trước cuộc tấn công có chủ tâm”.

Sinh ra tại ngoại ô Sarajevo, Mladic lớn lên trong một gia đình bị ám ảnh bởi sự chia rẽ sắc tộc mà nhà lãnh đạo Nam Tư cũ, Thống chế Josip Broz Tito, từng cố gắng kìm nén trong hàng thập kỷ.

Cha của Mladic bị giết trong một cuộc tấn công chống lại lực lượng người Croatia liên minh với Đức Quốc xã, trong đó có cả một số người Hồi giáo Bosnia. Chỉ là một đứa bé mới sinh vào lúc đó, Mladic không bao giờ biết mặt cha mình. Hồ sơ của người Đức cho thấy có hàng trăm ngàn người Serbia đã chết trong cuộc chiếm đóng và Maldic tự trao cho mình nhiệm vụ báo thù.

Tại các cuộc họp báo, Mladic đóng vai một kẻ lặng lẽ, suy tư song đáng sợ bên cạnh Radovan Karadzic. Hai người này là thủ lĩnh của những người Serbia chủ trương ly khai trong cuộc chiến với người gốc Croatia và người Hồi giáo từ 1992 đến 1995. Cả hai tuyên bố lực lượng của họ đang bảo vệ châu Âu trước sự xâm lăng của người Hồi giáo được các quốc gia giàu có bảo trợ.

Thực tế, “kẻ thù” của họ chỉ là những người dân địa phương được trang bị nghèo nàn mà tổ tiên vốn đã cải sang đạo Hồi cách đây hàng thế kỷ. Từ phát súng đầu tiên vào tháng 4.1992 đến hiệp định hòa bình Dayton, ở Ohio, Mỹ, vào tháng 12.1995, cuộc chiến Bosnia được tính toán là đã lấy đi mạng sống của khoảng 100.000 người Bosnia, bao gồm 10.000 người trong cuộc bao vây Sarajevo.

 Ratko Mladic (giữa) đến phi trường Sarajevo vào tháng 8.1993 – Ảnh: AFP

Là Tư lệnh Quân khu 2 của Quân đội quốc gia Nam Tư trú đóng tại Sarajevo, Mladic ở vào vị thế lý tưởng để lãnh đạo cuộc chiến ly khai của người Bosnia gốc Serbia khỏi nước Bosnia mới độc lập. Vào tháng 5.1992, Mladic ra lệnh cho quân của mình bắt đầu bao vây Sarajevo bằng cách cắt điện, nguồn thực phẩm và nước uống của thành phố. Các cầu không vận của LHQ đã giúp các cư dân sống sót song các vụ tàn sát gia tăng đều đặn.

Vào năm 1993, lính của Mladic đã bắn pháo vào một trận đấu bóng đá làm chết 15 thường dân. Một tháng sau đó, một quả pháo khác làm thiệt mạng 12 người khi họ xếp hàng chờ lấy nước. Vào năm 1994, một quả pháo rơi trúng ngôi chợ Markale làm chết 68 người. Một năm sau, một vụ tấn công thứ hai nhắm vào chợ Markale làm chết 34 người.

Trong giai đoạn đầu của cuộc bao vây, người ta phát hiện được một thông điệp qua sóng truyền tin của Mladic, trong đó hắn ra lệnh cho một trong các viên chỉ huy thuộc cấp hãy đốt cháy thành phố.

Vào mùa xuân năm 1993, trước lời đe dọa từ Tổng thống Mỹ Bill Clinton về các cuộc không kích của Mỹ nếu không rút khỏi một cao điểm của thành phố, Mladic đã dẫn các phóng viên lên cao điểm, khoát tay về phía chân trời và cảnh báo: “Tất cả mọi thứ này, từng chút một, đều là của tôi”. Vài giờ sau, hắn rút quân.

Một vài lời đe dọa của Mladic mang nhiều tính cá nhân hơn. Trong cuộc họp của Nghị viện người Serbia gốc Bosnia, cũng vào năm 1993, Mladic kéo một phóng viên sang bên cạnh để nhờ gửi thông điệp đến một bác sĩ phẫu thuật người Serbia đang làm việc cùng các đồng nghiệp Croatia và Hồi giáo tại bệnh viện Kosevo ở Sarajevo.

Mladic nói đã đến thời điểm vị bác sĩ lưu ý đến yêu cầu từ lực lượng của hắn rằng mọi người gốc Serbia phải rời Sarajevo và tham gia vào sự nghiệp ly khai. “Chúng tôi cần cô ta trong bệnh viện và cô ta phải đến. Cô ta là người Serbia và đó là bổn phận”, Mladic nói.

Khi người phóng viên hỏi lại rằng hậu quả sẽ như thế nào nếu vị bác sĩ không nghe theo, Mladic thủng thẳng: “Anh biết rõ chuyện đó mà”. Vài tháng sau, sau hai vụ ám sát bất thành do các tay súng bắn tỉa của Mladic thực hiện cùng sự gia tăng số người Serbia bị giết bất minh trong thành phố, vị bác sĩ đã bỏ trốn lên một chuyến bay cứu trợ của LHQ.

 Hàng trên: Phó tổng thống Biljana Plavsic (trái), Tổng thống của thực thể chính trị bên phía người Bosnia gốc Serbia Radovan Karadjic (giữa) và Ratko Mladic trong một phiên họp nghị viên vào tháng 8.1995 – Ảnh: Reuters

Vào năm 1994, người con gái 23 tuổi của Mladic, một sinh viên y khoa ở Belgrade, đã tự vẫn. Cái chết này dường như chỉ gia tăng thêm tính hung ác của hắn.

Theo thời gian, Mladic ngày càng coi khinh lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ. Vào năm 1994, quân của hắn đã cố gắng chiếm Gorazde, một thị trấn cùng với Srebrenica, đã được đặt dưới sự bảo vệ của LHQ. Khi NATO không kích để ngăn chặn cuộc tấn công của Mladic, hắn ra lệnh cho lính của mình bắt giữ hàng chục binh sĩ LHQ làm con tin. Rốt cuộc, Mladic cũng trao trả các tù binh, nhưng LHQ đã bị làm nhục.

Cuộc tấn công thị trấn Srebrenica vào năm 1995 đẩy LHQ đối mặt với một trong những khoảnh khắc cam go nhất trong lịch sử tổ chức này. Chỉ khoảng chừng 300 lính gìn giữ hòa bình người Hà Lan trấn thủ thị trấn, song quân của Mladic đã cắt nguồn tiếp tế của họ trong nhiều tuần.

Khi Mladic tổ chức cuộc tổng tấn công vào tháng 7.1995, máy bay của NATO chỉ thả được hai quả bom vào lực lượng tiến công người Serbia. Trong vòng vài ngày, thị trấn của 30.000 người Hồi giáo Bosnia thất thủ. Sau khi Srebrenica thất thủ, Mladic đã nhạo báng lính gìn giữ hòa bình người Hà Lan của LHQ và buộc viên chỉ huy lực lượng Hà Lan phải nâng cốc chúc mừng ngày thị trấn thất thủ cùng hắn. Hắn hứa với quân lính của mình rằng chiến thắng đó sẽ trường tồn trong lịch sử.

Trong khi lặp đi lặp lại với thường dân Hồi giáo rằng họ sẽ không bị làm hại, Mladic thể hiện ý định thực sự của mình với một đội ngũ quay phim đến từ đài truyền hình của người Bosnia gốc Serbia.

Khi đi tản bộ tại trung tâm của thị trấn thất thủ, hắn nói với binh lính của mình rằng đã đến lúc báo thù cuộc thảm sát mà người Thổ thuộc đế quốc Ottoman gây ra với người Serbia trong khu vực này cách đó 190 năm trước.

“Chúng tôi tặng thành phố này cho người Serbia như một món quà”, hắn nói, “Đã đến lúc báo thù”.

Sơn Duân
(Theo Reuters, AFP, New York Times)

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110527/Ho-so-toi-ac-cua-Ten-do-te-nguoi-Bosnia-Ratko-Mladic.aspx

Serbia bắt nghi phạm gây tội ác chiến tranh Ratko Mladic

Serbia bắt nghi phạm gây tội ác chiến tranh Ratko Mladic

26/05/2011 19:00

 
 

(TNO) Hôm nay 26.5, cảnh sát Serbia đã bắt giữ tướng Ratko Mladic, một trong những nghi phạm gây tội ác chiến tranh bị truy nã gắt gao nhất thế giới, theo xác nhận của Tổng thống Serbia, Boris Tadic.

“Nhân danh Cộng hòa Serbia, tôi có thể thông báo về việc bắt giữ Ratko Mladic. Việc dẫn độ đang được tiến hành”, ông Tadic nói trong cuộc họp báo được tổ chức vào lúc 11 giờ 30 GMT (18 giờ 30 phút giờ Việt Nam, ngày 26.5).

Trong cuộc họp báo ở Belgrade, ông Tadic cũng nói Serbia đã khép lại một chương đau đớn trong lịch sử nước này sau vụ bắt giữ Mladic.

Lãnh đạo lực lượng Bosnia Serb, Radovan Karadzic (phải) và Ratko Mladic vào năm 1995 – Ảnh: Reuters

Theo tiết lộ của một quan chức Bộ nội vụ Serbia, Mladic khai tên mình là Milorad Komadic, bị bắt tại Serbia nhờ một nguồn tin nặc danh. Tập đoàn truyền thông B92 của Serbia đưa tin vụ bắt giữ xảy ra tại Vojvodina, một tỉnh phía bắc của Serbia vào rạng sáng hôm nay, 26.5.

Mladic từng là tư lệnh quân đội của lãnh đạo lực lượng Bosnia Serb, Radovan Karadzic, trong suốt cuộc chiến Bosnia từ năm 1992 đến 1995. Hắn vốn bị Tòa án Tội ác Quốc tế ở Nam Tư cũ (ICTY) kết tội diệt chủng và một số tội ác chiến tranh khác vào năm 1995.

Cựu tướng lĩnh 68 tuổi này vốn chỉ huy cuộc bao vây thủ đô Bosnia, Sarajevo, kéo dài 44 tháng làm chết hơn 10.000 người. Hắn cũng chịu trách nhiệm cho vụ thảm sát 8.000 người đàn ông và con trai Hồi giáo ở thị trấn Srebrenica vào tháng 7.1995.

Từng sống tự do tại Belgrade trong một khoảng thời gian, Mladic đã biến mất khi cựu tổng thống Nam Tư Slobodan Milosevic bị bắt giữ năm 2001.

Theo Reuters, việc bắt giữ Mladic là điều kiện tiên quyết để Serbia có thể gia nhập Liên minh châu Âu. Giới chức Mỹ và Serbia cũng từng treo giải thưởng lên đến 19 triệu USD cho ai cung cấp thông tin dẫn đến việc bắt giữ hắn.

Kể từ khi Karadzic bị bắt ở Belgrade vào tháng 7.2008, đã có nhiều tin đồn rằng Mladic cũng sẽ sớm sa lưới.

Ngay trước khi có tin tức về vụ bắt giữ Mladic, Công tố viên trưởng của ICTY Serge Brammertz đã tố cáo rằng chính quyền Serbia không làm hết sức để truy tìm Mladic.

“Việc bắt giữ (Mladic) là bổn phận lớn nhất của Serbia”, ông Brammertz viết trong một báo cáo gửi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Sơn Duân

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110526/Serbia-bat-nghi-pham-gay-toi-ac-chien-tranh-Ratko-Mladic.aspx

Một vài ý tưởng nhân đọc “Vũ trụ vô biên”

 

Một vài ý tưởng nhân đọc “Vũ trụ vô biên”

Trần Tiên Long

20/12/2010

 

Ngân hà chỉ là một trong biết bao thiên hà trong vũ trụ

 

Vũ trụ đúng thật là vô biên. Con người sánh với vũ trụ chỉ là những ký sinh trùng li ti. Kiến thức của con người về vũ trụ chỉ là một con số không to tướng. Đó là điều tôi đã biết và càng xác tín hơn sau khi xem bài Trái đất của chúng ta bé nhỏ như thế nào trong vũ trụ [1] mà bà Ts. Bs. Nguyễn Thị Thanh giới thiệu trên các diễn đàn với lời chú giải “Vũ Trụ Vô Biên chỉ là một mầu nhiệm hữu hình của Thiên Chúa toàn năng”. Lời chú giải này cũng là chủ đề của điện thư Ts. Bs. NTT đưa vào diễn đàn. Làm sao mà loài ký sinh trùng hữu hạn như chúng ta có thể hiểu thấu được vũ trụ vô biên? Con người sánh với vũ trụ thì quá nhỏ bé, nhưng nếu sánh với Thượng đế thì lại còn càng bé nhỏ hơn nữa, bởi vì Thượng đế được tin là đấng sáng tạo vũ trụ và muôn loài từ hư không. Điều khôi hài và cũng lý thú là người ta không thể tin con người có thể hiểu biết vũ trụ; nhưng lại dễ dàng tin như đinh đóng cột rằng con người có thể hiểu biết Thượng đế.

Nếu tôi tuyên bố rằng tôi có thể hiểu biết vũ trụ thì lời tuyên bố đó rõ ràng quá ngạo mạn, không thể nào chấp nhận được. Nhưng liệu chúng ta có cùng một nhận định như vậy không khi mà Thiên Chúa giáo đã và đang rao giảng về Thượng đế? Họ bảo họ đại diện Thượng đế ở trần gian này để dạy cho chúng ta biết về Thượng đế, và họ tự cho cái quyền những gì họ “cầm buộc ở dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc”. Họ còn giảng dạy cho chúng ta một cách tường tận về ý muốn của Thượng đế để bắt chúng ta phải suy nghĩ và hành động theo ý muốn của họ. Tại sao chúng ta nghi ngờ khả năng của những nhà khoa học hiểu biết về vũ trụ nhưng lại không bao giờ thắc mắc khả năng của các nhà thần học hiểu biết về Thượng đế, một sinh vật không thể thấy, không thể rờ được, vô cùng phức tạp hơn vũ trụ? Họ bảo họ có linh ứng hay thần khải, biết được những điều do Chúa Thánh Thần soi sáng. Vậy thì tôi cũng có thể nói được rằng, tôi đang có linh ứng của Chúa Thánh Thần để viết những dòng chữ này gửi đến quí đọc giả. Có lý do gì thuyết phục hơn để quí vị tin họ hơn tin tôi?

Trong kinh Lạy Cha của Thiên Chúa giáo, nếu chúng ta vất bỏ câu “nguyện vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời” thì chúng ta sẽ nhận thấy ngay rằng, những gì họ đang dạy chúng ta thì chẳng cần phải vâng phục như vâng phục một Thượng đế toàn năng. Bằng trí tuệ và trái tim của một con người, và gạt bỏ bên ngoài mọi thành kiến đức tin tôn giáo, chúng ta thử đọc lại toàn bộ hai cuốn Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, những cuốn kinh mà người tín hữu Thiên Chúa giáo hằng ngày xưng tụng là “lời của Chúa”, chúng ta sẽ tìm ra dễ dàng bên cạnh những điều có thể chấp nhận thì lại được san kẻ những điều ghê tởm, vô luân, và phi lý. Nếu Kinh Thánh là “lời của Chúa” do thần khải, sản phẩm của Thượng đế toàn năng, toàn trí, thì tại sao nó lại chứa đựng quá nhiều điều bất toàn? Hơn nữa, vấn đề linh ứng hay thần khải là vấn đề cá nhân. Nó chỉ có giá trị đối với người trong cuộc. Còn chúng ta, những người bàng quang ngoài cuộc, nó không thể có một giá trị áp đặt nào. Như vậy thì còn lý do gì để người ta bắt buộc phải “nguyện vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”?

Và mỗi khi chúng ta có những thắc mắc mà họ bí, không thể trả lời được, thì họ lại trưng ra lập luận rằng, Thượng đế bất khả tư nghì, nghĩa là không thể nghĩ bàn bằng ngôn ngữ của loài người. Con người hữu hạn mà dám thắc mắc về Thượng đế vô hạn thì quá ngạo mạn. Trong giáo lý Thiên Chúa giáo, tội kiêu ngạo xúc phạm đến Chúa Thánh Thần là một trọng tội không thể được tha thứ, cho dù đã có xưng thú tội ở tòa giải tội. Đó là lối răn đe và là lập luận độc quyền, tùy tiện của Thiên Chúa giáo. Nó cũng giống như lập luận “thiên cơ bất khả lậu” của mấy ông bà thày bói. Vậy chẳng lẽ các ông bà thày bói hay thần học gia Thiên Chúa giáo không phải là những con người trần tục có giới hạn như chúng ta sao? Tất cả mọi người khi còn sống đều là những con người xác phàm, không phải là những ông bà thánh. Tại sao chúng ta không thể công bằng đối thoại với nhau bằng ngôn ngữ và văn tự của loài người?

 

Nếu chúng ta chấp nhận quan điểm Thượng đế chỉ là một ý niệm tưởng tượng, sản phẩm của con người, thì chúng ta sẽ dễ dàng trả lời mọi câu hỏi và thắc mắc về Thượng đế. Do đó, tôi có thể bảo đảm với quí vị rằng, nếu quí vị lập tượng tôn thờ bất kỳ một giống gì, chẳng hạn như con kỳ lân màu tím vô hình, hay một ông kẹ nào đó, và cầu nguyện bằng một đức tin không thể lay chuyển như quí vị đang làm đối với Thiên Chúa của Thiên Chúa giáo, thì kết quả lời cầu nguyện của quí vị sẽ không có gì khác. Lập luận bảo rằng “vũ trụ vô biên chỉ là một mầu nhiệm hữu hình của Thiên Chúa toàn năng” thì cũng chẳng có gì thuyết phục hơn lập luận bảo rằng “vũ trụ vô biên chỉ là một mầu nhiệm hữu hình của con kỳ lân hay ông kẹ toàn năng”. Bởi vì Thiên Chúa, con kỳ lân màu tím vô hình, hay ông kẹ, tất cả đều là những sản phẩm tưởng tượng của con người.

Thiên Chúa giáo là tôn giáo duy thần, có những tín điều phản khoa học, nhưng lại hay bàn về khoa học, có mục đích dèm pha để làm giảm uy tín và giá trị của khoa học. Bản chất của khoa học là thay đổi để thích ứng với những khám phá mới của con người; trong khi các tín điều lại được tin là những chân lý tuyệt đối, vĩnh hằng, không thể sai lầm. Ích lợi của khoa học thì hiển nhiên, không thể phủ bác; còn ích lợi của các tín điều thì khó được biện minh bên cạnh những hệ quả vô cùng thảm khốc trong suốt dòng lịch sử.

Một thực thể đơn giản hơn như vũ trụ cụ thể trước mắt mà chúng ta còn chưa biết thì lấy gì để bảo đảm rằng, chúng ta, những sinh vật li ti như những con ký sinh trùng lúc nhúc ở một hành tinh vô nghĩa, có thể biết và còn hiểu cả ý muốn của Thượng đế, một đấng thiêng liêng vô cùng phức tạp được tin là đã tạo dựng vũ trụ và muôn loài từ hư không?

Và hơn nữa, nếu chúng ta đã chấp nhận vũ trụ vô biên, nghĩa là không có biên giới, và như vậy, dĩ nhiên, cũng không có điểm khởi đầu, thì Thượng đế hay Thiên Chúa của Thiên Chúa giáo đã trở thành thừa thãi cho công việc tạo dựng.


SH chú thích:

– Mời xem “Vũ Trụ Mà Chúng Ta Biết Được” (Lý Thái Xuân)
http://www.sachhiem.net/KHOAHOC/L/LyThai6.php

có video clip cho thấy tất cả nhũng gì khoa học ngày nay có thể nhìn thấy ở ngoài xa.

[1] Trái đất của chúng ta bé nhỏ như thế nào trong vũ trụ

http://blog.aohaiday.com/2009/12/trai-dat-cua-chung-ta-be-nho-nhu-the-nao-trong -vu-tru/

Chiều kích của Thiên Chúa

Trần Tiên Long

21/1/2011 

From: qtran
To: nhiều Đ/C và ‘sachhiem’
Sent: Sunday, January 16, 2011 7:16 AM
Subject: [GoiDan] RE: Chiều kích của Thiên chúa

Thưa quí đọc giả,

Trong điện thư đưa vào diễn đàn ngày hôm qua, 15/01/2011, Tiến sĩ Hồng Lĩnh Hồ Nam Trân đã lập luận như sau: 

“Điểm thứ hai cùa Bác qtran mà anh bác bỏ là PHÉP QUY NẠP tào lao mà Bác ấy dùng trong lý luận của Bác ấy. Vì Bác ấy lấy các luật lệ của vật lý cổ điển Newton hay vật lý Ba Động , rồi quy nạp sang phạm trù hay lãnh vực Thần Thánh…

Bác qtran dùng tổng hợp của hai vật lý kia như điểm đi, tuy chưa có cái cầu như cái cầu De Boglie giữa hai vật lý kia, và qua QUY NẠP, Bác ấy lấy kết luận cho vấn đề Thần Thánh hay bắt thần Thánh phải tuân theo hai vật lý kia…

Bác qtran to gan qúa. Vừa QUY NẠP ẩu đã lại không có cầu qua sông như chiếc cầu De Broglie. Thời cái kết luận của Bác ấy về  Thần Thánh là cái ẩu đã. Em nuôi cứ bênh đi. Anh nuôi đánh chết bí giờ, vì cô em ẩu đã qúa. Có nghe không.”

Vậy nay tôi viết bài này để phản biện lại lập luận của Tiến sĩ HL HNT

Trân trọng,

TVQ

Chiều kích của Thiên Chúa

Trần Tiên Long

Người ta thường gán cho những hữu thể thiêng liêng như Thượng đế, thần thánh, hay ma quỉ thuộc một chiều kích khác, không thuộc chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ chúng ta đang sống. Vũ trụ hiện tại là một vũ trụ có chiều kích bốn chiều, bao gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian. Những chiều kích khác là những chiều từ thứ năm trở lên. Bởi thế, những phán đoán của con người ở chiều kích này về những gì ở chiều kích khác trở nên vô giá trị. Những định luật khoa học và những giá trị con người gán cho mọi sự vật chỉ có giá trị ở chiều kích của vũ trụ này. Nếu có một chiều kích khác nằm bên ngoài chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ này thì phải có những định luật khác và những giá trị khác. Do đó, không thể lấy lòng dạ của con người để phê phán Thiên chúa, một hữu thể phi thời gian và không gian, nằm bên ngoài chiều kích của vũ trụ này.

Một nhận định như vậy thì hoàn toàn hợp lý và chính xác, không thể phủ bác ở bất cứ điểm nào. Tuy nhiên, nếu áp dụng nhận định đó vào trong lập luận logic thì phải áp dụng một cách đồng đều và triệt để, không thể độc đoán và tùy tiện theo nhu cầu lý luận. Áp dụng nó tùy tiện là một thủ đoạn ngụy biện mà các nhà thần học Thiên chúa giáo hay dùng khi họ dạy chúng ta về những hữu thể thiêng liêng nằm ở một chiều kích khác.

Câu hỏi được đặt ra là có ai trong chúng ta đang sống ở chiều kích khác để biết về Thiên chúa, thần thánh, ma quỉ, thiên đàng, địa ngục v.v…,  những thứ không nằm trong chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ này? Ấy vậy mà con người dám ngạo mạn, tự nhận mình là đại diện của Thượng đế, thấu hiểu cả ý định của Ngài, để giảng dạy cho chúng ta về Thượng đế, làm như họ lấy dễ dàng một vật từ túi áo ra; và còn cho mình cái quyền cầm buộc trên trời và dưới đất để tha tội cho thiên hạ.

Giáo hội bao gồm những thành phần rất phàm tục như tất cả mọi người trong chúng ta, nghĩa là có giới hạn, hay sai lầm, và hoàn toàn nằm trong chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ này. Vậy làm cách nào mà những con người cụ thể ở chiều kích này biết và hiểu được những hữu thể vô hình ở chiều kích kia? Họ bảo họ có thần khải và cuốn Kinh thánh mà họ gọi là “lời của Chúa” giúp họ biết được những điều chúng ta không thể biết bằng trí tuệ hữu hạn của con người.

Nhưng xin quí đọc giả hãy nhìn kỹ những gì họ dạy chúng ta về một thế giới nằm bên ngoài chiều kích của vũ trụ chúng ta đang sống. Ngày nay các học giả về Kinh thánh đều đã đi đến kết luận rằng, đó là một cuốn sách chứa đựng vô số điều sai lầm và mâu thuẩn như bao cuốn sách thiêng khác viết về thần thoại ở thời man khai khi con người chưa biết gì về khoa học. Bên cạnh những điều hợp luân lý mà con người ở đâu cũng biết, không thể gọi được là độc đáo, thì được san kẻ bởi những điều ghê tởm, vô luân, phi đạo đức. [1]

Họ lại bảo “lời Chúa” là lời của đấng toàn hảo và toàn năng nên không thể chứa đựng những điều bất toàn. Có chăng bất toàn là tại vì con người hữu hạn không hiểu được những ý nghĩa vô hạn, ẩn dụ trong lời Chúa.

Chúng ta biết hiện có rất nhiều phương pháp giải thích và diễn dịch Kinh thánh khác nhau, nhưng lại không có một phương pháp duy nhất nào có thể giải thích thỏa mãn toàn bộ hai cuốn kinh Tân ước và Cựu ước. Nếu đã có quan điểm Truyền thống Duy văn tự chủ trương giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen, không chấp nhận sự phê phán tự do, thì cũng có quan điểm đối nghịch, như thần học Tự do Hiện đại hay thần học Giải phóng, chủ trương giải thích Kinh thánh theo những ý nghĩa biểu tượng, chứ không theo nghĩa đen của từng câu chữ.

