Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “LS Công Giáo”

Giáo Hoàng Có Ý Định Ban Hành “Tự Sắc”

Giáo Hoàng Có Ý Định Ban Hành “Tự Sắc”
ScreenHunter_04 Feb. 23 09.14
Tin RFI – Huê Đăng / Đức Tâm
http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/TinRFI01.php
22-Feb-2013

Vào lúc Tòa Thánh Vatican đang bận bịu với việc bầu chọn người lên thay Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI thì có những tin đồn liên quan đến hai vụ việc : Đức Giáo Hoàng có ý định ban hành “Tự Sắc” và tiết lộ các hồ sơ mật của Tòa Thánh, còn được gọi là “VatiLeaks”.
Từ Roma, thông tín viên Huê Đăng cho biết một số thông tin về hai sự vụ này.
” Đức Giáo Hoàng từ nhiệm một cách “bất ngờ” và Giáo hội đang đánh giá xem xét các điều kiện cụ thể để có thể chuẩn bị tổ chức một cách “đúng thời đúng lúc” Mật nghị Hồng y (conclave) để bầu ra Đức Giáo Hoàng mới.
Trong những thời khắc “nhậy cảm” như thế này … thì mấy hôm nay các mạng truyền thông đăng tải hai tin quan trọng, bề ngoài thì hình như hai tin nói trên không có dính líu với nhau … nhưng cùng một thời điểm mà hai tin cùng được loan đi đồng lúc cũng chưa hẳn là một sự ngẫu nhiên.
Tin thứ nhất, do chính Tòa thánh Vatican tuyên bố : Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, trước khi chính thức từ nhiệm, tức là trước 20 giờ ngày 28/02, có thể sẽ ban hành “Tự Sắc” (ngôn từ của giáo hội bằng tiếng latin là “Motu Proprio”) để xác định một số điểm trong quy luật bầu cử Đức Giáo Hoàng lần này, lý do là bởi vì đây là lần đầu tiên Giáo hội sẽ tiến hành Mật nghị hồng y mà các Hồng y cử tri sẽ không phải chịu tang ai cả, và vì do không phải chịu tang (thường là 9 ngày trước khi khai mạc Mật nghị), do đó có thể Mật nghị sẽ được khai mạc sớm hơn.
Tin thứ hai, do các mạng truyền thông đăng tải: ngày 17/12/2012 vừa qua, Benedicto XVI đã nhận được một hồ sơ mật, gọi là “Relationem”, kết quả của cuộc điều tra về vụ việc “Vatileaks” trong đó tư liệu mật của Vatican bị tẩu tán ra ngoài, vụ việc mà hồi tháng 5 trước đó chính người quản gia hầu cận của Benedicto XVI bị bắt và kết án “nội gián”. Hồ sơ là kết quả điều tra của nhóm của Hồng y Julian Herranz, người được chính Benedicto XVI đề cử điều tra những tình tiết trong vụ Vatileaks.

Hồng Y Julian Herranz. Ảnh: Marco Longari/AFP/Getty Images
Theo tin các báo thì hồ sơ mật nói trên có nói đến những đấu đá giữa các phe phái trong nội bộ Giáo triều. Để bảo vệ quyền lực, nhất là quyền lực kinh tế tài chánh, các phe phái nói trên đã gây áp lực lên một số nhân vật cao cấp trong hàng giáo phẩm hay trong giới lãnh đạo các cơ quan quyền lực kinh tế của Tòa thánh. Vẫn theo báo chí thì thậm chí các áp lực này cũng dựa lên những tin mật về đời sống riêng tư hay những quan hệ tính dục không chuẩn của một số “chức sắc trong hàng giáo phẩm”.
Theo tin báo chí thì Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI đã cất kín hồ sơ mật nói trên trong két sắt của văn phòng làm việc của Giáo chủ với chủ tâm là sẽ giao toàn bộ hồ sơ nói trên cho người kế nhiệm để giải quyết những bất cập ghi trong hồ sơ.
Một số người am tường về thế giới Vatican đánh giá rằng ý định ban hành “Tự Sắc” của Benedicto XVI là để nhanh chóng tiến hành khai mạc Mật nghị Hồng y, đốt cháy tất cả các giai đoạn chuẩn bị để tranh giành quyền lực giữa các phe phái mà chính Đức Giáo Hoàng đã đọc trong “Relationem” đã nói trên. ”

nguồn http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20130222-bao-chi-y-dua-tin-ve-vu-benedicto-xvi-co-y-dinh-ban-hanh-%E2%80%9Ctu-sac%E2%80%9D-va-ho-so-mat-ve-v

Lời đồn chấn động về nguyên nhân Giáo hoàng thoái vị

Lời đồn chấn động về nguyên nhân Giáo hoàng thoái vị
23/02/2013 3:55
ScreenHunter_05 Feb. 23 09.16

Báo giới Ý tung ra đồn đoán gây rúng động dư luận về “nguyên nhân thật sự” dẫn đến lý do thoái vị của Giáo hoàng Benedict XVI.
Sau khi Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố rời cương vị “vì lý do sức khỏe” vào ngày 11.2, nhiều giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến quyết định này nhanh chóng được đưa ra.
Hôm qua, nhật báo lớn nhất Ý là La Repubblica tung ra “một quả bom” khi cho rằng bê bối liên quan đến một nhóm giáo chức đồng tính là “giọt nước tràn ly” khiến Giáo hoàng quyết dứt áo ra đi.
Hồi năm ngoái, thế giới xôn xao vì vụ rò rỉ hàng ngàn trang tài liệu mật của tòa thánh cáo buộc sự quản lý yếu kém khiến xảy ra nhiều vụ tham nhũng, trốn thuế và rửa tiền. Đến tháng 6.2012, tòa thánh chính thức công bố phụ tá thân cận nhất của Giáo hoàng là Paolo Gabriele bị bắt giữ vì tàng trữ trái phép tài liệu mật. Theo La Repubblica, Giáo hoàng Benedict XVI đã giao cho 3 vị Hồng y uy tín thực hiện cuộc điều tra quy mô về những thông tin và cáo buộc trong vụ rò rỉ nói trên. Sau đó, vào tháng 12 năm ngoái, 3 Hồng y Julian Herranz, Josef Tomko và Salvatore De Giorgi trình lên Giáo hoàng một báo cáo dày 300 trang về đấu đá nội bộ, tham nhũng và đồng tính.

Giáo hoàng Benedict XVI trong một buổi lễ tại Vatican hồi tháng 1 – Ảnh: AFP
Theo báo chí Ý, bản báo cáo nói trên cáo buộc nhiều giáo chức cấp cao tại Vatican là người đồng tính, thường xuyên “tụ họp trác táng” trong và ngoài thủ đô Rome của Ý. Các địa điểm này gồm một biệt thự bên ngoài Rome, một cửa hàng làm đẹp ở trung tâm thành phố, một ký túc xá đại học… Cần nhớ rằng đến nay, Giáo hội Công giáo La Mã vẫn không chấp nhận đồng tính và xem đây là hành động vi phạm điều răn thứ 6, tức không dâm dục. Nghiêm trọng hơn, báo cáo còn cho rằng nhiều nhân vật cấp cao “bị khống chế bởi những người tình đồng tính của mình”, dẫn đến biển thủ, tham nhũng và rửa tiền, vi phạm điều răn thứ 7 (không trộm cắp). Đặc biệt, báo cáo đào sâu về những giao dịch đáng ngờ tại Ngân hàng Vatican. Đến ngày 22.2 Giáo hoàng Benedict XVI bất ngờ ra lệnh thuyên chuyển cha Ettore Balestrero làm đại sứ tại Colombia. Cha Balestrero, giữ vai trò Thứ trưởng Ngoại giao của Tòa thánh, là một nhân vật cấp cao chuyên xử lý quan hệ của Ngân hàng Vatican với các đối tác. Do đó, quyết định trên được xem là một sự giáng chức nặng nề và theo tờ La Stampa, tên của ông này cũng xuất hiện trong báo cáo.
Theo nguồn tin của La Repubblica, dù tuổi cao sức yếu, Giáo hoàng Benedict XVI vẫn phải căng sức giải quyết nhiều vụ bê bối lớn của giáo hội như các cáo buộc tu sĩ lạm dụng tình dục, rò rỉ tài liệu, đấu đá nội bộ… để giữ vững niềm tin của giáo dân và thế giới. Do đó, những gì viết trong báo cáo của 3 vị Hồng y đã thực sự “hạ gục ông” và Giáo hoàng không còn đủ sức chèo lái con thuyền Vatican với nhiều sóng gió như vậy. “Ngày hôm đó, với tập hồ sơ nằm trên bàn, Giáo hoàng Benedict XVI đưa ra quyết định mà ông nghiền ngẫm từ lâu”, tờ La Repubblica viết, ý chỉ việc thoái vị. Giáo hoàng đã nghiên cứu kỹ báo cáo, ra lệnh niêm phong kỹ lưỡng để chuyển cho người kế nhiệm. Ông hy vọng giáo hoàng mới đủ bản lĩnh mang lại sự trong sạch cho Vatican. Chưa hết, theo tuần báo Panorama, các tác giả báo cáo sẽ không tham gia mật nghị Hồng y vào tháng tới để bầu tân Giáo hoàng do đã quá tuổi nhưng có thể sẽ thông báo với các Hồng y khác về những phát hiện của mình.
Tờ Guardian dẫn lời phát ngôn viên của Vatican Federico Lombardi không phủ nhận cũng không khẳng định các thông tin trên. Tuy nhiên, ông cho rằng cách diễn giải của báo chí Ý “khiến tình hình thêm căng thẳng, đi ngược lại mong muốn của Giáo hoàng và giáo hội”.
Trùng Quang
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130223/loi-don-chan-dong-ve-nguyen-nhan-giao-hoang-thoai-vi.aspx

Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố từ chức

Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố từ chức
11/02/2013 19:30
ScreenHunter_02 Feb. 23 09.09

Đức Giáo hoàng Benedict XVI – Ảnh: Reuters
(TNO) Ngày 11.2, Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố ông sẽ từ chức vào ngày 28.2 bởi vì không đủ sức khỏe để đảm đương chức vụ.
Đức Giáo hoàng tuyên bố quyết định từ nhiệm bằng tiếng Latin trong một cuộc họp tại Vatican, theo tin tức từ AFP.
“Sau nhiều lần xem xét lương tâm chính mình trước Chúa, tôi chắc chắn rằng sức khỏe tôi đã yếu đi do tuổi tác nên không còn phù hợp để đảm nhiệm chức vụ được ủy thác”, Giáo hoàng Benedict XVI phát biểu trong cuộc họp .
Giáo hoàng Benedict XVI cho biết quyết định từ chức của ông là một quyết định rất quan trọng cho tòa thánh Vatican. Tòa thánh Vatican khẳng định quyết định từ chức của giáo hoàng là tự nguyện do sức khỏe.
Vị Hồng y người Đức Joseph Ratzinger chuyên về thần học trở thành Giáo hoàng Benedict XVI hồi tháng 4.2005, sau khi Giáo hoàng John Paul II qua đời.
Giáo hoàng Benedict XVI từng hé lộ trong một quyển sách hồi xuất bản 2010 rằng ông sẽ từ chức vì không thể đảm đương chức vụ này nữa.
Tòa thánh Vatican cho biết quyết định từ chức sẽ khiến vị trí Giáo hoàng bị bỏ trống cho tới khi một vị tân giáo hoàng được bầu chọn, dự kiến vào tháng 3.2013 tới.
Trong lịch sử Công giáo, chỉ có Giáo hoàng Celestine V từ chức vào năm 1296 vài tháng trước khi nhậm chức vì lý do sức khỏe và muốn có một sống đơn giản hơn.
Theo tờ Telegraph, sức khỏe của Giáo hoàng Benedict XVI có phần giảm sút đi nhiều kể từ khi bị đột quỵ hồi năm 1991. Kể từ 8.2006, ông thường xuyên đi khám bệnh tim, và từng nhập viện cấp cứu do té ngã và gãy cổ tay.
Hồi lễ Phục sinh năm 2012, báo chí thế giới nhận định rằng Giáo hoàng Benedict XVI trông rất mệt mỏi do chuyến công du kéo dài đến Mexico và Cuba.
Anh trai của Giáo hoàng Benedict XVI, ông Georg Ratzinger (89 tuổi), cho biết em trai ông được bác sĩ khuyên không nên công du nước ngoài và cân nhắc việc từ chức từ nhiều tháng trước.
Ông Georg Ratzinger cho biết thêm Giáo hoàng Benedict XVI đã gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại và việc từ chức của ông cũng chỉ là một phần của tự nhiên, “ở tuổi này em trai tôi cần được nghỉ ngơi”.
Hồi tối qua 10.2, theo AFP, bác sĩ cho biết Giáo hoàng Benedict XVI không còn đủ sức khỏe để công du nước ngoài, và đây cũng chính là thời điểm ông bắt đầu nghĩ đến việc từ chức.

Giáo hoàng Benedict XVI xuất hiện trước công chúng tại ban công Tòa thánh Vatican ngày 19.5.2005 sau khi nhậm chức – Ảnh: Reuters

Bản thông cáo của Vatican bằng tiếng Latin về việc Giáo hoàng Benedict XVI sẽ từ chức, công bố ngày 11.2.2013 – Ảnh: Reuters
Các lãnh đạo thế giới đã gửi công điện đến Tòa thánh Vatican bày tỏ lòng tôn kính đối với Giáo hoàng Benedict XVI khi đưa ra một quyết định từ chức khó khăn.
Tổng thống Pháp Francois Hollande, Thủ tướng Đức Angela Merkel đều cho rằng quyết định của Giáo hoàng Benedict XVI là “đáng kính trọng”, và bày tỏ lòng kính trọng ông trong 8 năm lãnh đạo Vatican.
Thủ tướng Ý Mario Monti cho biết ông hoàn toàn sốc khi nghe tin Giáo hoàng Benedict XVI từ chức.
Roma ngỡ ngàng vì lời tuyên bố từ chức của Giáo hoàng Benedict XVI
Theo Đài Vatican, trong công nghị lúc 11 giờ sáng hôm nay, 11.2, trước sự hiện diện của các Hồng y và giám mục, Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố:
”Sau khi nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi tới sự chắc chắn rằng sức lực của tôi, vì tuổi cao, không còn thích hợp nữa để thi hành sứ vụ Phêrô một cách thích đáng nữa. Tôi ý thức rõ sứ vụ này, do yếu tính thiêng liêng, phải được chu toàn không những bằng hoạt động và bằng lời nói, những còn bằng đau khổ và cầu nguyện. Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, đang chịu những biến chuyển mau lẹ và bị dao động vì những vấn đề có tầm quan trọng lớn đối với đời sống đức tin, để cai quản con thuyền của Thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, cần có nghị lực cả thể xác lẫn tâm hồn, nghị lực mà trong những tháng gần đây bị suy giảm nơi tôi đến độ tôi phải nhìn nhận mình không có khả năng thi hành tốt sứ mạng đã được trao phó cho tôi. Vì thế, với ý thức rõ ràng về hành vi hệ trọng này, với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô, được ủy thác cho tôi do tay các Hồng y ngày 19.4.2005, để từ ngày 28.2.2013 sắp tới, Tòa Roma, Tòa Thánh Phêrô sẽ trống tòa từ lúc 20 giờ và những ai có thẩm quyền cần phải triệu tập Mật nghị Hồng y để bầu vị Giáo hoàng mới”.
Cũng theo Đài Vatican, Giáo triều Roma ngỡ ngàng vì lời tuyên bố từ chức của Đức Giáo hoàng Benedict XVI. Trong cuộc họp báo trưa ngày 11.2, cha Lombardi cho biết sau khi Tòa Thánh bắt đầu trống tòa, tức là từ 20 giờ ngày 28.2.2013, Giáo hoàng Benedict XVI sẽ di chuyển ra dinh thự Castel Gandolfo, trong khi chờ đợi Nữ Đan viện chiêm niệm ở Nội thành Vatican được sửa chữa xong và ngài sẽ cư ngụ tại đó.
Về việc cai quản Tòa Thánh sau khi trống tòa, đã có Tông hiến được Giáo hoàng John Paul II công bố về vấn đề này. Các Hồng y sẽ được triệu tập về Roma để tiến hành việc bầu cử Giáo hoàng mới. Lần này sẽ mau lẹ hơn vì không có chương trình 9 ngày lễ an táng Đức Cố Giáo hoàng. Việc bầu cử có thể tiến hành trong tháng 3.2013 và trước lễ Phục sinh có thể Giáo hội sẽ có vị Giáo hoàng mới.
Duy Phúc
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130211/truc-tuyen-duc-giao-hoang-benedict-xvi-tuyen-bo-tu-chuc.aspx

Tản Mạn Về Video Clip Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn – Trần Chung Ngọc

Tn Mn V Video Clip

Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts36.php

 

29-Apr-2012

 

 

   Vài Lời Về “Tôi”.

Trước hết tôi cần phải thú thực rằng, về ca nhạc của người Việt Nam ở hải ngoại hay ở trong nước, và về các văn gia, nghệ sĩ Việt Nam, đối với tôi thật là xa lạ.  Ở Mỹ đã 37 năm mà tôi chưa từng bỏ tiền ra đi xem hay mua DVD Paris By Night.  Tôi cũng chưa từng đọc cuốn sách nào của Nguyễn Ngọc Ngạn.  Điều này không có nghĩa là các màn show Paris By Night hay truyện của Nguyễn Ngọc Ngạn không có giá trị mà chỉ vì những màn văn nghệ đó hay những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Ngạn không  nằm trong lãnh vực sở thích của tôi, và tôi không có thì giờ để làm những việc phí thì giờ đối với tôi. 

Về nhạc thì sở thích của tôi là nhạc cổ điển Tây phương, tôi đã học piano trong nhiều năm.  Cách đây ít năm, đến nhà anh chị Nguyễn Mạnh Quang, tôi đã nổi hứng chơi mấy bài ngắn của Beethoven, Chopin và Tekla Badarzewska trước một số thân hữu của anh chị Quang.  Về nhạc Việt thì trước sau tôi chỉ “nghe được” có 4 bài:  Thuyền Mơ của Dương Thiệu Tước, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải, Chiều Hành Quân (không nhớ tên tác giả), và sau này Hương Xưa của Cung Tiến, bài này của Cung Tiến có ảnh hưởng rõ rệt của nhạc cổ điển Tây phương.  Bài Chiều Hành Quân là một kỷ niệm.  Năm 1963, vợ chồng tôi đi tắm biển ở Nha Trang.  Buổi tối ngồi trước một quán ở bờ biển và suốt cả buổi tối, quán đó không có gì hơn là vặn đi vặn lại cái đĩa hát Chiều Hành Quân.  Nghe mãi rồi nó cũng thấm vào người và thấy hay hay, vì khi đó tôi là một sĩ quan, Trưởng Khoa Khoa Học trong Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia. Nhân mùa quân sự của sinh viên Võ Bị, nên các giáo sư trong Văn Hóa Vụ nghỉ dạy.  Ngoài ra, thình thoảng nghe vài câu Vọng Cổ, hay bài hát Chầu Văn tôi cảm thấy rung cảm hơn là nghe nhạc của Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn [Xin lỗi các “fan” của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn].  Về nghệ thuật, cái gì làm cho ta rung cảm thì cái đó có giá trị với ta, không nhất thiết phải có giá trị với người khác.

Về truyện thì trong thời còn đi học đã đọc khá nhiều truyện của Pháp như của Victor Hugo, Alexandre Dumas, Lamartine v..v.. Sau này ở Saigon thì đọc Kim Dung và tập truyện OSS 117 của Jean Bruce..  Từ ngày sang Mỹ, năm 1975, ngoài những cuốn của John le Carré thì không còn đọc truyện nữa, chỉ đọc những cuốn sách khảo cứu về khoa học, lịch sử, tôn giáo… Vì thế nếu nói về truyện, hay hồi ký v..v… của các văn gia hay chính khách Việt Nam thì tôi rất lạc hậu, không biết gì để nói.  Tôi nhớ và viết lại về những sở thích cá nhân để chứng tỏ tôi rất ít biết về những cuộc trình diễn văn nghệ ở hải ngoại cũng như về MC Nguyễn Ngọc Ngạn, chứ tôi biết chắc rằng những thông tin về cá nhân này chẳng có ai cần biết đến hay quan tâm đến làm gì.

Tuy nhiên, tôi cũng phải thú thực là Paris By Night không hẳn là hoàn toàn xa lạ với tôi, vì lâu lâu tôi cũng xem ké ở nhà người quen, hay mượn một vài DVD về coi xem sao, không nhớ là những số mấy. Có những người bạn, chỉ nghe tiếng hát là biết ngay là ca sĩ nào.  Còn tôi thì ngay cả nhìn mặt tôi cũng chẳng biết là ai.  Đã lâu rồi, loáng thoáng nghe thấy người ta chống đối Paris By Night 40 gì đó, làm như PBN 40 là B 40 trong thời chiến. Tôi chẳng mấy quan tâm vì chưa hề coi PBN 40.

Xem vài DVD Paris By Night thì, đối với tôi, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, người đẹp nhưng đôi khi có giọng cười hơi thiếu duyên [xin lỗi, đây chỉ là nhận xét thuần túy cá nhân].  Còn MC Nguyễn Ngọc Ngạn thì những câu nói dí dỏm của ông ta đôi khi cũng gây được những trận cười trong số khán thính giả.  Nhưng điểm son của Nguyễn Ngọc Ngạn là ông ta rất chịu khó làm bài tập [do home work], cho nên ông đã có thể khai sáng cho khán thính giả nhiều về văn hóa và lịch sử Việt Nam.  Tôi cho đây là điểm rất đáng quý trong những buổi trình diễn văn nghệ của Paris By Night.

   Duy Chống Cộng Thị Nghiệp.

Một số nhỏ người Việt hải ngoại hành nghề “Duy chống Cộng thị nghiệp” thường phát dị ứng với bất cứ cái gì mà đầu óc lệch lạc của họ hoang tưởng là dính tới “Việt Cộng”, chứng tỏ mấy chục năm rồi mà họ vẫn còn sợ “Việt Cộng”, khi không còn Cộng, ở nơi không có Cộng..

Họ sợ một tu sĩ Phật Giáo từ Việt Nam được dân tỵ nạn CS mời sang giảng đạo nhưng tưng bừng đón tiếp một “Chúa thứ hai” sang quyên tiền về xây nhà thờ hay để làm gì chẳng ai biết.  Họ sợ từ một cuộc triển lãm tranh, một cuộc trình diễn văn nghệ, cho đến một bản nhạc của Trịnh Công Sơn.  Họ sợ màu đỏ và nương cao màu vàng, tin tưởng rằng đó là màu của chính nghĩa và có một lịch sử huy hoàng, anh dũng nhất hành tinh. Với tâm cảnh sợ và với ảo tưởng như vậy nên ngày nay mới có chiến dịch tố khổ Nguyễn Ngọc Ngạn vì ông này chưa có phép của “cộng đồng” mà lại dám nhận làm MC cho chương trình văn nghệ “Tình Ca Mùa Xuân” ở Berlin trong ngày 30/4/2012.  Tôi không biết tối ở Berlin thì ở Việt Nam là mấy giờ, ngày nào, nhưng tôi biết rõ, nếu tổ chức ở Chicago tối 30/4 thì lúc đó là sáng ngày 1/5, nghĩa là không còn là ngày “quốc hận”, hay “mất nước”, hay “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” của chúng ta.

 

NNN bị chống nhưng các nhóm khác vẫn tổ chức show và còn đề rõ để ăn mừng ngày 30/4

Tôi biết được vụ ông Nguyễn Ngọc Ngạn bị tố khổ vì gần đây, trên trang nhà Sách Hiếm, http://www.sachhiem.net/index.php?content=showemail&id=91 trong mục “Thư, Ý kiến ngắn” có cái video clip về “Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn”.  Tuy chẳng mấy quan tâm đến nhân vật Nguyễn Ngọc Ngạn nhưng tôi thường đọc tất cả những gì xuất hiện trên Sách Hiếm.  Cho nên tôi cũng tò mò xem cho biết.  Xem xong rồi lại muốn biết nhiều hơn lên tôi lại phải làm bài tập, vào Internet tìm hiểu thêm về nội vụ sự việc, từ cá nhân Nguyễn Ngọc Ngạn cho đến những luận điệu chống đối show ở Berlin ngày 30/4/12.. 

MC Nguyễn Ngọc Ngạn

Về Nguyễn Ngọc Ngạn thì tôi được biết một số chi tiết về tiểu sử, khuynh hướng v…v…khi đọc bài: MC NGUYỄN NGỌC NGẠN NGOÀI ĐỜI VÀ TRÊN VIDEO do một người viết từ năm 2008.  Cuộc đời của ông ta cũng khá đặc biệt, và sau 20 năm ông vẫn đứng vững trên “chiến trường hải ngoại” thì đó cũng là điều đáng kể.

Xem video clip Hoàng Anh phỏng vấn Nguyễn Ngọc Ngạn và đọc những luận điệu chống đối Nguyễn Ngọc Ngạn tôi thấy rõ ràng là Nguyễn Ngọc Ngạn và những người chống đối thuộc hai lớp người khác nhau, trình độ khác nhau, hiểu biết khác nhau, và do đó bất khả tương hợp, không thể nói chuyện với nhau được. Trong video, ông Nguyễn Ngọc Ngạn có nói: không đồng ý thì hãy đối thoại cùng nhau.  Nhưng làm sao ông có thể đối thoại với những người không thuộc lớp người như ông, không có hiểu biết như ông, không có tâm tư như ông.  Trong video cũng có những bài học của Nguyễn Ngọc Ngạn cho những người chống đối, nhưng tôi e họ không thể lãnh hội được, vì đầu óc họ đã mất đi một số thần kinh suy tư, hay thần kinh biết ngượng, có thể từ khi họ gia nhập hay tự trói buộc mình trong một đoàn thể nào đó..

Thật vậy, về các luận điệu chống Nguyễn Ngọc Ngạn thì tôi không thể ngờ là trình độ của những người chống đối lại thấp đến thế.  Tôi có cảm tưởng là họ viết để mà viết, chống để mà chống, bất kể lý lẽ, hầu như là chính họ cũng không biết mình viết cái gì, có hợp tình hợp lý hay không.  Điều rõ ràng là những người chống đối Nguyễn Ngọc Ngạn cho rằng Nguyễn Ngọc Ngạn cũng phải nghĩ như mình, phải có cảm xúc như mình, phải thù hận như mình, phải đau đớn như mình v…v… về ngày 30/4, ngày mà họ vẫn ngu ngơ gọi là ngày “quốc hận” hay “mất nước”.  Quốc là nước, nhưng mà là nước nào đây, miền Nam thua chứ có mất đi đâu, và thử hỏi trên 80 triệu người Việt Nam hiện nay, kể cả một số không nhỏ ở hải ngoại, có bao nhiêu người coi ngày 30/4 là ngày “quốc hận”?  Chẳng có ai cấm ai coi ngày đó là ngày “quốc hận”, nhưng muốn mọi người khác cũng phải dùng một từ vô nghĩa như mình, nghĩ như mình thì là một điều hoang tưởng, chưa kể cái mà mình gọi là “quốc hận” đặt căn bản trên sự hiểu biết thiếu sót và sai lầm về lịch sử Việt Nam trong chính trường quốc tế.  Đó chỉ là cảm tính cá nhân của một số người ít văn hóa, không phải là sự thực lịch sử.  Và cảm tính cá nhân thì chỉ có giá trị đối với cá nhân mà thôi, không thể diễn giải để tổng quát hóa, muốn mọi người khác cũng phải có cùng một cảm tính như mình. Có lẽ những người chống NNN không hiểu được như vậy.