Mỗi phương pháp giải thích đều có những điều lợi và điều bất lợi, đưa đến những hệ lụy mâu thuẩn, mang tính loại trừ nhau, không có đáp số. Và ngày nay, người ta vẫn tiếp tục, cùng một lúc, dùng nhiều phương pháp khác nhau để giải thích. Nếu dùng phương pháp này để giải thích ở đoạn này nhưng khi sang đoạn khác có thể bị bí thì người ta lại dùng phương pháp khác, miễn sao gỡ được thế bí. Và ngay cả sau khi đã kết án công khai thần học Giải phóng theo Chủ nghĩa Hiện đại là công cụ của ma quỉ, không được sử dụng, bằng một Thông Điệp của Giáo hoàng Pius X năm 1907, người ta vẫn cứ vô tư dùng nó một cách vô tội vạ ở những trường hợp cần thiết. Đó chẳng phải là lối lập luận ngụy biện, độc đoán, và tùy tiện trong thần học Thiên chúa giáo sao? [2]

Hơn nữa, nếu đã chấp nhận những hữu thể thiêng liêng nằm ở chiều kích khác thì toàn bộ nền thần học Thiên chúa giáo sẽ trở thành vô dụng. Bởi lẽ những hữu thể thiêng liêng đó không phải tuân theo những định luật, những giá trị thuộc chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ chúng ta đang sống. Họ được thăng hoa thành siêu việt (transcendental), nghĩa là nằm bên ngoài vũ trụ này, ở một vũ trụ có chiều kích khác, tuân theo những định luật và những giá trị riêng biệt.

Có thể những điều mà chúng ta gọi là đạo đức và luân lý lại là những điều vô đạo đức và phi luân đối với họ. Những điều chúng ta khuyến khích và vinh danh có thể là những điều họ không muốn chúng ta theo đuổi, bởi vì không thể có bất cứ điều gì có thể được xem là không phù hợp đối với họ. Cũng có thể người ác sẽ được hưởng phước thiên đàng, còn người tốt lành sẽ bị đày xuống địa ngục.

Ngay cái ý tưởng “siêu việt” cũng đã hoàn toàn trái nghịch với toàn bộ nền thần học Thiên chúa giáo. Cái ý tưởng đó làm người ta liên tưởng tới một siêu sinh vật sống ngoài cõi vũ trụ này và được xem như là nguyên nhân đầu tiên làm chuyển động vũ trụ trước khi được tạo dựng. Nó phù hợp với ý tưởng Thượng đế của các nhà khoa học như là cú “đá” đầu tiên, tác giả của vụ nổ lớn (big bang). Chính Thượng đế sáng tạo này vì nằm ngoài vũ trụ nên không hề can thiệp vào tiến trình tiến hóa của vạn vật, và như thế, hoàn toàn lãnh đạm với mọi công việc của loài người. 

Nhưng ngược lại, nền thần học Thiên chúa giáo dạy chúng ta tôn thờ một Thượng đế thường hay can thiệp vào sinh hoạt trần thế, thương yêu loài người đến nỗi đã hiện thân xuống làm người, chịu chết nhục nhã trên thập giá để cứu chuộc nhân loại khỏi tội tổ tông, cái tội mà cũng chính Ngài đã giáng xuống cho con người. Và Ngài còn ở với con người mọi ngày cho đến tận thế, bên cạnh Giáo hội để cho mọi quyết định của Giáo hội không thể sai lầm trong những vấn đề đức tin và luân lý.

Như vậy, lập luận rằng không thể lấy lòng dạ của con người để phê phán Thiên chúa, một hữu thể thiêng liêng không nằm trong chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ chúng ta đang sống, là một lối lập luận ngụy biện, độc đoán, và tùy tiện theo nhu cầu lý luận của các nhà thần học Thiên chúa giáo. Chúng ta chỉ có thể hoặc lập luận theo thế này hay lập luận theo thế kia, chứ không thể tùy tiện bắt cá cả hai tay. Dù lập luận theo cách nào thì toàn bộ nền thần học Thiên chúa giáo cũng đã trở thành vô giá trị. Đó là lý do tại sao việc tin vào điều vô lý đã đóng một vai trò hết sức quan trọng, được thăng hoa thành một nhân đức lớn trong Thiên chúa giáo: nhân đức tin.

Ghi chú:

[1] Trang nhà Evil Bible.com

Nguồn: http://www.evilbible.com/

[2] Thần học Tự do Hiện đại / Trần Tiên Long dịch

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9279&rb=0303

Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình?

Trần Tiên Long

8/3/2011

LTS:

 Để đơn giản hóa những bài mang tính triết học, diễn đạt đầy những từ ngữ trừu tượng, diễn nghĩa phức tạp, chúng ta có thể nói về hai khái niệm: Thiên Chúa và ông trời. Người Thiên Chúa Giáo (TCG) luôn cố tình cho đồng nghĩa hai từ “trời” và “Thượng Đế”, và nhập nhằng hai khái niệm “Thượng Đế” và “Thiên Chúa”. Nhưng người không tin Chúa thường phân biệt hai khái niệm: “ông trời” và ông “Chúa”, và “xí xóa” nếu ai dùng chữ “Thượng Đế” mà người TCG thích dùng thay cho “ông trời”. Mỗi người đều có một “thượng đế” trong lòng, có khi đó chỉ là một người yêu, còn Chúa là… một nhân vật khác. Trong xã hội không thờ Chúa ở Á Đông từ trước đến nay, ai muốn hiểu “ông Trời” của họ như thế nào cũng được, chẳng ai đặt vấn đề lớn lao gì cả. Con cóc cũng được vai vế hơn ông trời. Nhưng tại sao trong xã hội TCG, hầu hết những người “tin Chúa” đều khó chịu trước những lập luận của những người không tin? Ngày nay, trước sự trỗi dậy của phong trào những người “không tin Chúa”, số người không xác nhận căn cước tôn giáo cũng tăng dần. Nhưng những lý luận để bảo vệ khái niệm “Chúa” trong “Thượng Đế” vẫn còn nhận ra rất “bám” nhờ sự nghiên cứu và phân tích trong các bài đối thoại có phẩm chất như dưới đây của bác Trân Tiên Long. Xin mời theo dõi. (SH)


 

Thượng Đế Hữu Tình Hay Vô Tình?

(Trả lời góp ý của ông Nguyễn Hoài Vân)

 

Theo dõi đọc giả bàn về Thượng Đế trên các diễn đàn trong mấy tuần qua, tôi nhận thấy hình như chúng ta đã hoàn toàn bác bỏ ý niệm Thượng Đế có nhân tính của Thiên Chúa giáo; bởi vì ở thời đại thông tin nối mạng này, ý niệm về một Thượng Đế có đầy đủ hỉ, nộ, ái, và ố như được “mặc khải” trong Kinh thánh không còn phù hợp với nhận thức tiến bộ của con người khoa học. Mặc dù vậy, qua cách trình bày của các đọc giả, ý niệm Thượng Đế cũng đã thay đổi để tiến hóa theo một chiều hướng khác như đã từng xảy ra bao lần trong suốt dòng lịch sử, nhưng tiếc là lần này nó lại tiến hóa theo một chiều hướng thụt lùi, nghĩa là thay vì đổi sang một ý niệm mới lạ, trái lại, nó đang trở về với ý niệm Thượng Đế của thuyết Phiếm Thần (Pantheism)[1] thời Trung Cổ khi con người chưa biết gì về khoa học, ý niệm mà một thời con người đã từng cố gắng bác bỏ, đàn áp, và tận diệt.

Thực vậy, ông Nguyễn Hoài Vân (NHV) có nhắc đến trường phái Khắc Kỷ (Stoicism)[2], do đó, xin được bàn thêm một chút về trường phái này.

Phái Khắc Kỳ là một trường phái triết học ở thời cổ Hy Lạp, khoảng 300 năm trước Công nguyên. Họ chủ trương sống như những nhà hiền triết, có trí thức và đạo đức, bằng cách làm chủ mọi cảm xúc và tình cảm của mình. Họ cũng hiểu con người có tự do nhưng thứ tự do giới hạn bởi những yếu tố tiền định bẩm sinh. Và họ tin tưởng con người có thể đạt được tình trạng đạo đức bằng cách sống hòa thuận với thiên nhiên, lẽ trời. Họ chẳng tin và cũng chẳng cần quan tâm về một đấng Sáng Tạo vì họ tin vũ trụ không có khởi đầu và cũng chẳng có tận cùng. Họ không tin con người còn có phần linh hồn vẫn tiếp tục sống sau khi chết. Họ xem linh hồn hay Thượng Đế nằm trong tất cả mọi sự vật vô tri vô giác thuộc vũ trụ. Đối với họ, Thượng Đế chính là lực hay năng lượng chuyển động tiềm tàng trong thiên nhiên.

 

Như vậy, đây là một hệ thống triết học, một cách sống, không phải một tôn giáo, có chủ đích giúp con người đạt được hạnh phúc ở ngay cõi đời này. Về phương diện tâm linh, đây chính là chủ thuyết Phiếm Thần của những người ngoại đạo ở thời tiền khoa học vì bất cứ thứ gì cũng có thể gọi được là thần. Người theo thuyết Phiếm Thần là người không tin có một đấng Sáng Tạo toàn năng hay can thiệp vào công việc của con người. Họ dùng từ Thượng Đế để chỉ thiên nhiên hay những qui luật vật lý trong vũ trụ. Thiên Chúa giáo gọi họ là “ngoại đạo” hàm ý khinh thường những niềm tin nằm ngoài Thiên Chúa giáo. Về phương diện nhân sinh, nó giống chủ thuyết Nhân Bản (Humanism) đầu thế kỷ 19 vì mục đích cuộc đời là sống hạnh phúc ở cõi đời này; không phải là phí phạm thì giờ và công sức để phục vụ hoặc vinh danh bất cứ một thần thánh nào, hầu mong được cứu rỗi để có hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau. Như vậy, đối tượng phục vụ là con người và cuộc đời, không phải Thượng Đế.

Tiếc là một chủ thuyết rất hợp nhân bản, tình người đã bị Thiên Chúa giáo tiêu diệt ở ngay đầu thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên. Đọc lịch sử, chúng ta biết Thiên Chúa giáo ở thời điểm đó đang thống trị toàn đế quốc La Mã. Vì Thiên Chúa giáo tin vào một đấng Sáng Tạo và con người còn có phần linh hồn bất tử nên đã xem triết thuyết Khắc Kỷ như là thứ tà thuyết của người ngoại đạo. Chính hoàng đế Justinian I đã ra lệnh đóng cửa tất cả các trường phái triết học năm 529 sau Công Nguyên vì cho rằng quan điểm triết lý của họ không phù hợp với đức tin Thiên Chúa giáo.

Điều khôi hài là mặc dù không phù hợp như đã trình bày ở trên, thần học Thiên Chúa giáo lại bị ảnh hưởng bởi triết thuyết Khắc Kỷ quá nặng nề đến nỗi đã mượn phần lớn những tư tưởng căn bản triết học của họ làm nền tảng cho thần học của mình, chẳng hạn như những ý niệm về Ngôi Lời, Thần Khí, nhân đức, lương tâm, ý thức, lý trí, v/v… Như vậy, Thiên Chúa giáo có nguồn gốc từ Do Thái giáo nhưng thần học của họ được trộn lẫn bởi những tư tưởng triết học của người cổ Hy Lạp. Bằng phương tiện vũ lực và đàn áp, Thiên Chúa giáo đã phá nát một nền văn hóa nhân bản Hy Lạp có nguồn gốc từ hơn 300 năm trước khi Chúa giáng sinh để trở thành quốc giáo, rồi sau thành tôn giáo hoàn vũ.

Việc ông NHV trích dẫn câu nói của bà thánh Therese d’Avila (1515-1582) rằng “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa”, và việc ông NHV giảng giải thêm rằng “Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình”, chứng tỏ ông muốn trở lại ý niệm Thượng Đế của triết thuyết Khắc Kỷ được hiểu như những qui luật vật lý trong thiên nhiên. Đó là lối giải thích Thượng Đế của người ngoại đạo đã bị Thiên Chúa giáo bác bỏ và tiêu diệt ở thời Trung Cổ.

Ở điểm này, chúng ta cũng nên có thêm một nhận xét, rằng Thiên Chúa giáo thường hay cưỡng từ đoạt lý bằng cách cố tình bẻ cong ý nghĩa của những phạm trù thông thường dùng trong truyền thống thành ý nghĩa mà họ muốn dẫn dắt. Thánh Therese d’Avila gọi “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa”, cũng giống như rất nhiều định nghĩa khác mà người tín hữu được chỉ dạy, chẳng hạn như “yêu là trở nên giống Chúa”; hoặc “yêu người là mến Chúa”; hoặc “sống là sống cho Chúa Ki-tô, vì Chúa Ki-tô, còn chết là hưởng nhan thánh Chúa”; hoặc “người khôn ngoan là người biết kính mến Thiên Chúa”; hoặc “Thiên Chúa chính là ông trời”; hoặc như ông NHV viết ở trên rằng “Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình”; trong khi Thiên Chúa là một hữu thể có nhân tính, có ý chí tự do, còn “quy luật tối thượng của trời đất” là những định luật máy móc, vô tình, không có ý chí tự do. Chừng nào hội đủ mọi yếu tố mà nhà Phật gọi là duyên khởi thì hiện tượng phải xảy ra, còn chưa đủ thì nó không thể xảy ra; chứ chẳng phải vì nó bị bắt buộc tuân theo ý chí tự do của một siêu sinh vật nào. Vậy không thể nhập nhằng đồng hóa một hữu thể hữu tình với những loài vô tình, vô tri, vô giác.

Và cuối cùng, ông NHV còn viết “Khoa học duy lý cũng cần niềm tin, ít ra là tin vào chính nó” cho đọc giả chúng tôi hiểu rằng ông đang cố gắng lập lờ trộn lẫn giữa niềm tin khoa học và đức tin tôn giáo. Đây cũng là lối gièm pha những nhà khoa học mà tôi hay được nghe từ những nhà hữu thần. Đúng hơn, hai niềm tin này là hai thái cực đối chọi nhau như nước với lửa. Vậy xin được đưa ra một thí dụ để cho thấy sự khác biệt căn bản giữa hai niềm tin này.

Thí dụ, tôi chưa bao giờ đi Paris nhưng tôi biết Paris nằm ở đâu trong bản đồ. Tôi mua một vé máy bay từ Sài Gòn đi Paris. Tới ngày đi, tôi tin rằng chỉ cần ngồi trên máy bay một thời gian thì ngày hôm sau tôi sẽ có mặt ở Paris. Vì tin như vậy nên tôi mới bỏ tiền mua vé và chịu cực ngồi trên máy bay mấy chục tiếng đồng hồ. Đó là niềm tin khoa học dựa trên lý trí và tìm hiểu, không thể đồng hóa để lẫn lộn với niềm tin tôn giáo.

Những tín điều tôn giáo như tội tổ tông, Thiên Chúa ba ngôi, Đức Maria sinh con nhưng vẫn còn đồng trinh và lên trời cả hồn lẫn xác, ngày tận thế xác loài người sẽ sống lại, v/v… thì người tín hữu chỉ việc nhắm mắt mà tin, không được thắc mắc. Đó là lý do tại sao bà Ts. Bs. Nguyễn Thị Thanh gọi là “con mắt đức tin nhiệm mầu nhưng không chuyển nhượng và điều khiển được, vì nó đến từ Đấng Siêu mà người Công Giáo gọi là ơn thánh sủng”, và ông NHV gọi là “hồng ân”. Vậy nếu không có “ơn thánh sủng” hay “hồng ân” thì làm sao con người có thể tin được những điều vô lý; trong khi tại sao các nhà khoa học đâu cần “ơn thánh sủng” hay “hồng ân” mà họ vẫn cứ tin vào khoa học? Nhà khoa học chỉ đơn thuần dùng đầu óc của họ suy luận để biết điều gì nên tin hay không.

Hơn nữa, niềm tin của các nhà khoa học không bao giờ được gọi là đức tin; trong khi chỉ có niềm tin của những tín đồ Thiên Chúa giáo mới cần phải thăng hoa thành một nhân đức lớn và tối quan trọng: nhân đức tin. Đó là sự khác biệt lớn mà ông NHV không nhận ra.

Như vậy, nếu chúng ta nắm vững được sự khác biệt về ý nghĩa của những từ ngữ thì sẽ dễ dàng nhận ra ngay lối ngụy biện nằm trong cách giải thích của những nhà hữu thần. Cách gán ghép hay đồng hóa nhập nhằng những phạm trù của từ ngữ như đã trình bày ở trên cũng giống như kiểu nói của người Cộng sản, rằng “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Hoặc giả như người Cộng sản cũng bắt chước câu nói của bà thánh Therese d’Avila “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa” để lập luận rằng, các ông tranh đấu đòi tự do mà chẳng hiểu tự do là gì, phải hiểu “tự do là trở thành nô lệ bác và đảng”, thì liệu chúng ta có cảm thấy dị ứng và chói tai không? Một kiểu cách lập luận cưỡng từ đoạt lý, cực đoan giáo điều của một bà thánh Công Giáo được đưa vào diễn đàn như vậy mà có người lại xuýt xoa khen ngợi bằng những lời sáo ngữ: “Bài vắn tắt của anh như một làm gió mát thổi vào những xáo trộn của sự tấn công của ông Trần Tiên Long đối với “Thượng Đế” của TCG, những tấn công này giống như gặp phải một bức tường bằng đá của phe bên kia khiến cho cát đá bụi bay mù mịt.” [trích nguyên văn]

Đứng trước một hiện tượng hay một biến cố chưa có sự giải thích, nhà khoa học chỉ đơn giản và khiêm tốn trả lời, chúng tôi không biết. Đó là một thách đố chung cho tất cả mọi người. Bản chất của khoa học là tìm kiếm chân lý rồi trình bày một cách khách quan những gì đã được khám phá, chẳng cần quan tâm điều mình khám phá có hợp hay không với các niềm tin tôn giáo. Khoa học đứng bên ngoài các tôn giáo và phe nhóm. Việc tấn công khoa học bằng cách chụp cái mũ Cộng sản vô thần hay đánh phá tôn giáo là những gì chúng ta thường nghe quen quen trên các diễn đàn.

Bây giờ xin chuyển sang đề tài ý chí tự do.

Bàn về tiền định thì chắc chúng ta không thể bỏ qua quan điểm của giáo phái Calvinism[3], Tin Lành, vì triết thuyết của phái này có một quan điểm tiêu biểu cực đoan, hoàn toàn đối nghịch với quan điểm của Công Giáo.

 

John Calvin 1554

John Calvin (1509-1564) khẳng định rằng Thiên Chúa đã định trước sẽ cứu rỗi người nào lên thiên đàng và cũng định trước sẽ đày người nào xuống địa ngục. Như vậy, con người được tiền định để tin Thiên Chúa bằng đức tin trước khi họ có ý muốn tin Ngài. Vấn đề tiền định của Tin Lành là một đề tài lớn. Công Giáo đã chính thức lên án quan điểm tiền định này. Trong một vài trang giấy, thực khó có thể bàn chi tiết về một đề tài phức tạp như vậy. Ở bài này, tôi chỉ muốn giới hạn đề tài để chủ đích bàn về quan điểm của Công Giáo La mã.

Giáo lý Công Giáo La Mã dạy rằng con người cần phải có ý chí tự do mới có thể có hạnh phúc. Vì Thiên Chúa là đấng “nhân từ và lòng lành vô cùng” nên không thể sáng tạo con người như những người máy. Chỉ có ý chí tự do mới làm con người cảm nghiệm được tình yêu và hạnh phúc. Nhưng con người đã lạm dụng sự tự do để phạm tội, và như vậy, họ mang sự dữ vào thế giới vốn nguyên thủy tốt lành khi Thiên Chúa tạo dựng. Thiên Chúa không thể cưỡng bức con người làm theo ý Ngài; do đó, có trách là trách con người đã tự ý chọn làm điều ác, không thể trách Thiên Chúa.

Quan điểm này có rất nhiều điều mâu thuẩn. Quentin Smith đã bàn rất kỹ về ý chí tự do của Thiên Chúa trong bài Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế.[4] Epicurus cũng đã dùng lý luận thuần lý của Parmenides để loại bỏ ý niệm về Thiên Chúa mà tôi đã trình bày trong bài Vấn Đề Chứng Minh Thượng Đế.[5] Cả hai bài đã được đưa vào diễn đàn. Ở đây, tôi xin chỉ bàn về ý chí tự do của con người nhân dịp ông NHV góp ý.

Làm sao mà một người có thể có tự do khi họ bị đe dọa về những hệ quả của việc họ chọn lựa? Hình phạt hành hạ đời đời kiếp kiếp ở địa ngục cho những người không chọn tin Giê-su là đấng Cứu Thế đã được ghi bằng giấy trắng mực đen trong Kinh thánh, cuốn kinh mà người Công Giáo phải xưng tụng hằng ngày là lời của Chúa. Nếu chúng ta chấp nhận lối lập luận này thì người Cộng sản cũng có thể bắt chước chúng ta để lập luận rằng, chúng tôi giết các ông là tại vì các ông đã được tự do chọn lựa nhưng các ông đã không lựa chọn theo chúng tôi. Nếu Thiên Chúa có quyền giết những người không tin theo Ngài thì chúng tôi cũng có cái quyền đó để giết những kẻ không theo chúng tôi.

Hơn nữa, nếu Thiên Chúa là đấng toàn năng thì Ngài cũng có thể tạo dựng loại người không có ý chí tự do nhưng vẫn có thể cảm nghiệm được hạnh phúc, chẳng hạn như những thiên thần đang ở trên thiên đàng. Nếu đã là hoàn hảo, toàn trí thì tại sao lại có thể tạo dựng một loại người bất toàn đã có thể tự hủy hoại hạnh phúc của mình? Cho dù là phải cần thiết có ý chí tự do mới có thể cảm nghiệm được hạnh phúc thì Thiên Chúa cũng có thể tạo dựng một loại người chỉ có ý chí tự do chọn làm một số điều tốt trong muôn vàn những điều tốt khác. Hơn nữa, Thiên Chúa toàn năng, “lòng lành và nhân từ vô cùng” đã biết trước những gì sẽ xảy ra, vậy lý do nào Ngài đã tạo dựng những người vô thần không tin nơi Ngài khi biết chắc chắn họ sẽ bị đọa đày ở địa ngục? Phải chăng lý do duy nhất là để nhìn ngắm họ bị hành hạ, chịu đau khổ muôn đời muôn kiếp?

Còn có một điều ít ai chịu để ý: Mặc dù giáo lý Công Giáo dạy rằng con người đã mang sự dữ vào thế gian bằng cách phạm tội; nhưng Kinh thánh của họ thì lại dạy khác, rằng chính Thiên Chúa đã tạo dựng sự dữ.

Isaiah 45:7: “I form the light and create darkness. I make peace and create evil. I the lord do all these things.”

Tài liệu tôi chép xuống từ trang nhà VietCatholic thì cố tình dịch sai như sau: “Ta tạo ra ánh sáng, ta dựng nên bóng tối. Ta cho thư thái, ta bắt chịu cực. Chính Gia-vê ta đây làm ra mọi sự.”

Để chính xác hơn thì nên dịch: “Ta tạo ra ánh sáng và dựng nên bóng tối. Ta tạo ra sự an bình và dựng nên sự dữ. Chính Gia-vê ta đây làm ra tất cả mọi sự này.”

Như vậy, câu hỏi nên được đặt ra: Bởi vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự dữ, tại sao lại đổ trách nhiệm đó lên đầu loài người để hành hạ họ?

Dĩ nhiên, người ta cũng có thể phản biện như đã từng phản biện rằng, tại các ông đã hiểu sai Kinh thánh. Đúng hơn, phải hiểu như thế này, thế kia, bla, bla, bla, v/v… Họ cố tình quên rằng các học giả chuyên môn về Kinh thánh, bao gồm những hồng y, giám mục, linh mục, các nam nữ tu sĩ, giáo sư tiến sĩ thần học, vẫn thường hay cãi nhau, giải thích Kinh thánh mỗi người theo mỗi ý[6]. Vậy làm sao những đọc giả trung bình như chúng ta có thể hiểu Kinh thánh một cách đồng thuận? Lấy tiêu chuẩn nào để phán đoán ai hiểu đúng sai? Tại sao Thiên Chúa toàn năng lại không thể làm được một cuốn kinh mà ai đọc cũng có thể hiểu ngay được? Nếu làm được vậy thì đạo Chúa đâu có bị chia năm xẻ bảy.

Tóm lại, trong suốt tiến trình tiến hóa của tư tưởng, ý niệm về Thượng Đế đã phải thay đổi nhiều lần để phù hợp với những khám phá mới của khoa học. Ngày nay, chẳng còn mấy ai thực lòng tin tưởng một Thượng Đế có nhân tính của Thiên Chúa giáo. Bởi vậy, các nhà hữu thần lại loay hoay cố gắng vớt vát ý niệm Thượng Đế bằng cách giáng cấp Ngài từ loài sinh vật hữu tình, có ý chí tự do, xuống thành loài vô tình, vô tri, vô giác; từ một hữu thể có quyền phép vô biên ban các “ơn thánh sủng” hay “hồng ân” thành “một quy luật tối thượng của trời đất”.

 

Chỉ có một câu trả lời duy nhất và rất đơn giản, có thể giải thích thỏa đáng mọi thắc mắc trình bày ở trên, nhưng lại có ít người dám can đảm chấp nhận, đó là Thượng Đế chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người. Tâm trí của chúng ta thế nào thì Thượng Đế cũng sẽ như vậy. Bởi vì tâm trí luôn luôn biến động và bất đồng giữa mỗi cá nhân nên Thượng Đế trở thành không thể nghĩ bàn. Vậy đây là Đạo, là đường đi, không còn là tôn giáo với một Thượng Đế để vinh danh, tôn thờ, cầu khẩn, van xin “ơn thánh sủng” hay “hồng ân”. Vấn đề còn lại là làm sao giáo dục và trau dồi tập luyện để tâm trí chúng ta luôn luôn hướng tới Chân-Thiện-Mỹ, một biểu tượng tuyệt đối về Thượng Đế. Đây chính là ý niệm “Thượng Đế nội tại” mà các vị đạo sư thường hay bàn từ xưa nay. Thiên Chúa giáo ngày nay cũng đang biến chuyển dần để trở về với ý niệm “Thượng Đế nội tại” này.


Ghi chú:

[1] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Pantheism

[2] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Stoicism

[3] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Predestination_(Calvinism)

[4] Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế / Quentin Smith / Trần Tiên Long dịch

Nguồn: http://www.sachhiem.net/TONGIAO/tgTR/TranTL04.php

[5] Vấn Đề Chứng Minh Thượng Đế / Trần Tiên Long

Nguồn: http://www.sachhiem.net/TONGIAO/tgTR/TranTL05.php

[6] Thần học Tự do-Hiện đại / Trần Tiên Long dịch

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9279&rb=0303


Truyền thống Abraham

Truyền Thống Abraham Dưới Ánh Sáng Khoa Học Khảo Cổ

Charlie Nguyễn

Trải qua 4000 năm lịch sử, nhân vật Abraham đã được coi là biểu tượng cho niềm khát vọng của con người muốn thiết lập một mối giao ước (covenant) với Thượng đế.

Nói đúng ra, đó là khát vọng tâm linh của phần đông các dân tộc Tây phương, bao gồm Âu châu, Do thái và các chủng tộc Ả rập. Đố với các dân tộc Á châu, ý niệm về sự thiết lập một giao ước với Thượng đế là hoàn toàn xa lạ, nếu không muốn nói là kỳ quặc!

Chúng ta không thể tưởng tượng nổi là cái ý tưởng kỳ quặc đó đã xâm chiếm tâm linh của hơn một nửa dân số loài người. Hiện nay có tới trên 3 tỉ người tôn vinh nhân vật Abraham là Thánh tổ phụ về huyết thống (Father) hoặc Thánh tổ phụ của đức tin (Spiritual Ancestor of Faith).

Một điều đáng chú ý là hai tỉ người Ki-tô giáo, 1.3 tỉ người Hồi giáo và 15 triệu tín đồ Do thái giáo từ xưa đến nay luôn luôn thù nghịch nhau, nhưng tất cả đều đồng nhất tự xưng mình là tín đồ độc thàn chân chính của Abraham (True Abrahamic monotheists). Dù là một nhân vật có thật trong lịch sử hoặc chỉ là một nhân vật thần thoại, Abraham đã hiển nhiên là một “giáo chủ” có đông tín đồ nhất từ xưa đến nay. Có thể nói, Abraham là giáo chủ của các giáo chủ Tây phương, bời lẽ không có một tôn giáo nào của Tây phương mà không tôn vinh Abraham là tổ phụ đức tin của tôn giáo mình.

Cuốn sách đầu tiên của Bộ Thánh kinh Do thái là sách Sáng thế ký (Genesis II: 27-28) cho biết : Noah sinh ra Shem, Shem sinh ra Terah, Terah sinh ra Abraham. Abraham lấy Sarah sinh ra Isaac, Isaac sinh ra Jacob là tổ tiên của 12 bộ lạc Israel. Abraham lấy cô đầy tớ gái Ai cập sinh ra Ismael là tổ tiên của các giống Ả rập. Kinh thánh Do thái kể lý lịch của Abraham như trên để xác định Abraham chẳng những là ông tổ lập đạo Chúa mà còn là ông tổ của dân tộc Do thái về huyết thống.

Do thái thuộc dòng dõi chính thức của Abraham còn các dân tộc Ả rập đều thuộc dòng dõi thấp kém vì chỉ là “con rơi con rớt” của Abraham mà thôi.

Trong sách Phúc âm Tông đồ Công vụ của Ki-tô giáo có bức thư của Phao-lồ gửi cho các tín hữu ở Rome, trong đó có câu: “Đức tin của chúng ta là đức tin của Tổ phụ Abraham” (Epostle to the Romans: Our faith is that faith of our Father Abraham). Phao-lồ là “vị đại thánh” có công hàng đầu trong việc lập đạo và truyền đạo Ki-tô, vì vậy các nhà chuyên nghiên cứu tôn giáo Tây phương đã gọi Ki-tô giáo là “thần học của Phao-lồ” (The Pauline theology). Phao-lồ đã xác nhận Ki-tô giáo là đạo của Abraham. Ngòai ra, vì Phao-lồ là người Do thái nên ông ta đã gọi Abraham là Tổ phụ (Father).

Công giáo Việt Nam tránh né không gọi Abraham là “tổ phụ” nhưng cũng tôn vinh Abraham là một vị thánh cao cả ngồi cạnh Đấng chí tôn. 92% dân số Việt-nam ngoại đạo đều là những kẻ chưa biết đến “đạo thánh” của Abraham! Người Công giáo Việt-nam cảm thấy xót thương đồng bào mình nên đã sáng tác bài kinh bất hủ mang tựa đề :

“Kinh Cầu Cho Dân Nước Việt-nam Trở Lại Đạo Thánh”:

“Lạy Chúa, thuở Chúa mới giáng sinh, Chúa đã kêu gọi ba vua phương Đông đến thờ lạy Chúa. Chúa đã phán rằng : Ngày sau có nhiều kẻ bởi Đông Tây sẽ đến nghỉ ngơi cùng Thánh Abraham trên nước thiên đàng. Nay nước Việt-nam cũng là một cõi Đông Phương đang còn nhiều kẻ tin vơ thờ quấy chưa hề biết Đấng chí tôn. Xin Chúa hãy làm cho nó tìm đến cùng Chúa hầu ngày sau đặng nghỉ ngơi (cùng thánh Abraham) trên nước thiên đàng, chúc tụng ngợi khen Chúa đời đời kiếp kiếp.” (Kinh Nhựt khóa 143-146).

Vị giáo chủ sáng lập đạo Hồi là Muhammad viết kinh Koran vào đầu thế kỉ 7 đã tôn vinh Abraham là tín đồ Hồi giáo. “Abraham chẳng phải là người Do thái, cũng chẳng phải người Ki-tô nhưng ngài là một người công chính, một người Hồi giáo.” (Abraham was not a Jew nor a Christian but he was upright man, a Muslim – Koran 3:67). “Chúng ta tin Thiên chúa và tin những gì đã được Thiên chúa mặc khải cho Abraham và Ismael” (We believe in Allah and waht eas revealed to Abraham and Ismael – Koran 3:84).

Nói tóm lại, tất cả các đạo thờ Chúa gồm có Do thái, Ki-tô và hồi đều dành nhau làm “con cái của Abraham” (The children of Abraham). Nhưng điều mỉa mai là từ nhiều thế kỷ qua đến nay, lịch sử của đám con cái Abraham luôn luôn là lịch sử của một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn liên miên bất tận! Vấn đề đựơc đặt ra 12 nguyên nhân nào đã dẫn đến sự nghi kỵ hận thù không thể hàn gắn giữa những người tự nhận là anh em cùng cha là Abrahan?

Nhà khảo cổ chuyên về Thánh kinh (Biblical archaeologist) Tad Szulc, tác giả bài “Abraham, cuộc hành trình của niềm tin” (Abraham, Journey of faith) đăng trên tạp chí National geographic tháng 12/2001 (trang 90-129), đã trả lời một phần cho vấn đề nêu trên. Tác giả đến Jerusalem quan sát và chụp hình nhiều nhóm tín đồ độc thần. Tất cả đều dùng Thánh kinh như những kịch bản bi kịch (drama). Các người thuyế giảng đều tự coi mình như những diễn viên (actors). Lúc đầu các nhóm đều kể chuyện Thánh kinh giống nhau, nhưng về sau họ rẽ sang những chi tiết của câu chuyện khác nhau. Chính sự khác nhau về những chi tiết này đã làm các tôn giáo và các chủng tộc thù nghịch nhau, mặc dù tất cả đều cùng tôn vinh Abraham làm tổ phụ.

Màn bi kịch được diễn nhiều nhất tại Jerusalem là chuyện Thiên chúa dựng lên trời đất cạn vật trong 7 ngày, Chúa đuổi tổ tiên loài người là Adam và Eva ra khỏi vười Địa đàng, Chúa tạo nên trận Đại hồng thủy trong đời Noah. Con út của Noah là Shem sinh ra Terah. Terah sinh ra Abraham và Thiên chúa ra lệnh cho Abraham thực hiện một sứ mạng lịch sử. Đến đây câu chuyện bắt đầu khác : Người Hồi giáo tin rằng sứ mạng lịch sử của Abraham đã được mặc khải cho loài người qua Muhammad thuộc dòng dõi Ismael, con của Abraham. Trong khi những người Do thái và Ki-tô giáo tin rằng họ được Thiên chúa mặc khải và ban cho nhiều ân sủng thiêng liêng qua dòng dõi Jacob, con của Isaaac, tức cháu nội của Abraham.

Đối với các nhà nghiên cứu tôn giáo đứng bên ngoài quan sát đều đưa ra nhận xét : Tất cả các chuyện kể trên đều là bịa đặt, đả đựơc viết ra để tự vinh danh bộ lạc của mình! (these stories are pure fiction, written for tribal self-glorification – Journey of faith, National Geographic 12/2001, page 90).

Chúng ta hãy duyệt qua Kinh thánh Do thái và Kinh Koran của Hồi giáo để xem hai tôn giáo này đã xử dụng truyền thuyết Abraham để tôn vinh dân tộc của họ như thế nào. Cuối cùng, qua kết quả của các công trình khảo cổ, chúng ta sẽ có một giải đáp khoa học khách quan về truyền thuyết Abraham.

1. Truyền thuyết Abraham qua Kinh thánh Cựu ước Do thái:

Sách Sáng thế ký 11: 27-31 cho biết Abraham sinh tại thành phố Ur ở phía Nam xứ Babylon (nước Iraq hiện giờ). Căn cứ vào sự xác định này của Thánh kinh Cựu ước, vào đầu thập niên 1920 hàng ngàn nhà khảo cổ từ khắp mọi nới trên thế giới đã đổ xô đến Ur để khai quật tìm hiểu về sinh quán của Abraham. Ur là một nới tiều điều bụi bặm, khô cằn sỏi đá và không có một người nước nào cả. Hiện chỉ còn một số ụ đất hình kim-tự-tháp, một số ngọn tháp Zigguart được xây để thờ thần Mặt trăng (Sin) vào khoảng năm 2100 TCN (Trước Công nguyên). Toàn cảnh thành phố Ur rộng khoảng 120 mẫu (acres) được tạo dựng lên khoảng 5000 năm TCN. Thành phố Ur được khai quật đợt đầu trong thập niên 1920 và sau đó vào thập niên 1930, dưới sự lãnh đạo của nhà bác học khảo cổ trứ danh người Anh là Leonard Woolley.

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại Ur nhiều ngôi mộ cổ của các vua chúa và di tích của nhiều dãy phố. Đặc biệt là những đồ trang sức bằng vàng, bạc và đá quý rất tinh xảo. Điều đó chứng tỏ Ur là một thành phố giàu có và đạt tới trình độ văn minh cao. Theo các giáo sư chuyên khảo cứu về văn minh Babylon thuộc trường Đại học Michigan thì Ur là thủ đô của vùng Lưỡng Hà châu (Mesopotamia) và là thương cảng của sông Euphrate sát gần với Vịnh Ba tư. Thành phố Ur có tới 12.000 dân và đạt tới điểm cực thịnh vào khoảng năm 2100 TCN.

Sau đó, bờ biển của Vịnh Ba tư được đất bồi và tiến xa ra biển, đã để thành phố Ur ở lại phía sau cách bờ biển tới hơn một trăm dặm. Ur dần dần biến thành sa mạc hoang vu. Các công trình khai quật thành Ur không phải là vô ích vì nó đã đem lại cho các nhà khảo cổ hàng ngàn tấm đất sét phơi khô (sun-dried clay tablets) có những hàn chữ giống như nêm cối gọi là “Cuneiform”. Lối viết chữ này đã được phát minh từ năm 3200 TCN bởi giống người Sumerians là những cư dân đầu tiên ở vùng Lưỡng Hà châu này.

Giáo sư Michalowski, chuyên viên khảo cổ về Luỡng Hà châu thuộc Đại học Michigan và là chủ bút tờ báo nghiên cứu về chữ Cuneiform (Kournal of Cuneiform Studies) cho biết : Thành phố Ur là trung tâm thương mại trong vùng Lưỡng Hà châu vào khoảng 2100 TCN, tương đương với thành phố Venice của Ý sau này vì tại UR người ta dùng nhiều thuyền bè chạy trên sông Euphrates, sông Tigris và nhiều sông đào thông qua các con sông lớn này. nếu Abraham là một nhân v6ạt có thật vào thời điểm này và nếu được đi học thì Abraham phải biết toán học, sử học, kế toán và văn chương của người Sumerians. Tại Ur có rất nhiều đền thờ thần Sin, tức thần Mặt trăng (The Moon God). Rất có thể những suy nghĩ về thần Mặt trăng đã dẫn Abraham đến ý tưởng thờ một Thiên chúa duy nhất.

Sác Sáng thế ký mô tả thành phố Ur thuộc xứ Chaldes là một điều sai lầm vì các nhà khảo cổ có đầy đủ bằng cớ xác nhận Chaldes là một địa danh xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà châu vào thiên niên kỷ I TCN, tức sau thời đại của Abraham tới một ngàn năm.

Giáo sư Do thái Finkelstein, chủ nhiêm ngành khảo cổ thuộc Đại học Tel Aviv, cho biết : “Trong 20 năm qua, khoa học khảo cổ đã trở thnàh một công cụ chính yếu để khảo cứu các giai đoạn quá khứ của Do thái Cổ. Sau nhiều năm nghiên cứu , ngành khảo cổ chưa xác định được có hay không có Abraham, nhưng sách Sáng thế ký (Genesis) viết về ông ta được ước tính đã được viết trong thế kỷ 7 TCN.” (National Geograpic, p.106-107). Như vậy, sách Sáng thế ký đã được viết để kể chuyện một nhân vật đã sinh ra trước đó tới 13 thế kỷ. Diều này cho thấy chuyện Abraham khó có thể là một chuyện thật.

Tuy vậy, các nhà khảo cổ vẫ đọc sách Sáng thế ký và lần mò theo từng trang sách để đi tìm dấu vết của Abraham. Sách Sáng thế ký viết : “Họ rời thành phố Ur để đi về Canaan với Terah, Abraham, Sarah và Lot. Họ đến Haran và định cư tại đây.”

– Các tài liệu ghi chép bằng chữ Cuneiform ghi nhận vào khoảng năm 2000 TCN có một trận chiến tranh lớn gây ra bời giống người Elamite (tức Iran ngày nay) đến tàn phá thành phố Ur. Đây có thể là lý do khiến gia đình của Abraham phải dời đi nơi khác.

– Từ thành phố Ur đến Canaan là cuộc hành trình dài 600 dặm (965 km). Nếu đi đường bộ với đoàn lữ hành có ngựa, lừa, lạc đà … củng phải mất nhiều tháng hặoc cả năm. Sáng Thế ký cho biết Abraham không đến th8ảng Canaan mà đến định cư tại thành phố Haran một thời gian. Thành phố Haran ngày nay là một ngôi làng thuộc Thổ nhĩ kỳ với 500 cư dân. Các ngôi nhà của dân làng này đều làm bằng đất sét giống như tổ ong. Thuở xa xưa, làng này là một thành phố thương mại sầm uất vì nó nằm trên bờ sông Balikh, phía Bắc thung lũng sông Euphrates và là ngã tư quan trọng của vùng Lưỡi Liềm Cận Đông (The firtile crescent of the Near East). Tại đây có nhiều đền thờ thần Mặt trăng giống như ở Ur. Dân cư trở nên thưa thớt vì khí hậu thay đổi càng ngày càng nóng. Hiện tại nhiệt độ trung bình ở đây lên tới 120 độ F.

Điều đặc biệt đáng chú ý là ở giữa làng Haran có một ngọn đồi, trên đó có một căn nhà mà dân làng này tin rằng đó là căn nhà khá rộng lớn như nhà của những người khá giả. theo chuyện dân gian lưu truyến ở vùng này thì Abraham làm nghề chăn nuôi và thường bán lông cừu cho nông dân trong vùng để đổi lấy nông sản và thực phẩm.

Những chuyện về Abraham ở Haran chỉ có thế nhưng cũng thu hút khá nhiều du khách từ những vùng lân cận đến bằng xe buýt (bus) vào cuối tuần để viếng thăm những “di tích” của Abraham !

Ở gần làng Haran có thành phố Urfa cới dân số gần nửa triệu người. Từ xa xưa thành phố này đã được coi là sinh quán của Abraham. Hàng năm người ta tổ chức những đại hội lớn gọi là “Đại hội Abraham” thu hút rất đông du khách từ thập phương kéo tới.

Truyền thuyết địa phương kể rằng : Abraham sinh ra trong một cái hang đá ở phía nam của thành phố Urfa. Khi mới sinh ra được một ngày, Abraham đã lớn bằng đứa trẻ đầy tháng và sau một năm, Abraham lớn bằng đứa trẻ 12 tuổi. Khi trưởng thành, Abraham đập nát các ảnh tượng của các thần cà khuyên mọi người chỉ thờ một Thiên chúa mà thôi. Vua Nimrod ra lệnh nắt Abraham và xử tử bằng cách thiêu sống. Nhưng khi ngọn lửa mới bùng lên thì tự nhiên có một vòi nước đổ nước xuống dập tắt ngọn lửa và những thanh củi đang cháy biến thành những con cá, nhờ thế mà Abraham được cứu sống.

Hiện nay, mỗi tuần có nhiều chuyến xe bus chở khách hành hương từ Iran qua viếng hang đá mà họ tin là nơi sinh của Abraham. Trước khi vào hang đá họ phải đi qua một ngôi đền Hồi giáo có một ngọn tháp nhỏ. Họ ở đây ít phút cầu nguyện Thượng đế trước khi vào viếng thăm hang đá, nơi sinh ra của Abraham, vị thánh tổ vĩ đại của tất cà các đạo thờ Chúa ! Đối với dân chúng ở khắp vùng này thì sinh quán của Abraham là Urfa chứ không phải Ur như sách Sáng thế ký của đạo Do thái đã nói. Dù cho Abraham sinh ra tại Ur hay Urfa cũng không quan trọng, điều quan trọng là sách Sáng thế ký (cuống sach đầu tiên của bộ Kinh thánh Do thái) đã mô tả chi tiết về Haran : Tại Haran, Chúa nói với Abraham hãy tiếp tục lên đường đi đến Đất hứa. Lúc đó Abraham đã 75 tuổi, vợ là Sarah đã 65 tuổi. Abraham lên đường cùng với vợ và người cháu trai tên là Lot. Họ mang theo nhiều tài sản gồm súc vật và đồ đạc. Từ haran đến đất hứa Canaan, Abraham phải đi qua nước Syria. Đất hứa Canaan chính là dải đất của xứ Ai cập. Sáng thế ký mô tả vùng Đất hứa Canaan “chảy ra sữa và mật” (flowing with milk and honey) ngụ ý miền đất này rất phì nhiêu. Trong thực tế vùng đất Canaan khô cằn sỏi đá nên từ hai ngàn năm trước Công nguyên đa số cư dân ở Canaan phải sinh sống bằng nghề buôn bán. Vì thế, từ thuở đó chữ “Canaanites” đã có nghĩa là thương gia (merchants).

Sách Sáng thế ký kể tiếp: Abraham đến vùng Đất hứa, trước hết cư ngụ tại thành phố Sechem. tại đây Chúa hiện ra với Abraham và phán rằng: “Ta sẽ cho dòng dõi của con vùng đất này” (To your seed I will give this land).

Sechem là tên của một thành phố cổ tại Trung đông đã có từ 2000 năm TCN, tọa lac ở phía tây sông Jordan. Nay thành phố mang tên Nablus, có 130.000 dân và đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Palestine. Hiện tại thành phố này đang là một bãi chiến trường giữa Palestine và Do thái. Cũng như hàng ngàn năm về trước, nơi đây đã từng là chiến trường giữa hai dân tộc con cháu của Abraham : Do thái và Ả rập !

Sách Sáng thế ký không nói Abraham ở tại thành phố Sechem bao lâu, chỉ nói Abraham đi về phía nam đến sa mạc Negrev. Ngày nay, vùng Negrev đã được dẫn thủy nhập điền nên nghề nông phát triển. Vào thời Abraham, mỗi khi gặp mùa hạn hán vùng này thường bị lâm vào nạn đói trầm trọng. Chính vì vậy Abraham đã phải bỏ Đất hứa Canaan để đi Ai cập. Nhờ có sông Nil và vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ nên dân Ai cập có một cuộc sống no đủ thịnh vượng. Mục đích của Abraham đến Ai cập kiếm ăn để khỏi bị chết đói. Khi mới tới biên giới Ai cập , Abraham căn dặn Sarah (lúc đó 65 tuổi) : “Em là một người đàn bà đẹp, nếu em nói là vợ ta thì người Ai cập sẽ giết ta. Vậy em hãy nói là em gái của ta”. Quả nhiên, các cận thần của vua Pharaon thấy Sarah quá đẹp nên đã dẫn nàng “dinh” (“harem”) của nhà vua.

Sự việc vua Pharaon cướp vợ của Abraham làm cho Thiên chúa rất tức giận nên ngài đã gây ra nạn dịch tàn phá Ai cập. Vua Pharaon thấy vậy sợ quá nên gọi Abraham đến để quở trách : “Tại sao ngươi không nói thật với ta Sarah là vợ ngươi? Vì ngươi nói nàng là em gái nên ta mới lấy nàng làm vợ. Thôi, bây giờ ngươi hãy nhận lại nàng và cút khỏi đây”. Sau đó, Abraham trở lại Canaan và chính thức định cư tại đây.

Tại Canaan, Chúa lại hiện ra với Abraham và xác định lãnh thổ Đất hứa : “Ta sẽ cho dòng dõi của con lãnh thổ từ sông Nil của Ai cập đến sông Euphrates” (nay thuộc Iraq). Nhưng Abraham lo lắng nghĩ về tương lai vì hiện tại Abraham không có một đứa con nào cả. Abraham oán trách Chúa : “Chúa cho tôi những thứ đó để làm gì vì tôi già sắp chết rồi mà vẫn không có con?” (Oh my Lord, what can you give me when I am going to my end childless?). Chúa trả lời : “Con hãy nhìn lên bầu trời và đếm các vì sao. Dòng dõi của con sau này cũng sẽ đông như vậy”.

Lúc đó, Sarah tin rằng mình không thể nào sinh con được vì đã 75 tuổi nên thuyết phục chồng ăn nằm cới cô đầy tớ gái Ai cập tên Hagar. ít lâu sau, Hagar sinh cho Abraham đứa con trai đầu lòng, đặt tên là Ismael. Khi có đứa con đầu lòng thì Abraham tròn 86 tuổi !

Mười ba năm sau, tức vào lúc Abraham 99 tuổi, Chúa hứa với Abraham rằng ông ta sẽ là tổ phụ của nhiều quốc gia (father to a multitude of nations). Abraham và Sarah đều phá lên cười và hỏi lại Chúa “Có lẽ nào một ông già trên 100 tuổi và một bà già 90 tuổi sinh con?”. Đúng một năm sau, Sarah sinh ra một bé trai được hai vợ chồng đặt tên là Isaac, có nghĩa là tiếng cười (theo tiếng Hebrew). Sau khi có con, Sarah ghen với Hagar và Ismael nên thuyết phục Abraham đuổi họ ra khỏi nhà. Abraham đưa Hagar và Ismael đến một nơi trong sa mạc. Những người Hồi giáo tin rằng nơi đó chính là Mecca hiện nay.

Sách Sáng thế ký kể tiếp : Sarah chết năm 127 tuổi tại Quiryat gần Hebron, Abraham đem xác vợ về chôn tại hang Machpelah, thuộc tỉnh Hebron ở gần Biển Chết (the Dead Sea).

Sau đó, Abraham đến Haran kiếm vợ cho Isaac tên Rebekah. Cưới vợ cho con trai xong, Abraham đi Hebron để kiếm một cô vợ cho riêng ông, lúc này ông đã 137 tuổi. Cô vợ trẻ của Abraham tên Keturah sinh cho ông 6 đứa con. Sách Sáng thế ký cho biết Abraham chết vào năm 175 tuổi. Isaac va Ismael đem xác cha về chôn bên cạnh mộ của bà Sarah tai hang Machpelah. Ngày nay hang này là thánh địa của đạo Do thái va đạo Hồi.