Những Luận Điệu Chống Nguyễn Ngọc Ngạn:

Đọc một số những luận cứ chống Nguyễn Ngọc Ngạn của Thụyvi  (Thư của người vợ lính); Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc (Thư Không Niêm Gởi Ông Nguyễn Ngọc Ngạn Và Trung Tâm Thúy Nga Paris); Nguyễn Đan Quốc, Germany (Berlin Báo Động: Nguyễn Ngọc Ngạn, Ý Lan, Nguyễn Hồng Nhung, Minh Tuyết, Bằng Kiều, Đan Nguyên  Tham Gia “Liên Hoan VC 30-4”); Lý Mỹ Tâm, CHLB Đức ; Nguyễn Bá Chổi  (Thư gửi Nhà văn MC Nguyễn Ngọc Ngạn); Đinh Lâm Thanh (NHÂN NGÀY 30.4 – NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC NGẠN); Dược sĩ Lê Ngọc Túy Hương (phê bình Giá Không Có Tôi) và vài thư ngỏ chống đối, tẩy chay v…v… show ở Berlin, đôi khi kèm theo những từ thiếu văn hóa mà trong video Nguyễn Ngọc Ngạn cho là “không trong sáng”, tôi thấy tất cả những người này đều có một quan điểm chung: phát dị ứng với ngày 30/4 vì coi ngày đó là ngày “quốc hận”, “ngày để tang cho cả nước” “ngày Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” v…v…, và hiển nhiên là quan điểm chung của họ là:  “bất cứ ai không đồng ý với “họ”, “không chống Cộng như “họ”, “không thù hận Cộng như họ”, “không dằn vặt đau đớn về ngày 30/4 như họ” v…v…, đều là “CS nằm vùng”, hay “thân Cộng”, hay “làm tay sai cho CS”, hay là “phản bội quốc gia, phản bội căn cước tỵ nạn”, hay là “Việt Cộng” cả. Họ nhân danh cả cộng đồng người Việt tỵ nạn, họ nhân danh cả nước, và đưa ra quan niệm là “trong mùa quốc hận, không ai được ăn mừng vui vẻ, không được đi nghe Tình Ca Mùa Xuân, không ai được vui chơi, mà phải biểu tình để kỷ niệm ngày quốc hận, phải hát “anh là ai” của Việt Khang, quên rằng lời lẽ trong bài hát của Việt Khang chỉ là những hoang tưởng, ấu trĩ, thiếu hiểu biết, và đoán mò những việc chưa xảy ra về Trung Cộng, về đất nước, và cả ngàn sau v…v…  Tiện đây có vài ý kiến về bài “Anh là ai?”

Xin hỏi anh là ai?

Không cho tôi xuống đường để tỏ bày

Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!

[Xuống đường 5 lần biểu tình là đủ rồi, chuyện quốc gia đại sự

không thể giải quyết bằng cách xuống đường]

Xin hỏi anh ở đâu?

Ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm

[Xuống đường biểu tình không thể chống được giặc Tàu ngoại xâm, chỉ để

bày tỏ một thái độ, một lập trường, và không thể kéo dài ngày này sang ngày khác.

Hãy đọc lịch sử để xem ông cha ta chống giặc Tàu ngoại xâm như thế nào]

Xin hỏi anh ở đâu?

Sao mắng tôi bằng giọng nói dân tôi?

[Bởi anh nông nổi và ngu quá đi]

Dân tộc anh ở đâu?

Sao đang tâm làm tay sai cho Tàu?

[Đây là một khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite) và láo xược]

Để ngàn sau ghi dấu

Bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào

[Đoán mò, làm sao biết ngàn sau bàn tay nào ghi dấu nào]

Tôi không thể ngồi yên

Khi nước Việt Nam đang ngã nghiêng

Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm

Một ngàn năm hay triền miên tăm tối

[Không ngồi yên, nhưng không thể cứu nước bằng một bài hát lãng xẹt,

ngu si, vô trí.  Đoán mò, sắp là bao giờ]

Tôi không thể ngồi yên

Để đời sau cháu con tôi làm người

Cội nguồn ở đâu?

Khi thế giới nay đã không còn Việt Nam

[Nói bậy, bao giờ thì không còn Việt Nam? Việt Nam đã tồn tại trên 4 ngàn năm,

Đã chiến thắng các cường quốc như Tàu, Pháp và Mỹ, và nay là một nước

Độc lập, thống nhất được cả thế giới công nhận, có mốc biên giới phân định

ranh giới giữa Tàu và Việt Nam]

Những tiếng hát ngu si, vô trí, đoán mò, sỉ nhục quốc gia như vậy mà người ta cũng hồ hởi ca tụng và ký thỉnh nguyện thư để xin quan trên can thiệp cho Việt Khang bị bắt vì tội nói láo thì không hiểu đầu óc của những người này thuộc loại nào.  Có vẻ như bất cứ cái gì nói xấu về chính quyền, nói xấu về quốc gia dân tộc là tập thể phi dân tộc cũng hồ hởi lên tiếng tung hô, ủng hộ, bất kể phải trái, bất kể đúng sai.

Đọc những lời chống đối Nguyễn Ngọc Ngạn, tôi không hiểu họ đang sống ở Mỹ, Pháp, Đức, Gia Nã Đại, hay ở Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm mà trong những nơi đây con người phải suy nghĩ và hành động theo sự chỉ đạo.  Sau đây chúng ta hãy đọc vài luận điểm của họ  để xem họ thuộc lớp người nào.  Tôi không để tên tác giả vì thấy không cần thiết.

  •    NNN nói ông Sĩ “là một bầu show chuyên nghiệp”. Việc ông tham gia tổ chức những chương trình từ thiện không có nghĩa là ông có tinh thần quốc gia, lại càng không thể chứng tỏ rằng ông có tinh thần chống cộng.

   [Vậy thì sao ! Tại sao ông Sĩ lại phải có tinh thần quốc gia hay tinh thần chống Cộng nếu ông ta không muốn.]

  •    Một người có tinh thần Quốc Gia , không ai có thể vui mừng tổ chức Đại nhạc hội vào ngày tang đất nước.Dù cho có là người vô cảm đi nữa, cũng phải biết ngày 30/4 đối với cọng đồng tỵ nạn là ngày không thể nào vui.

[Thế nào là tinh thần quốc gia?  Đệ nhất hay đệ nhị Cộng Hòa?  Tinh thần đó như thế nào?  Đối với cộng đồng tỵ nạn?  Cộng đồng tỵ nạn nào? Tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn kinh tế? Thành phần ở những lớp tuổi nào.  Bao nhiêu phần trăm sinh sau 1975, và sinh ở ngoại quốc.  CS làm gì họ mà họ phải tỵ nạn.  Cái gọi là Cộng đồng tỵ nạn ngày nay chỉ còn lại một thiểu số già nua, một thế hệ khác đã trưởng thành và hầu hết thế hệ trẻ này không coi mình là người tỵ nạn, trừ khi bị các bậc cha mẹ làm ô nhiễm đầu óc để tiếp nối sự thù hận.  Ai có tư cách để nói thay cho cộng đồng tỵ nạn?  Xin đừng lấy cảm tính của mình làm cảm tính của cả cộng đồng]

  •    Tại sao các ca nhạc sĩ không dành ngày thứ hai 30.4 này để tham gia biểu tình quốc hận tại các nước Âu Châu rồi sau đó sẽ trình diển tiếp vào ngày 1.5 ? Làm như vậy thì đây là một chứng minh hùng hồn nhất rằng họ coi trọng ngày quốc hận, đứng chung chiến tuyến với người VN quốc gia tại Đức chống cộng sản.

   [Câu hỏi ngớ ngẩn.  Tại vì họ không muốn bị người khác sai khiến làm theo ý của người khác.  Họ có quan niệm riêng và suy tư riêng.  Tại sao họ phải chứng minh hùng hồn (sic) rằng họ “coi trọng” (sic) ngày “quốc hận” (sic).  Mặt khác người VN quốc gia ở Đức chống cộng sản có đủ tư cách và có đáng để cho họ đứng chung chiến tuyến không?]

  •     Khi ông và những ca sĩ của Trung tâm Thúy Nga Paris chọn trình diễn trong ngày 30.04 tức là quý vị đã bước sang chiến tuyến khác. Chiến tuyến khác, tức là đã đứng về phía nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

   [Cái chiến tuyến đó nó nằm trong đầu của các ông chứ không nằm trong đầu của chúng tôi.  Không có một lý do nào để ông nhét cái chiến tuyến đó vào đầu chúng tôi.  Lực lượng của các ông ở phía bên này chiến tuyến là bao nhiêu.  Biểu tình, kiến nghị, thỉnh nguyện thư, chụp mũ, xuyên tạc, văn phong chửi rủa thô tục, hay “không trong sáng” (theo Nguyễn Ngọc Ngạn), đó là tất cả những gì các ông có thể làm được. Chúng tôi có quan niệm riêng, có suy tư riêng và hiểu biết hơn, không có bổn phận phải nghe theo bất cứ ý kiến nào của người khác. Vậy tại sao chúng tôi phải đứng về phía chiến tuyến của các ông. Các ông là những ai, tư cách ra sao, khả năng như thế nào và tại sao chúng tôi phải đứng về phía chiến tuyến của các ông, nếu thực sự có một cái gọi là “chiến tuyến”. Các ông có hiểu được như vậy không.  Ông đang ở nước Mỹ, Pháp, Đức, hay đang đóng vai Chúa Sơn Lâm ở trong rừng?]

  •    Bao nhiêu năm qua, cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã bảo-bọc, nuôi nấng ông cùng Trung tâm Thúy Nga, cho dù có những giai đoạn quý vị gặp khó khăn kinh tế, nhưng không vì lẽ đó lại đi hợp tác với kẻ thù, bỏ đi sự bảo-bọc nuôi nấng của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Như thế có còn đúng với ý nghĩa câu nói bên trên hay không?

[Ông nói bậy. Lại là cộng đồng, cộng đồng hải ngoại là số người đi xem PBN hay mua DVD PBN? Trình diễn văn nghệ là một thương vụ.  Chúng tôi bán hàng, ông thích thì mua, không thích thì thôi, có ai bắt buộc ông đâu.  Chẳng có ai bắt ông phải mua hàng của chúng tôi.  Đối với tôi, Thúy Nga Paris có cho không vé tôi cũng không đi coi, vì những thứ đó không thuộc sở thích của tôi.  Ông bỏ tiền ra để mua vui cho chính ông chứ đâu có phải ông muốn bao-bọc cho ai]

Trên đây là vài luận điệu chống NNN điển hình.  Đại cương thì đa số những luận điệu chống đối đều thuộc loại như vậy cả. Huênh hoang nhân danh cộng đồng, nhân danh cả nước v..v.. NNN đã nói rất đúng trong video.  Họ tự trói buộc mình trong những gì mà họ cho là liên hệ đến CS.  Đây không phải là chống đối mà chỉ là mặc cảm.  37 năm qua, sống trong những đất nước văn minh tự do nhất thế giới mà vẫn chưa hiểu thế nào là tự do, là quyền suy tư cá nhân v…v của người khác.

 

Vài Quan Điểm Của Giới Trẻ:

“Các bác” chống NNN hăng say như vậy nhưng có cảm thấy ngượng, nếu trong đầu còn một số thần kinh biết ngượng, với đám trẻ thuộc hàng con cháu của mình khi đọc những hàng chữ sau đây: 

  • Ông MC này lại bị bà con phàn nàn chuyện đi show 30-04-2012 ở Berlin

Xin lổi nha CC thì sao ngày đó là ngày người buồn thì cứ đi kiếm rượu uống hay chửi VC.

Tại sao người ta đi kiếm tiền lại phản đối, tui thiệt hết biết CC theo kiểu gì đây!

Tại VN kìa có bao nhiêu trò vui giải trí nhân ngày 30/04 sao không vận động thân nhân họ ở nhà tẩy chay 30/04 đi.

  • Ông ghét là cá nhân ông ghét, không ảnh hưởng gì tới chuyện show bên Berlin, người tổ chức show ở Berlin cho người ở Berlin coi, ông ở chổ khác thích thì bay qua đó coi, không thích thì ở nhà leo lên net chửi tẩy chay v.v.. Xứ tự do mà ông?

 

  • KD [Kỳ Duyên] chỉ thắc mắc… ngày 30 tháng 4 là ngày thứ hai thì mọi người Việt Hải Ngoại (ở Mỹ, Canada, Úc…trừ Âu Châu vì đó là ngày lễ) trong mọi ngành nghề đều phải đi, ĐƯỢC đi làm, duy có nghệ sĩ và bầu show là không được đi làm?

Hay là các bạn thử gọi vào sở sáng thứ hai nói với ông chủ là mình không đi làm được vì đó là ngày 30/4 coi ông ta nói làm sao? Ồ…nhưng thôi nhỡ ông ta không cho nghỉ, các bạn đành phải lấy ngày “vacation day off” thì “Các Bác” lại mắng là mình đang ăn mừng!

Có nghĩa là đi làm cũng không được mà nghỉ làm cũng không xong với “Các Bác”? Biết làm thế nào đây? Ủa mà “Các Bác” này là ai mà mình phải sợ dữ vậy?

  • Nếu mà phải đào sâu thêm vào cái biến cố 30/4 thì ngay tại nước Mỹ cũng sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh hiềm khích giữa những người VN đi bằng tàu đến được bến bờ tự do và những người được đi máy bay qua đoàn tụ với gia đình một cách nhanh chóng hạnh phúc.

Sự chênh lệch và không cộng bình rất hiển nhiên trong cái xã hội mà chúng ta đang sống đây, làm sao có thể tránh được, làm sao bắt buộc tất cả mọi người phải suy nghĩ giống nhau hay đồng quan điểm như nhau được vì hoàn cảnh của họ khác mình.

    Về Video Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn:

Thường thường thì khi xem hay đọc một cái gì đó, chúng ta có thể rút tỉa ra những gì mà chúng ta  có thể học và dùng trong đời.  Thí dụ, trong những truyện chưởng của Kim Dung, Cổ Long hay xem những phim lịch sử chúng ta cũng có thể học được nhiều triết lý trong đó.  Đó là khuynh hướng đọc sách và xem phim của tôi.

Đọc những luận điệu chống NNN chúng ta học được những gì?  Có nên học sự thù hận phản ánh những cảm tính cá nhân bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, trong khi đọc câu kết trong cuốn truyện Cửu Nguyệt Ưng Phi của Cổ Long điều mà chúng ta có thể học được là:  “Nếu một người vẫn không thể quên thù hận, há chẳng ngu xuẩn lắm sao?”

Nhưng trong video Hoàng Anh phỏng vấn Nguyễn Ngọc Ngạn chúng ta có thể học được vài điều hữu ích. 

Trước lời than phiền của Hoàng Anh là giới trẻ phải đọc những lời công kích thô tục trên Internet, NNN đã khuyên “các Bác” đại khái là:  Những lớp người nhiều tuổi hãy nhìn lại chính mình.  Hãy nghĩ đến con cái.  Mình dạy chúng không được ăn nói thô tục mà chính mình lại phát ra những lời đó thì làm sao có được sự kính trọng của con cái mình.  Và NNN cho rằng những người như vậy cần phải biết ngượng với chính mình.  NNN cũng đưa ra một nhận xét là một số người chỉ đánh giặc hình thức và giặc đây là chúng ta đã tạo ra trong cộng đồng của chúng ta chứ không ở đâu khác.  NNN nói đúng, đây là một sự kiện khiến cho nhiều người không cảm thấy thoải mái vì mình ở trong một cộng đồng có những thành phần như vậy.  NNN cho rằng những người chụp mũ, xuyên tạc, dùng lời lẽ thô tục chỉ là những kẻ bất chính trong cộng đồng và ông khuyên hãy bỏ đi những chửi bới, nặc danh, có giận thì nuốt giận, không đồng ý thì đối thoại với nhau, không nên làm gương xấu cho giới trẻ.  Ông nói là những hoạt động của ông, những lời phê bình của ông đối với những tệ đoan tham nhũng lạm quyền ở trong nước chỉ có mục đích là muốn cho nước Việt Nam tiến lên ngang bằng với những văn minh tiến bộ trên thế giới và con người khá hơn.  Cá nhân tôi rất đồng ý với NNN, vì ai mà không muốn như vậy?

Vài Suy Tư Cá Nhân:

Tùy theo tâm tư cá nhân, ngày 30/4 có nhiều tên khác nhau.  Đối với một số người thì đó là ngày “quốc hận” hay ngày “mất nước” hay ngày “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam”, ngày “cả nước để tang”.  Đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam thì đó là ngày “Thống nhất đất nước”, vì đây là một sự kiện lịch sử bất khả phủ bác. 

80 tuổi đầu mà tôi vẫn không hiểu “quốc” với “nước” của họ là nước nào, và Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam như thế nào.  Đồng minh, đúng ra là ông Chủ chi tiền, tháo chạy và chúng ta chạy theo, Việt Cộng tiến như đi vào chỗ không người, hoàn thành mục đích thống nhất đất nước trong một thời gian kỷ lục, vậy “cưỡng chiếm” ở chỗ nào.  Miền Nam là một phần đất của Việt Nam, vì hoàn cảnh lịch sử nên tạm thời bị chia cắt, nhưng trước sau gì rồi đất nước cũng phải thống nhất.  Có vẻ như sự hiểu biết về lịch sử của họ là một con số không vĩ đại.  Ngày nay, dùng “cưỡng từ” để “đoạt lý” là chuyện của thời Trung Cổ hay thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức. 

Chúng ta hãy đọc vài ý kiến của giới trẻ trên kbchn.net:

longthanh – longk97@gmail.com – 27/04/2012 06:43

Ngày non sông liền một dải “vui sao nước mắt lại trào” mà gọi là tháng tư đen thì pó tay.Xin thưa với các vị tôi chỉ thấy 1 điều dù hiện nay trong nước có những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế ,vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Nhưng chưa bao giờ nước Việt Nam độc lập, tự do, người dân Việt Nam chưa bao giờ có niềm tin lạc quan về tương lai tươi sáng của dân tộc như ngày nay .Tôi biết chắc chắn rằng nếu VNCH mà lãnh đạo đất nước thì Việt Nam không bao giờ được như vậy.

tran hung – 27/04/2012 05:18

   Nhân đọc bài “ viết cho giới trẻ : ý nghĩa của ngày quốc hận 30/4 “ của cái gọi là GS có tên là Trần Thuỷ Tiên ( Không biết đàn ông hay bàn bà ) trên trang mạng của SMCĐ. Bài viết có đoạn như sau:

  “Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975.”

   Không biết cái gọi là giáo sư ấy là GS gì? Nên chăng nên đổi lại là Pháp sư Trần thuỷ Tiên. Chỉ có pháp sư là người có phù phép cao cường biến trắng thành đen , biến đúng thành sai và ngược lại. Một trí thức như vậy thì không có gì để nói. Xin mời các bạn bình luận giúp

Nguyễn Hoàng An – 27/04/2012 05:28

   Ui cái thứ GS gió bay ấy thì nói làm cái gì , 1 thằng đầu óc ngu dốt về chính trị lịch sử thì k nên nói chuyện với nó, nói như nước đổ đầu vịt thôi, cái thứ này k biết cái quái gì về CS hết, tui thách nó biết đc chủ nghĩa CS là như thế nào, XHCN là như thế nào đấy, với cái đầu óc dốt đặc như thế này thì còn lâu mới hiểu đc.

NNN nói lớp người lớn tuổi phải biết ngượng với con cháu mình.  Tuy tôi chẳng dính líu gì vào chuyện này nhưng cũng cảm thấy ngượng.  Ngượng vì chúng ta đã thua CS về quân sự, nay chúng ta lại thua về hiểu biết và đạo đức.

Tại sao sau 37 năm rồi mà chúng ta vẫn còn mang những quan niệm sai lầm về ngày 30/4?  Tại vì chúng ta tự giam mình trong hào quang của những ảo tưởng.  Ảo tưởng cho rằng chúng ta giỏi hơn, văn minh hơn, dân chủ hơn, nhân đạo hơn đối phương.  Ảo tưởng cho rằng CSVN gây ra cuộc chiến ở Việt Nam, làm tay sai cho Nga Tàu nên phải theo lệnh của Nga, Tàu.  Ảo tưởng cho rằng Pháp trở lại Việt Nam và Mỹ can thiệp vào VN vì VN là Cộng Sản.  Từ những ảo tưởng này đưa chúng ta đến những hành động sai lầm, và trong mấy chục năm nay, chúng ta tiếp tục dùng mọi thủ đoạn, từ bịa đặt cho đến xuyên tạc, từ những hành động hạ cấp phi dân chủ tự do cho đến khủng bố, vu khống để gây thù hận, với hi vọng là mọi người sẽ theo ý của chúng ta, chống Cộng đến người CS cuối cùng.  Nhưng kết quả như thế nào, chúng ta vẫn chưa tỉnh, tiếp tục sống trong sự mê sảng. 

Đối với những người Công giáo chống Cộng cho Chúa vì cho rằng CS vô thần, từ chối không chấp nhận Chúa, nên phải tiêu diệt đến người cuối cùng, thì không nói làm gì.  Nhưng chúng ta là đa số người Việt Nam không bị mê hoặc bởi cái bánh vẽ trên trời, còn có đầu óc thì chúng ta cũng nên dùng đến đầu óc để suy nghĩ và tìm hiểu sự thật, chứ không thể cứ mãi mãi sông trong ảo tưởng.

Có gì vô lý hơn khi người trong nước đã quên đi mối thù đối với kẻ thù chính, Pháp, Mỹ, và tái lập bang giao và giao thương với các nước này, để đưa nước nhà tiến lên, trong khi một thiểu số trong chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng sự thù hận và chống chính những đồng bào của chúng ta, cho rằng mọi người ở hải ngoại và ở trong nước phải tin vào những lời tuyên truyền sai sự thật của chúng ta:  Vì ngày 30/4 cho nên VN trở thành đói khổ nhất thế giới, không có tự do tôn giáo v…v… và thỉnh nguyện những quốc gia một thời đã tàn phá đất nước chúng ta phải xía vào những chuyện nội bộ của Việt Nam để cho một thiểu số chúng ta được hài lòng. Chẳng có ai có thể phủ nhận là ngày 30/4 đã gây cho một số người không nhỏ người Việt ở miền Nam những vết thương lòng.  Nhưng thay vì tìm hiểu để chữa lành vết thương thì chúng ta lại cứ làm chấn thương thêm vết thương đó.  Người Mỹ gọi là “add insult to injury”, nghĩa là làm cho tình trạng xấu xấu hơn.  Nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu về mọi khía cạnh của cuộc chiến thì vết thương của chúng ta đã lành từ lâu rồi. Và tôi đã tự chữa lành vết thương của tôi từ lâu rồi.  Ai nói là phải bỏ nhà, bỏ xe, bỏ địa vị, ra đi với tay không, mà lòng không bị thương.  Nhưng chữa lành như thế nào?  Qua sự hiểu biết.

Kết cục của cuộc chiến vào ngày 30/4 đã đưa đến cho tôi một thắc mắc và ấm ức trong vài năm đầu sống ở Mỹ sau 1975.  Thắc mắc và ấm ức đó là:

Tại sao chúng ta lại thua?

“Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay chiến đấu, về B52 để trải thảm bom từ trên thượng tầng không khí, xe tăng, tàu chiến, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng], và cuối cùng, Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam?  Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng phe Quốc Gia của chúng ta có vấn đề về chính nghĩa, về chủ quyền?  Phải chăng quân dân miền Nam không tích cực chống Cộng?  Hay phải chăng yếu tố quyết định là truyền thống yêu nước của  người dân Việt Nam?  Thực ra thì Quốc Gia và Cộng sản bên nào có Chính Nghĩa? Bên nào hợp lòng dân và được dân ủng hộ? Nếu không được người dân miền Nam ủng hộ và che chở, Bắc Việt có thắng được không?  Ý chí và khả năng chiến đấu của binh sĩ hai bên ra sao?  Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo dân chính cũng như quân sự?  Và còn những gì gì nữa?” 

Những thắc mắc trên cứ ám ảnh đầu óc tôi, cho nên sau vài năm, khi việc làm và đời sống kinh tế gia đình đã ổn định, tôi đã để thì giờ tìm hiểu, và đọc rất nhiều sách viết về cuộc chiến ở Việt Nam, phần lớn là sách Mỹ, sách Pháp, mà tôi tin rằng các tác giả không tự trói buộc mình trong sự phân biệt Quốc-Cộng ở Việt Nam.  Phần lớn họ là những học giả, giáo sư đại học, những viên chức cao cấp trong chính quyền và trong Quân lực Mỹ, và những tác phẩm của  họ, xuất bản nhiều năm sau khi chiến tranh đã chấm dứt, chỉ là những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh trong lãnh vực học thuật.

Ngày nay, lịch sử đã rõ ràng.  Với những kiến thức đúng về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ,  cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng, xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, bất kể là Việt Nam có phải là Cộng sản hay không, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của đế quốc Mỹ. Ngày 14 tháng 8, 1945, Tổng Thống Pháp De Gaulle bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để “cắm lại lá cờ tam tài của chúng ta ở đó” (y replanter notre drapeau).  Và Mỹ đã giúp hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này

Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của MỹĐây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái Quốc-Cộng của người Việt Nam.  Chúng ta thường cho rằng Mỹ can thiệp vào Việt Nam để giúp chúng ta chống Cộng, thực thi tự do dân chủ trên đất nước..  Sự thực không phải vậy, đó chỉ là một chiêu bài.  Sự thật là, Mỹ tự ban cho mình quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của mình, nghĩa là, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lý của kẻ mạnh để gây ảnh hưởng và nhất là cho những mục đích kinh tế.  Theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam.  Mỹ đã can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Dominican Republic, Philippines, Thailand v..v..  Và ngày nay, Mỹ đã xuất cảng tự do dân chủ sang Iraq, Afghanistan, Syria, Libya v…v… với hậu thuẫn của máy bay tàng hình, của bom đạn, trong đó có cả “bom áp nhiệt” mà một nữ khoa học gia Việt Nam của chúng ta đã có công lớn góp phần chế tạo để tạ ơn nước Mỹ.

Thật vậy, trong thời điểm đó, hơn 1/4 thế giới theo Cộng Sản.  Cuba ở ngay sát nách Mỹ là Cộng Sản, toàn thể Đông Âu theo Cộng Sản, và hai Cộng Sản gộc là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống ở những nơi đó  mà lại đi chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi, tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy hại nào cho Mỹ?  Chúng ta đừng quên là Mỹ đã giúp 80% chiến phí cho Pháp để Pháp tái lập nền đô hộ Việt Nam. Và chúng ta cũng đừng quên là ngay sau đệ nhị Thế Chiến, TT Eisenhower đã hỏi Tưởng Giới Thạch là có muốn Đông Dương không, trong đó có Việt Nam, làm như Việt Nam là một sản vật của Mỹ, Mỹ muốn cho ai thì cho.  Nhưng với kinh nghiệm lịch sử, Tưởng Giới Thạch đã từ chối.

Bởi vậy cho nên Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Stanford, viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri  (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967), trang 79:

Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, thì ở những nơi khác chúng ta lại sống chung với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư.  Ở những nơi khác, chúng ta rõ ràng quyết định là sống chung hòa bình với Cộng Sản, và khuyến khích những xã hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối Cộng sản.

(It is ironic that at precisely the moment we are saying that we must “halt communism” in Vietnam, we are coming to terms with it elsewhere, working out new treaty agreements with Russia, extending trade in Eastern Europe, giving support to Tito in Yougoslavia.  Elsewhere, we have clearly decide to coexist with communism, and to encourage independent Communist societies that will be increasingly free of the need for alliance with one another.)

Mục sư Brown nhận định không sai.  Ngày 4 tháng 11, 1956, xe tăng Nga tiến vào Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, một sự xâm lăng trắng trợn để dẹp một chính quyền Cộng Sản ngỏ ý cho dân được bầu cử tự do.  Mỹ chỉ can thiệp bằng miệng, dùng đài phát thanh VOA khuyến khích dân Hung chống trả, hứa suông là sẽ đem quân vào can thiệp, rồi án binh bất động.  Việt Nam không có quân xâm lăng từ ngoài vào.  Vậy tại sao lại là Việt Nam?