2. Truyền thuyết về Abraham trong đạo Hồi

Truyền thuyết về Abraham trong đạo Hồi được thuật lại một cách sơ lược qua 25 câu thơ rải rác trong các chương khác nhau của kinh Koran:

– Adam là tổ tiên của loài người và là vị tiên tri thứ nhất của Thiên chúa (Koran 3:33)

– Trận Đại hồng thủy tiêu diệt cả loài người, chỉ ngoại trừ những người và vật trên tàu của ông Noah được cứu thoát mà thôi. Noah là tiên tri thứ hai của Chúa (Koran 7:59-64)

– Sau đó loài người sinh sôi nảy nở và thờ nhiều thần nhảm nhí nên Chúa cho tiên tri thứ ba xuất hiện, đó chính Abraham. Với sứ mạng lập đạo thờ một Chúa tức Độc thần giáo (Monotheism), Abraham chống lại cha ruột của minh là Azar (tức Terah) vì ông này làm ra rất nhiều tượng thần để tôn thờ. Abraham chất vấn cha : “Cha sẽ thờ những ảnh tượng này thay vì thờ Chúa sao? Hiển nhiên là cha và những người theo cha là những kẻ sai lầm!” ( Koran 6:74-84 ).

Đạo Do thái và đạo Hồi đều tự nhận là đạo chân chính của Abraham vì không thờ ảnh tượng.ai đạo này kết án đạo Công giáo và Chính thống giáo là những tà đạo vì hai giáo phái Ki-tô này đều thờ rất nhiều ảnh tượng của Chúa và các thánh!

Trong thế kỷ I, “thánh” Phao-lồ của Ki-tô giáo gọi Abraham là “tín đồ Ki-tô giáo trước Phúc âm” ( a Christian before Gospel). Đến thế lỷ 7, Muhammad gọi Abraham là “tín đồ hồi giáo trước kinh Koran” ( a Muslim before Koran ).

Truyền thuyết của Hồi giáo về Abraham trong phần đầu cũng tương tự như trong sách Sáng thế ký của đạo Do thái. Nhưng từ khi bà Sarah nổi ghen và buộc Abraham phải đuổi hai mẹ con Ismael ra khỏi nhà thì câu chuyện bắt đầu đổi khác : Bà Hagar dẫn con đến một nơi ở sa mạc Syro-Arabia, nơi đó chính là địa điểm của thành phố Mecca, thủ đô của xứ Saudi Arabia ngày nay.

Năm Ismael lên 13 tuổi, Abraham cắt da qui đầu của con trai và sau đó ông tự cắt da qui đầu của mình, mặc dầu lúc đó ông đã 99 tuổi. Đây là hành vi tỏ ý tuân phục Thiên chúa tuyệt đối. Tục lệ cắt bì (circumcision) bắt đầu từ đó và dần dần biến thành một nghi lễ (tương tự như lễ rủa tội của Ki-tô giao) áp dụng cho mọi tín đồ nam giới của đạo Do thái và đạo Hồi.

Khi Isamel trưởng thành, Chúa thử lòng Abraham bằng cách ra lệnh cho ông phải giết đứa con trai yêu quí của mình và đốt nó bằng củi lửa như những vật hy sinh khác ( Koran 37:102-112 ). Abraham tuân lệnh Chúa nên dẫn Ismael lên núi Arafat (cách Mecca 16 dặm) để giết. Nhưng khi Abraham vừa mới vung đao lên để giết con thì Thiên chúa ngăn lại. Chúa hứa cho Ismael sau này trỏ thành tổ phụ của một dân tộc lớn. về sau, Ismael có 12 người con trai là tổ tiên của 12 giống dân Ả rập. (Điều này cũng tương tự như Kinh thánh Cựu ước Do thái chép rằng : cháu nội của Abraham là Gia-cóp có 12 con trai là tổ phụ của 12 bộ lạc Do thái. Kinh thánh Tân ước cũng chép : Chúa Jesus chọn 12 tông đồ để lãnh đạo 12 bộ lạc Do thái chứ không phải để truyền đạo khắp thế gian.)

Trong thời gian bà Hagar và Ismael sống tại sa mạc, Abraham thường xuyên đến thăm. Giữa chốn sa mạc hoang vu này Chúa đã khiến cho một dòng nước từ dưới những lớp cát phun lên. Đó chính là giếng nước thiêng ở Mecca gọi là giếng Zamzam. Cả hai cha con Abraham đã cùng nhau xây một đền thờ Chúa đầu tiên trên trái đất. Đó chính là đền thờ Kaaba ở Mecca hiện nay. Tiếng Ả rập Kaaba có nghĩa là Tòa nhà hình khối (the Cubic Building). Ismael thọ 137 tuổi.

Ngày nay, mỗi năm có tới hàng chục triệu người Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới đổ về Mecca hành hương. Địa điểm chính yếu là đền thờ Kaaba. Trước khi tới đền thờ này, người ta phải đi bộ qua các đại lộ Abraham, Hagar, Ismael và Muhammad. Sau đó, các khách hành hương đi thăm giếng nước Zamzam đã nuôi sống hai mẹ con Ismael ở sa mạc. Cuối cùng họ kéo nhau lên núi Arafat, cách Mecca 16 dặm, giết những con cừu làm lễ tế sinh (animal sacrifice offering) để tưởng niệm Abraham toan giết Ismael làm lễ hy sinh tế lễ Thiên chúa !

3. Quan điểm của Vatican về Abraham:

Mặc dầu chỉ đọc qua những truyền thuyết về Abraham của đạo Do thái hay đạo Hồi, chúng ta cũng nhận thấy trong những câu chuyện có đầy dẫy những chi tiết huyền hoặc nhảm nhí. Tuy nhiên, Giáo hoàng John Paul II là người lãnh đạo tối cao của gần một tỉ tín đồ Công giáo tin rằng Abraham là một nhân vật có thật. Năm 1994, John Paul II công bố ý muốn làm một cuộc hành hương đến thành phố Ur để vinh danh thánh tổ phụ Abraham. Giáo hoàng tuyên bố : “Nếu không khởi đầu từ thành phố Ur thì mọi cuộc thăm viếng các vùng đất của Thánh kinh sẽ không thực hiện được, bởi vì mọi sự bắt đầu từ đó” (No visit to the lands of the Bible is possible without a start in Ur, where it all began – national geographic, 12/2001, page 98).

Vatican đã vận động Saddam Hussein cho phép giáo hoàng đến thăm Ur vì thành phố cổ này hiện thuộc lãnh thổ phía nam của Iraq. Cuối năm 1999, Saddam Hussein dứt khoát bác bỏ lời yêu cầu của Vatican. Giáo hoàng bèn quyết định tổ chức một đại lễ tại đại giảng đường ở Vatican. Ngày 23-2-2000, 6000 người tụ họp tai đại giảng đường Vatican để dự đại lễ tưởng niệm Abraham do giáo hoàng chủ lễ. Nghi thức chủ yếu trong buổi lễ này là giáo hoàng châm lửa đốt một đống củi nhỏ trên bàn thờ để tưởng nhớ hành vi giết con của Abraham làm vật hy sinh tế lễ Thiên chúa! Khói và mùi hương lan tỏa khắp đại giảng đường. Dĩ nhiên, đối với Do thái giáo và Ki-tô giáo, đứa con trai mà Abraham định giết để tế Chúa là Isaac chứ không phải Ismael. Bà Hagar và Ismael của Hồi giáo hoàn toàn bị quên lãng trong hai tôn giáo này.

4. Quan điểm của cá nhà khoa học khảo cổ về Abraham

Sách Sáng thế ký là sách đầu tiên của Bộ Thánh kinh Do thái đã chép : “Terah sinh ra Abraham tại Ur.” Các cuộc khai quật khảo cổ trong thế kỷ 20 đã xác định sự hiện hữu của thành phố Ur, nhưng các kết quả thu lượm được chứng tỏ Abraham chỉ là một nhân vật thần thoại.

Cuộc khai quật thành phố Ur lần đầu tiên đuợc thực hiện năm 1917 bởi nhà khảo cổ trứ danh người Anh là Sir Leonard Wooley. Con số những hiện vật đào được rất nhiều và rất đa dạng khiến cho các nhà khoa học dễ dàng xác định được hạn tuổi và tìm hiểu các khía cạnh của đời sống người xưa. Báo National Geographic số tháng 5 năm 1999 đã viết về vấ đề như sau: “Những tài liệu khổng lồ thu thập được về những thành tựu của con người đã xác định được lịch sử của Lưỡng Hà châu, nơi sinh quán theo truyền thuyết của một nhân vật cả ba tôn giáo Do thái, Ki-tô giáo và Hồi”.

“Nơi sinh quán theo truyền thuyết về Abraham là thành phố Ur đã bị bỏ hoang từ thế kỷ 4 trước Công nguyên do sự đổi dòng của con sông Euphrate khiến cho Ur bị vây hãm bởi sa mạc” (Traditional birthplace of Abraham, the city of Ur, was abandoned is the fourth century BC. after the Euphrate changed course, leaving Ur enclosed by desert).

Các cuộc khai quật khảo cổ tại Ur và các vùng khác thuộc Babylon đã đem đến cho các nhà khoa học hàng chục ngàn tấm đất sét phơi khô có ghi chữ ‘Cuneiform’. Đó là những cuốn sách ghi chép đủ thứ, từ sử liệu, thơ văn, tôn giáo, tóan học, khoa học và rất nhiều chuyện thần thoại. Trong kho chuỵên thần thoại của thành phố Ur có chuyện về Abraham.

Nhà khảo cổ Mellersh (tác giả Archeological Section của Bộ Đại từ diện Bách khoa Great Encyclopedic Dictionary) cho biết : Tại thành phố Ur có chuyện thần thoại về vị Thần đất Terah. Thần đất sinh con trai đặt tên là Abraham, có nghĩa là một vị nam thần (male god) và một con gái đặt tên là Sarai, có nghĩa là nữ thần (female god). Về sau hai người lớn lên, Abraham đã lấy em gái làm vợ.

Năm 322 TCN, Hoàng đế Hy lạp là Alexander the Great chiếm Do thái và vùng Lưỡng Hà châu và thiết lập sự cai trị vùng này trong 180 năm (322 TCN – 152 TCN). Các chuyện thần thoại của Do thái và Lưỡng Hà châu đều được dịch sang tiếng Hy lạp và phổ biến tại Âu châu. ngôn ngữ la tinh đã mượn tên thần đất Terah (cha của Abraham) để làm nguyên ngữ cho dnah từ TERRA có nghĩa là đất. Sau đó, Pháp ngữ dùng chữ Terra làm nguyên ngữ cho danh từ của Pháp là La Terre. Như vậy, theo kết quả khảo cổ, Abraham chỉ là tên đọc trại ra từ tên thần thoại. Abraham trong chuyện thần đất Terah của thành phố Ur mà thôi. Abraham là một nhân vật không có thật.

Chuyên gia Do thái về khảo cổ tại Đại hoc Tel Aviv tuyên bố : “Abraham là vấn đề không thể truy tìm được. Không có một bằng chứng nào về sự hiện hữu của ông ta. Đi tìm một nhân vật Abraham lịch sử còn khó hơn nhiều so với việc đi tìm một Jesus lịch sử. Điều quan trọng là chúng ta hãy giả định Abraham chỉ là một ý tưởng được nhân cách hóa mà thôi.” (Abraham is beyond recovery. Without any prooof of the patriarch’s existence, the search for a historical Abraham is even more difficult than the search for a historical Jesus. The important thing is to assess the meaning and legacy of the ideas of Abraham came to embody. National geographic Dec. 2001, page 96).

Ý tưởng chính yếu của Abraham là “chỉ tôn thờ một Chúa mà thôi”. Nhà khảo cổ Tad Szule, tác giả bài viết “Abraham, cuộc hành trình của niềm tin” (Abraham Journey of faith – N. Geographic, Dec 2001) kết luận: “ Các tín đồ độc thần nói lên niềm tin của Abraham vao một Thiên chúa, chính niềm tin đó đã làm thay đổi thế giới từ xưa tới nay” (They spell out his fundamenta belief that there is one Gos. That belief changed the world forever).

Người đưa ra chủ thuyết “chỉ thờ một Chúa” có thể đã có một mục tiêu vĩ đại là thống nhất các bộ lạc, hoặc các dân tộc trong niềm tin một Thiên chúa Duy nhất.

Họ kỳ vọng các bộ lạc và các dân tộc sẽ coi nhau như anh em và sống trong hòa bình. Trong thực tế, các đạo độc thần cùng thờ một Chúa và cùng chung một ông tổ Abraham đã không ngừng chém giết nhau trong những thế kỷ qua. Thực tế phủ phàng đã hùng hồn minh chứng rằng : “Độc thần Thiên Chúa giáo, tức lý tưởng Abraham, đã hoàn toàn bị phá sản” !

Charlie Nguyễn (Dominique Bùi Văn Chấn – TV Thánh Gia)

Thân phận phụ nử Hồi Giáo

THÂN PHN PH N HI GIÁO

Tổng số 1 tỷ 200 triệu tín đồ Hồi Giáo trải rộng trên khắp các lục địa nên số phận của phụ nữ không đồng nhất. Tùy theo luật pháp của mỗi quốc gia, số phận phụ nữ ở mỗi nước cũng khác nhau và tùy theo phong tục tập quán của mỗi dân tộc, cũng như do sự biến chuyển của lịch sử, số phận của phụ nữ Hồi Giáo cũng thay đổi theo.

            Tuy nhiên, vượt lên trên mọi dị biệt của địa phương và qua mọi giai đoạn khác nhau của lịch sử vẫn có những yếu tố chung của đạo Hồi quyết định phần lớn số phận của các phụ nữ Hồi Giáo. Đó chính là những điều luật về phụ nữ được nêu rõ trong kinh Koran và trong Thánh Luật Sharia (The Holy Law of Islam). Kinh Koran là cuốn sách thiêng liêng ghi chép các lời của Thiên Chúa Allah (Words of Allah) nên Koran được coi là bộ luật tối cao và không ai có quyền sửa đổi. Bộ luật Sharia được triển khai từ kinh Koran nên cũng là Thánh Luật bất khả xâm phạm. Do đó, những điều gì dù bất công và vô lý đã được kinh Koran và thánh luật Sharia áp đặt lên số phận phụ nữ cũng đều trở thành bất di bất dịch trong các nước Hồi Giáo. Thí dụ:

            – Kinh Koran đã qui định chế độ y phục của phụ nữ hết sức khắt khe như sau: “Phụ nữ phải mặc che kín hoàn toàn, không được để lộ một phần nào của thân thể trước mặt bất cứ một người đàn ông nào, bao gồm cả mặt và tay” (They dress up completely without showing any part of their bodies, including face and hands to any man – Koran 33:53).

            Kinh Koran minh thị xác nhận uy quyền của đàn ông đối với đàn bà: “Đàn ông có quyền đối với đàn bà vì Chúa đã sinh ra đàn ông cao quí hơn đàn bà và vì đàn ông phải bỏ tài sản của mình ra để nuôi họ. Đàn bà tốt phải biết vâng lời đàn ông vì đàn ông săn sóc cả phần tinh thần của đàn bà. Đối với những phụ nữ không biết vâng lời, đàn ông có quyền ruồng bỏ, không cho nằm chung giường và có quyền đánh đập”.

            (Man has the authority over women because God has made the one superior to the other and because they spend wealth to breed them. Good women are obedient because they guard their unseen parts.  As for those whom you fear disobedience, admolish them, send them to beds apart and beat them – Koran 4:34).

            Kinh Koran coi thiên đàng là “Khu vườn của lạc thú nhục dục muôn đời”, còn ở trên thế gian nầy thì đàn bà là “cánh đồng lạc thú” mà mọi nguời đàn ông đều có quyền chủ động bước vào nếu muốn: “Women are your field, go into your field whence you please” – Koran 2: 221)

            Đàn bà bị xã hội Hồi Giáo coi là một thứ công cụ để đẻ con và để thỏa mãn dục tính của đàn ông. Kinh Koran còn qui định: khi cha mẹ chia gia tài thì con gái chỉ được hưởng một phần nửa phần của con trai mà thôi. Khi các nhân chứng ra trước tòa làm chứng thì lời chứng của đàn bà chỉ có giá trị bằng một nửa lời khai của đàn ông. Khi nạn nhân là phụ nữ bị giết thì thân nhân chỉ được lãnh một nửa số tiền bồi thường.

            Đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đàn bà chỉ được lấy một chồng, do đó đàn ông không có tội ngoại tình. Trái lại, đàn bà ngoại tình sẽ bị đem ra nơi công cộng để mọi người ném đá đến chết.

            Trải qua 14 thế kỷ, kinh Koran đã gieo biết bao tai họa cho các phụ nữ Hồi giáo nhưng vì các tín đồ ngoan đạo đều coi Koran là “Chân lý Tối Hậu của Thiên Chúa” (The Final Truth of Allah) nên không ai dám coi đó là những điều vô lý hoặc bất công. Các tín đồ nam cũng như nữ không còn con đường nào khác là phải tuyệt đối vâng phục ý Chúa vì Đạo Hồi có nghĩa là sự vâng phục hoàn toàn ý của Chúa (Islam = Submission to God).

            Trong các nước Hồi Giáo, nữ giới phải chiu nhiều thiệt thòi trong hôn nhân. Tuổi con gái đi lấy chồng trung bình từ 12 đến 15. Trong các bộ lạc du mục, nhiều khi cha mẹ gả chồng cho con gái lúc mới 5,6 tuổi.  Các anh chị em họ gần (cousins) có quyền lấy nhau, đặc biệt là hai người đàn ông có quyền trao đổi con gái cho nhau (người này làm cha vợ của người kia!). Đó chính là trường hợp của Muhammad. Năm 624, Muhammad (54 tuổi) lấy cô Hafsah 18 tuổi, con của Umar làm vợ bé. Trong khi đó, vợ chính của Muhammad mới lên 10, con gái của Abu Bakr. Cả hai cha vợ của Muhammad là Umar và Abu Bakr đều xin cưới con gái út  của Muhammad là Fatima. Muhammad không chịu vì ông quá yêu thương Ali là em họ (con của chú ruột) nên ông đã gả Fatima cho Ali. Sau này Ali và Fatima trở nên “thánh tổ” của giáo phái Shi-a. Shi’a có nghĩa là “đảng của Ali” (Shiites = partisans of Ali).

            Sau đây là hai vấn đề quan trọng được coi là tiêu biểu cho quan niệm đặc biệt của Hồi Giáo về nữ quyền. Đó là vấn đề đa thê (Polygamy) và trường hợp Afganistan dưới chế độ Hồi Giáo cực đoan của  Taliban.

            I. VẤN ĐỀ ĐA THÊ.-

Nói chung, các nước Tây Phương nhìn về các nước Hồi Giáo (công nhận chế độ đa thê) một cách khinh bỉ và họ coi Đa Thê đồng nghĩa với chế độ nô lệ (Polygamy is slavery!). Từ hậu bán thế kỷ 20, do nhiều biến chuyển về kinh tế và chính trị trên thế giới, nhiều nước Hồi Giáo đã phải điều chỉnh “Thánh Luật Sharia” đối với vấn đề đa thê cho phù hợp với thực tế.

            – Tunisia:  Đa số đàn ông Tunisia không đủ sức nuôi vợ con cho nên hầu như chẳng có ai muốn lấy nhiều vợ, mặc dầu kinh Koran cho phép đàn ông lấy 4 vợ. Các dân biểu tán thành việc hủy bỏ tục đa thê. Do đó, vào năm 1956, Tunisia trở thành nước Hồi Giáo đầu tiên ra lệnh cấm đa thê. Chẳng những thế, họ còn chê bai chế độ ly dị quá dễ dàng của Tây Phương. Họ gọi các cuộc hôn nhân sau khi ly dị liên tiếp nhiều lần là một hình thức đa thê trá hình vì đó chỉ là “chế độ độc thê hàng loạt” (serial monogamy).

            – Algeria:  Algeria là thuộc địa của Pháp từ năm 1830. Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng của Việt Nam năm 1954 đã đem lại một niềm hứng khởi vô cùng lớn lao cho nhân dân Algeria trong quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập. Niềm hứng khởi đó đã thúc đẩy trên 10.000 phụ nữ Algeria gia nhập hàng ngũ kháng chiến quân võ trang. Họ lợi dụng những chiếc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến chân để dấu vũ khí, thuốc men, lương thực tiếp tế cho quân kháng chiến. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến thành công năm 1962 thì chính quyền Algeria bị rơi vào tay của giới lãnh đạo Hồi Giáo cực đoan.

Chính quyền này muốn đưa Algeria trở về thời Trung Cổ bằng cách tước đoạt mọi quyền tự do của phụ nữ. Phụ nữ Algeria ngao ngán thở dài hối tiếc thời Pháp thuộc vì dưới ách thống trị của thực dân, họ đã được hưởng rất nhiều quyền tự do và nhân phẩm của họ đã được kẻ địch tôn trọng còn hơn những kẻ lãnh đạo đồng hương của họ.

            Vào năm 1980, một đảng Hồi Giáo cực đoan khác lên nắm chính quyền ở Algeria. Năm 1984, chính quyền này ban hành luật công nhận chế độ đa thê. Nhiều phụ nữ biểu tình chống lại luật này. Chính quyền quá khích ra lệnh cho cảnh sát nổ súng khiến cho 48 phụ nữ bi thiệt mạng.

            Sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi Giáo cuồng tín đã làm bùng lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ hơn. Chính quyền liền ban hành luật thị uy với những hình phạt thật nghiêm khắc đối với những người xách động biểu tình: đàn ông bị chặt đầu, đàn bà bị thiêu sống. Bộ luật chống biểu tình này được áp dụng liền trong 10 năm, từ 1984 đến 1993, đã giết chết khoảng 7000 người!. Mặc dầu vậy, phụ nữ Algeria vẫn không nản chí, họ tiếp tục tranh đấu cho tự do một cách thật kiên cường khiến cho thế giới phải khâm phục. Ngày lịch sử 22-3-1993, một nửa triệu phụ nữ Algeria vứt bỏ áo choàng và khăn che mặt từ khắp nơi đổ về thủ đô với khẩu hiệu: “Chúng tôi không nhượng bộ” (We will not yield!). Trước khí thế quá mạnh mẽ và can trường của nửa triệu phụ nữ, chính quyền Hồi Giáo cực đoan đã phải chùn tay không dám bắn và cuối cùng họ đã phải nhượng bộ bằng cách hủy bỏ các luật lệ bất công đối với phụ nữ.

            – Iran:  Đại đa số dân Iran theo giáo phái Shiites nổi tiếng bảo thủ và cực đoan. Họ theo đúng tinh thần của Kinh Koran là chỉ tôn trọng quyền lợi của đàn ông mà thôi. Luật hôn nhân của Iran công nhận chế độ đa thê. Đàn ông muốn ly dị vợ lúc nào cũng được, thủ tục ly dị vô cùng đơn giản vì người chồng chỉ cần nói với vợ ba lần: “Tôi ly dị cô”!  Sau khi được tòa cho ly dị, người chồng luôn luôn có quyền giữ con trai trên 6 tuổi và con gái trên 12 tuổi. Người vợ chỉ được nhận tiền của chồng trợ cấp trong 3 tháng mà thôi.

            Trong thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, các vua Hồi công nhận nhiều quyền tự do của phụ nữ, nhưng sau cuộc Cách Mạng Hồi  Giáo do giáo chủ Khomeini lãnh đạo trong 2 năm 1978-1979, chính quyền Hồi Giáo Shiite cực đoan đã đưa Iran trở lại thời Trung Cổ: Phụ nữ bị bắt buộc phải đeo mạng che kín mặt và phải mặc áo choàng CHADOR phủ kín từ đầu đến chân. Luật pháp cho phép chồng có quyền đánh vợ, thậm chí dù có đánh chết vợ chăng nữa thì cũng chỉ bị tòa án phạt tượng trưng. Tại Iran, hàng năm có tới nhiều trăm vụ phụ nữ bị chồng giết chết!

            Tuy nhiên, Iran có một số điều luật tiến bộ so với các nước Hồi Giáo khác: Phụ nữ được phép lái xe, được quyền hành nghề buôn bán nhà cửa, làm chủ cửa tiệm buôn và đặc biệt là được giữ các chức vụ cao trong chính quyền. Hiện nay phụ nữ chiếm 35% lực lượng công chức tại các công sở, 25% lực lượng công nhân và 54% tổng số sinh viên đại học. (Newsweek 3.2.2001).   

Các nước Hồi Giáo có nữ thủ tướng:  Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Bangladesh và Indonesia.   Tại các nước này, phụ nữ có quyền tự do gần như bình đẳng với nam giới. Nếu xếp theo thứ tự về quyền tự do của phụ nữ thì Thổ Nhĩ Kỳ đứng đầu rồi đến Indonesia, Pakistan và Bangladesh. Ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ, tại Indonesia, Pakistan và Bangladesh hầu hết các phụ nữ đều thất học. Chỉ có một trường đại học Rawanpindi ở Pakistan có nữ sinh viên. Các phụ nữ Pakistan, kể cả nữ sinh viên, đều phải che mặt. Tại vùng Kashmir đang có chiến tranh giữa Hồi và Ấn, bọn cuồng tín Hồi Giáo thường hay tạt át-xít vào mặt những phụ nữ không chịu đeo mạng che mặt. 