   Cho nên, những lý do Mỹ viện ra để can thiệp vào Việt Nam không chính đáng.  Giáo sư Mortimer T. Cohen viết trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979, trang 208:

Trong 21 năm bị lôi cuốn  vào Đông Dương, Chính Phủ Mỹ đã đưa ra những “lý do” về những hành động của mình.  Những lý do này vô giá trị.  Lý do duy nhất mà Mỹ vào Đông Dương là để ngăn chận vùng này khỏi rơi vào tay Cộng Sản bằng một cuộc bầu cử, một cuộc cách mạng nội bộ…  Và đó cũng đủ là lý do.

Thêm nhiều lý do.  Và thêm nhiều lý do nữa.  Chúng mọc lên như măng tháng 5.  Trước khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, những lý do có thể chứa đầy một cuốn sách.  Không lý do nào có giá trị.

(During the course of its 21 years of involvement in Indochina, the United States Government offfered “reasons” for its actions.  These reasons were worthless.  The only reason for the American being in Indochina was to prevent the area from going Communist by an election, by an internal revolution… And this was reason enough…

More reasons.  And more reasons.  They sprouted like asparagus in May.  Before the Indochina War came to an end, a book could have filled with reasons.  None of them were valid.)

Vậy thì, thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là gì?  Phải chăng đó là để giúp Nam Việt Nam chống Cộng (tại sao phải chống ở Việt Nam?) hay chỉ là một cuộc xâm lăng ngụy trang đàng sau chiêu bài giúp Nam Việt Nam để có tự do dân chủ.  9 năm dưới chế độ Ngô Đình Diệm có tự do dân chủ không?  Ngày nay, chúng ta có thể đọc vài tài liệu về thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, do chính người Mỹ viết, và viết sau khi chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt từ lâu.

Sau đây là vài đoạn điển hình trong cuốn The Pentagon Papers, tài liệu của Ngũ Giác Đài, hiển nhiên không phải thuộc loại phản chiến hay thiên Cộng:

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, tình báo Mỹ ước tính trong thập niên 1950 là chiến tranh phát khởi phần lớn là do sự nổi dậy ở miền Nam để chống chế độ tham nhũng và càng ngày càng đàn áp dân chúng của Ngô Đình Diệm .

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói về những năm 1956-1959, khi mà cuộc nổi dậy bắt đầu, hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí là những người Việt miền Nam và những nguyên nhân họ chiến đấu không có cách nào có thể bảo đó là do kế hoạch tính toán trước ở Bắc Việt.

Chỉ có rất ít bằng chứng là Bắc Việt đã chỉ đạo, hoặc có khả năng để chỉ đạo, những sự bạo động ở miền Nam (3 tháng cuối 1957: 75 viên chức địa phương bị ám sát.  Ngày 22 tháng 10, 1957, 13 người Mỹ bị thương trong 3 cuộc nổ bom ở Saigon)

Từ năm 1954 đến năm 1958 Bắc Việt tập trung vào sự phát triển nội bộ, hiển nhiên là hi vọng vào một cuộc thống nhất đất nước hoặc qua cuộc bầu cử theo như Hiệp Định Genève hoặc là kết quả của sự sụp đổ đương nhiên của chế độ Diệm yếu ớt.  Cộng sản để lại ở miền Nam một bộ phận nòng cốt khi họ đi tập kết ra Bắc năm 1954 sau cuộc chiến với Pháp chấm dứt, nhưng những cán bộ được lệnh chỉ được “tranh đấu chính trị[để sửa soạn kiếm phiếu trong cuộc bầu cử mà Bắc Việt hi vọng, và điều này không vi phạm hiệp định Genève].

Tháng 5, 1959, các nhà lãnh đạo Bắc Việt quyết định nắm quyền cuộc nổi dậy càng ngày càng lớn mạnh ở miền Nam. [Vì hi vọng thống nhất đất nước bằng hòa bình qua một cuộc Tổng Tuyển Cử không thể thực hiện do sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam]

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, cả tình báo Mỹ và các tù binh Việt Cộng đều cho sự thành công nhanh chóng của Việt Cộng sau 1959 là do những sai lầm của Diệm.

Tài liệu Ngũ Giác Đài mô tả trạng thái tâm lý của Ngô Đình Diệm như là của một “Đại Phán Quan Tây Ban Nha).

(American Intelligence estimates during the 1950s show, The Pentagon account says, that the war began largely as a rebellion in the South against the increasingly oppressive and corrupt regime of Ngo Dinh Diem.

“Most of those who took up arms were South Vietnamese and the causes for which they fought were by no means contrived in North Vietnam,” the Pentagon account says of the years from 1956 to 1959, when the insurgency began.

There is only sparse evidence that North Vietnam was directing, or was capable of directing, that violence (Last quarter of 1957: 75 local assassinated or kidnapped.  On October 22, 1957, 13 Americans were wounded in three bombings in Saigon)

From 1954 to 1958 North Vietnam concentrated on its internal development, apparently hoping to achieve reunification either through the election provided for in the Geneva settlement or through the natural collapse of the weak Diem regime.  The Communist left behind a skeletal apparatus in the South when they regrouped to North Vietnam in 1954 after the war with the French ended, but the cadre members were ordered to engage only in “political struggle.”

North Vietnam’s leaders formally decided in May, 1959, to take control of the growing insurgency.

The Pentagon account says that both American intelligence and Vietcong prisoners attributed the Vietcong’s rapid success after 1959 to the Diem’s mistakes.

Diem’s mentality is described in the account as like that of a “Spanish Inquisitor”.)

Đến đây, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu chút ít là chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm những gì để cho người dân miền Nam phải nổi dậy chống đối, và như chúng ta đã biết, không phải là chủ trương của Bắc Việt cho đến năm 1959.  Đây không phải là chỗ đi vào chi tiết những hành động khủng khiếp của chính quyền Diệm đối với người dân, các đảng phái, và tôn giáo khác.  Quý độc giả nào muốn biết rõ hơn thì có thể tham khảo nhiều cuốn sách hiện hữu ngày nay bằng tiếng Anh, tiếng pháp, hoặc hai cuốn “9 Năm Máu Lửa Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm” của Nguyệt Đam và Thần Phong và “Đảng Cần Lao” của Chu Bằng Lĩnh.  Ở đây, tôi chỉ đưa ra vài nét chính qua những nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 240, 41, 61:

Diệm là một người Công Giáo thuộc thời Trung Cổ – ông ta đúng, mọi người khác đều sai.  Chân lý (Phúc Âm) có quyền ưu tiên, những sự sai lầm không có.  Và, biết rõ bản chất bất ổn định của quyền cai trị của ông ta, ông ta bị ám ảnh bởi ý tưởng là người nào phê bình bất cứ điều gì về chế độ của ông ta cũng là những kẻ thù thâm căn cố đế.

Ông ta là thánh Dominique (Người được Giáo Hội Công Giáo giao cho nhiệm vụ phát động những Tòa Án Xử Dị Giáo (The Inquisition) trong thời Trung Cổ).

Tháng 5 1955, ông ta mở chiến dịch Tố Cộng.  Hiệp Định Genève đặc biệt cấm không được trả thù chính trị.

Do đó, Diệm đã khởi sự những sự thù nghịch.  Chính hắn, bằng chính sách tấn công tiêu diệt Việt Minh, đã khởi sự cuộc chiến ở miền Nam.  Và chúng ta cần nhấn mạnh là, hắn ta hành động như vậy không phải là để trả đũa bất cứ sự khiêu khích nào của Việt Minh, nhưng từ sự thúc đẩy là phải tiêu diệt Cộng đỏ – tinh thần của một tên Công Giáo thời Trung Cổ đi săn lùng kẻ lạc đạo…

(Diem was a medieval Catholic – he was right, the others were wrong.  Truth has privileges, error đoes not have.  And, well aware of the precarious nature of his rule, he was obsessed with the idea that all who criticized anything about his regime were inveterated enemies.

He was St. Dominick.

June of ’55 he opened an “Anti-Communist Denunciation Program”.  The Geneva Accord specifically forbade political reprisals.

Thus, Diem began the hostilities.  It was he, who by his assault on the Vietminh, began the fighting in the South.  And, it must be emphasized, that he did this not in response in any Vietminh provocations, but out of his compulsion to exterminate the Reds – the spirit of the Medieval Catholic heretic-hunter.)

Phê bình chiến dịch Tố Cộng với những kết quả khủng khiếp của nó qua một vài con số trích dẫn mà tôi không muốn kê ra ở đây, Avro Manhattan viết trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, 1984, trang 99, như sau:

Đằng sau cái bề mặt (Tố Cộng), mục tiêu thực của nó là Công Giáo hóa quốc gia.  Sự đàn áp của Công Giáo ở Nam Việt Nam không phải là sự tác động của một cá nhân cuồng tín, hay của một nhóm cá nhân thí dụ như ba anh em của Diệm, hiến thân cho chính sách Công Giáo hóa một nước Phật Giáo.  Nó là phó sản của một chính sách dài hạn đã được tính toán cẩn thận, nhận thức và đẩy mạnh bởi những bộ óc mà những mục tiêu căn bản là bằng mọi giá, bành trướng một tôn giáo mà họ tin chắc rằng là một tôn giáo chân thật duy nhất trên thế giới.

Người gây cảm hứng chính và theo đuổi chính sách này, như chúng ta đã thấy, là Giáo Hoàng Pius XII.  Chính sách đó hoàn toàn hợp điệu với chiến lược toàn cầu của ông ta, nhắm tới hai mục tiêu căn bản: tiêu diệt Cộng Sản, và bành trướng Giáo Hội Công Giáo.

[Behind its facade its real objective was the Catholicization of the Country.  The Catholic repression of South Vietnam was not the work of a fanatical individual, or a group of individuals, like the three Diem brothers, dedicated to the Catholicization of a Buddhist country.  It was the by-product of a well calculated long range policy conceived and promoted by minds whose basic objectives were the expansion at all costs, of a religion which they were convinced was the only true religion on earth.

The main inspirer and prosecutor of such a policy, as we have seen, was Pope Pius XII.  Such policy was totally consonant with his globl strategy, directed at two fundamental objectives: the destruction of Communism, and the expansion of the Catholic Church.]

    Chúng ta biết rằng, sở dĩ Diệm được đưa về Việt Nam là do lệnh của Giáo hoàng Pius XII cho Francis Spellman và do vận động của Hồng y Spellman với chính trường Mỹ chứ không phải là vì tài đức của Diệm. Ở Việt Nam rất ít người biết đến Diệm, Lansdale phải thuê một số người đi đón Diệm khi Diệm được đưa về nước. Mỹ là nước theo Ki Tô Giáo, vào thời đó, trên 70% theo Tin Lành và Tin Lành chưa có gì ở Việt Nam nên Mỹ dùng Diệm để từ đó Mỹ có thể bành trướng đạo Tin Lành của mình như lịch sử đã chứng minh.  Tin Lành chỉ phát triển ở Việt Nam từ thời Diệm và tuy rằng Công giáo đối nghịch với Tin lành nhưng Diệm không thể làm gì vì Tin Lành là Mỹ, và Tin Lành không phải là một lực lượng đối đầu được với Công Giáo ở Việt Nam.  Do đó sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam bản chất là một cuộc xâm lăng có mưu tính.

Có lẽ không có gì rõ ràng hơn là đoạn sau đây của Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ..

Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ.  Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và  những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ.  Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.

Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ  là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.

Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm,  sự xâm lăng của Mỹ.

(There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.

In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American.  In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest.  A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war.  To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war  do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “agression from the North”.  In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.]

Tại sao Daniel Ellsberg lại có thể viết như vậy. Không phải vì Ellsberg phản chiến mà vì Ellsberg là viên chức trong chính quyền Mỹ, đã từng đọc được những tài liệu mật nhất của Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến ở Việt Nam.  Chính ông là người đã tiết lộ Tài Liệu Ngũ Giác Đài.  Và ông viết đoạn trên năm 2002 chứ không phải là trong thời kỳ “phản chiến” sôi nổi trên đất Mỹ.  Nếu chúng ta đã đọc một số những sách viết về cuộc chiến Việt Nam, viết sau 1975, của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy rằng đa số đồng ý với Daniel Ellsberg về điểm này.

Sau đây là một tài liệu khác về bản chất của cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm.  Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), John Carlos Rowe and Rick Berg viết, trang 28-29:

Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện.  Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam.  Số tử vong vào khoảng nửa triệu.  Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. 

 Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ.

 Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.”  Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam.  Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương.

(As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..

It is worth recalling a few facts.  The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam.  The death toll was about half a million.  When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined. 

In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting.  The US maintained that it was invited in, but as the  London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.”  The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam.  In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Qua sự phân tích những sự kiện lịch sử và qua một số tài liệu đã dẫn chứng ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, theo truyền thống chống xâm lăng của người dân Việt, ngày 30 tháng 4 tất nhiên phải đến, trước sau gì, không có ngày 30/4 này rồi cũng có ngày 30/4 khác, vì đó là niềm khao khát nếu không phải của toàn dân thì cũng của đa số người dân.. Bất kể là Tàu, hay Nga, hay Mỹ có muốn Việt Nam thống nhất hay không, điều này không quan trọng, người Việt Nam muốn và đã thực hiện được, thế là đủ.  Đối với những người còn mang nặng  trên vai cuộc xung đột Quốc – Cộng trong quá khứ, và còn muốn tiếp tục cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, thì họ chỉ có thể nhìn thấy khía cạnh tiêu cực của ngày 30/4/75, vì thế chúng ta mới thấy xuất hiện những từ như “mất nước”, “Quốc Hận”, hay “cưỡng chiếm”.  Nhưng nhìn vào khía cạnh tích cực của ngày 30/4/75, chúng ta cần phải nhìn vào ngày đó như nó thực sự là như vậy (To see it as it really is). 

Cuộc chiến vô lý mà một nước nhỏ bé như Việt Nam bắt buộc phải gánh chịu ngoài ý muốn đã giáng trên đất nước Việt Nam những tổn thất về nhân mạng và vật chất như thế nào.  Chúng ta hãy đọc vài con số thống kê, chắc chắn không đầy đủ:

Theo tài liệu trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble, Inc., New York, 2005, trang 358, để cho chúng ta có thể nghĩ lại và hiểu rõ hơn bộ mặt thật của cuộc chiến:

–         Mỹ:  Chết 57702; bị thương 313616, cộng với hơn 1000 chết không phải do chiến trận.

–         Nam Việt Nam:  Chết 185528; bị thương 499026.

–         Bắc Việt:  Chết 924048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

–         Cả hai miền:  415000 thường dân chết; 936000 bị thương.

–         Nam Hàn:  Chết 1107.

–         Thái Lan:  Chết 350.

–         Úc và New Zealand: Chết 475.

–         8 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cambod, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần

tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

–         Viện trợ của Nga Sô Viết và Trung Cộng cho Bắc Việt ước tính khoảng 3 tỷ Mỹ Kim.

–         Mỹ đã tiêu ở Việt Nam khoảng 300 tỷ Mỹ Kim (viện trợ và quân phí).

Ngoài ra, Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76.954.806 lít hóa chất trong đó có 49.268.937 lít chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam, Giao Điểm 2005, trang 52).  Tác hại lâu dài của các loại hóa chất, nhất là chất độc Da Cam, trên môi sinh và con người Việt Nam vô tội, kéo dài cho đến tận ngày nay,  là một sự kiện không ai có thể phủ nhận. 

Nhìn vào những con số trên, chúng ta cảm thấy thế nào, khi biết rằng không phải là Việt Cộng là Cộng sản, hay Việt Cộng gây chiến, mà là do Mỹ can thiệp vào Việt Nam, đưa Công giáo Ngô Đình Diệm về Việt Nam, không thi hành Hiệp Định Geneva 1954, toan tính Công giáo hóa miền Nam, lập miền Nam như là một chư hầu của Mỹ.  Nhìn vào cuộc chiến, “Việt nam hóa” chiến tranh có nghĩa gì, phải chăng Ellsberg đã nói đúng: từ đầu đến cuối, đó là cuộc chiến của Mỹ.  Và khi đồng minh tháo chạy, cúp viện trợ thì miền Nam sụp đổ.  Sự thực đau lòng của lịch sử là ở chỗ đó.  Tại sao chúng ta không nhìn thấy.  Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục nhìn vào ngày 30/4 một cách biến dạng qua một lăng kính để rồi có những tư tưởng thái độ không thích hợp với sự thực lịch sử?

Chúng ta hãy quên đi sự thù hận một chiều và nhìn vào khía cạnh tích cực của ngày 30/4.  Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược.  Một khía cạnh tích cực khác của ngày 30/4/1975 là nó mở đầu cho một cuộc di dân vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.  Qua nhiều năm, hơn hai triệu người, đi chính thức cũng như vượt biên, hiện đang sống ở nước ngoài.  Sau một thời gian khó khăn trong việc hòa nhập vào một xã hội mới, sau khi đã ổn định được đời sống qua công ăn việc làm, đa số người Việt lưu vong không từ bỏ quê hương, dù rằng có một số tên đầu bò hô hào không về Việt Nam, không gửi tiền về Việt Nam, không mua hàng Việt Nam v…v….  Như là một nghịch lý, khối người Việt lưu vong cũng đã đóng góp không ít cho quốc gia dân tộc, và đã giúp cho chế độ bên nhà bền vững, một chế độ mà một số hội đoàn, tổ chức hữu danh vô thực, kể cả thế lực đen và tổ chức lãnh tiền của NED Mỹ để chống phá Việt Nam, thường hô hào cần phải lật đổ, giải thể, hay cất lên tiếng kêu vô vọng: “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”.. (SH: Lời Giáo Hoàng John Paul 2)  mà không bao giờ nhìn thấy đất nước ngày nay đã phát triển như thế nào, đời sống của người dân đã cải tiến ra sao, số lượng khách ngoại quốc du lịch Việt Nam là bao nhiêu, và số lượng người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương là như thế nào. Từ 1986, số tiền người Việt lưu vong gửi về mỗi năm không ít, và ngày nay mỗi năm có mấy trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, mang về mỗi năm trên dưới 7,8 tỷ đô la, và không phải là không có những chuyên gia mang những kiến thức mới về Việt Nam hay những nhà doanh nghiệp về làm ăn ở Việt Nam.  Danh sách 300 trí thức cấp cao mà một số người thiếu đầu óc cho là “nằm vùng” là một chứng minh. Đất nước đã mở mang phát triển về nhiều mặt tuy chính quyền còn nhiều điều bất cập.  Tệ nạn tham nhũng, lạm quyền và địa phương không tuân theo trung ương, giáo dục xuống cấp v..v.. là những vấn đề cần phải giải quyết, nhưng cần thời gian, không thể một sớm một chiều có thể thực hiện được.  Nhưng không ai có thể phủ nhận là, qua thời gian, chính quyền Việt Nam đã cải tiến rất nhiều, và tôi hi vọng chính quyền tiếp tục đặt nặng nỗ lực trên vấn đề cải tiến xã hội, mở mang dân trí, và coi dân là trọng.

Hi vọng những hiểu biết, qua những công cuộc nghiên cứu lịch sử ở trên, có thể phần nào đóng góp cho việc tìm hiểu những vấn đề nhức nhối giữa những khối người Việt có chính kiến khác nhau về cuộc chiến tranh trên ba mươi năm trước, những vấn đề nhức nhối đáng lẽ không nên có.

Trong Tứ Vô Lượng Tâm, có vẻ như hạnh “xả” là một hạnh khó khăn nhất đối với những người hành đạo cũng như không hành đạo. Dĩ vãng đã qua.  Theo tôi, sống với dĩ vãng, dù là dĩ vãng của sự vinh quang hay dĩ vãng của hận thù, chẳng qua cũng chỉ là tự mình làm khổ mình mà thôi.  Khổ một nỗi, có vẻ như con người lại cứ thích tự mình làm khổ mình, không quên được sự vinh quang của dĩ vãng, phần lớn là do thời thế tạo nên chứ chẳng phải do tài cán gì, hay không dứt bỏ được hận thù của dĩ vãng, không những thế, còn nuôi dưỡng hận thù, lao đầu vào nghiệp vụ đi buôn hận thù, và truyền lại hận thù cho thế hệ sau.  Thật là tội nghiệp cho đám trẻ nếu bị các bậc cha mẹ truyền lại mối hận thù của đời họ. 

 

 

Trần Chung Ngọc

Grayslake, Ilinois

http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5306

 

THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II – Trần Chung Ngọc

THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II

 

Ngày 10 tháng 5, 1984

Bangkok, Thái Lan

 Thưa Ngài,

    Đất nước này mà Ngài sẽ đến, quỳ xuống và hôn nó, là đất nước Phật Giáo, một đất nước mà nền độc lập của nó đã được những tổ tiên người Thái bảo vệ với mạng sống của mình, một đất nước chưa từng bị lấy làm thuộc địa.  Ngay cả trong thời đại mà những thế lực thực dân Tây phương toan tính chiếm nó làm thuộc địa, quần chúng đã đoàn kết xung quanh Vua của họ và đã có thể bảo toàn được sự tự do của đất nước và Thái Lan đã không trở thành thuộc địa của những giống người hiếu chiến tự nhận là văn minh.

   Đất nước này là đất nước của hòa bình và an sinh.  Dưới ảnh hưởng của giáo lý Phật Giáo, đất nước này chưa từng biết đến một cuộc “chiến tranh tôn giáo” nào dưới bất cứ hình thức nào, chưa từng làm đổ một giọt máu để bảo toàn quốc giáo.  Điều này không thể có với các tôn giáo khác.

   Đức Phật đã truyền bá giáo lý của Người bằng những phương tiện hòa bình.  Người dạy các đệ tử phải dùng thiện để thắng ác, thể hiện lòng từ bi đối với những người đang đau khổ trên thế giới và chỉ cho họ con đường chân thật để diệt khổ.

    Mọi đệ tử của Phật, với lòng từ bi và không mong ước một ân thưởng nào, đều vững tin là nhiệm vụ của mình là mang ánh sáng đến cho con người,  dạy họ con đường thoát khổ và đạt chân hạnh phúc, nghĩa là Niết Bàn.  Ra lệnh của các tôn giáo khác cho các nhà truyền giáo tiến lên và cải đạo các quốc gia vào đức tin của mình chưa bao giờ là động cơ thúc đẩy các nhà truyền giáo Phật Giáo.

   Chúng tôi, các Phật tử, vững tin là Phật Giáo thật thanh khiết.  Phật giáo có đầy những lý lẽ thách đố những người có đầu óc.  Phật giáo không cần đến tuyên truyền hay lùa bất cứ ai vào niềm tin của Phật giáo để tăng thêm số tín đồ như là một tôn giáo nào đó thường thèm khát tín đồ.

   Vì những lý do này, người dân Thái mà đất nước này là của họ đã bảo đảm tự do cho mọi tôn giáo và sự thuyết giảng giáo lý của tôn giáo.  Sự tự do lớn lao này đã có từ triều đại của Đại Đế Narai, khi mà các thừa sai đầu tiên đến Thái trong sự bao che của triều đình.

   Khi Giê-su Ki Tô dạy các đệ tử “Nếu ai tát các con má này thì hãy đưa nốt má kia ra”, ông ta đã cổ vũ sự sử dụng phương tiện hòa bình.  Lẽ dĩ nhiên điều này phải được áp dụng trong sự truyền bá đạo của Ngài.

    Thật là đáng tiếc, ở đây, những tín đồ của Giê-su Ki-Tô, bằng những hành vi bất xứng, đã luôn luôn phản bội lời dạy tuyệt tác trên.  Họ đã xảo quyệt nhận vơ những niềm tin, cách hành đạo, và lễ tiết của Phật Giáo là những niềm tin và hành đạo của Ki Tô Giáo.  Họ đã cố ý và trắng trợn xuyên tạc những nguyên lý của Phật Pháp và chê bai Tam Bảo bằng cách nhận vơ là Tứ Diệu Đế và Lý Duyên Khởi của Đức Phật là được Thiên Chúa của họ mạc khải cho, do đó Đức Phật chỉ là một nhà tiên tri hay nô lệ của Thiên Chúa, được huấn thị để sửa soạn những người dân Á Đông vào Ki Tô Giáo hay sửa soạn con đường để cho con người theo Giê-su.

   Tôi không nghĩ là hành động vô đạo đức này lại bắt nguồn từ chính sách Đối Thoại và Truyền Giáo của Công Đồng Vatican II vì nó không được thân thiện cho sự sống chung hòa bình giữa các tôn giáo.  Tôi hiểu rằng Ngài không biết đến cũng như không muốn tình trạng này xảy ra.

    Cùng sống với nhau như là bạn hay để có hòa bình thực sự trên thế giới, cần phải có sự lương thiện và thành thực hỗ tương, chứ không phải là đạo đức giả.

    Đất nước hòa bình này không muốn bất cứ ai, bất kể họ là người nào, miệng thì nói hòa bình nhưng những hành động thì lại làm nhơ bẩn dấu vết của nụ hôn trên đó.

 

 

OPEN LETTER TO POPE JOHN PAUL II

 Bangkok, Thailand

10 May, 1984

 Your Holiness,

      This land which Your Holiness will kneel down and kiss on your arrival is a Buddhist land, a land whose independence our Thai ancestors have defended with their lives, a land which has never been colonized.  Even during the time when the Western colonialists sought to take her as their possession, the people centred about their King were able to preserve her freedom and she did not become a colony of those war-thirsty races who called themselves civilized.  

     This land is a land of peace and well-being.  Under the influence of the ancient Buddhist teaching she never known a “religious war” in any form, has never spilled a drop of blood to preserve the national religion.  The same cannot be said to other religions.

     The Lord Buddha spread his teaching by peaceful means.  He taught his disciples to overcome evil by good, to show mercy and kindness to the suffering citizens of the world and he tried to show them the true way to relieve suffering.

      Every disciple of the Buddha, with loving kindness and without hope of reward, holds it to be his duty to bring light to people, to teach the way to end suffering and achieve true happiness or Nirvana.  The injunction of the teachers of  other religions to go forth and convert the nations of the world to their faith never motivated the teachers of Buddhism.

     We, Buddhists, firmly believe that Buddhism is pure.  It is full of reasons which are challenging to people with common sense.  It does not need propaganda or luring anybody to believe in it in order to increase the number of followers as practised in certain religion which is craving for followers.

     For these reasons, the Thai people to whom this land belongs have given the greatest freedom to all religions and to the teaching of religion.  This great freedom has endured since the reign of King Narai the Great when the firsts missionaries came under royal protection.

   When Jesus Christ taught his disciples “If anyone strikes on the right cheek, turn to him the other also”. he was exhorting the use of peaceful means.  Surely this must apply to the propagation of your religion.

     It is regrettable that, here, followers of Jesus Christ by improper conduct have continually betrayed this excellent teaching.  They have artfully claimed the beliefs, practices and ceremonies of Buddhism as Christian beliefs and practices.  They have clearly and intentionally distorted the principles of the Dhamma and denigrated the Triple Gem by falsely claiming that Lord Buddha’s Four Noble Truths and the Dependent Origination were revealed by the Christian God of whom the Lord Buddha was merely a prophet or slave who had been instructed to prepare the peoples of the Orient for Christianity or to prepare the way for Jesus who was to follow.

     I would not like to think that this immoral action stems from the Dialogue and Mission policy of the Vatican Council II because it is inimical to the peaceful co-existence of religions.  I understand that Your Holiness is neither aware of nor desires this state of affairs.

     To live together as friends or to have true peace in the world, there must be mutual honesty and sincerity, not hypocrisy.

     This land of peace does not want anyone, whoever he be, whose mouth talks of peace but whose actions are otherwise to sully the mark of the kiss.

 

Sathienpong Wannapok

 

*   *   *

 

   Phân tích tài liệu trên chúng ta có thể biết được vài điều về lịch sử và rút kinh nghiệm cho Việt Nam.

 

   Trước hết, Thái Lan bảo toàn được độc lập và tự do của đất nước là vì người dân đã đoàn kết xung quanh Vua của họ và đã thành công trong việc chống lại mưu toan thuộc địa hóa Thái Lan của các thế lực thực dân hiếu chiến Tây phương. 