            – Các nước Hồi Giáo tại vùng vịnh Ba Tư.-  Vùng Vịnh Ba Tư có nhiều nước Ả Rập theo Hồi Giáo: Ả Rập Saudi, Koweit, Yemen, Quatar và Emerites. Các nước này giầu có nhờ dầu hỏa và có nhiều siêu thị (supermarket, Food stores) như ở Mỹ, nhưng phụ nữ bị luật pháp cấm lái xe. Do đó, công tác mua sắm (shopping) và đi chợ đều do đàn ông thực hiện. Nếu đàn ông không thích đi chợ mua sắm thì cũng phải lái xe đưa vợ tới các cửa tiệm rồi ngồi chờ vợ ở trong xe.

            Tại Ả Rập Saudi, nhà nước ban hành luật về y phục của phụ nữ (The National Dress Code) theo đúng tinh thần kinh Koran là “phải bảo vệ đức khiêm tốn của phụ nữ và không cho phép họ phô bày nhan sắc” (to guard their modesty and not to display their beauty). Luật này lập ra một ngành cảnh sát đặc biệt gọi là “Cảnh sát đạo đức” (Morality Police) chuyên lo việc thi hành các luật lệ về y phục của phụ nữ. Bất cứ một phụ nữ nào mặc y phục không đúng qui định sẽ bị cảnh sát đạo đức đánh đập bằng gậy tại chỗ!

            Điều rất đặc biệt tại Saudi Arabia là các phụ nữ đều không có thẻ căn cước. Lý lịch của họ chỉ được ghi thêm vào căn cước của cha nếu còn độc thân. Khi cha chết thì lý lịch được ghi vào thẻ của anh em trai. Nếu đã kết hôn thì lý lịch của phụ nữ được ghi vào thẻ căn cước của chồng. Khi chồng chết thì ghi vào thẻ căn cước của con trai. Đàn bà bị cấm lái xe, bị cấm hành nghề luật sư, kỹ sư và bị cấm làm công chức cho các công sở của nhà nước.

            Tại Koweit: Số phận phụ nữ cũng tương tự như ở Saudi Arabia. Tuy nhiên, kể từ 1999, phụ nữ được luật pháp công nhận nhiều quyền tự do, trong đó  có quyền tự do quan trọng nhất là quyền tự do ứng cử và bầu cử. (Newsweek 3/12/2001).

            Tại Saudi Arabia và Koweit, các học sinh nam nữ phải học tại các trường riêng biệt từ cấp tiểu học trung học và cả ở đại học.

            II. AFGANISTAN DƯỚI CHẾ ĐỘ HỒI GIÁO CỰC ĐOAN TALIBAN.-

            Năm 1989, do sự giúp đỡ tích cực của Mỹ và của các nước Hồi Giáo, quân kháng chiến Afganistan đã đánh đuổi quân Liên Xô ra khỏi bờ cõi. Sau đó, trong ba năm kế tiếp, quân kháng chiến tiếp tục cuộc chiến đấu để lật nhào chế độ thân Liên Xô của Najibullah. Nhưng đến khi cuộc kháng chiến thành công thì các “chiến sĩ tự do” (Mujahideen) đã mau chóng chia thành nhiều phe nhóm chống đối và giết hại lẫn nhau vì lý do sắc tộc và giáo phái khác biệt. Tại Afganistan, từ xưa đến nay có bốn sắc tộc thường xuyên xung đột nhau là Pathans, Pashtun, Uzbek và Tajik. Về tôn giáo, có hai giáo phái vốn thù nghịch nhau và đã từng có nhiều thế kỷ thù hận đẫm máu là giáo phái Sunni và  Shiite. Đất nước Afganistan rơi vào tình trạng nồi da  xáo thịt trong 5 năm, từ 1989 đến 1994 làm thiệt mạng hàng vạn sinh linh.

            Cuộc nội chiến được kết thúc năm 1994 do một người hùng tên Mullah Omar, lãnh đạo phe Taliban, thành công trong việc cướp chính quyền trung ương. Theo ngôn ngữ Afgan thì Taliban có nghĩa là “Một Nhóm Sinh Viên” (A band of Students). Họ có chủ trương ổn định đất nước, thiết lập quốc gia Hồi  Giáo và chủ trương bài  ngoại cực đoan.

            Điều làm mọi người phải ngạc nhiên là phe Taliban không có quân đội, trong khi các lãnh chúa của các bộ lạc đều có quân đội và vũ khí trong tay mà không dám làm gì. Sự thành công của Taliban hoàn toàn do khả năng tuyên truyền và thuyết phục quần chúng nên họ đã được toàn dân ủng hộ và đưa lên nắm chính quyền năm 1994. Năm 1996, Taliban mới chính thức chiếm thủ đô Kabul và kiểm soát 2/3 lãnh thổ quốc gia. Việc đầu tiên là Taliban ban hành hiến pháp công bố Afganistan là một quốc gia Hồi Giáo (Hồi Giáo là Quốc Giáo). Các luật lệ cổ hủ lỗi thời của Hồi Giáo từ 14 thế kỷ trước đều được phục hồi: kẻ bị kết án về tội trộm phải bị chặt tay, đàn bà ngoại tình bị ném đá đến chết…

            Taliban ban hành luật lệ về y phục của phụ nữ hết sức khắt khe, đến nỗi đã biến họ thành “những kẻ vô hình” vì mọi người hàng xóm và những người đi trên đường phố đều không nhìn thấy mặt của phụ nữ. Mọi phụ nữ Afgan mỗi khi bước chân ra khỏi nhà đều phải mặc bộ BURKA. Đây là một kiểu áo choàng may bằng vải thô phủ kín từ đầu đến chân. Các ký giả Tây Phương gọi Burka là “cái túi đựng xác người sống” (the body-bag for the living). Vì được may bằng nhiều nếp gấp và rộng thùng thình nên chiếc áo Burka rất nặng. Vào mùa hè trời nóng có nhiều phụ nữ bị bịnh ngộp thở (claustrophobia) hoặc mắc chứng nhức đầu kinh niên.

            Tại Afganistan cũng như tại các quốc gia Hồi Giáo khác, phụ nữ không được đi học. Các bé gái chỉ được học từ 7 đến 12 tuổi đủ để có thể đọc được sách kinh mà thôi.

            Cũng giống như trường hợp Algeria, chính quyền Hồi Giáo bản xứ đã đối xử với phụ nữ tàn tệ hơn chế độ thực dân Pháp trước kia. Chế độ Taliban cũng tước đoạt hết mọi quyền tự do của phụ nữ Afganistan mà họ đã được hưởng dưới thời Liên Xô chiếm đóng tại xứ này trong 10 năm, từ 1979 đến 1989. Chính phủ Taliban lập ra Bộ Cải Tiến Đạo Đức và Ngăn Ngừa Thói Xấu (Ministry for Promotion of Virtues and Prevention of Vices).  Các cán bộ thuộc bộ này đều là đàn ông, mỗi cán bộ được trang bị một cái roi dài quấn dây cáp bằng thép dùng để đánh bất cứ một phụ nữ nào đi trên đường phố mà không mặc y phục đúng cách. Chẳng hạn như để lộ vớ trắng ở bàn chân, đi giầy gây tiếng kêu trên hè phố, mặc quần áo quá bó sát thân hoặc trên người có đeo nữ trang v.v… 

                                                                                                           Charlie Nguyễn

Thân Thế Muhammad tại Mecca
Tìm Hiểu Kinh Koran
Tệ Nạn Phân Hóa Trong Nội Bộ Hồi Giáo

Tệ nạn phân hóa trong nội bộ Hồi Giáo

T NN PHÂN HOÁ TRONG NI B HI GIÁO

             Trong quá trình phát triển theo thời gian, hầu như không có tôn giáo nào thoát khỏi tệ nạn phân hóa. Tuy nhiên, có tôn giáo phân hóa trong hòa bình, như đạo Phật chẳng hạn (Đại Thừa, Tiểu Thừa không bao giờ chém giết nhau). Trái lại, hầu hết các đạo độc thần đã đi đến sự phân hóa sau các cuộc xung đột gay gắt và luôn luôn kéo theo các cuộc “thánh chiến” đẫm máu trong nhiều thế kỷ. Điển hình là sự phân hóa của Công Giáo La Mã: Công Giáo Đông Âu tách rời năm 1052 để biến thành Chính Thống Giáo, Công Giáo Anh ly khai trong thế kỷ 16 biến thành Anh Giáo và phong trào cải cách tôn giáo do Luther khởi xướng vào đầu thế kỷ 16 cũng đưa đến sự ly khai khỏi Công Giáo La Mã để hình thành các giáo phái Tin Lành. Tất cả các tôn giáo và giáo phái ly khai đều đã bị Công Giáo dùng sức mạnh quân sự đàn áp trong máu lửa.

            Tình trạng phân hóa của đạo Hồi đã xảy ra rất sớm vì nó đã diễn ra chỉ vài chục năm sau khi giáo chủ Muhammad qua đời. Hậu quả của sự phân hóa này đã làm thiệt mạng nhiều chục triệu tín đồ Hồi Giáo trong 14 thế kỷ qua và hiện nay vẫn còn tiếp tục.

            Sự phân hóa của đạo Hồi là sự phân hóa đẫm máu nhất và lâu dài nhất trong lịch sử các tôn giáo trên thế giới.

            Có 3 nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa thảm khốc:

            1. Khi sắp qua đời, Muhammad đã không tiên liệu việc chỉ định người kế vị để cai trị cộng đồng Hồi Giáo của ông.

            2. Đối với các tín đồ cuồng tín thì kinh Koran là cuốn sách toàn hảo về mọi phương diện. Trong thực tế, Koran là cuốn sách rất mơ hồ về giáo lý và rất nhiều thiếu sót về luật pháp. Do đó người ta đã phải bổ túc bằng những cuộc điều tra để thu thập các bản báo cáo về hành vi và lời nói của Muhammad. Các báo cáo này được đúc kết lại thành sách Hadiths (Collections of Reports). Các Hadiths được tập trung lại đúc kết thành Sách Sunna để làm sách gối đầu giường cho mọi hành động của tín đồ Hồi Giáo (Ways of Acting). Tất cả các sách nói trên được các nhà làm luật Hồi Giáo tham khảo để soạn ra luật Hồi Giáo gọi là Sharia (Holy Islamic Law). Kinh Koran mơ hồ thiếu sót đã đưa đến những lý luận giải thích khác nhau, từ đó phát sinh những phe phái khác nhau trong đạo Hồi. Các sách Hadiths, Sunna và Sharia cũng không được tất cả công nhận. Có những sách được phe này công nhận lại bị phe khác phủ nhận và kết án là tà đạo…

            Đạo Công Giáo cũng bị phân hóa nghiêm trọng trong thế kỷ 16 (sự tách rời của Anh Giáo và Tin Lành) nhưng từ đó đến nay Giáo Hội Công Giáo vẫn đứng vững vì Giáo Hội Công Giáo hoàn toàn tùy thuộc vào quyền lãnh đạo duy nhất của giáo hoàng ở Vatican. Không một người nào có quyền giải thích Thánh Kinh khác với giáo hoàng. Do đó, Giáo Hội Công Giáo đã không bị phân hóa từ thế kỷ 16 đến nay. Trái lại, Tin Lành không có lãnh đạo trung ương và mọi người đều có quyền tự do giải thích Thánh Kinh nên đến nay Tin Lành đã bị phân hóa thành 300 giáo phái. Hồi Giáo cũng tương tự như vậy vì Hồi Giáo không có Tòa Thánh tối cao có quyền cai trị toàn thế giới Hồi Giáo. Sự tự do giải thích kinh Koran và các sách Hadiths, Sunna, Sharia… đã đưa đến tình trạng phân hóa thành rất nhiều giáo phái trong đạo Hồi.

            3. Nguyên nhân tiếp theo là sự bành trướng quá rộng của các đế quốc Hồi Giáo khiến cho giáo lý của đạo Hồi bị pha trộn với các nền văn hóa khác. Điển hình là các giáo phái Sufis và Bahai đã hình thành do chịu ảnh hưởng của các dòng khổ tu của Công Giáo La Mã, một phần khác do ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp và giáo lý của nhiều tôn giáo khác.

I.  Sự phân hóa nghiêm trọng nhất trong lịch sử Hồi Giáo do vấn đề thừa kế Muhammad.

            Ba mươi năm sau khi Muhammad qua đời, cộng đồng Hồi Giáo non trẻ đã bị chia thành hai phe thù nghịch nhau chỉ vì bất đồng ý kiến trong vấn đề kế thừa quyền lãnh đạo của giáo chủ Muhammad về thế quyền và về tinh thần:

Phe SUNNI,  tiếng Ả Rập có nghĩa là phe Đa Số (Majority) chủ trương: những người kế vị Muhammad (Caliphs) không nhất thiết phải là người thuộc dòng dõi của ngài vì Muhammad không qui định điều này, ngài không có con trai và chỉ có một con gái duy nhất còn sống sót là Fatima, vợ của Ali mà thôi. Vào thời điểm đó, Hồi Giáo đã trở thành một đế quốc khá lớn nên không thể tìm người lãnh đạo thuộc dòng dõi của Muhammad để cai trị nhiều quốc gia trong đế quốc được.

Phe SHI’A (hoặc Shiites) có nghĩa là những người theo Ali (con rễ của Muhammad) chủ trương: Người thừa kế Muhammad thẩm quyền cai trị về thế quyền, tiếng Ả Rập gọi là CALIPH (or Khaliph: a male leader of Islamic government) phải là con cháu của Ali và Fatima. Người thừa kế Muhammad thẩm quyền lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo về mặt tinh thần, tiếng Ả Rập gọi là IMAM (the religious leader of the Muslim community) phải là một vị thánh (a holy man) thuộc dòng dõi Ali-Fatima vì theo họ, Ali là vị Imam đầu tiên của Hồi Giáo do Muhammad chỉ định. Giáo phái Shiite tin rằng: Ali và những người thừa kế được Thiên Chúa ban ơn soi sáng đặc biệt để cai trị cộng đồng Hồi Giáo nên không thể sai lầm (infallible). Imam không chỉ cai trị thế giới Hồi Giáo mà sau này toàn nhân loại sẽ phải tùng phục ngài. Xin ghi thêm ở đây là trong ngôn ngữ Việt Nam không có danh từ tương đương với chữ Imam. Tuy nhiên, theo cách hiểu của giáo phái Shi’a về Imam thì chức vị này tương tự như chức vị “Giáo Hoàng” của Công Giáo La Mã vậy. Người Công Giáo coi giáo hoàng là một vị cha chung và cũng là một vị Thánh (Saint Pape) và về phương diện lãnh đạo tinh thần của toàn giáo hội thì giáo hoàng không thể sai lầm (Doctrine of Infallibility).

            Qua 14 thế kỷ phát triển, ngày nay đạo Hồi chiếm 1/5 tổng số nhân loại, tức khoảng 1 tỷ 200 triệu tín đồ. Phe Sunni chiếm 80%, tức 960 triệu tín đồ.

Phe Sunni cũng không còn là một khối đa số thuần nhất vì nó đã bị chia thành 4 trường phái lớn (Schools):

            1. Malikite:  Thành lập vào giữa thế kỷ 8 tại Bắc Phi.

            2. Shafi (Pháp ngữ gọi là Chafeite): Thịnh hành tại Ai Cập, Syria, Ấn Độ và Việt Nam (người Chàm).

            3. Hanbalite: Đạo Hồi của đế quốc Ottoman, thịnh hành tại Thổ Nhĩ Kỳ.

4. Hanbali:  Đạo Hồi của xứ Saudi Arabia.

Phe thiểu số Shiah chiếm 15%, tức khoảng 180 triệu tín đồ, cũng bị chia thành 3 giáo phái hết sức bảo thủ, cực đoan và thường tranh chấp lẫn nhau:

            1. Giáo phái Twelvers nắm ưu thế chính trị tại Iran, chủ động trong cuộc Cách Mạng Hồi Giáo 1979 lật đổ hoàng đế Palavi. Giáo chủ của Twelvers là Aytollah Khomenei lên nắm chính quyền. Cuộc Cách Mạng này bị toàn thế giới Hồi Giáo tẩy chay vì nhóm lãnh đạo Twelvers rất cuồng tín độc tài và tàn bạo.

            2. Giáo phái Druge xuất hiện và thịnh hành tại Li Băng và Syria từ thế kỷ 11 đến 19. Ngày nay giáo phái này bị suy tàn chỉ còn trên 1 triệu tín đồ.

            3. Giáo phái Assassin được thành lập năm 1090 tại Ba Tư gồm toàn những người liều mạng để ám sát tiêu diệt những kẻ thù của Hồi Giáo. Giáo phái này chia thành hai nhóm: Nhóm thám báo truy tầm, điều tra, đánh dấu nhà của các kẻ thù. Sau đó nhóm khủng bố sẽ tìm đến để thanh toán. Giáo phái Assassin gieo kinh hoàng khắp nơi trong suốt hai thế kỷ 11 và 12, đến nỗi khắp Âu Châu, người ta loan truyền rất nhiều chuyện kinh dị về giáo phái này. Về sau, danh từ “ASSASSIN” trở thành một danh từ mới của Âu Châu có nghĩa là “KẺ MƯU SÁT”. Năm 1256, quân Mông Cổ tàn phá bình địa đại bản doanh của Assassin tại Baghdad và sau đó tận diệt giáo phái này.

            Như trên đã trình bày, sự phân hóa đầu tiên và nghiêm trọng nhất là sự kiện đạo Hồi bị chia ra hai phe Sunni và Shiah do bất đồng ý kiến về quyền thừa kế Muhammad. Lúc ban đầu không ai có thể tiên đoán được hậu quả tàn khốc của nó vì không ai có thể ngờ cái nguyên nhân nhỏ nhặt đó lại có thể gây ra những vụ chém giết triền miên trong suốt 14 thế kỷ làm thiệt mạng nhiều chục triệu người!

            Sau đây chỉ là một số vụ tranh chấp điển hình giữa phe Sunni và Shiah trong bối cảnh các đế quốc Hồi Giáo mà thôi. (Trong lịch sử 14 thế kỷ của Hồi Giáo đã xảy ra rất nhiều cuộc xung đột đẫm máu giữa hai phe Sunni và Shiah khiến chúng ta khó có thể kể ra hết được):

            – Năm 1400, hoàng đế Timur của đế quốc Hồi Giáo Sunni đánh chiếm hai nước Iran và Iraq đã ra lệnh giết hại trên 1 triệu tín đồ Shiites tại hai nước này.

            – Năm 1467, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman theo Sunni đánh chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và Arabia.  Đế quốc Ottoman cai trị các nước này từ đó đến 1520 (53 năm). Vì bị những người Shiites thường nổi lên chống phá nên đế quốc Ottoman đã thẳng tay tiêu diệt nhiều triệu tín đồ Shiites tại các nước này.

            – Đế quốc Hồi Giáo Safavid theo phái Shiites tồn tại 270 năm (1501-1771), mỗi khi đế quốc Safavid đánh chiếm và cai trị nước nào thì toàn bộ các học sĩ Hồi Giáo Sunni (clerics) đều bị chặt đầu và hàng triệu tín đồ Sunni bị sát hại.

            Ngoài các vụ tranh chấp lớn giữa các đế quốc Hồi Giáo Sunni và đế quốc Hồi Giáo Shiah, còn có rất nhiều các vụ tranh chấp nhỏ giữa hai phe trong phạm vi biên giới của mỗi quốc gia Hồi Giáo. Các vụ tranh chấp này cũng không kém phần thảm khốc và làm tổn hại rất nhiều sinh mạng. Điển hình là trường hợp của Iraq.

            Theo báo Houston Chronicle ngày Chủ nhật 18-5-03 (trang 23 A) thì vào thế kỷ đầu Công Nguyên, hai nước Syria và Iraq sát nhập làm một dưới cái tên là Assyria. Ngôn ngữ chung là Aramaic tức tiếng mẹ đẻ của Jesus và của dân Do Thái thời đó. Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, Assyria là một nước Ki Tô Giáo (A Christian Nation), nhưng từ thế kỷ 7 trở đi, Assyria thành hai nước Hồi Giáo. Iraq hiện nay có 60% theo Shiites, 30% theo Sunni. Phe cầm quyền Saddam Hussein thuộc giáo phái Sunni nắm quyền sinh sát của một quốc gia có 25 triệu dân từ 1979 đến 2003. Ki Tô Giáo (gồm Công Giáo La Mã và Chính Thống Giáo Hy Lạp ) gồm có 1 triệu tín đồ, chiếm 4% dân số cả nước.

            Chế độ Saddam Hussein rất khoan dung đối với Ki Tô Giáo nhưng trong vòng 10 năm từ 1979-1989, chế độ Sunni của Saddam đã sát hại nhiều trăm ngàn tín đồ Shiites tại đất nước này!

II . Sự phân hóa về giáo lý.-

            Do sự bành trướng của các đế quốc Hồi Giáo tới các vùng khác nhau đã tạo cơ hội cho người Hồi Giáo tiếp xúc với các nền văn hóa khác. Dần dần giáo lý Hồi Giáo bị biến chất và một số giáo phái mới của Hồi Giáo đã xuất hiện. Đáng kể nhất là hai giáo phái Sufism và Bahai.

            1. Giáo phái SUFISM.  Vào đầu thế kỷ 8, đạo Hồi đã phát triển ra khắp Bắc Phi, Cận Đông và Trung Á. Nền kinh tế phát triển cho toàn vùng trở nên giàu có. Các vua Hồi thu thuế rất nhiều đã dồn tiền vào việc xây cất các cung điện nguy nga đồ sộ và các harems của họ đầy ắp các cô gái đẹp. Đời sống của các vua quan Hồi Giáo chìm ngập trong các cuộc vui chơi xa hoa trụy lạc. Nhiều tín đồ Hồi Giáo chân chính tự hỏi: “Những lời dạy trong kinh Koran có còn giá trị gì không?”. Dần dần họ tạo thành một phong trào cổ võ đời sống đơn giản, mặc quần áo thô sơ, thái độ hòa nhã khiêm tốn và ẩn dật. Họ kêu gọi mọi người thực hiện lối sống khổ hạnh, đạo đức và dành nhiều thì giờ cho sự cầu nguyện. Người nổi tiếng nhất trong cuộc vận động này là triết gia Hồi Giáo Hasan. Ông đi thuyết giảng khắp nơi trong nhiều chục năm thuộc tiền bán thế kỷ 8 và đã tạo nên những ảnh hưởng lớn trong quần chúng.

            Trong lúc đó, tại khắp miền Trung Đông có nhiều tu viện của các dòng khổ tu Công Giáo. Người Hồi Giáo tiếp xúc với các thầy tu khổ hạnh này nhận thấy họ là những người có lòng đạo đức thật sự và họ luôn luôn mặc áo vải thô, tiếng Ả Rập gọi là “Sufi”. Đến đầu thế kỷ 9, nhiều người Hồi Giáo Sunni và Shiite thích lối sống khổ hạnh đạo đức của các thầy dòng khổ tu Công Giáo đã lập ra giáo phái Sufism (do chữ sufi là chiếc áo vải thô của tu sĩ khổ tu mà ra).

            Giáo phái Sufism có sức lôi cuốn mạnh mẽ trong giới trí thức Hồi Giáo. Vào đầu thế kỷ 10, khắp miền Trung Đông có nhiều “Trung tâm Sufis” được thành lập, mỗi trung tâm được tổ chức như một nhà dòng của tu sĩ khổ tu Công Giáo, đứng đầu là một ông thầy (Master) thông thái hướng dẫn về đời sống tinh thần và đạo đức của mọi tín đồ.

            Từ thế kỷ 12, giáo phái Sufism mở rộng ra toàn Bắc Phi và Tiểu Á. Bên cạnh mỗi “Trung Tâm Sufis” còn có trường học, đền thờ và khách sạn để phục vụ khách thập phương đến học đạo. Một trung  tâm Sufis tiêu biểu mang tên Abd-Al-Quadir được xây cất năm 1166 tại Baghdad đến nay vẫn còn tồn tại.

            Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, giáo phái Sufism lan tràn khắp nơi trên thế giới. Điều đáng chú ý là các giáo sĩ Sufis đã đóng vai trò chính yếu trong việc đem đạo Hồi vào Indonesia và Malaysia. Họ không chinh phục tân tòng bằng bạo lực mà ” mở rộng nước Chúa” bằng gương đạo đức thật sự với những chiếc áo vải thô, với cuộc sống đơn giản khổ hạnh và với tấm lòng cởi mở khoan dung. Chính nhờ đó mà các tín đồ Hồi Giáo Nam Dương – Mã Lai thường có thái độ sống khoan hòa chứ không cuồng tín hiếu chiến hiếu sát như những đồng đạo của họ ở Trung Đông hay Afganistan…

            2. Giáo phái BAHAI (Bahaism, Babism).- Giáo phái Bahai đã tách ra từ Shiah, được thành lập bởi giáo chủ Balla Ullah sinh năm 1817 tại Iran. Giáo phái này phủ nhận Jesus là Chúa Cứu Thế (Christ) và phủ nhận Muhammad là sứ giả cuối cùng của Thiên Chúa. Chính vì điều này mà giáo phái Bahai đã bị cả hai đạo Ki Tô Giáo và Hồi Giáo thù ghét. Tuy vậy, giáo lý Bahai đã được truyền bá ra khắp nơi trên thế giới. Trụ sở chính yếu của giáo phái này đặt tại Haifa (Do Thái).

            Vào năm 1954, một tín đồ Bahai gốc Ấn Độ đã sang Việt Nam truyền đạo và thiết lập trụ sở Bahai đầu tiên tại Saigon vào năm 1955. Đến 1962, giáo phái Bahai có tới 40 trụ sở trên khắp miền Nam Việt Nam (theo sách Nếp Cũ Tín Ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh, trang 109).

            Giáo phái Bahai có chủ trương tương tự như đạo Cao Đài hoặc Thông Thiên Học, đó là tham vọng hòa đồng các tôn giáo. Họ cố gắng tổng hợp giáo lý của các tôn giáo đã có từ trước với hy vọng sẽ thống nhất niềm tin của nhân loại trong hòa bình. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của giáo phái Bahai là họ cổ động mọi người chuẩn đón mừng một Chúa Cứu Thế (đấng Ki Tô) sẽ xuất hiện để thiết lập “Nước Chúa Trên Trái Đất” (A Kingdom of God on earth). BAHAI là chữ tắt của chữ Ả Rập BAHA’U IL có nghĩa là “Vinh Danh Chúa”. (Viết theo Islam, by Ceasar Farah, Sixth edition, Barrons Pub., page 252).

                                                                                       Charlie Nguyễn (Dominique Bùi Văn Chấn – TV Thánh Gia)

Các Mô Hình Sinh Hoạt trong Thế Giới Hồi Giáo
Cái Nôi của Đạo Hồi
Hồi Giáo Tại Trung Đông

Muhammad và Hồi Giáo 2

THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ LẬP ĐẠO CỦA MUHAMMAD

                                         GIAI ĐOẠN II (622-632)

Năm 619, người vợ yêu quí của Muhammad là bà Khadija qua đời, hưởng thọ 64 tuổi. Qua năm sau, Muhammad lấy cô Sawdah, 30 tuổi, là em dâu của ông Suhayl tù trưởng bộ lạc Amir. Cô Sawdah hiện là một góa phụ. Ba năm về trước, Sawdah đã cùng chồng đi tỵ nạn tại Ethiopia cùng với gia đình của Muhammad vì vợ chồng cô đều theo đạo Hồi. Khi trở lại Mecca được ít lâu thì chồng cô bị bệnh và qua đời. Muhammad cưới cô Sawdah với ý định liên kết quân sự với tù trưởng Amir, nhưng sau này tù trưởng Amir đã chống lại Muhammad và bị bắt làm tù binh tại Medina.

            Cũng trong năm 620, người bạn giàu có và hết sức thân cận của Muhammad là Abu Bakr đã gã cô con gái út của ông là Aisha mới lên 6 tuổi cho Muhammad. Sự hứa gã chỉ có tính cách hình thức vì Aisha vẫn sống với cha mẹ. Sau này, khi Aisha lên 9 tuổi mới sống với Muhammad như vợ chồng.

            Trong thời gian này, tại thành phố Yathrib đã có khoảng 100 gia đình theo đạo Hồi. Yathrib là một ốc đảo khá lớn, cách Mecca khoảng 200 dặm về phia bắc. Đây là nơi cư ngụ lâu đời của sáu bộ lạc Ả Rập và ba bộ lạc Do Thái.

            Vào tháng 9 năm 622, một phái đoàn 75 người từ Yathrib đến Mecca mời Muhammad cùng gia đình và các tín đồ Hồi Giáo di cư về Yathrib để thành lập cộng đồng Hồi Giáo đầu tiên. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, Muhammad và khoảng 100 gia đình Hồi Giáo bí mật trốn Mecca để di cư đến Yathrib. Trong số này có gia đình của Abu Bakr.

            Sau mấy ngày băng qua những bãi cát sa mạc, đoàn người di cư của Muhammad đã tới ốc đảo Yathrib ngày 24 tháng 9 năm 622. Đây là ngày trọng đại trong lịch sử Hồi Giáo vì đó chính là ngày mở đầu cho cả một kỷ nguyên Hồi Giáo. Lịch Hồi Giáo bắt đầu từ ngày này chứ không phải từ ngày sinh của Muhammad. Năm 622 Dương Lịch trở thành năm thứ nhất của Âm Lịch Hồi Giáo. Danh từ Ả Rập gọi cuộc di cư lịch sử này là HIJRA. Thành phố Yathrib nguyên là tên gọi theo tiếng Hebrew của người Do Thái, nay được đổi tên thành Medina, chữ tắt của Madinat Al Rasul có nghĩa là Thành Phố của Thiên Sứ (City of Messenger). Medina từ một ốc đảo heo hút giữa sa mạc đã trở thành thánh địa thứ hai sau Mecca. Hiện nay mỗi năm cũng có khoảng từ 2 đến 3 triệu tín đồ trên khắp thế giới đến đây hành hương.

            Lúc ban đầu mới đến Medina, Muhammad và đoàn người Hồi Giáo chỉ là những kẻ tỵ nạn rách nát chạy trốn sự ngược đãi của những người đa thần giáo ở Mecca. Nhưng dần dần, trong vòng 5 năm kế tiếp, cả 6 bộ lạc Ả Rập ở Medina đều theo đạo Hồi và tất cả thành phố Medina được đặt dưới quyền lãnh đạo duy nhất của Muhammad.

            Cả 6 bộ lạc ở Medina cùng ký với nhau một hiệp ước gọi là “Umma”, có nghĩa là hiệp ước thành lập một đơn vị xã hội căn bản. Nói đúng hơn, đó là một cộng đồng Hồi Giáo liên kết với nhau trên nền tảng tôn giáo chứ không đặt trên nền tảng huyết thống hay chủng tộc. Kinh Koran nêu lên điều căn bản cho cộng đồng Hồi Giáo như sau: “Quan hệ giữa các tín đồ Hồi Giáo với nhau là quan hệ anh em ruột thịt” (The believers are bond of brothers – Koran 49:10).

            Một điều đặc biệt là tại Medina, Muhammad ra lệnh cho các tín đồ phải nghe lời ông như nghe lời Chúa. Tất cả các tín đồ già trẻ lớn bé đều tuân lệnh của ông răm rắp. Ông viết trong kinh Koran: “Ai vâng lời tiên tri là vâng lời chính Thiên Chúa” (He that obeys the Apostle, obeys Allah himself – Koran 4:80).

            Không ai có thể phủ nhận được tài thuyết phục của Muhammad. Ông đã dùng tôn giáo để thống nhất các bộ lạc Ả Rập trước đây luôn luôn thù nghịch nhau. Tôn giáo đã tập họp họ trong một cộng đồng Hồi Giáo (umma). Medina đã trở thành khuôn mẫu đầu tiên về umma mà các người kế vị sau này đã bắt chước để bành trướng đạo Hồi ra khắp thế giới.

            Muhammad trú ngụ tại Medina trong 10 năm. Nhiều sử gia chuyên về Hồi Giáo đã chia thời gian này làm hai giai đoạn:

–           Giai đoạn đầu từ năm 622 đến 627

–           Giai đoạn sau từ năm 627 đến 632 là năm Muhammad qua đời.

                            GIAI ĐOẠN ĐẦU TẠI MEDINA (622-627)

            Trong thời kỳ 5 năm đầu trú ngụ tại Medina, Muhammad và cộng đồng Hồi Giáo đầu tiên đã thực hiện rất nhiều cuộc đột kích (raids) nhằm mục đích tấn công các đoàn lữ hành đi qua sa mạc để cướp lạc đà, ngựa, vũ khí, hàng hóa và các loại thực phẩm. Cộng đồng Hồi Giáo tại Medina khó có thể sống còn nếu không tổ chức các vụ cướp nói trên. Ngoài ra, Muhammad biết trước những người đa thần giáo ở Mecca sớm muộn cũng sẽ tấn công cộng đồng Hồi Giáo tại Medina. Do đó ông phải lo tăng cường binh lực bằng cách cướp lạc đà, ngựa, vũ khí và tích lũy lương thực.

            Muhammad luôn luôn kêu gọi cộng đồng Hồi Giáo tại Medina phải sẵn sàng chiến đấu và tích cực tham gia thánh chiến (Jihad). Ý niệm “thánh chiến” trong Hồi Giáo không chỉ có nghĩa là sẵn sàng tử đạo mà còn có nghĩa là một “bổn phận thiêng liêng” của mọi tín đồ phải tham gia chiến đấu trên mọi mặt trận, từ tinh thần đến vật chất, từ kinh tế đến chính trị. Do đó, các chương trong kinh Koran được viết tại Medina đều mang đậm nét về chính trị, xã hội, kinh tế và cả về quân sự nữa.

            Muhammad hoàn toàn khác với Jesus vì ông không bao giờ chấp nhận “đưa má cho người ta tát”. Ông đưa ra một học thuyết được mệnh danh là “Thần Học Chiến Tranh Chính Đáng” (Theology of the just war). “Khi anh gặp những kẻ không tin đạo gây chiến thì đừng bao giờ quay lưng về phía chúng”  (When you meet those who disbelieve marching for war, then turn not your back to them – Koran 8:15). Khi viết những câu thơ này, Muhammad đang phải đối phó với nguy cơ chiến tranh với Mecca. Muốn chiến thắng Mecca thì trước hết phải tiến hành những cuộc đột kích những chuyến hàng nhỏ của Mecca để làm suy yếu dần nguồn nhân lực tài lực của họ. Sau đó tiến đến những cuộc tấn công lớn để triệt tiêu độc quyền buôn bán của Mecca với Syria. Khi độc quyền buôn bán đó không còn nữa thì nền kinh tế của Mecca sẽ bị suy sụp. Cuối cùng sẽ có ngày toàn thành phố Mecca bị Muhammad chinh phục.

            1. Những cuộc “thánh chiến” đẫm máu.-

            Trong mấy tháng đầu năm 623, Muhammad cho người đi thám thính để theo dõi tình hình của các đoàn lữ hành Mecca đi Syria. Quân thám thính về báo cáo có một đoàn lữ hành sắp đi ngang qua Medina và có rất ít người bảo vệ. Muhammad sai Hamzah dẫn vài chục kỵ binh đi phục kích. Sau khi giết hết mọi người trong đoàn lữ hành, đoàn kỵ binh của Hamzah dẫn hết lạc đà, ngựa và toàn bộ chiến lợi phẩm về Medina.

            Từ đầu năm 623 đến tháng 9 năm đó, Muhammad đã thực hiện nhiều cuộc đột kích như vậy. Các thương gia ở Mecca đối phó bằng cách ký hiệp ước với các bộ lạc ở dọc theo bờ biển Hồng Hải.

            Con đường dọc theo bờ biển Hồng Hải là trục lộ chính của các đoàn lữ hành từ Mecca đi Syria. Đồng thời, các thương gia Mecca tuyển nhiều kỵ binh ưu tú thuộc bộ lạc Bedouin để tăng cường bảo vệ các đoàn lữ hành.

            Tháng 9 năm 623, sau khi đã tăng cường an ninh mọi mặt, Mecca ủy nhiệm cho đại thương gia Umayah Juma hướng dẫn một đoàn lữ hành rất lớn gồm có 2.500 lạc đà chở hàng từ Mecca đi Syria. Muhammad hay tin này đã quyết định huy động toàn lực và đích thân chỉ huy cuộc tấn công để cướp số hàng lớn lao này.

            Cuộc tấn công thành công mỹ mãn. Mecca bắt đầu cảm thấy phải nể sợ Muhammad. Sau vụ này, Mecca đành tạm ngưng các chuyến buôn phải qua Medina. Thay vì đi về phương bắc, họ đi về phương nam để buôn bán với xứ Yemen.

            Mặc dầu Mecca đã bỏ tuyến đường phía bắc và phải đổi về tuyến đường phía nam buôn bán với Yemen, nhưng Muhammad vẫn không buông tha. Tháng giêng năm 624, Muhammad sai Abdallah mang quân đi vòng xuống phía nam của bán đảo Ả Rập, cách Medina tới hơn 400 dặm, để chận đánh đoàn lữ hành của Mecca đang trên đường tới Yemen. Đoàn quân của Abdallah cướp trọn số hàng đem về Medina. Vụ này gây phẫn nộ cho mọi người Ả Rập vì theo truyền thống của đạo cổ truyền thì tháng giêng là tháng thiêng liêng, mọi việc cướp của giết người phải được kiêng cữ. Dân Mecca gọi Muhammad là kẻ vô thần.

            Sự phẫn nộ của dân Mecca chưa kịp nguôi thì xảy ra vụ kế tiếp. Đó là vào tháng ăn chay Ramadan, tức tháng 3 năm 624, Muhammad nghe tin một đại thương gia của Mecca là Abu Sufyan sẽ dẫn một đoàn lữ hành gồm trên 1000 người chở nhiều hàng quí giá của ngoại quốc đem về Mecca.

            Muhammad huy động 500 quân, gồm có 350 tín đồ Hồi Giáo tình nguyện và 150 người thuộc các bộ lạc ở Medina. Muhammad dẫn quân đến bố trí tại các đồi cát ở Badr, một địa danh ở sát bờ Hồng Hải và cách Medina khoảng 100 cây số về phía tây. Badr là nơi các bộ lạc Ả Rập thường tổ chức hội chợ để mua bán trao đổi các đặc sản của mình.

            Abu Sufyan là một thủ lãnh thông minh và giàu kinh nghiệm. Trước khi đoàn lữ hành tiến đến một đia điểm nguy hiểm hay khả nghi, Sufyan luôn luôn cho một toán tiền thám phi ngựa đến đó trước để quan sát hoặc thăm dò dân địa phương. Toán tiền thám về báo cáo cho biết quân phục kích của Muhammad hiện có mặt tại Badr.  Abu Sufyan ra lệnh cho đoàn lữ hành tạt ngang sang tay mặt để đi xuống vùng bãi biển bằng phẳng của Hồng Hải. Đồng thời ông thuê một người cưỡi ngựa rất giỏi tên là Damdam phi ngựa như bay về Mecca cấp báo và yêu cầu mang quân ra để hộ tống đoàn lữ hành trên đường về Mecca.

            Sau khi được Damdam báo tin về việc Muhammad bố trí quân phục kích tại Badr, toàn dân Mecca hết sức tức giận vì chuyến hàng do Sufyan điều khiển là chuyến hàng đắt giá nhất của giới thương gia Mecca. Hơn nữa, cuộc đột kích diễn ra lúc này đang trong tháng Ramadan chứng tỏ Muhammad bất chấp tục lệ cổ truyền thiêng liêng của người Ả Rập. Càng ngày Muhammad càng tỏ ra là một người nguy hiểm!

            Do sự tức giận đó nên số người tự nguyện tham gia đoàn quân tiếp cứu Sufyan ghi tên rất đông và gồm cả những người thân thiết của Muhammad nữa. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, giới lãnh đạo Mecca đã qui tụ được trên một ngàn người, trong đó có chú ruột của Muhammad là Abbas, hai em họ chí thân đã từng sống chung với Muhammad dưới một mái nhà từ nhỏ (đó là hai con trai của Abu Talif, chú ruột kiêm cha nuôi của Muhammad từ lúc 8 tuổi), tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân kiêm anh rễ của vợ Muhammad và có cả Hakim là cháu ruột của bà Khadija (vợ đầu của Muhammad).

            Ngay chiều hôm đó, đoàn quân tiếp cứu rời Mecca tiến về Badr. Họ phải đi qua Badr đến địa điểm trên bờ biển Hồng Hải để gặp đoàn lữ hành của Sufyan. Quân số của cả hai đoàn gộp lại lên tới trên 2000 người. Ỷ vào quân số đông gấp bốn lần quân số của Muhammad nên họ yên tâm lên đường trở về Mecca.

            Toán thám báo của Muhammad báo cáo cho biết đoàn quân đông đảo của Sufyan sắp đi ngang qua Badr. Muhammad kêu gọi mọi người phải quyết tâm chiến đấu dù phải đối đầu với bạn bè hoặc người ruột thịt. Muhammad bố trí người tại các giếng nước ở Badr để ngăn chặn mọi nguồn nước uống. Số quân còn lại núp sau các đụn cát. Muhammad căn dặn mọi người phải tiêu diệt những người lãnh đạo của Mecca ngay từ đầu để gây rối loạn hàng ngũ của địch. Muhammad không sợ quân số đông của Mecca vì ông biết rõ những người chỉ huy của họ chỉ quen chỉ huy những nhóm nhỏ mà thôi. Khi có quân số đông, họ sẽ không biết điều động và phối hợp ra sao.

            Quân số của Muhammad tuy ít nhưng Muhammad có tài chỉ huy, quân lính dưới quyền ông tuyệt đối vâng lời và có kỷ luật.

            Trưa hôm sau, đoàn lữ hành của Abu Sufyan và đoàn tiếp cứu của Mecca từ từ tiến vào Badr. Các cung thủ của Muhammad núp sau các đụn cát đột nhiên xuất hiện và ưu tiên nhắm bắn các cấp chỉ huy của đoàn lữ hành. Chỉ trong khoảnh khắc, 50 người chỉ huy đoàn lữ hành bỏ xác tại trận. Đoàn người lữ hành và tiếp cứu hoảng hồn bỏ chạy tán loạn. Quân của Muhammad từ mọi hướng xông ra chém giết nhiều vô kể. Một số tàn quân của Mecca sống sót chạy thoát. Muhammad chiếm được hàng trăm lạc đà và ngựa, tịch thu nhiều vũ khí, quân trang và hàng hóa ngoại nhập đủ loại. Muhammad cho giải 70 tù binh về Medina. Điều đặc biệt là những tù binh này hầu hết đều là bạn bè hoặc họ hàng của những người Hồi Giáo trước đây ở Mecca di cư về Medina.

            Trong số đó có Suhayl, tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân của Muhammad trước đây và là anh chồng cũ của Sawdah, vợ của Muhammad hiện nay. Quan trọng hơn cả là tù binh Abbas, chú ruột của Muhammad. Sau đó là Aquil và Nawfal là hai con trai của Abu Talif, chú ruột kiêm cha nuôi của Muhammad. Còn  một người nữa cũng quan trọng không kém là Abu Alas, con rễ của Muhammad. Abu Alas lấy cô con gái áp út của Muhammad tên là Zaynab. Vì Abu không chịu theo đạo Hồi và không di cư đến Medina nên Zaynab phải ở lại Mecca với chồng con.

            Khi đoàn quân của Muhammad chiến thắng trở về, tất cả mọi người Hồi Giáo ở Medina chạy ra đón mừng với niềm hân hoan chưa từng có. Bởi vì cứ mỗi lần đoàn quân chiến thắng trở về thì tất cả những đồ cướp được (loots) đều phân phát cho tất cả mọi người. Lần này họ hy vọng sẽ nhận được nhiều hàng hóa ngoại nhập quí hiếm mà bình thường họ không thể có được.

            Trong lúc đó, ba bộ lạc Do Thái tại Medina tỏ ra hết sức lo ngại vì những người Ả Rập Hồi Giáo quá hiếu chiến hiếu sát sẽ trở thành một mối nguy hiểm khó lường trong tương lai.

            Tại Mecca cũng như tại khắp nơi trên bán đảo Ả Rập, tin tức về trận đánh ở Badr đã làm mọi người phải bàng hoàng vì sự tổn thất lớn lao về người và của mà Muhammad đã gây ra cho Mecca. Không riêng gì Mecca mà cả những bộ lạc Bedouin và Do Thái cũng phải e dè và chuẩn bị đối phó với Muhammad.

            Muhammad và các tín đồ của ông không quan tâm đến những vấn đề nói trên. Trái lại, mọi người đều cảm thấy rất phấn khởi sau một chiến thắng lớn hơn dự tưởng. Muhammad càng thêm tin tưởng rằng Chúa đã phù hộ một cách đặc biệt cho đoàn quân Hồi Giáo của ông. Chính Thiên Chúa đã tiêu diệt người Mecca chứ không phải ông diệt họ. Diệt địch nhân danh Chúa là đặc quyền của người Hồi Giáo. Ông đã diễn đạt những ý trên trong kinh Koran như sau:

            “Anh đã không giết người như anh nghĩ mà là Chúa đã giết họ. Khi anh quật ngã họ nhưng không phải do anh mà là Chúa đã quật họ. Đó là đặc quyền mà Chúa đã ban cho những tín đồ của Ngài”. (You did not slay the ennemies, but God slew them. When thou threw it was not thyself that threw, but God threw. And that He might confer on the believers a fair benefits – Koran 8:17).

            Mặc dầu thực hiện những hành vi cướp của giết người nhưng Muhammad và các tín đồ vẫn tin tưởng mình có chính nghĩa và luôn luôn được Thiên Chúa phù hộ, cho nên dù cho quân số ít cũng vẫn có thể đánh thắng những kẻ địch đông hơn gấp bội.

            Kinh Koran viết về điều này như sau:

            ” Nếu quân số của anh chỉ có hai mươi, nhưng đều là những người kiên cường, các anh sẽ chiến thắng hai trăm địch. Nếu quân số của anh có một ngàn, các anh sẽ chiến thắng hai ngàn địch. Đó là sự cho phép của Chúa”.

            (If there be twenty of you – patient men.

            You will overcome two hundred.

            If there be one thousand of you.

            You will overcome two thousand,

            by the leave of God. God is with the patient – Koran 8:67)

            Cái ý nghĩ cho rằng Thiên Chúa đứng cùng phe với mình trong các cuộc chiến tranh là một đặc tính trong truyền thống của các đạo thờ Thiên Chúa, bao gồm cả đạo Do Thái, đạo Ki Tô và đạo Hồi.

            -Thánh kinh Cựu Ước Exodus của đạo Do Thái kể chuyện Mai-sen dẫn dân Do Thái đến Biển Đỏ thì được Chúa hóa phép cho nước biển rẽ sang hai bên tạo thành con đường cho dân Do Thái đi qua đáy biển an toàn. Liền sau đó thì đoàn quân của vua Pharaon Ai Cập ập tới để rượt bắt những người Do Thái. Khi đoàn quân Ai Cập đi xuống con đường dưới đáy biển thì Chúa hóa phép cho nước biển từ hai bên ập lại khiến cho đoàn quân Ai Cập bị chết đuối hết. Mai-sen và dân Do Thái quì xuống cảm  ơn Chúa và xưng tụng Chúa  là “Thiên Chúa của các đạo binh”

            – Người Công Giáo cũng bắt chước người Do Thái tin rằng Thiên Chúa luôn luôn đứng về phe với họ để giúp họ chống lại mọi kẻ thù. Tại các buổi lễ ở nhà thờ, người Công Giáo luôn luôn đọc kinh trong đó có câu: “Thánh, Thánh, Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, vinh danh Chúa trên các tầng trời!”

            Đối với Muhammad, mặc dầu ông dạy các tín đồ tin tưởng vào sự phù hộ đặc biệt của Chúa, nhưng ông là người rất thực tế nên làm việc gì cũng phải tính toán cẩn thận. Sau trận đánh ở Badr, Muhammad biết Mecca sẽ nhất định trả thù bằng cách kéo quân đến tấn công Medina. Do đó, việc trước tiên ông phải làm là đối xử tốt với các tù binh.

            Trước hết, ông đích thân đi điểm mặt 70 tù binh. Ông nhận ra hai người trước đây đã nhục mạ ông khi ông giảng đạo tại Mecca. Ông ra lệnh cho quân lính mang hai người đó ra chợ chém đầu. Sáu mươi tám người còn lại được cởi trói nhưng đều bị nhốt trong nhà giam. Tất cả đều được cho ăn uống tử tế.

            Trong đêm hôm đó, Muhammad không ngủ được vì cảm thấy thương ông chú ruột là Abbas và hai người em họ đã sống với ông trên mười năm tại nhà ông chú Abu Talib, đó là Aquil và Nawfal. Sáng hôm sau Muhammad ra lệnh phóng thích ba người này. Mấy hôm sau, nhiều thân nhân của các tù binh mang tiền hoặc vàng bạc đến Medina để xin chuộc mạng cho các tù binh.

            Sau khi nghe tin chồng là Abu-Alas bị bắt làm tù binh ở Medina, Zaynab (con gái của Muhammad) vội gom tiền bạc và nữ trang rồi đưa cho anh của chồng là Amir đến Medina nộp tiền chuộc (ransom) cho Muhammad để lãnh Abu-Alas về. Trong số nữ trang Amir giao nộp có cái vòng đeo tay của bà Khadija thường đeo lúc còn sống, trước khi chết bà đã trao lại cho Zaynab. Vừa nhìn thấy chiếc vòng đó, Muhammad nhận ra ngay đó là chiếc vòng đầy kỷ niệm của người vợ yêu quí nhất đời của ông. Ông xúc động bật khóc rồi trả lại hết mọi thứ cho Amir. Ông cho gọi Abu Alas đến để yêu cầu người con rễ phải đưa Zaynab và đứa cháu ngoại đến Medina sống với ông. Trong lúc này tại Medina chỉ còn lại cô gái út tên Fatimah, 20 tuổi, là người thân duy nhất sống gần ông mà thôi. Sau khi Abu Alas hứa thực hiện lời ông yêu cầu, y liền được thả tự do.

            Chỉ vài tuần lễ sau trận đánh Badr, tại Medina diễn ra hai đám cưới linh đình:

            – Đám cưới thứ nhất của Fatimah và Ali. Ali là con trai út của ông chú Abu Talib. Khi ông Talib qua đời thì Ali mới 5 tuổi, Muhammad đem về nuôi từ đó đến nay. Ali và Fatimah đã sống với nhau chung một nhà từ nhỏ đến lớn nên rất hiểu nhau.