   Trông người lại nghĩ đến ta, trong bài Thiên Hạ Đại Thế Luận, tên tay sai đắc lực của Pháp là Nguyễn Trường Tộ đã xuyên tạc lịch sử, hù dọa vua quan ta bằng lời tâng bốc các nước phương Tây sai sự thực lịch sử “Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ …Xiêm La (Thái Lan)… Cao Ly (Hàn quốc), Nhật Bản, Trung Quốc….”, và những tài liệu lịch sử ngày nay đã chứng tỏ một sự kiện bất khả phủ bác là “Không có sự tiếp tay và phản bội của giáo dân Việt Nam thì nước Pháp không thể chiếm được Việt Nam làm thuộc địa.”Thật vậy, chính giám mục Puginier đã nói rõ hơn ai hết vai trò phản quốc của giáo dân Việt Nam như sau, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques của  Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:

 

   “Giám Mục Puginier viết rằng: “Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.  Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.  Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào  tình trạng không  thể hoạt động  được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng.  Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại.”

   (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.  La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force.  En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d’ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l’impossibilité d’agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.  Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

 

   Đây là một vết nhơ không bao giờ có thể rửa sạch trên khuôn mặt của giáo hội Ca Tô hoàn vũ nói chung, giáo hội Ca Tô Việt Nam nói riêng.  Vì lời thú nhận của giám mục Puginier ở trên đã vạch trần vai trò gián điệp thực dân của các thừa sai Tây phương và vai trò phản quốc của giáo dân Việt Nam trên đất nước Việt Nam. [Độc giả có thể đọc thêm nhiều chi tiết về sự hỗ trợ quân xâm lăng Pháp của giáo dân Việt Nam trong những cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của Cao Huy Thuần; Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897) của Nguyễn Xuân Thọ; Thập Giá Và Lưỡi Gươm của Linh Mục Trần Tam Tĩnh; The Vietnam Response To French Intervention: 1862-1874 của Mark W. McLeod; Vietnam’s Will To Live của Helen Lamb; Catholic Imperialism Against The Asiatic Continent của Avro Manhattan; French Catholic Missionaries And The Politics Of Imperialism In Vietnam, 1874-1914 của Patrick J. N. Tuck; Annam-Tonkin 1885-1896 của Charles Fourniaux v..v..].

    Cũng như lịch sử đen tối của Ca Tô Giáo Rô Ma vẫn muôn đời tồn tại trong lịch sử loài người dù gần đây giáo hoàng đã công khai xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội, lịch sử ô nhục của giáo dân Việt Nam tiếp tay với thực dân Pháp để đưa đất nước vào vòng thuộc địa của Pháp cũng sẽ muôn đời tồn tại trong lịch sử Việt Nam, bất kể là giáo hội Ca Tô Việt Nam có xưng tội với với nhân dân Việt Nam hay không.  Nếu giáo hoàng John XXIII đã thú nhận dấu ấn của Cain đã in đậm trên trán của giáo hội sau vụ Hitler, một tín đồ Ca Tô, giết 6 triệu người Do Thái, thì chúng ta có thể nói dấu ấn của Cain cũng đã in trên trán của giáo hội Ca Tô Việt Nam mà không sợ sai lầm. 

 

   Thứ đến, qua vài đoạn văn ngắn ngủi mô tả đức tính hòa bình và khoan nhượng của Phật Giáo, Tỳ kheo Sathienpong Wannapok đã chứng tỏ là những sắc thái này đối ngược với

với lịch sử đẫm máu và ô nhục của Ca Tô Giáo trong sách lược truyền đạo.  Tuy Ngài không viết thẳng ra nhưng một độc giả có đôi chút kiến thức về lịch sử tàn bạo của Ca Tô Giáo Rô Ma đều hiểu Ngài muốn viết gì qua lối hành văn đối chiếu, nêu lên những trái ngược giữa hai tôn giáo.  Trong thư ngỏ gửi giáo hoàng mà Ngài viết “Phật Giáo chưa hề làm đổ một giọt máu để truyền đạo” hay “Phật Giáo không hề có một cuộc chiến tranh tôn giáo nào” hay “Phật giáo không cần phải tuyên truyền hay lùa thêm tín đồ vào Phật giáo” v..v.. thì chúng ta phải hiểu là Ngài muốn nhắc lại cho Giáo hoàng là “đạo của ông đã làm đổ rất nhiều máu trong khi truyền đạo”, “đạo của ông đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo” , và “đạo của ông chỉ  muốn kiếm thêm tín đồ bằng tuyên truyền và những thủ đoạn bất chính” v..v..  Nhắc để làm gì?  Để chứng tỏ là bản chất của đạo Ca Tô là như vậy, ông không thể che dấu được ai trong thời đại này, và với lòng từ bi của một Tỳ Kheo thì đó là với hi vọng có thể khai sáng, chuyển hóa tâm tư của giáo hoàng để cho Giáo hoàng có thể trở thành lương thiện hơn trong sách lược truyền đạo của Vatican.  Câu cuối cùng trong thư ngỏ nói thẳng là nụ hôn của giáo hoàng trên đất Thái chỉ làm nhơ bẩn đất nước Thái ra mà thôi.

 

   Trong thư ngỏ, Tỳ kheo Sathienpong Wannapok chỉ nhắc sơ vài luận điệu thần học ma giáo của Ca Tô Giáo với mục đích xuyên tạc và hạ thấp Phật Giáo.  Trong bài Nhận Định Bản Tông Huấn ở trên, tác giả Ngô Triệu Lịch đã phân tích kỹ những luận điệu ma giáo đó.  Ở đây, tôi chỉ phân tích đoạn văn trong thư ngỏ:

 

   Họ đã cố ý và trắng trợn xuyên tạc những nguyên lý của Phật Pháp và chê bai Tam Bảo bằng cách nhận vơ là Tứ Diệu Đế và Lý Duyên Khởi của Đức Phật là được Thiên Chúa của họ mạc khải cho, do đó Đức Phật chỉ là một nhà tiên tri hay nô lệ của Thiên Chúa, được huấn thị để sửa soạn những người dân Á Đông vào Ki Tô Giáo hay sửa soạn con đường để cho con người theo Giê-su.

  

    Luận điệu “Đức Phật chỉ là một tiên tri (Ca Tô giáo dùng từ “Ngôn sứ”) được Thiên Chúa mạc khải v..v..”  chỉ có thể lừa bịp được những đầu óc kém hiểu biết.  Đối với giới trí thức có đôi chút hiểu biết về Ki Tô Giáo và Phật Giáo thì đó là một luận điệu hoang đường, lố bịch và ấu trĩ chưa từng thấy.  Chứng minh? 

 

   Thứ nhất, một trong 10 danh hiệu của Đức Phật là “Thiên Nhân Sư”, nghĩa là bậc Thầy của Thiên Chúa và con người.  Trong xã hội loài người có cả trăm Thiên Chúa khác nhau.  Thiên Chúa của Ki Tô Giáo chỉ là một trong số hàng trăm Thiên Chúa này. [Xin đọc The History of God của Karen Armstrong; A World Full of Gods của Keith Hopkins; In God We Trust: But Which One? của Judith Hayes; Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus của William Harwood; The Dark Side of God của Douglas Lockhart v..v..]

  

   Nếu Đức Phật đã được tôn là bậc Thầy của các Thiên Chúa thì không thể nào lại là “ngôn sứ” của một Thiên Chúa, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.  Ắt hẳn sẽ có người cho rằng sự tôn vinh Đức Phật như trên là của các Phật tử ca tụng giáo chủ của mình, cũng như tín đồ của các tôn giáo khác tôn vinh giáo chủ của họ, chứ không phải là sự thật.  Không hẳn vậy.  Vì chúng ta có thể thấy rõ vấn đề khi chúng ta đọc những lời Phật dạy trong ba tạng Kinh Luật Luận của Phật Giáo và những lời của Thiên Chúa Ki Tô Giáo trong Cựu Ước.  Chúng ta thấy gì?  Suốt trong ba tạng Kinh Luật Luận của Phật Giáo chúng ta chỉ thấy những giáo lý, từ dễ hiểu cho tới cao siêu, với mục đích hướng dẫn con người hướng thiện và hướng thượng để đạt tới giải thoát cho chính mình.  Chúng ta không hề thấy một lời nói ác độc, một chuyện dâm ô, loạn luân, hay một chuyện giết người tàn bạo nào.  Trái lại trong Cựu Ước, theo niềm tin Ki Tô Giáo thì đó là những lời mạc khải  của Thiên Chúa Ki Tô Giáo, quá nửa là những chuyện giết người tàn bạo, ác độc, trả thù, dâm ô, loạn luân nhiều khi thủ phạm  lại chính là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.  Vậy bằng cách nào mà một Thiên Chúa tàn bạo, ác độc, khát máu, vô đạo đức  như được mô tả trong Cựu Ước lại có thể mạc khải cho một bậc từ bi như Đức Phật mà giáo lý của Người, chúng ta đã biết, hoàn toàn trái ngược với những lời mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh?  Cho nên, danh hiệu “Thiên Nhân Sư” của Đức Phật hoàn toàn đúng, vì bậc Thầy như Đức Phật là bậc đạo đức cao cả, trí tuệ thông suốt, để cho chúng sinh lấy đó làm tấm gương soi vào để noi theo.  Còn Thiên Chúa của Ki Tô giáo chỉ là đối tượng của một đức tin không cần biết không cần hiểu, cho nên bản chất không khác gì thần hà bá, thần cây đa, thần bình vôi v..v.. Nhưng chúng ta nên hiểu rằng, bậc Thầy dạy giáo lý, đạo đức v..v.. là một chuyện, mà chúng sinh, gồm có Thiên Chúa và con người, có theo được những lời dạy của Đức Phật hay không lại là chuyện khác.  Tất cả đều tùy thuộc căn trí và duyên của Thiên Chúa cũng như của con người. 

 

   Đối với những nhà truyền giáo nói lên luận điệu thần học ma giáo để hạ thấp Đức Phật như trên, chúng ta chỉ cần đặt trước mặt họ cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo và bất cứ cuốn Kinh Phật nào rồi bảo họ hãy giải thích sự trái ngược về luân lý và đạo đức chứa trong hai cuốn sách trên, và hãy so sánh tư cách, trí tuệ của Đức Phật với tư cách và trí tuệ của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. 

   Mặt khác, chúng ta không nên quên, cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll,  Ingersoll The Magnificent (Lewis, p. 110) đã đưa ra nhận định sau đây về Ki Tô Giáo và Thiên Chúa của họ:

 

   “Nếu Ki Tô Giáo chỉ ngu đần và phản khoa học, nếu Thượng Đế của Ki Tô Giáo chỉ dốt nát và có lòng tốt, nếu Ki Tô Giáo hứa hẹn cho các tín đồ một sự hỉ lạc vĩnh hằng, và nếu các tín đồ thực hành hạnh tha thứ mà Ki Tô giáo răn dạy, thì tôi là người chẳng đụng gì đến tín ngưỡng của họ.

   Nhưng Ki Tô Giáo còn có một mặt khác.  Tôn giáo này không chỉ ngu đần mà còn lắt léo, không chỉ phản khoa học mà còn vô nhân tính.  Thượng đế của tôn giáo này không chỉ dốt nát mà còn vô cùng ác độc.  Tôn giáo này không chỉ  hứa hẹn cho tín đồ một phần thưởng vĩnh hằng mà còn khẳng định rằng hầu hết mọi người (không phải là tín đồ. TCN) đều bị giam cầm trong những tòa hình ngục của Thượng đế và sẽ bị vĩnh viễn đau đớn.  Đó là sự man rợ của Ki Tô Giáo.”

   (If Christianity were only stupid and unscientific, if its god was ignorant  and  kind, if it promised eternal joy to believers, and if the believers practiced the forgiveness they teach, for one I should let the faith alone.

    But there is another side to Christianity.  It is not only stupid, but malicious.  It is  not only unscientific,  but  it is heartless.  Its god is not only  ignorant,  but  infinitely cruel.  It not only promises the faithful an eternal reward, but declares that nearly all of the children of men, imprisoned in the dungeons of god will suffer eternal pain.  This is the savagery of Christianity.)

 

   Vậy chúng ta hãy tự hỏi, một Thiên Chúa như vậy có thể nào lại là đấng “mạc khải” cho Đức Phật, một vĩ nhân của nhân loại mà tư cách và đạo đức đã được cả thế giới tôn sùng, khoan nói đến chuyện vượt xa Thiên Chúa cũng như Giê-su trong Thánh Kinh, và một tôn giáo như Ki Tô Giáo có đáng để cho chúng ta chui đầu vào làm nô lệ cho một đám người gian manh, vô cùng bất lương trong sách lược truyền đạo?

 

    Thứ nhì, mọi luận điệu thần học của Ca Tô Giáo dùng để truyền đạo đều dựa trên một giả định (assumption) là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo hiện hữu.  Họ đưa ra lý luận là “Nếu không ai chứng minh được Thiên Chúa của họ không hiện hữu tất nhiên Thiên Chúa của họ phải hiện hữu”.  Lý luận này ngớ ngẩn vì việc chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa là việc của những người tin rằng có Thiên Chúa.  Tôi không tin có Thiên Chúa thì việc gì tôi phải chứng minh là không có Thiên Chúa.  Nếu ông muốn tôi tin là có Thiên Chúa thì hãy chứng minh cho tôi là Thiên Chúa thực sự hiện hữu.  Điều này chưa có một nhà thần học nào hay một chức sắc Ki Tô Giáo nào làm được và họ chỉ có thể dạy những người trong óc thiếu neuron là hãy cứ tin vào những điều không đáng tin.  Trong một phần trên, tôi đã đưa ra vài tài liệu cập nhật nhất của giới trí thức Tây phương về nền thần học Ki Tô Giáo: đó là một nền thần học không có chủ đề, những nhà thần học không biết là mình nói cái gì, và John Remsburg đã cho rằng “Đối với giới trí thức, nền thần học Ki Tô Giáo trên thực tế đã chết”.  Thật vậy, tất cả những luận cứ thần học của Ki Tô Giáo để biện minh cho sự hiện hữu của một Thiên Chúa sáng tạo như được viết trong Thánh Kinh ngày nay đã bị phủ bác dứt khoát.  Chúng ta có thể kể những luận cứ thần học về Bản Thể (Ontological argument) của Anselm, Thomas Aquinas, René Descartes; về vũ trụ (Cosmological argument) của Thomas Aquinas; về Cứu Cánh (Teleological argument hay Design argument) của William Paley; về đạo đức (Moral argument) của Hastings Rashdall v..v.. Tất cả những luận cứ thần học trên đã không còn chỗ đứng trong giới trí thức Tây phương và sự hiện hữu của một Thiên Chúa của Ki Tô Giáo chỉ còn sót lại trong những đầu óc không đội trời chung với khoa học, triết lý, và lý trí. 

   Kết luận, luận cứ thần học của Ca Tô Giáo trong mưu toan hạ thấp Đức Phật xuống hàng ngôn sứ của Thiên Chúa là một luận cứ lố bịch, lừa bịp những kẻ ngu dốt, có thể xếp vào loại những luận cứ ma giáo của Ca Tô Giáo, không có một căn bản thuyết phục nào.

 

   Thứ ba, nói rằng giáo lý của Đức Phật là để sửa soạn cho dân Á Châu tiếp nhận vai trò cứu rỗi của Giê-su, đấng cứu thế, là nói càn, nói ẩu, thuộc loại “cưỡng từ, đoạt lý”.  Vì đạo Phật là đạo của trí tuệ.  Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama đã bác bỏ dứt khoát mọi sự tin nhảm nhí, tin bướng tin càn, tin mà không hiểu, tin mà không thể chứng nghiệm vào chính bản thân ngay khi còn sống.  Trái lại, đạo Giê-su là đạo của đức tin, tin mà không cần biết không cần hiểu, như ông trí thức Ca Tô Đỗ Mạnh Tri đã khẳng định trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng.  Đạo Giê-su là đạo dựa trên một tín lý ác ôn, vô nghĩa và hoang đường: “Ai tin Giê-su thì sẽ được Giê su cứu rỗi, lẽ dĩ nhiên sau khi chết, cho lên thiên đường (mù), còn ai không tin sẽ bị đày hỏa ngục (ma) vĩnh viễn”.  Vậy theo lý luận thần học của Ki Tô Giáo, Đức Phật sửa soạn cho dân Á Châu đi giật lùi, đi từ lý trí xuống phi lý trí, đi từ tự tu tự chứng xuống hàng tin bướng tin càn hay sao?  Điều này không thể có được và người con Phật không bao giờ chấp nhận chiều hướng tụt hậu, làm mất phẩm giá con người, đi giật lùi này.

 

    Thật ra, những luận điệu thần học ma giáo ở trên chỉ là sản phẩm diễn giải lắt léo của những đầu óc bệnh hoạn, cuồng tín, hạ căn chứ không hề có xuất xứ từ Thánh Kinh.  Không ai có thể tìm thấy trong Thánh Kinh bất cứ một chi tiết nào nói về sự mạc khải của Thiên Chúa, nếu thực sự có một Thiên Chúa, cho Đức Phật.  Nhưng vấn đề ở đây là những luận điệu thần học lắt léo ma giáo đó chỉ có thể lừa bịp được đám dân ít học chứ chúng vô dụng đối với những người có đôi chút hiểu biết.  Mặt khác, nếu chúng ta nghiên cứu kỹ về Ki Tô Giáo thì chúng ta sẽ thấy không có gì là của Ki Tô Giáo cả, tất cả chỉ là vay mượn, bắt chước, xào xáo những niềm tin hay giáo lý đã có trong dân gian làm của riêng cho Ki Tô Giáo.  Chúng ta hãy đọc tài liệu sau đây của Linh Mục Kirati Boonchua, giáo sư triết tại đại học Chulalongkorn, Thái Lan:

 

Niềm Hãnh Diện Của Ki Tô Giáo:

Sao Chép Và Mô Phỏng

 

   “Cho đến bây giờ (1985), không ai thật sự biết đúng ngày sinh và ngày chết của Giê-su.  Tất cả chỉ là đoán mò. [Ngô Triệu Lịch đã gọi nền thần học Ki Tô Giáo là nền thần học đoán mò].  Ngày sinh vào 25 tháng 12 là lấy của người La Mã.  Người La mã ăn mừng ngày sinh của Thần Mặt Trời vào ngày 25 tháng 12.  [Thật ra, dây không phải là ngày lễ riêng của dân La Mã mà là ngày mà nhiều nơi trong dân gian cổ xưa ăn mừng ngày bắt đầu lại dài ra sau một mùa Đông mà họ thấy ngày cứ ngắn dần và lo sợ không còn ánh sáng mặt trời nữa].  Ki Tô Giáo không có cái gì là của mình cả.  Ki Tô Giáo chỉ có thể sao chép và mô phỏng các tôn giáo khác.  Điều này có đáng xấu hổ không?  Tại sao Ki Tô Giáo lại phải xấu hổ?..

   Hơn nữa, Giê-su cũng không có một hệ thống giáo lý của chính mình.  Giê-su mô phỏng những điều trong Cựu Ước.  Giê-su không thiết lập một hệ thống triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức cho Ki Tô Giáo.  Do đó, Ki Tô Giáo không hề có một hệ thống triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức của Ki Tô Giáo để có thể phô trương trước các tôn giáo khác.  Chưa bao giờ có được một cái gì thực sự là của chính mình, đó là điều duy nhất mà Ki Tô Giáo có thể phô trương.  Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, hân hoan chấp nhận là triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức của chúng ta ngày nay đều là sao chép và mô phỏng từ ngôn ngữ và văn hóa của những miền đất mà Ki Tô Giáo nảy nở trong đó.  Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, là những chuyên gia về kỹ thuật xảo trá…”

The Proud of Christianity: Borrowing and Imitation

   …Up to now, no one actually knows the exact dateof birth and date of death of Jesus Christ.  Everything is merely the matter of guess.  Christmas on 25 December was borrowed from Roman.  Roman celebrated the Birth of Sun God on 25 December.  Christianity possesses nothing of its own.  Christianity can only borro and imitate others.  Is it shameful?  Why Christianity have to shame?..

   Moreover, Jesus Christ also had no own syatem of teaching.  Jesus imitated those of the Old Testament… Jesus did not establish philosophical syatem, school of art and official language for Christianity.  Therefore, Christianity possesses no Christian philosophy, art and official language in order to show to others.  Never having any authentic thing of its own is the only thing Catholics can show off..  We, Catholics, delightfully accept that our present philosophy, art and official language are borroed and imitated from the language and culture of the lands where Christianity has grown.  We, Catholics, are experts in manipulation..

   (Lecture of Father Kirati Boonchua, Professor of philosophy at the Faculty of Arts, Chulalongkorn University) in “Life Review” a Catholic program in Bangkok, broadcasting on 8 December 1985)

 

   Linh mục Kirati Boonchua nói thật hay nói chơi?  Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Bản Tin số 10 (Bulletin No 10, pp. 25-27) của Vatican:

 

    “Trong những xứ Phật Giáo, để khoác bộ áo văn hóa bản địa, giáo hội có thể và phải lấy những điều hay trong truyền thống Phật giáo và biến đổi chúng, cho chúng một ý nghĩa của Ki Tô Giáo để có thể áp dụng chúng vào đời sống của những tín đồ của Ki-Tô.”

   (In the Buddhist countries, in order to make its own cultural garnment, the Church can and must take on the good elements of the Buddhist tradition and transform them giving them a Christian meaning so as to adapt them to the life of the followers of Christ.)

 

   Lấy cái hay của người khác để dùng cho mình là điều ai cũng nên làm.  Nhưng dùng kỹ xảo biến đổi nó đi và nhận là của mình thì đó là trò ăn cắp ma giáo, bất lương trí thức, và chỉ có một tôn giáo như Ca Tô Giáo mới có thể làm như vậy trong suốt chiều dài lịch sử  của tôn giáo này.  Một thí dụ điển hình của trò ma giáo này nằm trong Bản Tin số 10 trên:

 

    “Toàn thể Phật Giáo đặt căn bản trên Tứ Diệu Đế: Khổ, Nguồn gốc của Khổ, Diệt Khổ và Thoát Khổ (Khổ,Tập, Diệt, Đạo).  Tại sao sự truyền bá Phúc âm của Ki-Tô không thể cũng được thâu tóm trong bốn chân lý trên?  Sự khổ chân thật của con người là tội.  Giê-su đến để giải thoát con người khỏi khổ –tội. “

    (The whole of Buddhism is based on the four thuths: sorrow, the cause of sorrow, the destruction of sorrow and liberation from sorrow.  Why could not the spreading of the Gospel of Christ be summed up also in these four truths?  The true sorrow of Man is sin.  Jesus came to liberate Man from sorrow-sin.)

 

   Chúng ta thấy ngay thủ đoạn xảo trá và bất lương của Ca Tô Giáo Rô Ma trong đoạn trên:  xuyên tạc ý nghĩa của  Tứ Diệu Đế, nghĩa là bốn chân lý chân thật của Phật Giáo, và biến đổi chúng thành ra hai điều mê tín hoang đường cho người Ca Tô.  Bốn chân lý cao thượng của Phật Giáo có tính phổ quát mà mọi người chúng ta có thể chiêm nghiệm hàng ngày.  Trong bài đầu, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Tiến sĩ Phật học, đã vạch trần sự xuyên tạc của Mục sư Tống Tuyền Thịnh về ý nghĩa của “Khổ” trong Phật  Giáo.  Quan niệm về “Khổ” trong Phật Giáo không dính dáng gì đến cái gọi là “Tội” của Ki Tô Giáo, nhất lại là cái tội tổ tông hoang đường của Ki Tô Giáo mà một Giê-su hoang đường đã chuộc tội một cách hoang đường, trèo lên cây thập giá để cho người ta đóng đinh.  Còn nếu tội là tội thế gian như giáo hoàng loạn luân, linh mục hiếp dâm, nữ tu hành hạ trẻ em v..v.. trong lịch sử Ca Tô Giáo thì nếu Giê-su đến để giải thoát, nếu một người chết cách đây đã 2000 năm thực sự có thể giải thoát những tội đó cho những người sống, cho tín đồ những tội đó thì ai muốn tin cứ việc tin.  Riêng tôi, tôi không thể chấp nhận cái luận điệu quái gở, vô đạo đức đó.

  

    Với những sách lược và thủ đoạn ma giáo nằm trong những Bản Tin của Vatican mà tôi đã trích dẫn một phần nhỏ ở trên, nay chúng ta đã hiểu tại sao những Bản Tin của Vatican lại được lệnh phải giữ “mật, không được nêu xuất xứ, và không được phổ biến cho báo chí.”

 

*

*     *

 

VÀI LỜI KẾT

 

    Ngày nay,  Ki Tô Giáo, dựa vào thế lực của các cường quốc  Âu Mỹ, và nấp sau những chiêu bài như “đối thọai”, “hòa hợp tôn giáo”, “tự do dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo” để thúc đẩy chương trình bành trướng cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú.  Không còn mấy giá trị đối với giới trí thức hiểu biết, mất dần ảnh hưởng trong những quốc gia văn minh tiến bộ, Ki Tô Giáo phải tìm đất sống ở những nơi tình trạng xã hội chưa ổn định, dân trí còn kém mở mang, và dân chúng còn nghèo khó, còn chịu nhiều bất công xã hội.  Á Châu là miếng mồi ngon nhất, thích hợp nhất, từ đó nền “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu” đã được đề xướng để thực hiện âm mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Ki Tô Giáo.  Âm mưu này có thành tựu hay không, tất cả tùy thuộc chính sách giáo dục và tôn giáo của các chính quyền địa phương ở Á Châu.

 

   Qua sự phân tích những chủ đề trong cuốn sách này,  chúng ta đã biết rõ thực chất của cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu” là như thế nào.  Đó chẳng qua chỉ là một tập hợp những thủ đoạn truyền đạo xảo quyệt, bất chính, bất lương trí thức của những tổ chức thế tục mang danh tôn giáo.  Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ trước những phản ứng của Á Châu để đối phó với sách lược Cải Đạo Á Châu của Ki Tô Giáo.

   Chúng ta đã biết ít nhiều về phản ứng của dân Thái Lan và Ấn Độ.  Chúng ta cũng đã biết, Trung Quốc, Đài Loan, Sri Lanka, và Việt Nam đã từ chối, không chấp thuận lời xin của giáo hoàng John Paul II tới viếng thăm tín đồ trong các quốc gia này mà ai cũng biết mục đích là khuyến khích sự cuồng tín của các tín đồ, ngầm xúi họ gây loạn và xáo trộn trong những xã hội này qua lời dạy “đừng sợ”.  Xin quý độc giả hãy tìm đọc cuốn Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập III, của Trần Văn Kha, mới xuất bản tháng 2, 2003, trong đó có bài phỏng vấn Bác Sĩ David Frawley, một cựu tín đồ Ca Tô, để biết về quan điểm rất chính xác của ông về thực chất sách lược cải đạo Á Châu của Ca Tô Giáo là như thế nào.

 

    Vấn đề của chúng ta ngày nay là phải xét xem giáo hội Ca Tô có thể làm được những gì với sách lược Cải Đạo Á Châu trong tương lai, và sách lược này có ảnh hưởng gì đến đất nước Việt Nam.  Sách lược của giáo hội Ca-Tô cũng như Tin Lành, chúng ta đã rõ, do đó chúng ta cần có những biện pháp đối phó.  Tại sao lại phải đối phó?  Bởi vì KiTô giáo chưa hề thay đổi trong sách lược truyền đạo, và sách lược này luôn luôn xúc phạm đến các tôn giáo và các nền văn hóa truyền thống địa phương, như chúng ta đã thấy trong những phần phân tích ở trên.  Ki Tô giáo không thể chấp nhận ý tưởng hòa hợp tôn giáo theo quan niệm đa tôn giáo bình đẳng trên thế giới.  Đây là một thái độ nguy hiểm, phương hại đến nền hòa bình thế giới.  Sau đây chúng ta hãy đi thẳng vào vấn đề.

 

   Một thủ đoạn trong sách lược Cải Đạo Á Châu, như chúng ta đã biết, là dùng chiêu bài “đối thoại” và “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” mà thực chất chỉ là những bình phong che đậy những âm mưu đen tối đàng sau.  Ngay từ Công Đồng Vatican II, Giám Mục Emile de Smedt, phát ngôn viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo, đã đưa ra khuyến cáo về chính sách “đối thoại”,  “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” chỉ có trên mặt văn tự của Vatican trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963 như sau:

 

   “Nhiều người phi-Ca-Tô đã nuôi sự thù ghét đối với giáo hội, hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt được mục đích bất kể đạo đức. TCN),  vì  đối với họ chúng ta  có vẻ như là khi ở thế thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải  được tự do tôn giáo  nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ cùng sự tự do tôn giáo đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.

   Tại sao lại nói đến đối thoại với các người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, giáo hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng tự do của những người phi-Ca-Tô.

   Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và với thẩm quyền rằng giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội phải dựa trên căn bản tự do tôn giáo, lên án sự bất khoan dung, bách hại và kỳ thị .”

   (Many non-Catholics harbor an aversion against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation and at the  same time  refuse  and deny the same religious freedom when Catholics are in the majority.

   Why speak about dialogue with other Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?

   Every ecumenical “move” of  the Catholic Church will be completely fruitless and devoid of any real meaning unless the Church states clearly and authoritatively  that it will respect the liberty of other believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.)

 

   Tuy nhiên, trong mấy chục năm qua, Vatican vẫn theo đuổi chính sách xâm lăng văn hóa và tôn giáo trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Á Châu và Phi Châu, qua những thủ đoạn không được lương thiện như đã được trình bày trong các phần trên.  Nhưng tà không bao giờ có thể thắng được chánh, cho nên dù với tiền rừng bạc bể, với những đám tín đồ bản địa cuồng tín, với những phương tiện truyền thông rồi rào, tất cả những kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Vatican cũng sẽ vô hiệu quả và trở thành hoàn toàn vô nghĩa, như giám mục Emile de Smedt đã báo động ở trên.

 

   Tuy những kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Ca Tô Giáo không có mấy hi vọng thành tựu, nhưng chúng ta không thể lơ là, coi thường những thủ đoạn của Giáo hội Ca Tô.  Chúng ta không thể áp dụng hạnh từ bi một cách sai lầm theo nghĩa chỉ biết tụng Kinh niệm Phật, ngồi hít vào thở ra, tìm sự an lạc cho riêng mình, và để mặc cho Ca Tô Giáo tự do hoành hành, nô lệ hóa đầu óc người dân Việt, kéo người dân Việt xuống hàng súc vật (con chiên).  Tinh thần Đại Thừa, Phật Giáo nhập thế ngày nay không cho phép chúng ta có thái độ như vậy khi chúng ta còn có nhiệm vụ đối với quốc gia dân tộc, nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và tôn giáo dân tộc, nghĩa là Phật Giáo.  Tôn giáo dân tộc nên hiểu là tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong một quốc gia chứ không phải là tôn giáo duy nhất được chính thức công nhận trong quốc gia đó.  Thí dụ, Ki Tô Giáo được coi là tôn giáo dân tộc của Mỹ tuy chỉ có khoảng 80% người Mỹ theo Ki Tô Giáo, trong đó có 25% là Ca Tô.  Tuy vậy trên khắp nước Mỹ chúng ta thấy đầy dẫy những khẩu hiệu như “In God We Trust” hay “God Bless America” v..v.. Do đó, ở Việt Nam, phổ biến những biểu tượng của Phật Giáo như Hoa Sen, Cờ Phật Giáo, Chuyển Pháp Luân v..v.. đều không có gì là trái với lẽ thông thường và không có nghĩa Phật Giáo là tôn giáo duy nhất ở Việt Nam.

   Từ là cho vui, và Bi là cứu khổ.  Khai sáng trí tuệ người dân, chuyển hóa để cho họ thấm nhuần giáo lý nhân bản, thiết thực, hòa bình, vị tha, vô thường, vô ngã v..v.. của Phật Giáo là mang niềm vui đến cho họ.  Cứu họ ra khỏi vô minh, mê tín dị đoan, xiềng xích trí tuệ, tinh thần nô lệ ngoại nhân v..v.., đó chính là cứu khổ.  Vì không hiểu ý nghĩa thực sự của từ bi nên những người Ca Tô thường lên án những ai viết ra những sự thực về Ca Tô Giáo là không áp dụng hạnh từ bi của Phật Giáo.  Họ muốn rằng họ được quyền xuyên tạc Phật Giáo, mạ lỵ Tăng đoàn, và khi ở vị thế cầm quyền, được tự do giết người ngoại đạo, cưỡng bức cải đạo họ như dưới thời Ngô Đình Diệm.  Ngược lại, họ muốn chúng ta phải áp dụng hạnh từ bi của Phật Giáo theo nghĩa họ muốn, nghĩa là không được viết ra những sự thật lịch sử hay những mánh mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ca Tô Giáo.  Họ muốn khi họ tát vào má này của chúng ta thì chúng ta phải đưa má kia ra cho họ tát tiếp, áp dụng lời dạy của Giê-su, một lời dạy mà thực chất là nuôi dưỡng sự bất công, và chính họ chưa bao giờ áp dụng.

 

    Sự nguy hại thật sự của kế hoạch Cải Đạo Á Châu của Ca Tô và Tin Lành là, do cái căn bản tự cho là một tôn giáo thiên khải và chỉ được thờ một Thần Ki Tô, và tin vào sự hứa hẹn của các nhà truyền đạo về một sự “cứu rỗi” của Giê-su, sách lược cải đạo có tính cách mê hoặc này cộng với sách lược hạ thấp, mạ lỵ các tôn giáo và nền văn hóa khác như vừa nêu ở trên, sẽ tạo nên một lớp người bản xứ vô não trở thành cuồng tín, tình nguyện làm nô lệ cho ngoại bang, sẵn sàng phản bội quốc gia để đổi lấy một cái bánh vẽ trên trời sau khi chết,  do đó không tránh khỏi đưa đến những cảnh xáo trộn trong xã hội, bất hòa trong những khối tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia yêu chuộng hòa bình, đang sống hòa hợp trong tình tương thân tương ái giữa những đồng bào ruột thịt.  Những điều này đã xảy ra ở Việt Nam từ khi các thừa sai Ca Tô đầu tiên xâm nhập Việt Nam để truyền đạo và tiếp tục xảy ra trong vài vùng cao nguyên, đã và đang xảy ra ở Ấn Độ, Thái Lan, ở Đông Timor, Nam Dương v..v…

 

   Là một người “ngọn Mỹ, gốc Việt”, tôi quan tâm đến Việt Nam, và sau đây là những nhận định của tôi về sách lược Cải Đạo Á Châu của Vatican trên đất nước Việt Nam.

    Dựa trên những sự kiện lịch sử trong quá khứ xa và gần, chúng ta có thể phần nào tiên đoán được sự thành công hay thất bại của sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Vatican tại Á Châu nói chung, Việt Nam nói riêng.  Tôi tin rằng sách lược cải đạo của Ca-Tô Giáo tại Việt Nam sẽ thất bại bởi những lý do sau đây.

  

 1).   Trở lại lịch sử, Ca Tô Giáo xâm nhập vào Việt Nam từ 1533, và 140 năm sau, tới đầu thập niên 1670, các thừa sai Ca Tô mới khuyến dụ được khoảng 60000 người theo đạo, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam (Xin đọc Catholicism et Sociétés Asiatiques của Yoshiharu Tsuboi), không có khả năng phân biệt chánh tà, chân giả cho nên rất dễ bị lùa vào trong vòng mê tín của Ca Tô Giáo.  Sau đó, các thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, mở đầu cuộc xâm chiếm bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858.  Sau khi tích cực giúp quân xâm lăng Pháp để đưa Việt Nam vào vòng đô hộ, Ca-Tô Giáo ở Việt Nam dựa vào thế lực thực dân để truyền đạo, làm mưa làm gió trên đất nước Việt Nam.  Nhưng dù ở thế thượng phong, dưới cái dù của thực dân trong gần 100 năm, cộng với 9 năm miền Nam dưới chế độ độc tài, gia đình trị, Ca Tô trị của Ngô Đình Diệm, số tín đồ Ca-Tô trên tỷ lệ dân số luôn luôn chỉ ở mức 7 phần trăm hay ít hơn.  Điều này chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam không tương hợp với nền văn hóa Ki Tô.  Vậy ngày nay, tất cả lợi thế về quyền lực thế tục của Ca-Tô Giáo đã không còn, ngoại trừ sức mạnh hữu danh vô thực hào nhoáng bên ngoài, Ca-Tô Giáo có cách nào để cải đạo người dân Việt Nam?  Liệu chính quyền hiện nay có để cho họ tự do xâm nhập ào ạt vào Việt Nam để truyền đạo sau những chiêu bài đạo đức giả có tính cách lưỡng chuẩn (double standard) như nhân quyền và tự do tín ngưỡng một chiều hay không?  Chúng ta cần phân biệt rõ ràng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do xâm nhập một quốc gia để truyền đạo.  Hai quyền này hoàn toàn khác nhau.

  

2). Thời buổi này, không còn mấy người có đầu óc còn tin ở những chuyện hoang đường như “tội tổ tông”, “Chúa tình nguyện leo lên thập giá để chuộc tội cho nhân loại”, “Đức Mẹ đồng trinh”, “Giê-su chết ba ngày rồi sống lại và bay lên trời”, quyền phép “cứu rỗi” của Giê-su v..v.., kể cả một số giám mục, linh mục trong giáo hội.  Khoa học với những bằng chứng bất khả phủ bác trong vũ trụ học, di truyền học, sinh học, sinh hóa học, cổ sinh vật học v..v.. cộng với thuyết tiến hóa đã bác bỏ toàn bộ nền thần học Ki Tô Giáo. Đặc biệt là trong thời đại thông tin điện tử này, không ai có thể dấu ai được điều gì, và con người có thể kiểm chứng những tài liệu nghiên cứu chính xác bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu.  Làm sao giáo hội Ca Tô có thể thuyết phục được quần chúng bằng những lý thuyết mơ hồ không có một căn bản xác thực nào.  Làm sao sao Ca Tô Giáo có thể thuyết phục con người bằng những thuyết sáng tạo, cứu rỗi, thiên đường, hỏa ngục trong khi chính giáo hoàng của họ đã chính thức phủ bác những thuyết này khi ông ta đã chính thức công nhận trước quần chúng thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc nhân loại, và phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục.  Trí tuệ người dân Việt Nam đâu còn ở mức trí tuệ của những nông dân hay dân chài ở những vùng hẻo lánh trong thế kỷ 18, 19?  Liệu chính quyền Việt Nam và người dân Việt Nam có để cho những nhà truyền giáo Ca Tô tiếp tục lừa dối người dân bằng những chuyện hoang đường cổ xưa nay đã không còn một giá trị nào trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay?  Chúng ta có đủ tài liệu và thông tin để chất vấn, bẻ ngược lại mọi luận điệu thần học giả dối của Ca Tô Giáo.

 

3).  Dù sách lược Cải Đạo Á Châu mang nhãn hiệu “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á” nhưng bản chất “thần giáo” của Ki Tô Giáo không thể thay đổi.  Do đó nền văn hóa KiTô không tránh khỏi vấp phải nền văn hóa Phật giáo đã bám rễ ăn sâu và đồng hóa với nền văn hóa truyền thống của dân Việt Nam, vốn là một nền văn hóa nhân bản và nhân chủ.  Sự tích dân tộc Việt Nam là Con Rồng Cháu Tiên của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân và tục thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ đã qua đời, chứng tỏ người Việt Nam từ ngàn xưa đã bác bỏ quan niệm thần linh sinh ra con người.  Còn gì nhân bản hơn là người tôn thờ người, và người thờ nhân tính.  Đạo sống này của dân Việt Nam có trước cả khi Đức Phật, Lão Tử, Khổng tử hay Giê-su sinh ra đời.  Và Phật Giáo đã đóng góp vào nền văn hóa đặc thù này bằng cách đưa vào chủ trương tôn trọng nhân phẩm của con người, tự tu tự chứng, mình làm chủ chính mình.  Do đó, nền văn hóa nhân bản và nhân chủ của Việt Nam chính là thành trì chống nền văn hóa Kitô qui phục thần hữu hiệu nhất. 

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết, Tây phương ngày nay cũng đã nhận ra giá trị đích thực của một nền văn hóa nhân bản và nhân chủ.  Ngay gần đây, tháng 4, 2003, hội những người Mỹ theo chủ nghĩa nhân bản và nhân chủ (Humanists) đã phổ biến một bản Cương Lĩnh số 3 khẳng định “bác bỏ ý tưởng là có một Thiên Chúa cần phải “cứu” nhân loại” (rejecting the idea that there is a God who needs to “save” humanity),  “chỉ có đạo đức con người mới quyết định tương lai của thế giới” (human’s ethical behavior alone will dictate the future of the world), “Trách nhiệm về đời sống của chúng ta và cái thế giới mà chúng ta sống trong đó là thế giới của chúng ta và chỉ của chúng ta mà thôi” (The responsibility for our lives and the kind of world in which we live is ours and ours alone).  Ký tên trên bản Cương Lĩnh (Manifesto) này là 19 nhân vật đã được trao tặng giải Nobel, và 57 nhà trí thức có tên tuổi khác trong đó có tiểu thuyết gia Kurt Vonnegut và nhà đạo diễn Oliver Stone.  Năm 1973, hội này cũng ra tuyên ngôn cho rằng “sự tin vào một Thiên Chúa đáp ứng những lời cầu nguyện “không chứng minh được và lỗi thời” và một niềm tin như vậy cho chúng ta “những hi vọng hão huyền về một thiên đường trong đời sau”” (belief in a prayer-answering God “unproved and outmoded”, such a belief offers “false hopes of heaven hereafter”.)  Hội này tin rằng con người được kêu gọi để sống đạo đức mà không cần phải có sự trợ giúp siêu nhiên của một thần, của các nam thần hay nữ thần nào, hay của một lực huyền bí không có tình người  nào. (Humanists believe that people are called to ethical living “without supernatural assistance from a god, gods or godesses or an impersonal mystical force.)  

   

   Nền văn hóa Phật Giáo cao hơn nền văn hóa Ki Tô rất nhiều, điều này không ai có thể phủ nhận, trừ phi chúng ta đánh đồng sai lầm nền văn hóa Ki Tô với những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật của xã hội của Tây phương, những tiến bộ mà Ki-Tô giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng, đã tích cực ngăn chặn (đốt sách vở, đốt luôn cả khoa học gia, cấm tín đồ đọc sách v..v..) nhưng không nổi, cho nên ngày nay đã nhận vơ làm “nền văn hóa Ki Tô Giáo”. Ngày nay, Tây phương đã nhận ra chân giá trị của Phật Giáo, và Phật Giáo phát triển rất tự nhiên trong những xã hội Tây phương mà không hề có ý định cải đạo người khác hoặc kiếm thêm tín đồ.  Đụng phải cái thành trì Phật Giáo ở Á Đông, Ki Tô Giáo không có cách nào thắng được Phật Giáo vì từ giáo lý cho đến thực hành, từ bản chất của mỗi tôn giáo cho đến những phúc lợi mà mỗi tôn giáo đã mang đến cho nhân loại, từ đạo đức tôn giáo cho tới trí tuệ của những vị lãnh đạo tinh thần trong mỗi tôn giáo v..v.., Ki Tô Giáo đều không thể so sánh với Phật Giáo được.

 

4).  Bản  chất  của Giáo hội Ca-Tô Việt Nam chỉ là một mớ

tín đồ hạng hai.  Ca-Tô giáo vào Việt Nam từ 1533 nhưng 400 năm sau (1933) mới có một giám mục đầu tiên (Nguyễn Bá Tòng).  Nhưng tệ hơn cả là Giáo hội này hoàn toàn lệ thuộc Vatican bất kể là những quyết định của Vatican xâm phạm đến chủ quyền dân tộc và xúc phạm đến nền văn hóa  của Việt Nam tới đâu.  Lịch sử cho thấy quyền lợi của Vatican luôn luôn đối nghịch với quyền lợi của Việt Nam.  Chừng nào mà tinh thần nô lệ này còn tồn tại, thì chừng đó người dân Việt Nam vẫn còn phải lưu tâm đề phòng lịch sử tái diễn.  Tinh thần nô lệ này hoàn toàn trái ngược với tinh thần yêu nước, yêu độc lập của người dân Việt Nam, đã được chứng minh qua bao cuộc đánh đuổi quân ngoại xâm.  Với sách lược Cải Đạo Á Châu qua những thủ đoạn bất chính, liệu Ca Tô Giáo có tin rằng những người ngoại đạo ở Việt Nam sẽ để yên cho Giáo hội muốn tuyên truyền lừa dối đồng bào của họ ra sao cũng được?  Hay tin rằng người dân Việt Nam đã quên đi vai trò của giáo hội Ca-Tô Rô-Ma tại Việt Nam trong việc đưa nước Việt Nam vào vòng nô lệ của Pháp?

 

5).  “Thần học” là một bộ môn chưa bao giờ có và không thể nào có trên đất Á Châu.  Á Châu có rất nhiều thần: thần ác, thần thiện, thần cây đa, thần bình vôi, thần hoàng làng (thường là những nhân vật có công với đất nước được sắc phong của nhà vua), thần hà bá v..v..  Nhưng Á Châu không có môn học nào gọi là thần học.  Cho nên “thần học Ki Tô Giáo”, bất kể là mang nhãn hiệu nào, Á Châu hay Phi Châu, của phái nữ hay giải phóng, đen hay đỏ, hay cả dâm ô (Xin đọc Theological pornography của Mary Hunt) đều không có tác dụng trên đầu óc người Á Đông.  “Thần học Ki Tô Giáo” chỉ có thể hợp những người có đầu óc yếu kém, không thể tự mình bước đi trên đường đời, cho nên lúc nào cũng phải dựa vào một cặp nạng thần học, một cặp nạng đã mọt rỗng đến tận cốt lõi.  “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á” cũng không ra ngoài lệ vì bản chất nó chỉ là “thần học” và được xây dựng trên những luận cứ xảo quyệt, gian dối hạ đẳng như đã được chứng minh trong các phần phân tích ở trên.

 

   Trên đây chỉ là vài lý do chính mà tôi nghĩ sách lược Cải Đạo Á Châu sẽ không thể nào thành tựu ở Á Châu nói chung, Việt Nam nói riêng.  Giáo hoàng đặt kế hoạch  trồng cây Ca-Tô Giáo vào những miền đất ở Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba, theo thường lịch.  Điều hiển nhiên là đất Á Châu không thích hợp với cây Ca-Tô.  Trồng vào đó, cây tuy không đến nỗi chết héo queo như cây sung bị Chúa Giêsu nguyền rủa, không bao giờ có thể ra trái được nữa, nhưng có lẽ cũng chỉ sống một cách èo ẹt, không có nhiều sinh khí.  “Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa cứu độ Á Châu” trong 2000 năm qua vẫn tiếp tục kỳ diệu như cũ, nghĩa là Á Châu vẫn tiếp tục từ chối không muốn biết đến Thiên Chúa.  Lịch sử không đi giật lùi.  Không ai có thể đi ngược lại đà tiến hóa của con người.  Người dân Việt Nam không lẽ lại tệ hại đến mức phải đi hốt những thứ làm ô nhiễm đầu óc con người mà Âu Châu và Mỹ Châu đang đào thải dần dần, và coi đó là những của báu trên trần gian.  Tôi thực tình không tin như vậy.

 

   Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải đề cao cảnh giác về hiểm họa Ki Tô Giáo. Hiểm họa Ki Tô Giáo ở trên thế giới là một hiểm họa có thực.  Lịch sử đã chứng tỏ như vậy.  Chúng ta không nên bị mê hoặc bởi luận điệu: “Tôn giáo nào cũng tốt như nhau cả, đều dạy con người làm lành, tránh ác.”

   Bản chất của Ca-Tô Giáo và Tin Lành là lợi dụng sự cuồng tín của tín đồ, tạo thành một lực lượng xã hội,  để khi có cơ hội và quyền thế thì sẽ khuynh loát chính quyền, đàn áp và áp bức tín đồ của các tôn giáo khác.  Bản chất cuồng tín này, nếu ở vị thế nắm quyền hành thì sự tác hại của nó đối với khối dân chúng không đồng tín ngưỡng không biết lên tới mức độ nào.  Kinh nghiệm lịch sử ở những nơi mà Ca-Tô giáo là chủ lực tinh thần trong thời Trung Cổ, và trong thời cận đại ở Tây Ban Nha dưới quyền của nhà độc tài Ca-Tô Franco, ở Croatia dưới quyền của tên Ca-Tô Ante Palevic và những linh mục khát máu, và ở Nam Việt Nam dưới chế độ Ca-Tô Ngô Đình Diệm là một tấm gương cảnh tỉnh những người còn mơ mộng là “tôn giáo nào cũng tốt cả”. Ngày nay, không ai còn coi Ki Tô Giáo là một lực lượng tôn giáo thuần túy mà trái lại chỉ là những định chế coi nặng vấn đề quyền lợi chính trị và kinh tế.  

   Ngày nay, không một người nào có đầu óc còn nghĩ đến những biện pháp cấm đạo và bách hại những người đi đạo như khi xưa nữa.  Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam?  Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Ca-Tô và Tin Lành,  cái hiểm họa đã được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca-Tô giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết ngăn chận sự xâm nhập của các thừa sai truyền đạo vào trong đất nước, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí.  Qua con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng, và từ đó sẽ đỡ bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo.  Theo nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, “Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt” chỉ có sự mở mang dân trí và đời sống thoải mái kinh tế mới có thể loại trừ ảnh hưởng của Ca Tô Giáo.

   Điều này đã xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ trong đó đời sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo, bất kể tôn giáo đó là tôn giáo nào, và bất kể chủ đề nghiên cứu là chủ đề nào, của những người có uy tín trong giới trí thức như lãnh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo sư đại học v..v.. được phổ biến rộng rãi trong quần chúng.  Hi vọng với đà tiến triển về kinh tế hiện nay ở Việt Nam, với nhiều tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được nhà nước sáng suốt cho phép phổ biến, Việt Nam có thể giảm bớt hiểm họa Ki Tô trên đất nước.

 

   Tôi thành thực ước mong chính quyền Việt Nam hãy lưu tâm đến hiểm họa Ki Tô Giáo trên đất nước và đưa ra một chính sách tôn giáo hợp lý, không thiên vị.   Đừng bao giờ để rơi vào những cạm bẫy “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết quốc gia” mà ngăn chận chính sách mở mang dân trí.  Dân trí mở mang không bao giờ có thể là nguồn gốc của sự chia rẽ hay gây hận thù. Sự hòa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia tân tiến Âu Mỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được phổ biến rộng rãi, là một bằng chứng rõ rệt nhất về lợi ích của việc mở mang  dân trí  để  cho  người dân  biết rõ  sự thật về  tôn giáo trong xã hội.  Thật vậy, khoảng 85% dân Mỹ  theo Ki Tô Giáo trong đó có khoảng 25% theo Ca Tô Giáo Rô Ma, hơn 90% dân Pháp rửa tội theo Ca Tô Giáo v..v.. nhưng những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo: những sự thực về lịch sử những tội ác của Ca-Tô Giáo, về tổ chức độc tài của Giáo hội, về những thần quyền tự phong của giới lãnh đạo Ca-Tô, cùng những tín điều hoang đường phi lô-gic, phi lý trí, phản khoa học, huyền hoặc, lỗi thời v..v.. của Ca-Tô Giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, về con người lịch sử Giê-su, về những sai lầm trong Thánh Kinh v..v.. đều được tự do phổ biến mà các chính quyền Mỹ, Pháp không sợ làm mất sự “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết dân tộc” trên đất nước của họ, thì thử hỏi tại sao Việt Nam chỉ có 7% dân chúng theo Ca Tô Giáo mà chính quyền lại sợ rằng những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh với đầy đủ tài liệu về tôn giáo lại có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết dân tộc trên đất nước?  Ngăn chận sự mở mang dân trí trong thời buổi này là có tội với dân tộc, với lịch sử.

 

   Việt Nam cần phải ý thức được sự nguy hại của chiêu bài nhập nhằng tự do tôn giáo với tự do truyền đạo để có thể tìm cách đối phó, đưa ra những biện pháp ngăn chận thích nghi, hợp lý.  Những biện pháp ngăn chận này phải nằm trong quốc sách và phải được cương quyết thi hành.  Tôi tin rằng đa số người dân Việt Nam sẽ ủng hộ những biện pháp bảo vệ nền văn hóa truyền thống Việt Nam này vì chúng ta ý thức rõ ràng rằng không có một chế độ nô lệ nào độc hại bằng nô lệ văn hóa.

    Sách lược truyền giáo của Ca-Tô Giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo, dối trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v.. Lịch sử thế giới đã ghi rõ điều này, và kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập của Ca-Tô Giáo còn ghi rõ trong sử sách.  Ở đây, sách lược truyền giáo của đạo Ca-Tô đã đưa tới những cảnh bất hòa trong những gia đình nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Ca- Tô Giáo, từ bỏ không còn tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong gia đình.  Ca-Tô Giáo cũng đưa tới những cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đã chứng tỏ.  Gần đây, Ca-Tô giáo còn đưa ra sách lược nham hiểm: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là lịch sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những chiêu bài đầu môi chót lưỡi như  “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, hoặc “quay về với truyền thống dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc”, trong khi bản chất độc tôn cuồng tín về “Chúa KiTô là đấng trung gian duy nhất”, nô lệ Vatican vẫn không thay đổi.  Chính quyền và người dân Việt Nam cần nghiên cứu kỹ để biết rõ những âm mưu lũng đoạn quốc gia Việt Nam, và nhất là thái độ “không đội trời chung” của Ca-Tô Giáo đối với Cộng Sản, để biết đường mà tránh đi trên con đường đưa tới sự tự hủy diệt.  Thế lực của Ca Tô Giáo hoàn vũ ngày nay chỉ là một lớp sơn phết bên ngoài, thực lực càng ngày càng yếu, không còn nắm quyền sinh sát như ngày trước, cho nên muốn gì giáo hội chỉ còn biết cầu nguyện.

    Người Việt Nam chúng ta thường tự hào với 4000 năm văn hiến.  Thật ra, nền văn hóa nhân bản (lấy con người làm gốc), nhân chủ (con người tự quyết định số phận mình) và định cư (không lang thang nay đây mai đó) của dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa đối ngược với loại văn hóa thần linh, du mục của dân Do Thái, còn lâu hơn là 4000 năm.  Nền văn hóa này, được biết trong giới khoa học và khảo cổ là nền văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt Nam).  Tiến sĩ Wilhel G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học ở trường đại học Hawaii đã viết: “Tôi không ngạc nhiên nếu thời kỳ văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt Nam) bắt đầu khoảng 15000 (mười lăm ngàn) năm trước Tây Lịch..  Trên một mảnh sành khoảng 6 cm vuông, chúng tôi đã thấy dấu vết vỏ một hạt thóc oriza savita.  Dùng carbon 14 định tuổi những đồ vật bị vùi ở lớp đất trên lớp đất vùi mảnh sành, chúng tôi biết là mảnh sành – và hạt lúa – đã có niên đại muộn là 3500 trước Tây Lịch” (Wilhelm G. Solheim II, New Light On A Forgotten Past, National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971).  Như vậy, tính đến thế kỷ 16, khi Ca-Tô giáo bắt đầu du nhập Việt Nam, thì Việt Nam đã có một lịch sử và một nền văn hóa không hề biết đến Chúa Cha cũng như Chúa Con trong ít nhất là 5000 năm.  Trong 5000 năm này, tổ tiên chúng ta đã tốn bao xương máu, mồ hôi, nước mắt để xây dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Bổn phận của mọi người Việt chúng ta là phải tiếp nối truyền thống anh dũng của ông cha, không thể đi ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại, không thể để cho một ý thức hệ hoang đường, vô tổ quốc, vô gia đình, có nhiều sắc thái đế quốc như ý hệ Ca Tô xâm lấn với mục đích biến đổi, đưa nền văn hóa và tôn giáo dân tộc của chúng ta xuống hạng hạ căn qui thần, “quên mình trong vâng phục” mấy tên mũi lõ mắt xanh vô đạo đức ngồi ở Rô Ma nghĩ kế hoạch tước đoạt trí tuệ và khả năng suy tư của người dân Việt Nam.  Chúng ta không nên quên rằng, ông cha chúng ta trước đây đã qui kết Ca Tô Giáo Rô Ma là một tà đạo.  Nhận định chính xác này thật là đáng phục ở thời điểm mà các công cuộc nghiên cứu về Ca Tô Giáo chưa phát triển. Tà là không ngay thẳng, không chính trực, gian dối.  Ngày nay, qua những tác phẩm nghiên cứu về Ca Tô Giáo, càng ngày chúng ta càng thấy lộ ra bản chất tà giáo của tôn giáo này. 