            – Đám cưới thứ hai là của chính Muhammad và cô Hafsah, 18 tuổi, con gái của bạn Muhammad là Umar.

            Năm 625, Muhammad 55 tuổi, cô vợ bé bỏng mà Muhammad yêu quí nhất là Aisha – con gái út của Abu Bakr – năm nay vừa tròn 11 tuổi. Mặc dầu còn nhỏ xíu nhưng Aisha cũng biết ghen với các bà vợ khác của Muhammad. Tuy nhiên, trong đám cưới này, Aisha không ghen với Hafsah mặc dầu Hafsah rất đẹp. Cô bé Aisha tuy còn nhỏ nhưng rất thông minh. Cô bé hiểu rằng: Cha cô là Abu Bakr cũng như cha của Hafsah là Umar đều đã gã con gái để kết thân với Muhammad. Từ mấy năm nay, Abu Bakr và Umar đã là hai cộng sự viên quan trọng nhất của Muhammad. Vì cùng hiểu như vậy nên Aisha và Hafsah trở thành đôi bạn chí cốt cho đến chết. Quả nhiên về sau Abu Bakr và Umar đều trở thành những người kế vị Muhammad và đều là những người then chốt nắm vận mạng của Hồi Giáo trong thời sơ khai.

            Sau những tổn thất nặng nề tại Badr, giới lãnh đạo Mecca quyết tâm tăng cường binh lực để tiêu diệt căn cứ địa Medina của Muhammad. Một mặt Mecca thu phục các bộ lạc Bedouin thiện chiến làm đồng minh. Mặt khác Mecca ngấm ngầm liên lạc với ba bộ lạc Do Thái ở Medina làm nội ứng.

            Điểm yếu của Mecca là nhiều chiến sĩ tài giỏi đã chẳng may tử trận tại Badr, nay chỉ còn lại một người có khả năng chỉ huy quân sự là Abu Sufyan.

            Abu Sufyan vô cùng căm thù Muhammad vì hai con trai của ông và cha vợ của ông đều bị tử trận ở Badr. Từ tháng 3 năm 625, Sufyan bắt đầu mở chiến dịch phục thù. Trong một đêm, Sufyan dẫn 200 quân đến bố trí bên ngoài thành Medina, sau đó ông một mình đột nhập vào thành liên lạc với bộ lạc Do Thái Bani Nadir. Ông được bộ lạc này cung cấp nhiều tin tức về quân số và hệ thống phòng thủ của Muhammad. Trước khi trời sáng, Sufyan bắt hai người Hồi Giáo đem ra ngoài thành chém đầu rồi nổi lửa đốt đồng lúa trước khi rút lui. Đến khi Muhammad hay tin, đem quân đuổi theo thì đoàn quân của Sufyan đã phi ngựa chạy xa.

            Sau vụ này, Muhammad cho toán tình báo của ông đi điều tra. Kết quả tình báo cho biết bộ lạc Do Thái Bani Nadir đã thông đồng với Abu Sufyan. Bộ lạc này có khoảng một ngàn người chuyên nghề thợ rèn và thợ thủ công. Mấy hôm sau, nhân một vụ xích mích giữa một nhóm người Do Thái với một nhóm người Ả Rập Hồi Giáo, kết quả của vụ ẩu đả là một người Do Thái và một người Ả Rập bị tử thương.

            Muhammad nhân cơ hội này đem quân bao vây khu vực của bộ lạc Bani Nadir. Sau hai tuần lễ bao vây, Muhammad không thấy các bộ lạc Do Thái khác có phản ứng gì và cũng không thấy quân Mecca tới cứu đồng minh của họ. Tù trưởng bộ lạc Do Thái Bani Nadir không hy vọng được tiếp cứu nên phải đầu hàng và xin Muhammad tha mạng. Muhammad ra lệnh toàn thể bộ lạc Bani Nadir phải rời khỏi Medina và chỉ được mang theo các động sản gọn nhẹ. Tất cả nhà cửa ruộng vườn đều bị tịch thu.

            Sau khi bộ lạc Do Thái Bani Nadir bị đuổi ra khỏi Medina thì tại ốc đảo này vẫn còn lại hai bộ lạc Do Thái khác là bộ lạc Aws và bộ lạc Khasraj.

            Ngày 11 tháng 3 năm 625, Mecca quyết định mở cuộc tấn công Medina. Tổng số quân huy động được lên tới 3000 người với 3000 lạc đà và 200 ngựa, tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của Abu Sufyan. Cuộc chuyển quân bằng lạc đà đi rất chậm nên mất mười ngày đoàn quân mới tới gần Medina.

            Muhammad hay tin nên đem một ngàn quân đi nghênh chiến tại Uhud, cách Medina 20 dặm về phía nam. Ngày 23-3-625, quân hai bên đối diện nhau tại Uhud. Điều đặc biệt là đằng sau đoàn quân của Sufyan còn có một đoàn quân phụ nữ gồm toàn những người có chồng, con trai hoặc cha bị tử trận ở Badr. Họ dàn hàng ngang phía sau các đoàn quân vừa đánh trống tambourines vừa ca hát để khích lệ tinh thần của các binh sĩ Mecca. Đoàn phụ nữ này được đặt dưới sự chỉ huy của bà Hind là vợ của Sufyan. Bà Hind thề trước đoàn quân là sẽ mổ bụng ăn gan của Hamzah, một quân sĩ của Muhammad bị nhận diện là người đã giết cha của bà Hind tại trận Badr.

            Trong trận này, Muhammad và quân sĩ chỉ mãi lo đối phó với đoàn quân của Sufyan ở phía trước mặt mà không đề phòng ở phia sau lưng. Bất thần đoàn cung thủ của Sufyan đã núp sẵn ở những đụn cát phía sau tiến lên bắn như mưa vào đoàn quân Hồi Giáo. Sáu mươi lăm quân Hồi chết liền tại chỗ và hàng trăm người khác bị thương, trong đó có Muhammad. Vì Muhammad bị bất tỉnh nên quân Hồi lo rút lui để bảo vệ chủ tướng. Rất may là quân Mecca tuy đông gấp ba lần quân Hồi nhưng đã không truy kích. Quân Hồi phải để xác đồng đội ở lại chiến trường. Đoàn quân Mecca trả thù bằng cách cắt xẻo những xác chết của quân Hồi. Riêng xác của Hamzah bị quân Mecca mổ bụng moi gan để đưa cho vợ của Sufyan là bà Hind. Mụ này cắn một miếng ăn sống để thực hiện đúng với lời thề trước hàng quân trước đó.

            Sau vụ thất trận bi thảm tại Uhud, tinh thần của cả cộng đồng Hồi Giáo (Umma) xuống thấp chưa từng thấy. Nhiều tín đồ trước đây đã nghe Muhammad thuyết giảng là Thiên Chúa đứng về phe của Hồi Giáo: “Hai mươi người đánh thắng hai trăm – Đó là đặc quyền Chúa ban cho các tín đồ của Ngài – Koran 8:17”. Nay giáo chủ bị thương bất tỉnh, quân bị chết nhiều và đoàn quân Hồi chưa kịp đánh đã phải rút chạy. Nhiều tín đồ tỏ ý thất vọng và coi trận Uhud là một dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa đã bỏ rơi tiên tri Muhammad.

            Mấy hôm sau, Muhamamad phục hồi sức khỏe, ông viết vào kinh Koran mấy câu thơ nhắc nhở tín đồ: “Các tín đồ không nên coi thất bại ở trận Uhud là dấu hiệu của Thiên Chúa đã ruồng bỏ tiên tri của ngài, hãy coi đó là dịp để xem ai là tín đồ chân chính và ai không là chân chính – Koran 3:13, 3:152”.

            2. Harem của tiên tri tại Medina.-

            Trận đánh Uhud ngày 23 tháng 3 năm 625 đã để lại chiến trường 65 xác người Hồi Giáo và tại Medina 65 người phụ nữ góa chồng. Vài tháng sau lại có thêm 50 người nữa bị quân Mecca phục kích giết chết. Kết quả là tại Medina đã có trên một trăm góa phụ. Đứng trước thảm cảnh này, Muhammad đã viết những câu thơ trong kinh Koran nhằm khuyến khích đàn ông Hồi Giáo lấy thêm vợ:

            “Nếu thấy điều đó là tốt cho anh

            Hãy lấy thêm hai, ba, bốn vợ”.

            (Marry such women as seem good to you

            two, three or four – Koran 4:3)

            “Hãy lấy những người đàn bà không có chồng

            ở trong cộng đồng của các người”.

            (Marry the spouseless among you – Koran 24:33).

            Khi viết những câu thơ có tính cách cổ vũ chế độ đa thê, Muhammad không hề nghĩ đến chuyện thỏa mãn dục tình một cách ích kỷ mà chỉ nghĩ đến một nhiệm vụ xã hội. Trong hoàn cảnh xã hội Ả Rập lúc đó các bà góa khó có thể sống một mình vì những người góa bụa cô đơn thường hay bị các kẻ gian lạm dụng hoặc bắt nạt. Do đó, các góa phụ rất cần phải có người đàn ông giúp đỡ và che chở.

            Kinh Koran đòi hỏi những người đàn ông có nhiều vợ phải dành cho mỗi người vợ một số lượng thời gian bằng nhau và phải đối xử công bình như nhau. Trước biến cố này, Muhammad chỉ có 3 người vợ là Saudah (29 tuổi) Aisha (11 tuổi) và Hafsah (18 tuổi). Để thực hiện điều ông vừa viết trong kinh Koran, Muhammad lấy bà vợ thứ tư là Zaynab Kuzaymah, vợ góa của một chiến sĩ mới tử trận trong tháng giêng năm 624 tại Badr. Vài tháng sau ông cưới bà vợ thứ năm là Salamah 29 tuổi, vợ góa của người em họ. Nàng rất thông minh và khá xinh đẹp, về sau nàng là một cố vấn đắc lực cho Muhammad về nhiều phương diện.

            Đến lần cưới bà vợ thứ sáu, Muhammad gặp phải những điều tai tiếng dị nghị và một số chuyện phiền phức khác. Vào đầu năm 626, Muhammad đến thăm người con nuôi tên là Zayd mà ông đã nuôi từ lúc còn nhỏ ở Mecca. Vợ của Zayd từ trong nhà chạy ra mở cửa để đón khách. Vì thấy Muhammad đến thăm bất ngờ nên nàng vỗ tay reo mừng và tỏ ra rất hân hạnh được đón tiếp Muhammad.

            Vợ của Zayd tên Zaynab Jahsh, 30 tuổi, có một nét đẹp đặc biệt là rất mặn mà duyên dáng. Hôm gặp nàng ra mở cửa đón chào, Muhammad bị choáng váng trước vẻ đẹp của nàng nên đã nói những lời khen ngợi khiến cho nàng cảm động. Sau đó Zaynab nói thẳng với chồng là nàng muốn ly dị để lấy Muhammad nếu Muhammad đồng ý cưới nàng. Zayd rất đau khổ về chuyện này nhưng vì sau đó bị vợ thúc ép nên Zayd đành phải đến gặp Muhammad để hỏi xem Muhammad có muốn lấy Zaynab làm vợ không. Muhammad trả lời đồng ý nên Zayd về làm thủ tục ly dị vợ.

            Mấy bữa sau, một đám cưới linh đình được tổ chức, Zaynab Jahsh từ vị trí con dâu (nuôi) trở thành vợ của người cha nuôi chồng cũ.

            Trong tiệc cưới có nhiều người đàn ông đến tham dự đã ở nán lại quá lâu để chiêm ngưỡng sắc đẹp mặn mà của cô dâu đặc biệt này. Muhammad muốn đuổi họ về nhưng lại không muốn làm mất lòng họ. Vì không thấy Muhammad nói gì nên những người đàn ông đó đã đến sát gần các bà vợ của Muhammad và nói chuyện một cách xàm sỡ.  Muhammad thấy cần phải có biện pháp ngăn cách những người đàn ông đầy dục vọng này tách rời khỏi các bà vợ trẻ đẹp của ông. Muhammad đã viết những câu thơ để diễn đạt ý này như sau:

            “Các tín đồ đừng nên vào nhà của Tiên Tri

để dùng bữa mà không để ý đến giờ giấc thích hợp

Trừ khi các người được Tiên Tri cho phép

Nếu các người được Tiên Tri mời thì cứ vào ăn

Nhưng khi ăn xong thì giải tán

Đừng nói chuyện quá nhiều làm phiền lòng Tiên Tri

Vì ngài rất ngượng phải đuổi các người đi

Nếu các người muốn hỏi những người vợ của Tiên Tri về bất cứ chuyện gì. Hãy nói chuyện với họ đằng sau tấm mạng che mặt. Điều này làm cho trái tim của các người và của các nàng được thanh khiết”.

(Believers! do not enter the house of the Prophet

For a meal without waiting for the proper time

Unless you are given leave.

But if you are invited, enter.

When you have eaten, disperse.

Do not engage in familiar talk

For this would annoy the Prophet

And he would be ashamed to bid you go

If you ask his wives for anything, speak to them from behind a curtain (hijab) .This is more chaste for your hearts and their hearts – Koran 33: 53)

 

Mấy câu thơ trên đây rất nổi tiếng trong thế giới Hồi Giáo. Người ta gọi là “Những câu thơ của bức màn che” (The Verses of the curtain). Bức màn che đó chính là tấm mạng che mặt (veil) của phụ nữ Hồi Giáo, tiếng Ả Rập gọi là HIJAB. Thông thường thì tấm vải này có màu đen và đủ rộng để che kín đầu, tóc, phủ đến vai và che kín cả mặt, chỉ chừa khoảng trống nhỏ ở đôi mắt để người phụ nữ có thể nhìn đường. Cũng từ khi có mấy câu thơ đó xuất hiện, các bà vợ của Muhammad đều phải che mạng mỗi khi bước chân ra khỏi nhà hoặc khi tiếp chuyện với mọi người ngoài gia đình. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc về việc đeo mạng của phụ nữ trong thế giới Hồi Giáo sau này!

Đầu năm 627, Aisha 13 tuổi, nàng bắt đầu đến tuổi dậy thì nên bỗng nhiên trổ mã lớn vượt lên và đẹp hẳn ra. Muhammad yêu thích Aisha hơn tất cả các cô vợ khác nên đi đâu ông cũng mang theo Aisha. Thậm chí có một hôm Muhammad mang quân đi phục kích để chận đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ biển Hồng Hải, ông cũng dẫn Aisha đi theo bên mình.

Sau trận tấn công vũ bão của Muhammad, bộ lạc Do Thái Bani bỏ chạy tán loạn, Lịch sử không nói tới số thương vong của họ là bao nhiêu, chỉ nói họ đã để lại chiến trường 2000 lạc đà, 5000 con cừu và 200 phụ nữ. Muhammad tuyển chọn một cô đẹp nhất tên là Juwayriah để lấy làm vợ. Số phụ nữ còn lại sẽ được trả tự do sau khi thân nhân của họ mang tiền đến chuộc.

Trên đường từ mặt trận trở về Medina, tại một nơi nghỉ chân, Aisha lẻn xuống khỏi kiệu trên lưng lạc đà để đi vệ sinh. Lúc trở lại chỗ cũ thì đoàn quân đã đi khỏi. Trong lúc nàng đang lo sợ thì có một thanh niên tên Safwan là lính hậu vệ của đoàn quân từ phía sau đi tới, Aisha vội lật cái mạng của nàng ra để Safwan nhận diện. Safwan không còn cách nào khác hơn là bế nàng lên lưng lạc đà của chàng để cả hai người cùng cưỡi về Medina.

Khi thấy Safwan và Aisha cùng ngồi trên lưng lạc đà về Medina một lúc sau khi cả đoàn quân đã trở về hết, mọi người ở Medina bắt đầu bàn tán về đức hạnh của Aisha. Muhammad tức giận nổi ghen và không muốn nhìn mặt Aisha nữa.  Aisha quá đau khổ vì bị hiểu lầm nên sinh bệnh. Trong lúc đang đau khổ mà không thể giải bày thì Aisha nghe thấy Ali nói với Muhammad rằng: “Trên đời này thiếu gì đàn bà, cha có thể lấy người vợ khác tốt hơn”. Câu nói của Ali như nhát dao đâm thấu tim của Aisha và sau này Aisha sẽ không tha thứ cho Ali.

(Ba mươi năm sau, khi Ali lên làm vua (Caliph) của Hồi Giáo thì Aisha lãnh đạo một cuộc cách mạng chống Ali).

Mấy hôm sau, Muhammad suy nghĩ lại và chợt hiểu ra rằng Aisha chỉ là một cô bé ngây thơ vô tội nên ông đã làm hòa với Aisha. Cha mẹ Aisha thấy vậy rất vui mừng nên khuyên Aisha cám ơn Muhammad. Aisha thẳng thắn trả lời: “Con không cám ơn ai hết, kể cả tiên tri Muhammad. Con chỉ cám ơn một người duy nhất là Thiên Chúa”. Muhammad nghe vậy rất cảm phục Aisha vì nàng tuy nhỏ nhưng đã tỏ ra là có bản lãnh vững vàng, có đức tin mạnh và không hề sợ hãi. Từ đó cho đến lúc chết, Muhammad không yêu ai hơn yêu Aisha.

Vì tình cảm thiên vị của Muhammad dành cho Aisha quá lộ liễu nên các cô vợ khác của Muhammad ghen tuông và khiếu nại, viện cớ kinh Koran dạy người chồng phải đối xử công bằng với các bà vợ. Từ đó ông phải theo thứ tự ngủ đêm tại mỗi phòng với một cô. Mỗi khi đi đâu, ông phải rút thăm để biết ai là người sẽ cùng đi với ông trong cuộc hành trình. Tuy nhiên, mỗi khi Muhammad đến đền thờ để giảng đạo thì chỉ có một người duy nhất luôn luôn ở bên cạnh ông là Aisha. Ông nói với mọi người rằng Aisha cũng có ơn mặc khải của Thiên Chúa giống như ông.  Một hôm cô con gái cưng của Muhammad là Fatimah khuyên cha không nên quá gần gũi với Aisha. Muhammad hỏi lại: “Chẳng lẽ con không yêu người cha yêu quí nhất hay sao?”.

Sau khi Muhammad qua đời, Aisha trở thành người quan trọng nhất về giáo lý và luật pháp của Hồi Giáo.

3. Vụ thảm sát 700 người Do  Thái tại Medina.-

 Tháng 3 năm 627, Mecca huy động 10.000 quân với dự tính phá tan căn cứ địa Medina của Muhammad. Trong khi đó, Muhammad cũng đã chuẩn bị đối phó bằng cách mua chuộc một số quân thiện chiến của bộ lạc Bedouin. Nhờ đó quân số chiến đấu của Muhammad đã lên tới 3000 người. Điểm lợi nhất cho Muhammad là căn cứ địa Medina được thiên nhiên bảo vệ ba phía bằng những sườn núi nham thạch rất dốc. Chỉ còn một phía duy nhất trống trải là phia bắc của ốc đảo mà thôi.

Vì biết trước việc Mecca sắp tấn công nên Muhammad ra lệnh cho các tín đồ gặt lúa và tích trữ lương thực. Sau đó ông huy động toàn dân ở Medina đào một cái hào thật sâu suốt dọc phía bắc của ốc đảo. Số đất đào được đắp thành lũy cao. Đây là một phương cách phòng thủ chưa từng thấy ở Ả Rập. Sáng kiến này do một tín đồ Hồi Giáo gốc Ba Tư là Salman đưa ra. Hào sâu sẽ chận đứng bước tiến của các đoàn kỵ binh của địch vì ngựa không thể nhảy qua để tiến vào ốc đảo. Lũy cao sẽ là cái lá chắn hữu hiệu các loạt tên của địch, trái lại, quân Hồi Giáo có núp sau lũy để bất thần bắn ra những loạt tên để diệt địch.

Ngày 31-3 năm 627, mười ngàn quân Mecca kéo tới Medina. Khi đến trước cửa ngõ phia bắc của ốc đảo, các đoàn quân của Mecca đều phải khựng lại vì ngựa cũng như người đều không thể vượt qua hào sâu lũy cao. Trong khi đó, quân của Muhammad núp trên lũy cao bắn tên xuống như mưa gây nhiều thương vong cho quân Mecca. Quân Mecca không còn cách nào khác hơn là rút ra xa khỏi tầm tên bắn để đóng quân bao vây. Sau 3 tuần lễ bao vây, quân Mecca bị cạn hết lương thực và nước uống. Người, ngựa và lạc đà đều bị đói và khát nên không thể ở lại lâu hơn, cuối cùng cả đoàn quân 10.000 người đành phải âm thầm rút lui.

Trước khi có vụ tấn công của Mecca, tin tình báo đã cho Muhammad biết về những âm mưu của bộ lạc Do Thái Aws làm nội ứng cho Mecca để chống lại Hồi Giáo. Sau khi đoàn quân của Mecca đã rút hết, Muhammad quyết định phải tiêu diệt bộ lạc Aws để trừ hậu hoạn. Ông ra lệnh cho các tín đồ đào một cái hố lớn tại chợ Medina. Sau đó ông trực tiếp chỉ huy cuộc bao vây khu vực của bộ lạc Aws để bắt hết mọi người đàn ông của bộ lạc này. Chỉ có một số rất ít người Do Thái được các tín đồ Hồi Giáo xin với Muhammad cho tha mạng, số còn lại khoảng 700 người đàn ông Do Thái bị trói từng người và bị đưa ra cái hố lớn ở giữa chợ Medina để chém đầu. Sau đó, các xác chết được xô xuống hố lấp lại thành một nấm mồ tập thể.

Trong vụ thảm sát này có một người đàn bà duy nhất bị chém đầu. Đó là người đàn bà Do Thái bị người Hồi Giáo tố cáo là đã lợi dụng lúc quân Mecca bao vây Medina để ném đá vào người Hồi Giáo.

Về sau, Aisha đã kể chuyện về người đàn bà Do Thái này như sau: “Bà ta đến nói chuyện với tôi trong khi Muhammad đang tàn sát người Do Thái ở chợ Medina. Rồi đột nhiên người ta đến bắt bà ấy. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì xảy ra cho bà vậy?” Bà ta bình tĩnh trả lời: “Người ta đem tôi đi chém đầu”. Tôi liền hỏi: “Về tội gì?”. Bà ta đáp: “Về một việc mà tôi đã làm”. Liền sau đó bà ta bị chặt đầu tại chợ. Aisha kể tiếp: “Tôi sẽ không bao giờ quên được người đàn bà Do Thái can đảm phi thường – Bà ta vẫn cười trong lúc bị lôi đến pháp trường để chém đầu”.  Vợ con của 700 người bị chém đầu đều bị trói đem đi bán ở các chợ nô lệ.

                          (Muhammad, a biography of the prophet, by Karen Amstrong – Chapter 8, 164-210).

                                                 GIAI ĐOẠN SAU (627-632) TẠI MEDINA

            Sau năm năm đầu chiếm cứ Medina (622-627), Muhammad và cộng đồng Hồi Giáo đã gây ra nhiều cuộc đột kích đẫm máu để tấn công các đoàn thương buôn của Mecca nhằm mục đích cướp ngựa, lạc đà, vũ khí, tiền bạc và đủ loại hàng hóa vừa để sống còn tại ốc đảo Medina vừa để tăng cường lực lượng quân sự. Sau vụ trục xuất bộ lạc Do Thái Bani và vụ tàn sát bộ lạc Do Thái Aws, danh tiếng của Muhammad được loan đi khắp vùng và ai cũng phải nể sợ. Các bộ lạc Bedouin trước đây là đồng minh với Mecca, nay sợ sẽ bị Muhammad trả thù nên tuyên bố không liên kết với Mecca nữa.

            Trong tình hình thuận lợi hiện tại, Muhammad quyết định: Trước hết thống nhất tất cả các bộ lạc Ả Rập thành một quốc gia. Bộ lạc nào tách rời sẽ bị trừng phạt. Sau đó sẽ chiếm thành phố Mecca làm thủ đô phát triển đạo Hồi.

            Tuy chưa phải là một quốc vương nhưng Muhammad đã viết thư và sửa soạn những món quà quí giá rồi cử nhiều phái đoàn đến yết kiến các hoàng đế của đế quốc Byzantine và đế quốc Ba Tư, các vua Ai Cập và Ethiopia.

            Sau đó ông gửi thư đến các bộ lạc Ả Rập, không phân biệt họ theo tôn giáo nào. Trong thư ông nhấn mạnh: “Đạo Do Thái là đạo của con cháu Jacob, đạo Hồi là đạo của con cháu Ismael. Kinh Thánh Cựu Ước bằng tiếng Hebrew của Do Thái, Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp của Ki Tô Giáo, Kinh Koran bằng tiếng Arabic là Kinh Thánh của người Ả Rập”. Ông không yêu cầu mọi người theo đạo Hồi nhưng yêu cầu tất cả các bộ lạc Ả Rập gia nhập “Cộng Đồng Ả Rập”, tương tự như “umma” ở Medina. Sau thư mời nói trên, nhiều bộ lạc Ả Rập xin gia nhập “umma”, đặc biệt là các bộ lạc Bedouine. Chỉ còn lại 3 bộ lạc không chiu gia nhập là các bộ lạc Asad, Thalabah và Sad. Từ cuối năm 627 đến cuối năm 628, Muhammad mang quân đi tấn công để trừng phạt 3 bộ lạc nói trên.