   Thật vậy?  Thứ nhất, tôn giáo này đã được xây dựng trên những tà thuyết mà ngày nay Tây phương đã không còn chấp nhận, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết.  Như trên chúng ta đã biết, Mục sư Ernie Bringas đã đưa ra nhận định: “Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy tín lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại” và Giám mục John Shelby Spong đã khẳng định: “..một đấng cứu thế (Giê-su) có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin.” (A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.), và nhà thần học nổi danh, Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được ngôi vị giáo sư thần học của Ca Tô Giáo, đã qui kết những chuyện trong Tân Ước như “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”, “các phép lạ Giê-su làm”, “Giê-su sống lại”, “Ngôi mộ trống”, “Giê-su thăng thiên”, “những chuyện trong Sứ Vụ Các Tông Đồ (Acts)”,  “Phê-rô ở Rô-ma” v..v.. đều là những chuyện trẻ con, cần phải dẹp bỏ [Xin đọc cuốn Putting Away Childish Things của Giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann)  Thứ nhì, chỉ có một tà giáo mới có thể gây ra 7 núi tội lỗi mà giáo hoàng đã phải xưng thú trước thế giới.  Thứ ba, sách lược cải đạo Á Châu, như được phân tích trong các phần trên, đã chứng minh rằng đó chỉ là những thủ đoạn bất chính  để thực hiện mưu đồ xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Đông.

   Tuy nhiên, không ai cấm con người tiếp tục tin vào những tà thuyết hay những điều không có thực, như tin là có thần bình vôi, có Chúa sống lại, có chú Cuội ngồi gốc cây đa trên cung Hằng, hay như trẻ con để răng sữa dưới gối, treo bít tất ở lò sưởi để nhận quà của ông già Noel v..v..  Nhưng tà thuyết luôn luôn vẫn chỉ là tà thuyết, điều không có thực luôn luôn cũng chỉ là lông rùa, sừng thỏ, bất kể là có bao nhiêu người vẫn còn tiếp tục tin vào tà thuyết hay những điều không có thực. Con người căn trí bất đồng, không ai có thể bắt buộc những tín đồ Ki Tô Giáo trong những ốc đảo ở Nam Mỹ, Phi Châu, Phi Luật Tân, Việt Nam, và ngay cả trên đất Mỹ, phải có cùng trình độ trí óc mở mang như đa số trên thế giới ngày nay.

   Dù vậy, tôi không thể không có vài lời tâm huyết cùng các tín đồ Ki Tô Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành.  Tôi không coi các bạn là kẻ thù.  Đời tôi không có ai là kẻ thù.  Nhưng lương tâm tôi không cho phép tôi nói lên những lời đãi bôi để tạo sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết dân tộc.  Tôi hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của các bạn nhưng điều này không có nghĩa là tôi không được phép, hay không nên, nói ra những sự thực về tôn giáo của các bạn.  Đây là một bổn phận đối với mọi người còn nghĩ đến quốc gia dân tộc. Qua những phần phân tích ở trên, tôi tin rằng mọi người Việt Nam yêu nước đều ý thức được bổn phận phải vạch trần âm mưu bất chính của Vatican trong sách lược Cải Đạo Á Châu và từ đó, có bổn phận phải tập trung nỗ lực để ngăn chận mọi thủ đoạn truyền đạo bất chính của Ki Tô Giáo trên đất nước..

   Tôi hi vọng các bạn có thể sáng suốt nhận ra rằng, từ xưa đến nay các bạn đã bị lừa vào một niềm tin không đáng.  Có đáng hay không khi các bạn vẫn tiếp tục bám víu vào một hi vọng hão huyền: sự “cứu rỗi” của một người Do Thái tên là Giê-su mà chính Giáo Hoàng hay một số giám mục, linh mục, mục sư, những người lãnh đạo tinh thần các bạn, đã bác bỏ.  Giáo Hoàng của các bạn đã phủ nhận thuyết sáng tạo, phủ nhận “tội tổ tông”, phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục,  Giám mục Spong đã coi vai trò “cứu thế” của Giê-su như là một sự vô nghĩa hậu – Darwin, Mục sư Ernie Bringas đã gọi sự “cứu rỗi” của Giê-su là một cái bánh vẽ trên trời,, và giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann đã coi tất cả những điều các bạn tin là những chuyện trẻ con, cần phải dẹp bỏ. Vậy tại sao các bạn còn cứ tự giam mình trong những giáo hội mà lịch sử đen tối của chúng đã rõ rệt.  Các bạn có cho rằng, các bạn chỉ cần đến một đức tin là đủ, là các bạn ở trong một “hội Thánh”, còn những chuyện ô nhục giáo hội làm trong suốt mười mấy thế kỷ, hay những luận điệu lừa bịp của giáo hội để kéo các bạn vào một đức tin không thực, hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến các bạn?   Nếu các bạn không dứt bỏ được, ít nhất là gánh nặng Vatican, trên vai thì các bạn sẽ kẹt lắm.  Bất kể là các bạn tin thế nào, dùng luận cứ gì, những sự thực lịch sử của giáo hội Ca Tô Rô Ma sẽ gắn liền với đời sống tâm linh của các bạn mà các bạn không có cách nào có thể tách rời nó ra khỏi đời sống tâm linh của các bạn.  Với phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay, với số người Việt sống ở nước ngoài, và cả ở trong nước, không có cách nào các bạn có thể ngăn chận được những thông tin xác thực về Ki Tô Giáo.  Hi vọng các bạn sẽ có một chọn lựa sáng suốt.

   Trong cuốn A New Christianity For A New World, xuất bản năm 2001, Giám mục John Shelby Spong có liệt kê những tín điều căn bản sau đây của Ki Tô Giáo:

 

–  Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.

–  Tư cách thần thánh của Giê-su vì sinh ra từ một nữ trinh.

–  Cái chết của Giê-su là để chuộc tội cho nhân loại, và máu của Giê-su là năng lực cứu rỗi (saving power of his blood)

–  Thân xác Giê-su sống lại.  Ngôi mộ trống là một sự thật cũng như những chuyện Giê-su hiện ra sau khi chết.

–  Ngày trở lại của Giê-su để phán xét nhân loại.

 

và đưa ra lời khẳng định sau đây:

 

   Ngày nay tôi thấy những tín lý căn bản này mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những là ngây ngô, mà còn có thể dứt khoát loại bỏ. Trong thế hệ của chúng ta, không một tín lý nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận. (Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only naive, but eminently rejectable.  Nor would any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars.)

    Hi vọng bài viết này có thể đóng góp một phần nhỏ trong nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và tôn giáo dân tộc của Việt Nam, đất nước thân yêu của chúng ta, và nhất là giúp các bạn Ki Tô nhìn ra được vấn nạn Ki Tô trên đất Việt.

 

Trần Chung Ngọc

 

http://giaodiemonline.com/2009/07/caidao3.htm

PHẦN HAI – THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á & NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

PHẦN  HAI

  

THẦN HỌC KI TÔ GIÁO THEO CUNG CÁCH CHÂU Á

&

NHỮNG THỦ ĐOẠN CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

 

   SỰ KIỆN VẪN LÀ MỌI HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO, ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI QUYỀN LỰC KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC NƯỚC THỰC DÂN, VẪN CÒN TƯƠNG ĐỐI KHÔNG THÀNH CÔNG.  BẤT CỨ Ở NƠI NÀO MÀ CÓ MỘT TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO MẠNH, THUẦN NHẤT THÍ DỤ NHƯ LÀ Ở ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, SỰ XÂM NHẬP CỦA KI TÔ GIÁO CHỈ Ở MỨC TỐI THIỂU.. ẤN ĐỘ GIÁO VẪN LÀ TÔN GIÁO CHỦ LỰC CỦA TIỀM LỤC ĐỊA Á CHÂU, VÀ PHẬT GIÁO VẪN NGỰ TRỊ TRUNG QUỐC VÀ ĐÔNG NAM Á CHO ĐẾN NGÀY NAY.  KI TÔ GIÁO CHẲNG CÓ MẤY THÀNH CÔNG TRONG VIỆC TRUYỀN GIÁO Ở CÁC NƠI NÀY MẶC DÙ ĐÃ CÓ NHỮNG NỖ LỰC LỚN LAO…

   CÁC DỮ KIỆN (VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO) ĐÃ CHỨNG TỎ RẤT RÕ LÀ MỤC TIÊU CẢI ĐẠO THẾ GIỚI VÀO ĐỨC TIN KI TÔ CỦA KI TÔ GIÁO ĐÃ LÀ MỘT SỰ THẤT BẠI RẤT ĐÁNG KỂ Ở KHẮP MỌI NƠI…THẬT RA, NGÀY NAY TỈ LỆ SỐ TÍN ĐỒ KI TÔ TRÊN THẾ GIỚI CÒN ÍT HƠN LÀ Ở THỜI ĐẦU CỦA LỊCH SỬ KI TÔ GIÁO.

   (..The fact remains that all this missionary activity, buttressed by the economic and political power of the colonial nations, was still relatively unsuccessful.  Wherever there is a strong unified religious tradition, such as that which marked India, China, and Japan, for example, the Christian inroads were minimal… Hinduism still is the dominant religion of the Asian sub-continent, and Buddhism dominates China and Southeast Asia to this day.  Christians enjoyed little missionary success in these places despite massive efforts..

   The data make it very clear that the Christian goal of converting the world to Christ has been a significant failure everywhere…In fact, the world has a smaller percentage of Christians in it today than it did earlier in its history.)

          BISHOP JOHN SHELBY SPONG, 

A New Christianity For A New World, 2001, pp. 176-77.

   

 

    Trong Phần I, chúng ta đã biết, nền thần học Ki Tô Giáo, bất kể với nhãn hiệu gì, ngày nay đã không còn chỗ đứng trong những xã hội văn minh tân tiến.  Bởi vì, trước những khám phá khoa học mà không ai có thể phủ bác về nguồn gốc vũ trụ, về thuyết Tiến Hóa v..v.., một Thiên Chúa “sáng tạo” ra vũ trụ và con người cách đây khoảng 6000 năm như được viết trong Thánh Kinh đã trở thành một chuyện tiếu lâm, chỉ còn sót lại trong những đầu óc chưa được mở mang đúng mức.  Vai trò “cứu thế” của Giê-su, như Giám Mục Spong đã nhận định, chỉ là sự mê tín tiền – Darwin và sự vô nghĩa hậu – Darwin.

   Nước Mỹ, một quốc gia có thể nói là văn minh tiến bộ nhất thế giới, ít ra là về vấn đề kỹ thuật và vật chất, trong đó có khoảng 85% người dân theo Ki Tô Giáo (Tin Lành 60%, Ca Tô 25%) nhưng thực ra chính quyền Mỹ là một chính quyền thế tục (secular government).  Những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo của giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, thuộc loại “chống Ki-Tô” đối với những tín đồ Ki Tô cuồng tín không có đầu óc, được phát hành và phổ biến rộng rãi.  Các trường học không được phép dạy “thuyết sáng tạo” của Ki Tô Giáo, trong khi thuyết Tiến Hóa là một chủ đề không thể thiếu trong chương trình học của mọi trường học, từ Trung học đến Đại học.. 

   Chúng ta cũng đã biết, tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo ở thế giới Tây phương và  nhiều nơi khác trên thế giới nói chung đã rõ rệt.  Ki Tô Giáo, thay vì gia tăng nỗ lực để đảo ngược tình trạng suy thoái ở Tây phương để cho người dân lấy lại niềm tin vào Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, lại toan tính mang đồ Tây phương đang dần dần từ bỏ để nhập cảng sang Á Châu với tất cả những thủ đoạn không chính đáng với mục đích cải đạo Á Châu dựa trên một môn thần học mới mang mỹ danh “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á”.  Tuy trong thực tế Ca Tô Giáo Rô Ma và Tin Lành vẫn còn chống đối nhau, thù ghét nhau, nhưng về phương diện truyền đạo sang Á Châu, cả hai giáo phái Ki Tô này đều hợp sức cùng nhau sử dụng vũ khí “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Châu Á”, phối hợp với những chiêu bài chính trị như Dân Chủ, Đa Nguyên, Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo v..v..để cải đạo Á Châu. 

 

   Bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” của Giáo Hoàng John Paul II tung ra cuối năm 1999 và cuốn “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á”, một tuyển tập gồm các bài viết của Mục sư Tống Tuyền Thịnh (Choan Seng Song), người Đài Loan, được một số nhân viên trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo T.P. HCM tuyển dịch và ấn hành vào tháng 8 – 1991, về bản chất không khác gì nhau, vì cùng nhắm một mục đích: cải đạo Á Châu qua những thủ đoạn có thể nói là bất chính và bất lương trí thức (intellectually dishonest) như sẽ được chứng minh trong một phần sau.

    Trong Phần I, tôi đã phê bình đoạn mở đầu trong bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” và vạch ra những thủ đoạn trích dẫn Thánh Kinh Ki Tô Giáo một cách xảo quyệt, bất lương trí thức, ngoài toàn bộ vấn đề, của Giáo Hoàng John Paul II để đưa ra những luận điệu bịp bợm về một chương trình cứu độ của Thiên Chúa tại Á Châu mà thực chất chỉ là âm mưu xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu.  Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao trong thời buổi này mà giáo hoàng còn sử dụng những thủ đoạn lắt léo để lừa dối tín đồ và quần chúng? Tiến Sĩ Madalyn O’hair đã đưa ra nhận định sau đây khi được hỏi về uy tín của giáo hoàng John Paul II trên thế giới:

 

   “Những phương tiện truyền thông trong các xứ Ca-Tô đều phụ thuộc Giáo Hoàng và dựng ông lên như là một lãnh tụ danh tiếng của thế giới.  Ông  ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm… Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.

 

   Cái đầu óc Trung Cổ của John Paul II không nhìn thấy sự tiến bộ của nhân loại nên vẫn tiếp tục theo một sách lược bịp bợm lừa dối của tòa Thánh trước đây để giữ tín đồ trong vòng ngu si như Linh mục Maurice Weitlauff đã nhận định.  Trong cuốn Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập III, tác giả Trần Văn Kha đã đưa ra một tài liệu của Linh mục Maurice Weitlauff trong đó ông ta nhắc đến một văn kiện của các Hồng Y đưa ra sách lược (Thư viện Paris, tờ 1089, tập II 641-650 – ref.fonds latin số 12558) mà nội dung là phương pháp giữ tín đồ trong vòng ngu si như sau, trang 1130-31:

 

   “Chỉ nên cho phép đọc sách Phúc Âm càng ít càng tốt, nhất là bằng tiếng hiện đại (nghĩa là các tiếng địa phương) và ở trong những nước ở dưới quyền Ngài (giáo hoàng Jules II).  Chỉ một số rất ít (trong Phúc Âm) thường đọc trong lễ Mi-sa là đủ và phải cấm bất cứ ai muốn đọc nhiều hơn.  Chừng nào mà dân chúng thỏa mãn với cái ít ỏi đó, quyền lợi của Ngài sẽ thịnh vượng, nhưng, từ khi mà họ muốn đọc nhiều hơn thì quyền lợi của Ngài bắt đầu sa sút.  Đây (cuốn Thánh Kinh) là một quyển sách, hơn bất cứ cuốn sách nào, sẽ gây ra cho chúng ta những sự nổi loạn, những cơn bão tố có thể làm cho chúng ta tan tành sự nghiệp.  Thật ra bất cứ ai xem xét kỹ lưỡng những lời dạy trong Kinh Thánh và so sánh chúng với những gì đang xảy ra trong giáo hội của chúng ta, sẽ nhận ra ngay những mâu thuẫn, sẽ thấy những lời giảng dạy của chúng ta thường đi ra ngoài Kinh Thánh và nhiều khi còn ngược lại.  Nếu dân chúng biết đến điều này, họ sẽ thách thức chúng ta cho tới khi mọi điều phải được tiết lộ, như vậy, chúng ta sẽ trở nên đối tượng của sự chế giễu và sự thù hận phổ quát.  Vậy thì cần phải tích cực tước đoạt Kinh Thánh khỏi tay của dân chúng mà không gây ra sự hỗn loạn”

   (La lecture de l’Évangile ne doit être permise que le moins possible, surtout en langue moderne et dans les pays soumis à votre autorité.  Le très peu qui est généralement lu à la Messe devrait suffire et il faudrait interdire à quiconque d’en lire plus.  Tant que le peuple se contentera de ce peu, vos intérêts prospèreront, mais, dès l’instant qu’on voudra en lire plus, vos intérêts commenceront à en souffrir.  Voilà le livre qui, plus qu’aucun autre, provoquera contre nous les rebellions, les tempêtes qui ont risqué de nous perdre.  En effet, quiconque examine diligemment l’enseignement de la Bible et le compare à ce qui se passe dans nos églises trouvera bien vite les contradictions, verra que nos enseignements s’écartent souvent de celui de la Bible et plus souvent s’opposent à celle-ci.  Si le peuple se rend compte de ceci,  il nous provoquera jusqu’à ce que tout soit révélé, alors, nous deviendrons l’objet de la dérision et de la haine universelle.  Il est donc nécessaire que la Bible soit enlevée et dérobée des mains du peuple avec zèle, toutefois sans provoquer de tumulte.”)

 

   Sau khi trích dẫn văn kiện trên, Linh mục Maurice Weitlauff than: “Một sự bất lương như thế không thể nào tưởng tượng được.  Tôi như chết đứng.”  (Une telle duplicité est inconcevable.  J’en suis toute renversée)

 

   Điều hiển nhiên là ngày nay, giáo hoàng John Paul II vẫn tưởng rằng giáo dân không ai được phép đọc Thánh Kinh, vẫn cho rằng tòa Thánh giữ độc quyền trích dẫn Thánh Kinh để giam giữ tín đồ trong vòng ngu si, cho nên vẫn tiếp tục trích dẫn lạc lõng và diễn giải lệch lạc những đoạn trong Thánh Kinh để hô hào các giám mục Á Châu phải theo đó mà tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu như tôi đã phân tích đoạn đầu trong bản Tông Huấn của ngài.  Nhưng ngài đã lầm, vì thế giới ngày nay không phải là Âu Châu trong thời Trung Cổ.  Nếu tín đồ của ngài không đọc Thánh Kinh thì không thiếu gì người ngoại đạo, và ngay cả những bậc trí thức có lương tâm trong giáo hội, đã đọc kỹ Thánh Kinh và đã vạch ra, không những sự bất lương của giáo hội Ca Tô trong việc uốn nắn và giam giữ đầu óc giáo dân mà còn cả những sai lầm chứa đầy trong Thánh Kinh.

   Điều quái gở là một số thuộc hạ Việt Nam của Ngài cũng theo cùng một sách lược bất lương trí thức như Ngài như chúng ta thấy rõ trong những tác phẩm như Chứng Nhân Hi Vọng của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, 2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ của Một Số Người Công Giáo, Tin Nhà Paris xuất bản, hay trong các báo như Hiệp Nhất, Diễn Đàn Giáo Dân v..v… trong đó chứa toàn là những trích dẫn vụn vặt, lạc lõng từ Thánh Kinh.

 

   Khi cuốn Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á của Mục sư Tống Tuyền Thịnh ra đời thì Tỳ Kheo Thích Nhật Từ ở Việt Nam đã thuyết trình một bài Phê Bình cuốn sách này trong cuộc hội thảo “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo T.P. HCM tổ chức.  Bài thuyết trình này đã được in thành sách ở Việt Nam và được phổ biến trên một số trang nhà Phật Giáo.  Trong bài thuyết trình, được in lại ở phần đầu cuốn sách này, như chúng ta đã biết, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã vạch ra những sai lầm của Mục sư Tống Tuyền Thịnh qua những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc và hạ thấp giáo lý Phật Giáo để tô hồng quảng cáo cho cái gọi là “quyền năng cứu chuộc” của Thiên Chúa mà chúng ta đã biết đó chỉ là một sự mê tín tiền – Darwin và sự vô nghĩa hậu – Darwin. 

   Điều đáng để ý là Ca Tô Giáo Việt Nam đã lấy một tác phẩm thần học của một Mục sư Tin Lành làm đề tài hội thảo với mục đích rao bán “quyền năng cứu chuộc” của Thiên Chúa.  Đây là một chuyện hiếm có, vì từ xưa tới nay, Ca Tô Giáo luôn luôn khẳng định Giáo hội Ca Tô là phương tiện cứu rỗi duy nhất, không có sự cứu rỗi ở ngoài giáo hội Ca Tô (No salvation outside the (Catholic) Church).  Điều này cho thấy Ca Tô và Tin Lành cùng có chung một sách lược cải đạo Á Châu dựa trên cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu.”

   Thật ra, không phải là cuối thế kỷ 20 Ki Tô Giáo mới đưa ra sách lược cải đạo Á Châu.  Sách lược này đã được hoạch định từ sau Công Đồng Vatican II (1962-1965) của Ca Tô Giáo Rô Ma với những huấn thị rõ ràng trong những bản văn mật của Tòa Thánh gửi cho các giám mục địa phương ở Á Châu.  Và Tin Lành cũng dựa theo sách lược này để đi cải đạo thế giới.  Những miền đất xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki Tô Giáo trong những thập niên 1970-80 là ở Ấn Độ và Thái Lan, lợi dụng tinh thần khoan nhượng tôn giáo của hai quốc gia này.  Từ cuối thế kỷ 20, mục tiêu hàng đầu của Ca Tô Giáo Rô Ma là Việt Nam, nấp sau những chiêu bài chỉ có trên mặt văn tự như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo v…, lợi dụng tình trạng xã hội kinh tế ở Việt Nam, sự khoan nhượng của chính quyền Việt Nam, và nhất là ở đó họ đã có sẵn một đạo quân thứ năm cuồng tín, chưa mở mang trí óc như những tín đồ Tây phương, nên vẫn cam phận làm tôi tớ cho Vatican, quên mình trong vâng phục, thi hành mọi mệnh lệnh của Vatican, do đó sẵn sàng phản bội quốc gia như trong quá khứ, để đánh đổi lấy một chỗ trên thiên đường mà thực chất chỉ là một hoang đường như chính giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới.

   Sau đây chúng ta sẽ đi vào một số chi tiết trong sách lược cải đạo Á Châu của Ki Tô Giáo.

 

a).   Ở Ấn Độ, hơn 400 năm nay Ki Tô Giáo đã vô cùng tích cực trong vấn đề truyền đạo với hi vọng Ki Tô  hóa Ấn Độ nhưng dân chúng Ấn, tuy nghèo khó và trước những hứa hẹn về vật chất của Ki Tô Giáo, vẫn từ chối tôn giáo này.  Số người theo Ki Tô Giáo nói chung chưa lên tới 1% tuy chính quyền Ấn đã rất dễ dãi để cho những nhà truyền giáo tự do truyền đạo.

   Sự dùng vật chất để ép những người ngoại đạo đang ở trong những hoàn cảnh khó khăn về vật chất theo đạo lộ liễu đến mức một Ủy Ban Điều Tra Những Hoạt Động của Các Giáo Sĩ Thừa Sai tại Ấn Độ đã phải đưa ra những khuyến cáo sau đây, trong cuốn “Tín ngưỡng của người khác” (“The Faith of Other Men”, trg. 107) của Giáo Sư Wilfred Cantwell Smith, một nhà Thần học KiTô nổi tiếng, Giáo sư môn Tôn Giáo Thế giới và Giám đốc trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới tại đại học Harvard: 

 

   “Nên yêu cầu những thừa sai mà mục đích chính là dụ người vào đạo phải rút lui.  Số lượng lớn các nhà truyền giáo ngoại quốc không được hoan nghênh và cần phải kiểm soát. (Đề nghị chính quyền Việt Nam hãy cấm mọi người ngoại quốc vào Việt Nam để truyền đạo.  Khi nhập cảnh, những người ngoại quốc, kể cả những người Việt Nam mang quốc tịch khác phải khai báo mục đích đến Việt Nam (điều khoản này có trong mọi tờ khai trước khi vào bất cứ một quốc gia nào), nếu gian dối vi phạm sẽ bị truy tố trước pháp luật).

   Sự dùng các dịch vụ y tế hay chuyên môn như là phương tiện trực tiếp để dụ người vào đạo phải cấm bởi luật pháp.

   Mọi toan tính dùng vũ lực hay lừa gạt gian dối, hay đe dọa bằng những cách bất chính hay giúp đỡ tài chính hay mọi sự trợ giúp khác, hoặc bởi những phương tiện hay hứa hẹn lừa gạt gian dối, hoặc bằng sự giúp đỡ tinh thần và vật chất, hoặc lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm hay lòng tự tin của bất cứ người  nào, hoặc bằng cách khai thác nhu cầu, sự yếu kém về tinh thân (tâm thần) hay nhẹ dạ của bất cứ người nào, hoặc, đại cương là mọi toan tính hay nỗ lực (dù thành công hay không), trực tiếp hay gián tiếp thâm nhập vào ý thức tôn giáo của con người (dù đã trưởng thành hay còn vị thành niên) thuộc tín ngưỡng khác, với mục đích thay đổi ý  thức  tôn giáo hay tín ngưỡng của họ, để cho hợp với lý tưởng và niềm tin của phe đi dụ người ta vào đạo, phải tuyệt đối cấm.” (Được biết hiện nay ở Việt Nam, Ca Tô Giáo Rô Ma cũng như Tin Lành đều dùng các phương tiện giúp đỡ vật chất mô tả như trên để dụ người vào đạo.  Những thủ đoạn truyền đạo này phải tuyệt đối cấm bởi luật pháp.  Người bị dụ vào đạo có thể truy tố trước pháp luật người đi dụ về những hành động vi luật này)

   (Those missionaries whose primary object is proselytization should be asked to withdraw.  The large influx of foreign missionaries is undesirable and should be checked..

   The use of medical or other professional services as a direct means of making conversions should be prohibited by law..

   Any attempt by force or fraud, or threats of illicit means or grants of financial or other aid, or by fraudulent means or promises, or by moral and material assistance or by taking advantage of any person’s inexperience or confidence, or by exploiting any person’s necessity, spiritual (mental) weakness or thoughlessness, or, in general any attempt or effort (whether successful or not), directly or indirectly to penetrate into the religious conscience of persons (whether of age or underage) of another faith, for the purpose of consciously altering their religious conscience  or faith,  so  as  to agree  with  the  ideas  of convictions    of    the   proselytizing   party   should   be absolutely prohibited..)

 

      Tại sao người ta lại phải khuyến  cáo như  vậy nếu  các công vụ truyền giáo của Ki Tô giáo chỉ thuần túy là truyền giáo?  Chúng ta cũng nên để ý rằng, hiện nay, ở Ấn Độ đang có phong trào bài Ki Tô Giáo rất mạnh.  Báo Los Angeles Times ngày 12 tháng 11, 1998, đăng một bài tường thuật dài của ký giả Dexter Filkins về những hành động bài Ki Tô Giáo, nhiều khi dùng đến bạo lực, ở Ấn Độ.  Một lãnh tụ của phong trào bài Ki Tô Giáo, ông B. L. Sharma, tuyên bố:

 

   “Chúng tôi đã phải làm nô lệ cả ngàn năm, và nay chúng tôi đã sáng mắt rồi.  Tôi đòi hỏi chính phủ Ấn Độ phải đuổi cổ những kẻ đang dụ dân Ấn cải đạo,  và  phá hại văn hóa, ngôn ngữ  và y phục của chúng tôi.”

   (We were slaves for 1000 years and now we have opened our eyes.  I demand that the government of India throw out these people who are out to convert Hindus and ruin our culture, language and attire.)

  

   Tại sao lại xảy ra phong trào bài Ki Tô Giáo mạnh mẽ ở Ấn Độ?  Vì  cả Tin Lành lẫn Ca Tô Giáo đều vẫn tiếp tục, một mặt dùng phương tiện truyền thông, những thủ đoạn phi tôn giáo như bài bác Ấn Độ giáo để hạ thấp Ấn Độ Giáo, một mặt lợi dụng sự nghèo khổ của đám dân thấp kém trong xã hội, dùng bả vật chất để truyền đạo, và nhất là xử dụng vũ khí hữu hiệu nhất của Ca Tô Giáo: bình phong “từ thiện” đi kèm với phương tiện truyền thông để tô hồng quảng cáo cho Ca Tô Giáo trong khi thực chất của việc từ thiện là để thu nhặt tín đồ và khai thác lòng nhân từ của quần chúng để vơ vét tiền bạc cho Vatican, và trong một số trường hợp, nhiều hành động ác ôn đã được ngụy trang đàng sau bình phong “từ thiện”. 

 

   Trường hợp điển hình là việc thành lập dòng “Thừa sai bác ái” (sic) của bà Teresa mà cái tên của nó đã nói lên thực chất sử dụng “bác ái” làm một vũ khí truyền đạo.

 

   Qua phương tiện truyền thông với những hình ảnh làm mủi lòng quần chúng, bà Teresa đã được thổi phồng lên như một thánh nhân, thực hiện chủ trương bác ái của giáo hội.  Kết quả là tiền vào như nước nhưng chỉ có một phần nhỏ được chi dùng cho các hoạt động mang danh “từ thiện”.  Những người đóng góp tin tưởng rằng tiền của mình đóng góp sẽ được dùng trong những công tác từ thiện vị tha của giáo hội.  Nhưng sự thật đằng sau tổ chức “Thừa sai bác ái” để làm công việc “từ thiện” này ra sao, và thực chất con người của bà Teresa ra sao, ngày nay chúng ta đã biết rõ.  Trong thế giới ngày nay, khó ai có thể che dấu được những việc mờ ám, nhất là khi người đó là một nhân vật nổi tiếng như bà Teresa.  Muốn cho người khác không biết thì đừng có làm.  Bà Teresa không ý thức được chân lý này nên kết quả là người ta đã phanh phui ra những chuyện động trời sau bức màn “Thừa sai bác ái” của bà Teresa.  Trong bài Đâu Là Sự Thật, đã được đăng trên báo Giao Điểm và đưa lên trang nhà giaodiem.com hay giaodiem.net, tôi đã đưa ra một số tài liệu vạch trần thực chất con người của bà Teresa.  Ở đây tôi sẽ không nhắc lại chi tiết nữa, chỉ tóm tắt những điểm chính.

 

   Theo Christopher Hitchens thì: “Mẹ Teresa là một kẻ “mị dân” chống phá thai và là kẻ “phục vụ cho những quyền lực thế gian.”, thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992.  Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền mà hắn đã biếu cho Mẹ, và đề nghị Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các “sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý”; Mẹ đã không hề hồi âm.”

    Theo một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, người đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những “cơ sở từ thiện”  của bà Teresa  và tìm  hiểu  sự thực

về những “công cuộc từ thiện” của bà Teresa thì:

 

            * Về tiểu sử,  bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc.

* Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo.  Ngay cái tên của dòng “Thừa Sai Bác Ái” cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua.  Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua.  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm “việc thiện”, chứng tỏ “lòng nhân từ” của Bà.  Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài.

 

    Sau khi bà Teresa chết thì có một số “sơ” trước đây đã cộng tác với bà trong tổ chức “Thừa sai bác ái” đã tiết lộ nhiều chi tiết thuộc loại động trời.

   Thí dụ, sơ  Susan Shields đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:

 

   Một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc “từ thiện” vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu “Thừa sai bác ái”, nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương “nghèo khổ” là một đức tính.  Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự “săn sóc” của hội “thừa sai bác ái” phải ăn đói.  Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên  kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa. (Judith Hayes trong The Happy Heretic, p. 66-67)

 

   Tác giả Judith Hayes còn phê phán: Tôi chưa từng nghe thấy một người nào có lòng bác ái mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt. [Bà Teresa quan niệm như vậy vì đó là ý Chúa] Bác ái là đức tính tối thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint) nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic)  và Ngu Đần (Stupid).  (Tác giả đã chơi chữ ở đây: If all of that is true, it places Teresa somewhere between “sadistic” and “stupid” which, interestingly, is where “saint” appears in the dictionary)

 

    Thực ra thì những hành động vô nhân tính của bà Teresa được phanh phui ở trên cũng không lấy gì làm khó hiểu vì chúng hầu như là một mẫu mực chung cho những người cuồng tín, làm việc “từ thiện” với mục đích đi kiếm linh hồn cho Chúa để Chúa cho một chỗ trên thiên đường (mù) của Giáo hội, chứ không bắt nguồn từ tâm từ thương người. Thật vậy, nếu bà Teresa đã gian dối và nhẫn tâm như được mô tả trong các tài liệu dẫn chứng ở trong bài Đâu Là Sự Thật [Xin đọc trong Giao Điểm, giaodiem.com hay giaodiem.net] thì thuộc hạ của bà cũng chẳng khá hơn chút nào.

 

    Bản tin BBC ngày 18 tháng 9 năm 2000 có đầu đề “Các Nữ Tu Của Mẹ Teresa Bị Kết Tội Hành Hạ Trẻ Em” (Mother Teresa Nuns accused of torture), viết bởi Subir Bhaumik ở Calcutta, cho biết giám đốc những thừa sai bác ái (Nữ tu Nirmala, người thay thế Teresa) đã phải ra hầu tòa sau khi cơ sở từ thiện “Thừa Sai Bác Ái” và một “nữ tu” bị kết tội là hành hạ một em bé lên 7 tuổi.  Giám đốc tổ chức (thừa sai bác ái), Nữ tu Nirmala, được tòa cho phép đóng tiền thế chân là 5000 Rupees. (The head of the Missionaries of Charity, founded by Mother Teresa, has surrendered to a Calcutta court after the Charity and one of its nun were accused of torturing a 7-year-old girl.  The organization leader, Sister Nirmala, was granted bail on a surety of 5000 Rupees). Bản tin BBC ngày 21 tháng 9 năm 2000 với đầu đề “Các Nữ Tu Của Mẹ Teresa Hành Hạ Trẻ Em” (Mother Teresa Nuns Tortured Children)  cho biết cơ sở bác ái  do Mẹ Teresa thành lập ở Calcutta nay đã thú nhận là một nữ tu của tổ chức đã hành hạ 4 trẻ em (The Charity set up by the late Mother Teresa in the Indian city of Calcutta has now admitted that one of its nuns was guilty of torturing four children).  Hành hạ như thế nào?  Theo đơn kiện của Karivan Mondal, nữ tu  Francesco đã trừng phạt con gái của ông, vì quá nghèo nên đã nhờ cơ sở “bác ái” (sic) của bà Teresa nuôi, bằng hình phạt đốt bỏng tay của con gái ông.

   Chúng ta cũng không nên quên vụ kiện gần đây ở Québec, Canada, đòi bồi thường hơn một tỷ đô la (a 1.2 billion lawsuit) cho các nạn nhân của các “nữ tu” trong một viện mồ côi, các “sơ” mặc áo xám, (gray nuns), những người đã hành hạ trẻ em trong viện cho đến chết, và cố ý làm tật nguyền một số em, thí dụ như chọc thủng màng tai của chúng để lấy thêm trợ cấp của chính phủ, $2.50 cho mỗi em bị tật nguyền thay vì $0.75 mỗi ngày cho các em lành lặn, do chương trình TV Prime Time của đài ABC đưa lên; và chuyện trong một viện mồ côi khác, các “sơ” dội nước sôi lên các em để trừng phạt tội vì đói quá nên ăn cắp thức ăn các “sơ” dùng để nuôi thỏ, do chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa lên.

   Cả thế giới cũng đã biết chuyện giáo hội Ca Tô Anh đã mở lòng “bác ái” nhận nuôi nhiều trăm trẻ em mồ côi hoặc sinh ngoại hôn, nói dối vớc các bà mẹ là sẽ nuôi nấng các em tử tế và xây dựng tương lai cho các em, nhưng thực ra là đưa các em vị thành niên sang Uc, bóc lột sức lao động chân tay của các em để xây chủng viện . Vụ này cũng bị báo chí và chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa ra ánh sáng, và các nạn nhân của chương trình “bác ái” dã man, vô nhân đạo này đang kiện giáo hội và đòi trang trải mọi phí tổn để một số em, nay đã trưởng thành, có thể đoàn tụ với người mẹ đã xa cách lâu ngày.

   Và gần đây nhất, theo bản tin BBC ngày 8 tháng 11 năm 2002 thì nhà đạo diễn Ca Tô Peter Mullan, dựa trên các nhân chứng và các tài liệu chính xác (based on true events), đã hoàn thành một cuốn phim nhan đề “Các Nữ Tu  Của Tu Viện Magdalene” (The Magdalene Sisters) trong đó ông đưa lên màn ảnh những cảnh các nữ tu bóc lột sức lao động và hành hạ hàng ngàn các em bé gái chưa đến tuổi trưởng thành trong các nữ tu viện Ca Tô ở Ai Nhĩ Lan.  (In the film, Peter Mullan, himself a Catholic, tackled the thorny subject of young girls taken to convents and made to work in the laundries, while subject to abuse by nuns).  Có nhiều em phải làm việc trong xưởng giặt, 6 tháng không thấy ánh mặt trời.  Cuốn phim đã được trao giải thưởng Sư Tử Vàng về phim hay nhất trong cuộc tuyển chọn phim ở Venice. (Scottish director Peter Mullan has won the Golden Lion Best Film Award at the Venice film festival for The Magdalene Sisters, a box office success in Ireland.)  Tuy Vatican đã lên tiếng phản đối là cuốn phim có mục đích “chống Ca-Tô” nhưng tín đồ Ca Tô Ai Nhĩ Lan vẫn đổ xô đi xem cuốn phim này.  Ký giả Miriam Donohoe của tờ Irish Times phát biểu: “Tôi cảm thấy rất giận vì trong nhiều thập niên, nhiều ngàn em bé gái đã phải qua tay những “sơ” quá độc ác như vậy và đối xử với các em tệ như vậy” (I feel very angry that thousands of young Irish girls over several decades had gone through the hands of nuns who were so cruel and who treated them so badly.)

 

   Trên đây chỉ là vài chuyện điển hình về bộ mặt thật của cái mà giáo hội Ca Tô Rô Ma quảng cáo tô hồng triệt để cho giáo hội: công tác “từ thiện” và “bác ái” của giáo hội.  Đây là ngón nghề thông thạo nhất của giáo hội Ca Tô Rô Ma, cũng như Giáo hội đã thành công cấy vào đầu các tín đồ hình ảnh một giáo hội thánh thiện, tông truyền, duy nhất v..v.. trong khi thực ra lịch sử của giáo hội là một lịch sử thô bạo, đẫm máu, chứa đầy những chuyện ô nhục nhất thế gian: thánh chiến; tòa hình án xử dị giáo; săn lùng và thiêu sống phù thủy; chủ trương diệt chủng Do Thái; không ít giáo hoàng ác độc, tàn bạo, vô luân; không ít linh mục loạn dâm: hiếp dâm nữ tu Ca Tô, trẻ em phụ tế, nữ tín đồ v..v… và không ít nữ tu đang tâm bạo hành trẻ em cũng như dự phần trong chính sách diệt chủng ở Rwanda?  Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể dựa vào những trường hợp cá biệt nêu trên để mà tổng quát hóa vấn đề đạo đức trong Ca Tô Giáo Rô Ma.  Nhưng chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi:  Tại sao một tôn giáo thường tự nhận là do Thiên Chúa mạc khải, do Chúa Giê-su thành lập, thánh thiện, tông truyền, duy nhất v..v.. lại có một lịch sử đen tối như vậy và lại có thể đào tạo ra một số linh mục, nữ tu ác ôn như vậy trong khi những chuyện ô nhục này không hề xảy ra trong các tôn giáo mà Ki Tô Giáo gọi là “thấp kém”?  Câu trả lời nằm trong câu hỏi đối với những người không cần đến kiến thức của các học giả mà chỉ cần có một đầu óc còn đôi chút suy nghĩ để có thể nhận ra bản chất chân thật của Ca Tô Giáo là như thế nào.

   Nói tóm lại, nếu chúng ta theo rõi những vụ kiện các cơ sở từ thiện, viện mồ côi của Ca Tô Giáo ở Canada, Mỹ, Ireland, và Úc Châu v..v.. thì chúng ta sẽ không lấy gì làm lạ trước những hành động “bác ái” của bà Teresa ở Calcutta và của một số sơ trong các tu viện, viện mồ côi.

   Những cơ quan này được tạo ra chỉ để vơ vét tiền bạc và kiếm thêm tín đồ chứ không có ngĩa “từ thiện” thuần túy.  Thật vậy, B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul), đã viết như sau, trang 25:

 

   Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo.  Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Ca Tô (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church.  Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics).

  

   Rajneesh đã không nhắc đến sự kiện là với những sự trợ cấp của chính phủ và sự đóng góp của những người có từ tâm, nhiều cơ sở “từ thiện” đã là những nguồn kinh tài cho giáo hội, vơ vét tiền bạc trên sự đau khổ của các trẻ em mồ côi và những người xấu số.  “Sơ” Lê Thị Tríu ở Phi Luật Tân cũng đã hốt được 2 triệu đô-la để thành lập “làng Việt Nam ma” ở Phi Luật Tân.

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức “từ thiện” của Vatican.  Sách vở, báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là “Giây chuột” (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành  giả, tài chánh v..v.. cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã  ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina).

   Nói tóm lại, những công cuộc “từ thiện” của Ki Tô Giáo, Ca Tô Giáo cũng như Tin Lành, chỉ là những sơn phết màu mè che dấu những âm mưu đen tối đàng sau.  Tuy vậy, những lớp sơn phết này cũng đánh lừa được nhiều người, kể cả những chính quyền phi Ki-Tô không biết rõ bản chất “từ thiện” của Ki Tô Giáo, chỉ nhìn thấy mặt ngoài thường xuyên được Ki Tô Giáo thổi phồng mà không để ý đến những mánh mưu gây tác hại cho quốc gia dân tộc về sau.   

b).  Ở Thái Lan, Ca Tô Giáo Rô Ma còn hung hăng hơn nữa trong sách lược truyền đạo.  Lợi dụng tinh thần khoan dung tôn giáo của dân Thái, giáo hội Ca Tô ở Thái, tuy chỉ chiếm chưa tới 1% dân số, đã có những hành động xâm nhập chống phá Phật Giáo và phổ biến những tài liệu có tính cách hạ thấp dân Thái và Phật Giáo. Để độc giả có một ý niệm về bản chất cuồng tín của các nhà truyền giáo Ki Tô ngay trong thời đại này, tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Missionaries, trg. 186, nói về phương cách truyền giáo của Ca Tô Giáo ở Thái Lan:

  

   “Ở Á Châu, không có mấy nước mà các thừa sai cảm thấy hoàn toàn tin tưởng là công vụ truyền giáo của họ sẽ không bị gián đoạn trong tương lai.  Ngay cả dân Thái  cũng  nhạy  cảm đối  với  vấn đề  thừa sai  nếu sự truyền giáo không khéo xử, thái độ khoan dung của dân Thái có thể thay đổi.  Hiện nay, trong một nước mà 97 phần trăm theo Phật Giáo, 2 phần trăm theo Hồi Giáo, số người theo Ki Tô Giáo hiển nhiên rất ít.

   Sulak Siravaksa là một trí thức Phật Giáo theo học các trường Ki Tô.  Tuy nhiên, ông ta rất lấy làm khó chịu trước những tài liệu truyền giáo mô tả Thái Lan là “địa hạt của Satan”; rằng “99% dân Thái bị câu thúc bởi ma quỉ”; lên án Phật Giáo là “thờ hình tượng” và là “một tôn giáo yếm thế một cách vô vọng.”;  và chấp chặt là “không có sự mặc khải của Ki Tô thì không hiệp thông được với Thượng đế.”  Như Sulak đã vạch rõ,  đó là ngôn ngữ hàng ngày của một số tài liệu truyền giáo, những tài liệu này đã xúc phạm nặng nề đến những Phật tử Thái Lan.”

    (In Asia there are few countries where missionaries can feel completely confident of an uninterrupted future for  their  work.   Even  the  Thais  are  sensitive  on  the subject of missionaries and if evangelism is not carried out in a tactful manner, their tolerant attitude may change.  At present, in a country where 97 percent of the population is Buddhist and 2 percent Muslim, there are obviously very few Christians. 

   Sulak Sivaraksa is a Buddhist intellectual who was educated in Christian schools.  He is, however, severely irritated by evangelical literature that describes Thailand as “the territory of Satan”; that declares “99 percent of Thais are in bondage to demons”; that condemns Buddhism  as  “idolatry”   and   “a  religion  of  hopeless escapism”; and which insists that “without Christian revelation, there is no relationship with God”.  As Sulak points out, this is the everyday language of a certain kind of mission literature, which is deeply offensive to Thai Buddhists.)

 

   Vì  chính sách truyền đạo cuồng tín cố hữu như trên tại Thái Lan mà Phật Giáo Thái đã phải chính thức gửi kháng thư cho  John Paul II,  phàn nàn  về những  việc làm sai trái của Gia Tô Giáo ở Thái Lan.

   Những tài liệu trong cuốn “Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo” (The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986)  cho chúng ta thấy rõ, qua những huấn thị mật của Vatican, sách lược cải đạo Á Châu bất kể thủ đoạn đã được hoạch định từ ngay sau Công Đồng Vatican II.  Sự chống phá của Ca Tô Giáo lên tới mức độ mà người dân Thái bắt buộc phải có phản ứng.  Ngày 10  tháng 5, 1984, và sau đó, ngày 12 tháng 9, 1984, Hiệp Hội Bảo Vệ Đạo Pháp Thái Lan cũng như nhiều hội đoàn Phật Giáo khác đã gửi cho Giáo hoàng John Paul II những kháng thư nhân dịp ông tới Thái Lan.  Sau khi phàn nàn về việc Giáo hội Ca Tô Rô Ma tại Thái Lan xâm nhập Phật Giáo với nhiều hành động sai trái, theo chỉ thị của Vatican, có bằng cớ dẫn chứng (The Roman Catholic Church in Thailand has intruded Buddhism  with many  injust  actions  as shown  in  the attached Protesting Memorandum), Hiệp Hội  yêu cầu John Paul II ra lệnh cho các tín đồ Ca Tô hãy chấm dứt xuyên tạc và phá Phật Giáo (To stop the Catholics here in Thailand from distorting and subverting Buddhism).  Những phản ứng của người dân Thái Lan đối với giáo hoàng John Paul II như nước đổ đầu vịt, vì truyền thống của Vatican là ù lì, coi những phản ứng này như không có, và cứ tiếp tục thi hành sách lược cải đạo bất lương và bất chính của mình.  Vài tài liệu sau đây có thể chứng minh được điều trên.

 

   Sau đây là phần Dẫn Nhập trong cuốn “Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo” (The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986).  Đây là một bản văn khá quan trọng với nhiều chi tiết có thể giúp chúng ta thấy rõ vấn đề hơn và do đó tìm ra một đường hướng thích hợp để đối phó với kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo tại Á Châu:

 

   “Những tín đồ Ca Tô Rô Ma đến Thái Lan trong triều đại của Đại Đế Narai vào khoảng 300 năm trước.  Ngày nay có khoảng hơn 100,000 tín đồ Ca-Tô (vào khoảng 2 phần ngàn của một dân số trên dưới 50 triệu. TCN), một con số rất nhỏ đối với giáo hội.

   Trong quá khứ những người Ki Tô Giáo tin rằng những tôn giáo khác với Ki Tô Giáo, như Phật Giáo chẳng hạn, đều là tội lỗi, là giáo lý của Ác Thần và Satan.  Do đó, Giáo hội đã phái những linh mục Ca Tô để dạy dỗ những kẻ ngoại giáo, giới thiệu Thượng đế cho họ, và cải đạo họ.  Những người này bị dẫn dụ vào Ki Tô Giáo bằng cách tấn công Phật Giáo và các tôn giáo khác là xấu xa và sai lầm trong giáo lý.  Phương pháp cải đạo này gọi là “truyền giáo”.

   Khoảng một thập niên trước đây, người Ca Tô thay đổi chiến thuật.  Các linh mục Ca Tô không tấn công Phật Giáo nữa.  Cả hai giới, linh mục và tín đồ, đều trở nên thân thiện và cùng với các Phật tử phục vụ xã hội.   Họ đã điều chỉnh để sống thích nghi với nền văn hóa Thái và bắt chước những lễ tiết Phật Giáo. Phương pháp Thiền của Phật Giáo đã được nghiên cứu và thay đổi làm Thiền của Ki Tô Giáo.  Nhiều cuốn sách mới được viết ra để giảng giải Ki Tô Giáo bằng những thuật ngữ Phật Giáo, khai thác và bóp méo giáo lý Phật Giáo.  Đó là những hiện tượng mới lạ đáng để ý.

   Những sự thay đổi trong thái độ và thực hành mới của những người Ca Tô là kết quả của Công Đồng Vatican II, họp từ 11/10/1962 đến 8/12/1965. Công Đồng Vatican II đã được sửa soạn từ năm 1959.  Công đồng diễn tiến nghiêm trọng và liên tục trong ba năm trên. Giám mục khắp nơi trên thế giới và nhiều nhân viên lãnh đạo khác, tất cả vào khoảng 4000 người, được động viên để tổng hợp những quan niệm mới và điều chỉnh những phương pháp tuyên truyền cho phù hợp với những thay đổi trong thế giới hiện đại.  Nhiệm vụ của các giám mục được nhấn mạnh, nghĩa là, ngoài những công việc trong giáo xứ của mình, họ còn phải theo đúng chính sách của giáo hội mẹ (Vatican) như Công Đồng Vatican II đã quyết định.  Mọi quyết định của Công Đồng phải được áp dụng nghiêm chỉnh và phải thực thi bởi mọi giáo hội Ca Tô khắp hoàn cầu trong những thập niên tới cho đến khi Công Đồng Vatican tới được triệu tập. (Công Đồng Vatican thứ nhất được tổ chức trên 100 năm trước, từ tháng 12, 1869 tới tháng 7, 1870, có hơn 7 tháng và số tham dự viên chỉ vào khoảng 1000).

   Một chủ đề quan trọng của Công Đồng Vatican II là xét và hoạch định chính sách tiếp cận mới với mọi tôn giáo phi Ki-Tô, quyết định của chính sách này là Bản Tuyên Ngôn Về Những Giao Hệ Của Giáo Hội Đối Với Những Tôn Giáo Phi Ki-Tô.

   Trong bản Tuyên Ngôn của CĐ  Vatican II, một loại giao hệ mới đối với các tôn giáo khác, gọi là “Đối Thoại”,  đã được thiết lập.  Một hậu quả khác là, Giáo Hoàng, người đứng đầu giáo hội, đã lập ra “Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ” chịu trách nhiệm về đối thoại.  Sau đó Bộ này đã phát hành những “Bản Tin”, một ấn phẩm mật để liên lạc với các giám mục và giới chức cao cấp đang hoạt động trong các quốc gia khác nhau.  Bản Tin chứa đựng những tin tức từ Vatican liên quan đến các tôn giáo khác và các tín đồ của họ.  Những ý tưởng và cách thực hành sự đối thoại được ban bố, cùng những hiểu biết về các tôn giáo khác để dùng làm căn bản cho sự đối thoại, gồm những bản phúc trình về tình hình tôn giáo ở các địa phương, nơi các linh mục hành nghề.  Bản Tin được dùng làm diễn đàn trao đổi những kinh nghiệm của các linh mục hoạt động trong những quốc gia khác nhau.

   Bản Tuyên Ngôn của CĐ Vatican II cùng với những giải thích và khuyến cáo trong Bản Tin, những quan niệm mới và cách tiếp cận mới những tôn giáo phi Ki-Tô chứng tỏ rằng, thay vì coi các tôn giáo khác như một mớ những sai lầm và là hoa trái của tội lỗi như trong quá khứ, thái độ mới là chấp nhận những cái hay cái đẹp trong các tôn giáo khác, coi tất cả những thứ đó đến từ Thiên Chúa.  Chỉ có Ki Tô Giáo, tôn giáo của Thiên Chúa, là đầy đủ.  Các tôn giáo khác là sự pha trộn của tốt và xấu, sự thực và sai lầm, nhưng chúng có thể được dùng như là một phương tiện để cho chúng trở thành hoàn hảo trong Ki Tô Giáo.  Do đó, sự chân thật trong các tôn giáo khác có thể là khởi điểm để làm cho những người ngoại đạo trở thành tín đồ Ki Tô Giáo…

   Đối thoại phải được hiểu như là coi nhau như bình đẳng, và không toan tính cải đạo người khác vào tôn giáo của mình.  Tuy nhiên, sau khi xét kỹ những ấn phẩm mật của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, sự đối thoại này thật đáng nghi ngờ.  Nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng trong sự đối thoại (của Vatican), sự hợp tác, cùng chung sức, hiểu biết lẫn nhau và thỏa hiệp không phải là những mục tiêu thật.  Đó chỉ là những phương tiện hoặc chiến thuật để đạt những mục tiêu khác.  Vatican có hai cơ quan, mỗi cơ quan có những trách nhiệm khác nhau.  Một cơ quan là Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin có nhiệm vụ “Truyền Giáo” và cơ quan kia là Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ có nhiệm vụ “Đối Thoại”.  Hiển nhiên là đối thoại không thay thế cho truyền giáo mà bổ túc cho truyền giáo.  Đối thoại là phương tiện dọn đường cho truyền giáo, nó đi trước truyền giáo.  Trong trường hợp có thể truyền giáo được ngay, phương pháp truyền giáo được dùng.  Nhưng, nếu tình hình chưa sẵn sàng cho phép truyền giáo, đối thoại được sử dụng.  Quý vị nào muốn biết về sự thật này thì hãy đọc kỹ những tài liệu đã có.  Đối với những vị nào không có cơ hội đọc hết những tài liệu, những điểm quan trọng được trích dẫn sau đây sẽ giúp quý vị rất nhiều để làm sáng tỏ những mục đích thật sự của những hoạt động Ca-Tô.

   Hầu hết những tài liệu trích dẫn ở đây được viết bởi những giới cao cấp của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, nghĩa là, Bộ Trưởng, Tổng Thư Ký và Phó Tổng Thư Ký.  Do đó, chúng phải được coi như là chính sách chính thức và kế hoạch hành động của Giáo hội Ca-Tô.

   Vatican, tổng hành dinh của giáo hội Ca Tô, là một quốc gia độc lập, có chính phủ.  Giáo hội Ca-Tô tại Thái Lan là thuộc hạ của Vatican.  Muốn hiểu mọi điều liên quan đến Giáo hội Ca-Tô tại Thái Lan, chúng ta cần hiểu về mạng lưới hoạt động của Vatican.