            Cũng trong thời gian này, Muhammad mở những cuộc tấn công các đoàn thương mại Mecca với chủ đích phá vỡ hoàn toàn thế độc quyền thương mại của thành phố này với các xứ phương Bắc. Để chính thức cạnh tranh với Mecca, Muhammad lập các đoàn lữ hành tải hàng từ Medina đi bán ở Syria và Ba Tư, sau đó mua các hàng quí hiếm của ngoại quốc đem về Medina để biến ốc đảo này trở nên một thành phố sầm uất.

            Trong một vụ phục kích cướp hàng của Mecca, không ngờ chuyến hàng đó là của Abu Alas, con rễ của Muhammad. Trước đây, Abu Alas không chiu theo đạo Hồi nên vẫn ở lại Mecca và không theo vợ con đến Medina. Sau vụ bị cướp hết hàng này, Abu Alas buộc lòng phải đến Medina gặp vợ là Zaynab nhờ can thiệp. Zaynab đến gặp cha để xin lại số hàng cho chồng. Muhammad đồng ý với điều kiện Abu Alas phải về ở hẳn tại Medina đoàn tụ với vợ con. Sau đó Abu Alas được trả toàn bộ số hàng hóa đưa về Mecca bán rồi trở lại Medina theo đạo Hồi để được sống yên ổn với vợ con.

            Đầu năm 628, nhân dịp tháng ba là tháng hành hương đền thờ Kaaba tại Mecca theo tục lệ cổ truyền của các dân tộc Ả Rập. Muhammad báo trước cho Mecca biết ông sẽ hướng dẫn 1000 tín đồ đến hành hương tại đền thờ Kaaba và không mang theo vũ khí, chỉ đem theo 70 con lạc đà để làm lễ hy sinh (animal sacrifice) mà thôi. Mặc dầu tuyên bố không mang theo vũ khí nhưng tất cả mọi tín đồ của Muhammad đều dấu trong áo choàng những đoản kiếm và dao găm đề phòng bất trắc.

            Khi đoàn người của Muhammad đến gần Mecca thì bị viên chức cao cấp của thành phố là Khalid dẫn 200 kỵ binh ra ngăn chặn không cho vào thành phố. Muhammad cảnh cáo Khalid không nên tấn công đoàn người của ông, nếu tấn công sẽ bị đánh trả đích đáng. Khalid đành nhượng bộ và để cho đoàn người của Muhammad tự do đến đền thờ Kaaba.

            Đầu năm 629, một số bộ lạc Do Thái ở những ốc đảo phía Bắc Medina tỏ ra thù ghét Muhammad. Muhammad quyết định mang 600 quân đến bao vây thị trấn ở gần nhất là Khaybar. Thị trấn này được bảo vệ bởi một hệ thống thành lũy và 7 pháo đài. Trước hết, Muhammad để quân bao vây thị trấn này trong một tháng. Sau đó quân Hồi bất thần tấn công và triệt hạ từng pháo đài một. Cuối cùng mọi bộ lạc Do Thái ở đây xin đầu hàng, nộp một nửa các huê lợi chà là ngũ cốc và xin được làm chư hầu của Medina.

            Những bộ lạc Do Thái ở kế cận Khaybar đều xin ký hòa ước thần phục Muhammad. Một tù trưởng Do Thái ở thị trấn Fadak tên là Huyay muốn cầu thân với Muhammad nên đã gả cho Muhammad cô con gái út 17 tuổi rất đẹp tên là Safyah.

            Cũng trong thời gian này, người anh họ của Muhammad qua đời, Muhammad lấy vợ của anh ta tên là Ramlah. Do những cuộc hôn nhân xảy ra dồn dập sau này nên harem của Muhammad đã trở nên khá đông. Các bà vợ của Muhammad chia thành hai phe. Phe trẻ gồm có Aisha 15 tuổi, Hafsah 17 tuổi và Safyah 17 tuổi tạo thành bộ ba (The Trio) tách rời và chống lại các “bà già” của Muhammad!

            Tháng 3 năm 629, Muhammad tổ chức cuộc hành hương đền thờ Kaaba với 2600 người tham dự. Lần này đến Mecca, đoàn người của Muhammad không gặp một sự cản trở nào cả. Nhân dịp này, Muhammad tình cờ gặp lại người chú họ tên là Abbas cùng đi hành hương với cô em gái rất đẹp tên là Maymunah. Muhammad xin cưới người cô họ này và tổ chức đám cưới ngay tại Mecca. Lợi dụng tiệc cưới làm cơ hội giải hòa, Muhammad mời tất cả các kẻ thù của ông tại Mecca đến dự tiệc cưới. Không ngờ người chỉ huy quân sự cao cấp nhất ở Mecca là Khalid nhận lời mời đến dự tiệc cưới của Muhammad. Sau tiệc cưới, Khalid tự nguyện xin theo đạo Hồi. Đây là thành công bất ngờ và hết sức lớn lao của Muhammad.

            Khi phái đoàn 2600 người vào làm lễ tại đền thờ Kaaba, Bilal là người da đen đầu tiên theo đạo Hồi đã leo lên nóc đền thờ Kaaba kêu gọi mọi người cầu nguyện ba lần một ngày. Đến đêm cuối cùng của chương trình hành hương, toàn thể 2600 người lặng lẽ rút êm ra khỏi thành phố mà không ai hay biết.  Muhammad cố ý thực hiện điều này để cho dân Mecca biết rằng Cộng Đồng Hồi Giáo là một tập thể gắn bó với nhau bằng đức tin, có tổ chức chu đáo với tinh thần kỷ luật rất cao.

            Khalid đi theo Muhammad về Medina. Trước đây Khalid là vị tướng chỉ huy quân Mecca đối đầu với Muhammad tại các trận Uhud và trận Trench (hào lũy). Muhammad hết sức vui mừng đón nhận Khalid. Từ đó Khalid trở thành một trong những dũng tướng của Muhammad tại Medina.

            Cuối năm 629, Muhammad làm một cuộc mạo hiểm đầy tham vọng là đánh chiếm xứ Syria. Ông sai Khalid, Zayd và Jafar dẫn 3000 quân tinh nhuệ và vũ trang hùng hậu đi thử thời vận. Khi tới biên giới Syria, quân thám báo của Khalid cho biết đế quốc Byzantine có 10.000 quân tại đây. Khalid không dám đối đầu nên đành rút quân về Jordan dừng chân. Đế quốc Byzantine cho rằng quân Hồi đã dám vô cớ kéo đến khiêu khích nên cho quân truy kích đến tận Jordan. Sau một trận đánh không cân sức, quân Hồi bị giết rất nhiều, trong số đó có Zayd (con nuôi của Muhammad) và Jafar. Khalid dẫn đám tàn quân trở lại Medina. Muhammad rất đau buồn vì đã tính sai nước cờ. Trong thời gian đó có một chuyện vui cho riêng Muhammad. Vua Muquaquis của Ai Cập gửi tặng cho Muhammad một cô gái nô lệ gốc Ai Cập rất đẹp tên là Myriam. Cô này theo đạo Ki Tô Chính Thống (Coptic Christian) Muhammad say mê sắc đẹp của Myriam đến nỗi ông bỏ bê tất cả các cô khác. Do vậy mà cơn sóng gió trong harem nổi lên. Ít lâu sau, Myriam mang bầu và sinh ra một đứa bé trai kháu khỉnh. Muhammad đặt tên là Ibrahim (tức Abraham). Ngoài Myriam ra không có một cô nào trong harem sinh con cho Muhammad nên ông càng say mê Myriam hơn nữa.

            Aisha, Hafsa và Safyah tổ chức một cuộc nổi loạn trong harem. Mũi dùi tấn công chĩa vào Myriam. Cuộc chiến tranh giữa những người vợ khiến cho Muhammad chịu không nổi nên ông đành phải ngủ đêm tại sàn nhà của đền thờ. Sau đó ông cất một căn gác nhỏ gần nơi đền thờ để mỗi đêm leo lên đó nằm chèo queo một mình. Ông cảm thấy có nhiều vợ cũng chẳng vui sướng gì và ông muốn xa rời tất cả các bà vợ trẻ đẹp của mình. Tuy nhiên, ông cũng không muốn các bà vợ của ông rơi vào tay kẻ khác sau khi ông qua đời. Do đó, ông viết vào kinh Koran mấy vần thơ để qui định hai điều sau đây:

            1. Hãy gọi các bà vợ của tiên tri là “các bà mẹ của các tín đồ” (Mothers of the faithful).

            2. Sau khi tiên tri qua đời, các bà vợ của Ngài không được lấy chồng khác.

            (The Prophet has a greater claim on the faithful than they have on themselves and his wives are their mothers – Koran 33: 6 / Nor that you should marry his wives after him ever, surely this is grievous in the sight of Allah – Koran 33: 53).

Nhân dịp mùa chay Ramadan trong tháng giêng năm 630, Muhammad tổ chức một cuộc hành hương vĩ đại tại Mecca với sự tham dự của 10.000 tín đồ có võ trang.

Muhammad báo trước cho Mecca biết điều đó. Lãnh đạo tối cao của Mecca lúc đó là Abu Sufyan tự xét không đủ sức chống lại Muhammad nên khuyên mọi người không chống cự. Chỉ có ba tù trưởng của ba bộ lạc Ả Rập thù ghét Muhammad quyết tâm chống lại. Khi đoàn quân hành hương của Muhammad đến cổng thành Mecca thì ba tù trưởng Ikrimah, Swafan và Suhayl mang quân ra nghênh chiến. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, đoàn quân Hồi Giáo dưới sự chỉ huy của Khalib đã dẹp tan đoàn quân của các bộ lạc thù địch. Các tù trưởng Ikrimah và Safwan bỏ trốn. Tù trưởng Suhayl đầu hàng.  Đoàn quân 10.000 người của Muhammad tràn vào chiếm thành phố Mecca không tốn một giọt máu.

            Muhammad căng lều sát cạnh đền thờ Kaaba để làm chỗ trú ngụ cho ông cùng với hai người vợ. Ngoài ra còn có Fatimah là con gái út của ông và chồng là Ali.

            Sau khi tất cả mọi người đều tắm rửa sạch sẽ, Muhammad cùng với 10.000 chiến sĩ đi vòng quanh đền thờ Kaaba 7 vòng. Bảy vòng này tượng trưng cho 7 tầng của Thiên Đàng. Trong đền thờ có Tảng Đá Đen linh  thiêng, cứ đi một vòng thì Muhammad chạm tay vào hòn đá đen một lần. Mỗi lần chạm tay vào hòn đá đen như vậy, Muhammad kêu to lên: “Al-lah Akbar” (Vinh Danh Thiên Chúa). Mười ngàn tín đồ hô theo vang dội như lời reo mừng chào đón chiến thắng cuối cùng của đạo Hồi trên thành phố Mecca.

            Sau khi đi hết 7 vòng quanh đền thờ Kaaba, Muhammad và tùy tùng leo lên nóc đền thờ đập nát 360 tượng thần. Bên trong đền thờ có một số tranh vẽ trên tường cũng bị phá hủy, ngoại trừ những bức tranh vẽ hình Chúa Jesus được giữ lại mà thôi. Những bức hình Chúa Jesus có thể đã được những người Ki Tô Giáo vẽ trong đền thờ dưới thời vương quốc Abyssinia cai trị bán đảo Ả Rập từ 525 đến 570.

            Sau khi chiếm Mecca bằng một phương cách hòa bình, Muhammad ban hành lệnh ân xá cho tất cả mọi người đã chống Hồi Giáo, ngoại trừ 10 người có nợ máu quá nặng, trong số đó có mụ Hind (vợ của Sufyan) đã từng mổ bụng ăn gan Hamzah (một chiến sĩ Hồi Giáo bị tử thương ở  Uhud).

            Khi mụ Hind bị bắt đưa đến trình diện Muhammad, mụ đã khôn khéo thưa rằng: “Kính thưa tiên tri, ngài là sứ giả của Thiên Chúa, bây giờ ngài không thể lên án phạt tôi vì tôi đã tuyên xưng đức tin Hồi Giáo”. Muhammad tươi cười trả lời: “Tất nhiên là mụ đã được trả tự do”.

            Muhammad đã tha tội chết cho mụ Hind một phần vì mụ đã nhận theo Hồi, nhưng phần quan trọng hơn là vì chồng của mụ (Abu Sufyan) đã có công lớn trong việc thuyết phục thành phố Mecca không chống cự Muhammad nên ông mới có thể chiếm Mecca một cách dễ dàng như vậy.  Muhammad đã thưởng công rất lớn cho kẻ thù cũ là Abu Sufyan bằng cách giao cho y và gia đình nắm giữ các chức vụ quan trọng của thành phố Mecca. Sau này con cháu của Sufyan đã lập nên triều đại Ummayad, đóng đô tại Damacus (Syria) và truyền ngôi qua 14 đời vua.

            Một nhân vật khác bị Muhammad thù ghét và lên án tử hình là Abdallah, anh nuôi của Uthman. Khi biết mình có tên trong sổ đen của Muhammad, Abdallah đã đến nhờ Uthman can thiệp xin tha mạng. Uthman là người thân tín của Muhammad đã dẫn Abdallah đến gặp chủ tướng. Muhammad chẳng những tha mạng mà còn tin dùng Abdallah. Về sau, Abdallah trở thành một nhân vật quan trọng trong Hồi Giáo.

            Sau khi chiếm thành phố Mecca vào tháng giêng năm 630, Muhammad sáp nhập quân của thành phố này với quân của Medina để thành lập một đạo quân Hồi Giáo lên tới 30.000 ngưòi. Tháng 10 năm 630, Muhammad cùng Abu Sufyan dẫn đoàn quân này đến thành phố Tabuk, cách Medina 250 dặm về phía bắc. Muhammad cho quân nghỉ dưỡng sức 10 ngày tại thành phố này. Sau đó, Muhammad và Sufyan xua quân tấn công một tiểu quốc của đế quốc Byzantine. Vua của tiểu quốc này là Yuhunna xin đầu hàng và xin thần phục Muhammad. Các cộng đồng Ả Rập và Do Thái tại Jarba và Adruh (tức xứ Jordan ngày nay), đều xin làm chư hầu của Muhammad.

            Tháng giêng năm 631, tất cả các bộ lạc trên bán đảo Ả Rập bao la (gấp 8 lần diện tích Việt Nam) đều được đặt dưới sự cai trị của Muhammad.

            Đến đầu năm 632, nhiều chiến sĩ Hồi Giáo cảm thấy mỏi mệt vì những cuộc chinh chiến liên miên trong nhiều năm qua. Muhammad cổ võ tinh thần mọi người với lý luận cho rằng những cuộc chinh chiến đó cốt để thực hiện Ý Chúa (God’s Will). Việc thực hiện ý Chúa trong lịch sử loài người không bao giờ ngừng nên người Hồi Giáo phải luôn luôn tiếp tục chiến đấu.

            Cuộc chiến đấu để truyền đạo lúc đầu luôn luôn bằng phương tiện quân sự và chính trị để dẫn đến sự phục tòng tôn giáo. Hồi Giáo có nghĩa là phục tòng (Islam means submission). Khi Hồi Giáo toàn trị trên một xã hội phục tòng tôn giáo thì đó là một xã hội hòa bình, nói đúng hơn là Hòa Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Muhammad chú ý thực hiện cuộc chiến đấu trên cả hai mặt: quân sự và tôn giáo.

            Về quân sự, Muhammad trông cậy vào Abu Sufyan và Khalid. Về tôn giáo, Muhammad chú trọng thuyết giảng cho bốn người chủ yếu là Abu Bakr, Umar, Uthman và Ali. Trong bốn người này, Muhammad yêu thương nhất Ali vì Ali là con út của ông chú Abu Talib đã nuôi Muhammad từ nhỏ đến lớn. Cũng vì yêu thương Ali nên ông đã gả con gái út là Fatimah cho Ali. Vợ chồng Ali có hai đứa con trai tên là Hassan và Husayn. Muhammad cũng rất yêu thương hai đứa cháu ngoại này. Ông thường làm ngựa cho hai đứa cháu cưỡi trên lưng chạy khắp nhà. Sau này, hai đứa cháu ngoại của Muhammad bị phe Hồi Giáo Sunni giết chết và trở thành hai vị đại thánh tử đạo của giáo phái Shiite. Người Chàm ở Việt Nam theo đạo Hồi có nơi thờ Ali và đọc kinh cầu nguyện xưng tụng Ali là con của Thiên Chúa (Son of God).

            Đầu năm 632, đứa con trai út của Muhammad với cô gái Ai Cập Myriam bị bệnh chết. Muhammad khóc lóc thảm thiết. Ông cũng linh cảm sắp chết nên nói với mọi người: “Tôi sắp đoàn tụ với đứa con trai yêu quí của tôi”. Cuối tháng 2 năm 632, Muhammad yêu cầu mọi người cùng các bà vợ đưa ông đến viếng đền thờ Kaaba ở Mecca lần cuối cùng.

            Sau khi viếng Kaaba, ông yêu cầu mọi người đưa ông lên núi Arafat. Tại đây ông giảng bài giảng giã từ (Farewell Sermon) nhấn mạnh: Mọi tín đồ Hồi Giáo là anh em (Muslims are brethen).

            Sau đó, Muhammad được đưa trở về Medina.  Từ đó ông bị chứng đau đầu liên miên. Chứng đau đầu có thể do hậu quả của lần ông bị thương nơi đầu trong trận Uhud trước đây. Các bà vợ đều lo lắng chăm sóc Muhammad nhưng ông yêu cầu đưa ông về phòng của Aisha. Lúc này Aisha vừa tròn 18 tuổi. Nàng đặt ông gối đầu lên đùi của nàng và nàng yêu cầu cha ruột là Abu Bakr đọc kinh cầu nguyện cho tiên tri.

            Ngày 18 tháng 6 năm 632, Muhammad trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Aisha.

            Khi hay tin Muhammad qua đời, nhiều phụ nữ tại Medina than khóc thảm thiết, nhiều người khác hướng mặt về đền thờ cầu nguyện.

            Trước khi Muhammad qua đời, ông không hề dự liệu cắt cử người kế nhiệm. Nay sự việc ông mất xảy ra quá đột ngột đã khiến cho cả cộng đồng lúng túng không biết phải bầu chọn ai. Ali là người thân của Muhammad nhưng vì quá trẻ nên không được bầu. Abu Badr lớn tuổi và có uy tín nhất đã được cộng đồng bầu lên làm người đầu tiên kế vị Muhammad. Abu Badr được coi như là vị giáo chủ giáo phái Sunni (Đa Số) của Hồi Giáo.

                                                                                            Charlie Nguyễn

Sự Bành Trướng của Đạo hồi
Sự Bành Trướng của Đạo hồi
Sự Nghiệp Muhammad tại Medina
Thân Phận Phụ Nữ Hồi Giáo
Thân Thế Muhammad tại MeccaVề một bài báo…
Vụ Án Nguyễn Văn Lý
Đáp Thư của Bác Gửi Cháu TTVN (Trần Chung Ngọc)
Đôi Lời Kính Cáo Cùng Độc Giả (Trần Chung Ngọc)

Tiểu Sử Charlie Nguyễn (Bùi Văn Chấn)

Tiểu Sử Charlie Nguyễn

Vài nét sơ lược về thân thế của Charlie Nguyễn

Tên thật là Bùi-Văn-Chấn, sinh năm 1937 tại Ninh-Cường, thuộc Bùi-Chu, tỉnh Nam-Định.

Đậu Cử Nhân Luật Khoa tại Saigon năm 1962.

Làm việc tại Công-Quản Hỏa-Xa Việt-Nam trong 3 năm sau khi ra trường. Giữ các chức vụ:

Đại diện Giám-Đốc Hỏa-Xa tại Đà-Nẵng (1963-64)

Trưởng Ty Khai Thác Hỏa-Xa (Saigon-Phan Thiết)

Tháng 4 năm 1965 được gọi nhập ngũ, theo học khóa 20 Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

Từ 1966 đến tháng 4/1975: phục vụ ngành Quân-Pháp, Bộ Quốc-Phòng, với tư cách thẩm phán quân sự:

– Thẩm phán Công Tố, Tòa Mặt Trận Vùng 4 (Cần-Thơ)

– Dự Thẩm Tòa Án Quân Sự Saigon

– Thiếu Tá Thẩm Phán Công Tố, Tòa Mặt Trận vùng 3 và Biệt Khu Thủ Đô (Saigon)

Sau 1975, đi tù cải tạo ở Yên-Báy, Vĩnh-Phú và Xuân-Lộc.

Được trả tự do tháng 8-1984.

Qua Mỹ cùng gia đình đầu năm 1991 theo diện H.O. và định cư tại Houston, Texas từ đó đến nay

 Mục lục

 

Những bài cuối cùng

 

Công Giáo – Huyền Thoại và Tội Ác.

Abraham: Ông Tổ của các Đạo Chúa
Bí Mật Ở Núi Sọ
Con Bạch Tuột của Đức Chúa Trời
Các Khố của Giê Su Trên Thập Giá
Các Tu Sĩ Dòng Tên (Charlie Nguyễn)
Các Yếu Tố Hình Thành Kitô Giáo
Các Đạo Thờ Thiên Chúa và đạo Thờ Bò
Cái Nôi của Các Đạo Chúa
Công Giáo: Huyền Thoại và Tội Ác
Giê-Su đã sống đời như thế nào ?
Huyền Thoại Phục Sinh
Nguồn Gốc Huyền Thoại Kitô
Thiên Chúa Allah của Đạo Hồi
Thiên Chúa Ba Ngôi của Đạo Kitô
Thiên Chúa Elohim của Đạo Do Thái
Thiên Chúa Jehovah
Thư Gửi Bạn Nguyễn Thanh Giản (Charlie Nguyễn)
Truy Tầm Jesus Thật
Tấm Vải Liệm

Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm

Vài lời tâm huyết – Sách Kinh Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Bầy Quạ Trên Xác Người Đàn Bà Do Thái (Charlie Nguyễn)
Cha Con Giáo Hoàng Alex VI (Charlie Nguyễn)
Cách Làm Tiền của Vatican (Charlie Nguyễn)
Công Giáo Và Thánh Tử Đạo (Charlie Nguyễn)
Giáo Hội Gian Ác (Charlie Nguyễn)
Kinh Nguyện Và Kinh Thánh (Charlie Nguyễn)
Những Tác Hại Của Các Kinh Sách Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Phụ Lục: Tấm Vải Liệm (Charlie Nguyễn)
Sách Kinh Công Giáo – Dòng Tu Đồng Công (Charlie Nguyễn)
Tín Điều Huyền Thoại (Charlie Nguyễn)
Vatican, Xưởng Sản Xuất Phép Lạ (Charlie Nguyễn)
Đoạn Kết – Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Charlie)

Thực Chất đạo Công Giáo và các đạo Chúa

Bảy Cuộc Chiến Tranh Chống Hồi Giáo …
Cuốn Thánh Kinh Ô Nhục Của Đạo Công Giáo
Hỏa Giáo Ba Tư là Tiền Thân …
JESUS dưới cái nhìn của Do Thái Giáo và Hồi Giáo
Những tước hiệu bịp bợm của Giáo Hoàng
Thiên Chúa Đang Được Động Viên …
Thập Giá và Lưỡi Gươm của Đại đế Constantine
Truyền Thống Abraham Dưới Ánh Sáng ..
Vai trò của chính quyền (Charlie Nguyễn)
Việt Nam Cần Thưc Hiện Những Biện Pháp Mạnh.. (Charlie Nguyễn)
Đạo Hồi là Đức Tin của Chiến Tranh và Bạo Lực
Đạo Thiên Chúa chỉ là Đạo Thờ Bò Cải Biến
Ảnh Hưởng Thần Học Do Thái Giáo và Kitô Giáo …

Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay
Các Mô Hình Sinh Hoạt trong Thế Giới Hồi Giáo
Cái Nôi của Đạo Hồi
Hồi Giáo Tại Trung Đông
Hồi Giáo Tại Á Châu
Hồi Giáo Tại Âu Châu và Mỹ Châu
Hồi Giáo và Chủ Nghĩa Khủng Bố
Năm Nghĩa Vụ Tín Đồ Hồi Giáo
Sáu Trụ Cột của Đức Tin Hồi Giáo
Sự Bành Trướng của Đạo hồi
Sự Bành Trướng của Đạo hồi
Sự Nghiệp Muhammad tại Medina
Thân Phận Phụ Nữ Hồi Giáo
Thân Thế Muhammad tại Mecca
Tìm Hiểu Kinh Koran
Tệ Nạn Phân Hóa Trong Nội Bộ Hồi Giáo

Tuyển Tập Độc Thần Giáo

(chưa xuất bản thành sách, nhưng có nhiều bài trong tuyển tập này đã được đưa lên webpage Giao-Điểm hoặc đăng trong một số tạp chí)

Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ
Con Đường Cụt của Vatican (Charlie Nguyễn)
Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5
Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai …
In God We Trust
Màn Kịch Lộ Đức
Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh
Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm
Quan Niệm Ông Trời của Người Việt
Từ Thái Độ Khinh Miệt …
Việt Nam cần thực hiện …
Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt
Độc Thần Giáo …

Thư liên hệ đến Thánh Gia

Charlie Trả Lời Các Bạn
Hai Lá Thư Úc Châu
Tâm sự với bạn cũ
Vĩnh Biệt Thánh Gia

Post Navigation