   Đối thoại được đề xướng bởi những người Ca-Tô và họ là những người diễn xuất màn đối thoại, Phật tử là đối tượng của những hành động này và bị lừa dối để bị kéo vào cùng diễn xuất trong màn đối thoại.  Chính là những người Ca Tô đã thay đổi những cách tiếp cận của họ trong khi tự bao giờ các Phật tử vẫn luôn luôn thân thiện.  Lẽ dĩ nhiên là những diễn xuất viên Ca Tô phải sửa soạn trước với những ý tưởng, kế hoạch và nhân sự cho cuộc đối thoại.  Trong trường hợp như vậy, Phật tử trở thành đối tượng của đối thoại.  Nếu những mục đích bất lương, che dấu, đi kèm với đối thoại, chắc chắn Phật tử sẽ trở thành những nạn nhân.

   Một sắc thái quan trọng của đối thoại là sự hiểu biết lẫn nhau.  Là những người khởi xướng, những người Ca-Tô đã nghiên cứu kỹ về Phật Giáo để sẵn sàng cho cuộc đối thoại.  Họ biết về Phật Giáo rất rõ trước khi đối thoại.  Trái lại, tuy các Phật tử đã nhận được sự thân thiện từ người Ca Tô và “liên tôn” với những người Ca Tô, có vẻ như họ không biết gì nhiều về người Ca Tô và những mục đích thật sự của chúng.  Do đó, Phật tử cần phải tìm hiểu để có thể có được một sự hiểu biết lẫn nhau.  Nếu thấy rằng trong cuộc đối thoại người  Ca Tô có những động cơ kín đáo, chúng ta, các Phật tử, phải khuyến cáo họ hãy lương thiện, thẳng thắn và thành thật đối với chúng ta.

   Ít nhất, khi liên kết với ai, chúng ta nên biết người đó là ai, họ nhìn chúng ta ra sao, họ nghĩ về chúng ta như thế nào và họ muốn gì ở chúng ta, để chúng ta có thể xử sự một cách khôn ngoan…Lao đầu vào một cuộc đối thoại mà không biết gì và thiếu hiểu biết, cái mà chúng ta được không thấm vào đâu so với cái mà chúng ta mất trong tương lai xa.

   Tất cả những tài liệu cho Giáo hội Ca Tô, từ Vatican cũng như tại Thái Lan, đều đưa đến kết luận là, đối thoại chỉ là một chiến thuật để thực hiện những kế hoạch của Giáo hội Ca-Tô để đồng hóa Phật Giáo vào Ki Tô Giáo.  Âm mưu này có thực hiện được hay không còn tùy thuộc ở các Phật tử có ý thức được hay không những động cơ trong mối giao hệ với người Ca Tô và biết xử sự như thê nào trong mối giao hệ này.  Điều này tùy thuộc ở nhận định của người Phật tử.  Ở đây, chỉ có một số trích dẫn từ những tài liệu của Giáo hội Ca Tô được đưa ra cho độc giả tham khảo.

  Mục đích của cuốn sách này là khuyến cáo các Phật tử và thức tỉnh họ trước tình trạng hiện nay để , trước hết, họ có thể có những thái độ thích đáng trong cương vị của người đi tiếp cận hay người được tiếp cận.  Thứ đến, nguy cơ sẽ đến với Phật Giáo nếu các Phật tử coi thường, không cập nhật, yếu và lơi là.  Không bỏ buông, Phật Giáo không thể bị ai làm hại.  Mọi nguy cơ, dù hiển lộ hay che dấu, cần phải được sử dụng làm động cơ thúc đẩy người Phật tử tự mình cải tiến trong việc tu học và hành trì ngõ hầu họ có thể tin ở Phật Pháp và hoạt động với lương tri để giúp mọi người có hạnh phúc.

  Cũng nên ghi là hiện nay, những giáo hội Tin Lành cũng đã thường sử dụng những chiến thuật  và kỹ thuật tương tự của “Đối Thoại”.

   (INTRODUCTION:  The Roman Catholics came to Thailand in the reign of King Narai the Great about 300 years ago.  There are now a little over 100,000 Catholics, the number considered very small by the Church.

   In the past the Christians believed that other religions than Christianity, such as Buddhism are sinful, the teachings of Evil and Satan.  Therefore, the Church has been sending Catholic priests to teach the pagans, introducing God to them, convert them.  They were induced into Christianity by attacking Buddhism and other religions as being evil and wrong teachings.  This method of converting is called Mission.

   About a decade ago, the Catholics changed their strategies.  The Catholic priests no longer attacked Buddhism.  Both Catholic priests and laymen have become friendly and joined with the Buddhists in rendering services to the society.  They have been adjusting themselves to the Thai culture and imitating Buddhist ceremonies.  Buddhist mediatation has also been studied and modified into Christian one.  New books have been written to explain Christianity in Buddhist vocabulary, exploiting and distorting Buddhist doctrines.  These are new, strange and intersting phenomena.

   These changes in attitudes and practices of the Catholics are the results of Vatican Council II, which was held from 11 October 1962 to 8 December 1965.  The preparation for Vatican Council II had been made sice 1959.  The Council was carried out seriously and continuously over these three years.  The bishops all over the world and other top qualified personnel approximately 4,000 in number were bobilized to synthesize new concepts and adjust their methods of propagation to suit the changes in the modern world.  The responsibility of bishops was emphasized, that is, beside their work in their own diocese, they also have to follow the policy of the Mother Church (Vatican) as resolved in Vatican Council II.  All the resolutions of the Council must seriously be adhered to and put into practice by all the Catholic churches all over the world throughout all the coming decades until the next Vatican Council takes place.  (The first Vatican Council took place over a hundred years ago, that is, during December 1869 to July 1870 which took only a little over seven months and the participants were fewer than 1000 persons).

   One important theme of Vatican Council II was the consideration and lay-out of the policy on and new approaches to all non-Christian religions, the resolution of which was: The Declaration on the relations of the Church with non-Christian religions.

   In this declaration of Vatican Council II, a new kind of relationship with other religions called the “DIALOGUE” has been established.  Another consequence was that, the Pope, Head of the Church, set up “Secretariat for Non-Christians” to be responsible for the dialogue.  Later on the Secretariat has issued “Bulletin”, a confidential publication to communicate with bishops and higher priests who are working on different countries.  The bulletin contains news from the Vatican concerning other religions and their followers.  Ideas and practices of the dialogue are given, as well as knowledge concerning other religions to be used as bases for the dialogue, including reports on religious situations in the localities where the Catholic priests work.  The bulletin serves as field for exchanges of experiences of the priests working in different countries.

   The declaration of Vatican Council II together with explanations and advices given in the bulletin, new concepts and new approaches of the Church to non-Christian religions show that instead of looking at other religions as  the mass of errors and the fruit of the sins of men as in the past, the new attitude is to accept all the beautiful and good in other religions, all of which are to be regarded as coming from God.  Only the Christian religion, the religion of God, is complete.  Other religions are mixture of good and bad, truths and falsities, but they can be used as means to consummate in Christianity.  Therefore, the true and the good in other religions can be the starting point to make pagans become Christians…

    The dialogue is to be understood as a looking at each other as equals, and not to attempt to convert other persons to ona’s religion.

   However, after considering the confidential publication of the Secretariat for non- Christian, this is dubious.  Evidences show that in the dialogue, cooperation, collaboration, mutual understanding and compromise are not the the real objectives.  They are only means or strategies leading to other objectives.  Since there are two organizations, each having different responsibilites, one is the Sacred Congregation of Propaganda Fide which is responsible for “MISSION” and the other is the Secretariat for non-Christians which is responsible for “DIALOGUE”, it is evident that the dialogue is not substituting the mission but to complement it.  The dialogue is a means to pave the way for the mission; it foregoes the mission.  In cases where the mission can take place immediately, the mission method can be employed.  But, if the situation is not ready, the dialogue has to be used.  Those who want to know the truth about this can examine different available documents.  For those who do not have opportunity to follow through all the documents, the important points quoted in this book will greatly help to clarify the real purposes of the Catholic activities.

   The documents quoted here are mostly written by high ranking officials of the Secretariat for non-Christians, i.e., the Chairman, the Secretary General and the Deputy Decretary General.  Therefore, they are to be regarded as the official policy and work plan of the Catholic Church.

   The Vatican which is the center of the Catholic Church is an independent state.  It has its own government.  The Catholic Church in Thailand is subordinate to the Vatican.  To understand all concerns the Catholic Church in Thailand, it is necessary to understand the network of the Vatican.

   The dialogue is initiated by the Catholics who perform the actions, the Buddhists are the objects of the actions and are deceived to join in the performance.  It is the Catholic who changed their approaches while the Buddhists remain friendly as ever.  It is natural that the performer of the actions will have prepared themselves with ideas, plans and personnel for the dialogue.  In such a situation, the Buddhists become the objects of the dialogue.  If hidden unhonest purposes are attached to the dialogue, the Buddhists will certainly become victims.

    One important characteristic of the dialogue is mutual understanding.  As initiators, the Catholics have made a thorough study of Buddhism to prepare themselves for the dialogue.  They accordingly know the Buddhists very well before they start the dialogue.  On the contrary, though the Buddhists have received the friendship and joined with the Catholic to a large extent, they do not seem to know much about the Catholic and their real motives.  Hence, the Buddhist need to study it in order to obtain mutual understanding.  If it is found that in the dialogue the Catholics have ulterior motives, we, the Buddhists, can warn them to be honest, candid and sincere to us.

    At least, in associating with anybody, we should know who he is, how he looks at us, what he thinks of us and what he wants from us, so we can act wisely…  In entering the dialogue with ignorance and lack of understanding, what is gained will not cover the loss in the long run.

   All the documents of the Catholic Church, both from the Vatican and in Thailand, inevitably lead to a conclusion that the dialogue is a strategy to carry out the plans of the Catholic Church to assimilate Buddhism into Christianity.  That this plot will be realized or not depends on whether the Buddhists aware of the motives of the relationship and know how to act in the relationship.  This is up to the discernment of the Buddhists.  Here, only the classified excerpts from the documents of the Catholic Church will be given for consideration of the readers.

   The purpose of this presentation is to warn the Buddhists and awaken them to the situation so that, in the first place, proper attitudes can be made whether is the approacher or the approached.  Secondly, dangers to Buddhism will arise if the Buddhists are negligent, not up to par, weak and slackened.  Without carelessness, Buddhism can not be endangered by anybody… Any danger, whether open or hidden, which has arisen should motivate the Buddhists to improve themselves both in their studies and practices, so that they will be confident in the Dhamma and work conscientiously to help people to really become happy.

   It should be noted that at present the Protestant Churches have also been utilizing similar strategies and techniques of the Dialogue.)

 

   Qua tài liệu trên của Phật Giáo Thái Lan, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm gì? 

   Đối với người Việt Nam, chúng ta cần phải ý thức được rằng chiêu bài “đối thoại” hay “liên tôn” của Ca Tô Giáo Rô Ma chỉ là những bình phong chiêu dụ những người Phật tử nhẹ dạ, ngây thơ, kém hiểu biết, hám danh, lao đầu vào cái bẫy của Ca Tô Giáo Rô Ma mà không biết đến những âm mưu của họ trong chính sách xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu, cũng như không biết rằng mục đích chính của Ca Tô Giáo Rô Ma không phải là “đối thoại” hay “liên tôn” mà chỉ là những chiến thuật giai đoạn nhằm mục đích đồng hóa Phật Giáo vào Ki Tô Giáo.  Cũng may, số Phật tử này không nhiều, không có uy tín trong quần chúng, thực chất chỉ là những con nội trùng kém đạo đức trong Phật Giáo, nên ảnh hưởng hay kết quả những cuộc hợp tác “đối thoại” hay “liên tôn” của họ với Ca Tô Giáo có thể nói là không đáng kể, không cần phải quan tâm.  Tuy vậy, Phật tử cũng không nên vì  thế mà lơi là, không chịu tìm hiểu kỹ các vấn đề, áp dụng hạnh từ bi một cách thiếu sáng suốt, và để mặc cho Ca Tô Giáo tự tung tự tác trong sách lược cải đạo Á Châu. 

   Thường thường chúng ta thấy một số chức sắc Ca Tô khởi xướng tiếp cận với một số lãnh đạo Phật Giáo chứ không có chuyện ngược lại.  Mọi tiếp cận đều đi kèm với một mưu toan nào đó để có lợi cho giáo hội chứ không phải là thật lòng muốn đối thoại.  Ví dụ có ông linh mục đến Thầy Mãn Giác và xin Thầy khuyên Trần Chung Ngọc không nên viết những bài “chống Công giáo” (sic), tưởng rằng Hòa Thượng cũng giống như Linh mục, và Phật tử cũng giống như giáo dân.  Nguyễn Văn Trung cũng làm nhiều chuyến Mỹ du và Pháp du để tiếp xúc với một số cư sĩ Phật Giáo để tìm hiểu nội bộ Phật Giáo và tuyên truyền cho Ca Tô giáo, tiếp xúc với chị Nguyễn Mạnh Quang, người Công giáo, để làm áp lực với anh Nguyễn Mạnh Quang đừng viết thêm những tác phẩm “chống Công Giáo”, nhưng mưu toan này bị thất bại hoàn toàn vì chị Quang là người rất sáng suốt nên nghe nói đã cho ông Nguyễn Văn Trung một bài học vỡ lòng về sự lương thiện trí thức, tôn trọng sự thật, và ý nghĩa thực sự của cuộc đối thoại tôn giáo..

   Chúng ta cần phải vạch trần âm mưu dùng “đối thoại” để truyền giáo và cải đạo của Ki Tô Giáo cho quần chúng biết rõ, báo động nguy cơ xâm lăng của Ca Tô Giáo, và nhất là buộc những người Ca Tô phải lương thiện, thẳng thắn và thành thật đối với chúng ta qua những hành động cụ thể chứ không chỉ có trên đầu môi chót lưỡi hay trên mặt văn tự.

   Ví dụ, người Ca Tô ngày nay nói rằng họ có tinh thần dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc.  Vậy hành động cụ thể của họ phải là từ bỏ tinh thần nô lệ Vatican, từ bỏ lệ thuộc Vatican về hành chánh cũng như về vấn đề tâm linh, vì thực chất Vatican là một ngoại bang, và tinh thần dân tộc Việt Nam là không bao giờ chịu nô lệ ngoại bang, và văn hóa Việt Nam thì không bao giờ có thể tương hợp với văn hóa Ca Tô.  Trong một phần sau tôi sẽ bàn nhiều hơn về những vấn đề này.

   Bài Dẫn Nhập trong cuốn Âm Mưu Của Ca Tô Chống Phá Phật Giáo ở trên ghi là có những tài liệu trích dẫn từ những ấn phẩm mật của Vatican.  Hiển nhiên ở đây tôi không thể nào kê ra hết những tài liệu trích dẫn đó mà chỉ có thể đưa ra một số trích dẫn điển hình để chúng ta thấy rõ sách lược truyền đạo của Vatican.  Trong cuốn Âm Mưu Của Công Giáo Chống Phá Phật Giáo, những tài liệu trích dẫn phần lớn là từ những Bản Tin (Bulletin) của Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ, và được đánh số ví dụ như (1: 4-5) có nghĩa là từ Bản Tin Số 1, trang 4-5.

   Trước hết là một huấn thị từ Tổng Thư Ký Bộ Ngoại Giáo Sự Vụ P. Humbertclaude:

 

   Vì tất cả những việc của chúng ta phải được thi hành với sự thỏa thuận của các giám mục xứ và qua họ, một phương tiện tiếp xúc với họ (Bản Tin) là điều cần thiết.  Đây là những nét đại cương:  chúng sẽ được cải tiến cùng với kinh nghiệm và cùng với những đề nghị mà Bộ trông đợi từ nhiều người đọc Bản Tin của Bộ. (1: 3)

   Thật là rất quan trọng cho lợi ích chung cũng như cho tương lai của Bản Tin, mọi người phải ý thức được rằng đây là một ấn phẩm mật dành riêng cho các giám mục xứ và cho những cá nhân mà các giám mục hay Bộ đã chỉ định trong nhiệm vụ đối thoại.  Nếu khi nào mà các giám mục xứ tin rằng cần phải in lại toàn phần hay một phần của bài nào hay văn kiện liên lạc nào họ có thể làm như vậy mà không được nêu xuất xứ.  Vì đây là một ấn phẩm mật, không được thông báo cho báo chí. (1: 4-5)

   (Since all of our work must be done with the agreement of the Ordinaries and through them, an instrument of contact was necessary.  Here it is its general outines: it will improve with experience and also with the suggestions that we await from many of our readers. (1: 3)     

   It is extremely important for the common good, as well as for the future of the Bulletin itself, that everyone be well aware that it is a confidential publication exclusively for Ordinaries and for persons that the Bishops or we have designated for dialogue.  If then the Ordinaries believe it useful to reprint entirely or in part a certain article or communication they should do so without citing the source.  Since it is a confidential publication, the press should not be informed. (1: 4-5))

 

   Đoạn (1: 3) chứng tỏ Vatican đã chỉ đạo đường hướng hoạt động của các giám mục địa phương và đường hướng này sẽ được thay đổi tùy theo tình hình địa phương qua hồi ứng của các giám mục địa phương.  Đọc tiếp những tài liệu trích dẫn từ những Bản Tin mật của Vatican chúng ta thấy rõ Vatican đã chỉ thị cho các giám mục địa phương và mọi tín đồ Ca Tô phải nghiên cứu kỹ tình hình Phật Giáo và dân tình địa phương để từ đó Vatican sẽ hoạch định những kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo thích ứng.  Vậy thực chất các giáo hội địa phương chỉ là những ổ gián điệp nằm vùng trong các quốc gia phục vụ cho Vatican, một ngoại bang.  Điều này chúng ta có thể thấy rõ ngay trong đoạn (1: 4-5) ở trên:  Tại sao một Bản Tin liên lạc với các giám mục địa phương của Ca Tô Giáo, một “tôn giáo” tự coi là thiên khải, tông truyền v..v.. có nhiệm vụ mang “Tin Mừng” đến cho nhân loại, lại phải là một ấn phẩm mật mà các giám mục địa phương phải tuân hành mà không được tiết lộ xuất xứ, và phải dấu báo chí, nếu trong đó không có những kế hoạch truyền đạo bất chính mà Vatican không muốn cho các tôn giáo khác biết?  Câu trả lời thật là rõ ràng: “Tin Mừng” của Ca Tô Giáo phải được rao truyền qua những phương tiện, thủ đoạn lắt léo, bất chính và “cấm ngoại thủy không ai được biết”.  “Nói có sách, mách có chứng”, tôi không có nói vu vơ. Phần phân tích một số tài liệu mật của Vatican về sách lược cải đạo Á Châu sẽ chứng minh điều này.  Trước hết là một nhận định tổng quát.

 

   Những huấn thị viết trong các Bản Tin là một loạt những khẳng định vô trách nhiệm, kiêu căng vô lối, hỗn hào, láo xược, đối với các tôn giáo phi Ki-Tô, kèm theo những tiểu xảo hạ cấp để truyền đạo.

   Chúng ta hãy xét đoạn sau đây trong Bản Tin (Bulletin) số 7, trang 12:

 

  Một chiến thuật trong cuộc bút chiến là mô tả qua loa những sự phong phú (trong các tôn giáo phi Ki-Tô) nhưng sự công nhận những sự phong phú đó không được để cho những người ngoại đạo được hưởng.  Do đó chúng ta phải công nhận giá trị theo nghĩa hòa nhập, vì tư tưởng Ki Tô Giáo là trên hết.  Trích dẫn từ những người ngoại đạo phải được chọn dựa theo Thánh Kinh: những biểu tượng (của người ngoại đạo) phải được sửa đổi để đưa vào đó khuôn mặt của Giê-su; và sau cùng làm cho những lời lẽ của ngoại đạo sẽ mang ý nghĩa khác hẳn.  Những tôn giáo ngoại đạo không có gì là quan trọng cho chính chúng, mà chỉ là cho những ốc đảo chân lý nhỏ bé có chứa trong chúng..

   Xét về toàn thể, những tôn giáo và triết lý ngoại đạo chỉ là một đống những sai lầmChúng là kết quả của tội lỗi con người và sau cùng là của quỷ.  Nhưng trong sự tối tăm đó cũng còn có lập lòe chút ánh sáng.  Chính trong cái ánh sáng đó chúng ta phải khám phá ra thiện chí từ những người ngoại đạo và đoan chắc chân lý của Ki Tô Giáo, vì những mảnh chân lý đó đến từ đức Ki Tô.

   (It is a polemical way of describing riches glimsed, credit for which must not be left to the pagans.  So we must speak of a recognition of value but in the sense of an integration, for the Christian thought is primary throughout.  The pagan quotations are chosen with reference to Scripture: the symbols are modified to throw more into the relief the face of Jesus Christ; and finally the pagan words take on a totally different meaning.  The pagan religions have no importance for themselves, but solely for the little islands of truth which are contained in them….

   Taking as a whole, the pagan religions and philosophies are for them merely a mass of errors.  They are the fruit of the sins of men and ultimately of the devil.  But in this darkness there are still some gleams of light.  In this virtue of this light that we must proceed to discover the pagans of good will and confirm thus the truth of Christianity, for those scraps of truth come from Christ.  (7:12))

 

   Những lời huênh hoang kiêu căng vô lối, và những lời hỗn hào, láo xược, xuyên tạc, mạ lỵ các tôn giáo phi-KiTô như trên, chỉ để tuyên truyền nhồi sọ cho đám tín đồ ngu dốt chứ đối với thế giới Tây phương và nhất là đối với giới trí thức hiểu biết, chính Ca Tô Giáo mới là một đống những sai lầm: sai lầm từ Thánh Kinh cho tới các tín lý Ca Tô, sai lầm từ nền Thần học Ki Tô Giáo cho đến những giáo lý của giáo hội Ca Tô, sai lầm từ đạo đức của các giáo hoàng xuống tới các linh mục v..v…  Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng.  Thật vậy, chân lý của Ki Tô Giáo là gì, nếu không phải là những niềm tin vào một Giê-su đã chết đi ba ngày rồi sống lại, bay lên trời, và quyền năng “cứu rỗi” của Giê-su trong ngày phán xét cuối cùng? Nhưng những niềm tin như trên ngày nay đã trở thành những điều mê tín của một thiểu số trên thế giới vẫn còn sống trong bóng tối của sự đần độn tâm linh, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, do đó không biết rằng những niềm tin này đã bị đa số trên thế giới, kể cả các giới trí thức trong các giáo hội Ki Tô Giáo, vứt bỏ, vì chúng không còn một giá trị nào trước những bằng chứng trong khoa học về vũ trụ, về nguồn gốc con người, về sự bất khả hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục v..v.. mà không ai ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo có thể bác bỏ được.

   Nhưng vấn đề ở đây không phải là những luận điệu thiếu văn hóa của Vatican như trên mà là thủ đoạn mượn, nói nôm na là ăn cắp, những điều hay trong các tôn giáo phi Ki Tô rồi biến đổi chúng thành của Ki Tô Giáo, một thủ đoạn không mấy lương thiện.  Mặt khác, cùng trong Bản Tin số 7, trong một đoạn sau, trước tình hình tôn giáo hiện nay của thế giới, sự thay đổi trong sách lược truyền đạo được hoạch định như sau (7:15):

 

   Giáo hội không còn sống trong thời của những tổ phụ lập giáo.  Trong những ngày đó giáo hội sống trong sự nở rộ trẻ trung; giáo hội công khai chứng tỏ những hứa hẹn của tương lai và sẵn sàng nhanh chóng chinh phục thế giới.  Tình hình ngày nay đã khác.  Những tôn giáo phi-KiTô góp chung lại thì có nhiều tín đồ hơn.  Đối với tuyệt đại đa số các tôn giáo đó, có vẻ như giáo hội không còn là một sức mạnh trong tương lai.  Đó là tại sao chúng ta phải từ bỏ ý tưởng tấn công trực diện và thay thế bằng đối thoại, và tìm ra những giá trị  nội tại và những điều quý báu của mỗi giáo lý…

   Thay vì nghĩ về các tôn giáo khác như là một đống những sai lầm trong đó cũng có rải rác vài chân lý, chúng ta hãy nhìn trong các tôn giáo đó những công cụ đã giúp hàng triệu người tìm thấy Thiên Chúa và ngày nay vẫn còn tìm như vậy.  Nếu chúng ta hiểu biết rõ hơn về phần vụ của những tôn giáo dân gian trong lịch sử tôn giáo thế giới thì điều này sẽ giúp chúng ta rất nhiều.

   Từ đó, nhiệm vụ truyền giáo đang được phát triển trong tầm nhìn rộng rãi hơn.  Nó không còn là cải đạo cá nhân mà là, nói cho đúng ra,  cải biến chính những nền văn hóa tôn giáo khác.

   (The Church is no longer living in the time of the Fathers.  In those days she was in the bloom of youth; she showed openly the promises of the future and was ready swiftly to conquer the world.  The situation is different today.  The non-Christian religions taken together have more followers.  To the great majority of these the Church does not appear to be the force of the future.  That why we must give up the idea of a frontal attack and substitute that of dialogue, while seeking the intrinsic values and the religious treasures of every creed…

   Far from thinking of them as a mass of errors in which some scattered truths have survived, we must rather see in them the instruments which have helped millions of men to find God and are doing still to-day.  It will be a great help also if we have a better understanding of the part played by the pagan religions in the religious history of the world.

   Since then, the missions are developing a wider perspective.  It is no longer one of converting the individual but of converting the religious cultures themselves, so to speak. (7:15))

 

   Huấn thị cho các giám mục địa phương ở trên đã nói lên mục đích truyền đạo hay cải đạo Á Châu của Vatican là biến cải những nền văn hóa phi Ki Tô chứ không phải chỉ cải đạo cá nhân.  Đây chính là sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican.  Đối với Việt Nam, đây là một hiểm họa có thực nếu Vatican có thể thực hiện được mưu đồ của mình.  Cho nên, người Việt Nam chúng ta, nếu còn lòng yêu nước, yêu quê hương, còn tinh thần dân tộc thì bổn phận của mọi công dân là phải ý thức được hiểm họa này và phải ra sức ngăn chận âm mưu cải đạo Á Châu của Vatican.

   Để cho vấn đề rõ ràng hơn và cũng để cho người dân biết rõ hơn về kế hoạch xâm lược văn hóa và tôn giáo Á Châu của Vatican, sau đây tôi sẽ đi thêm vào một số chi tiết trong sách lược cải đạo Á Châu của Ca Tô Giáo Rô Ma và Tin Lành.

 

   Thủ đoạn rất quen thuộc của Ca Tô và Tin Lành trong sách lược cải đạo Á Châu gồm hai mặt: tấn công và chống đỡ.

   Trong mặt tấn công, họ dựa trên cái gọi là “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, lấy một số giáo lý của Phật giáo, xào xáo, thay đổi làm thành giáo điều của Ki Tô Giáo, đồng thời tung ra những bản văn xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo, mạ lỵ tăng đoàn, cố tình gây phản ứng trong Phật Giáo.  Khi Phật Giáo phản ứng để phản bác thì họ giữ im lặng, lợi dụng bản tính hiền hòa và khoan nhượng tôn giáo của người dân Á Châu, đưa ra mặt chống đỡ, tạo trong quần chúng một ý tưởng là chính Phật Giáo là phe khởi xướng cuộc tranh chấp tôn giáo, gây chia rẽ, làm mất tình hòa hợp đoàn kết quốc gia.  Ngoài ra, họ còn mua chuộc, hối lộ các chính quyền địa phương để ngăn chận sự phổ biến những tài liệu phản kháng, vạch trần âm mưu của họ, trong quần chúng.  Thủ đoạn này đã thành công phần nào ở Thái Lan và ở Việt Nam.  Người dân ít hiểu biết và ngay cả chính quyền cũng rất dễ bị lừa dối bởi thủ đoạn này, không nhận thức được bộ mặt thật của Ki Tô Giáo. 

   Những mánh mưu và luận điệu tuyên truyền lừa bịp của họ không thể kể hết và phân tích trong phạm vi bài viết này.  Ở đây tôi chỉ xin trích dẫn một tài liệu của Thái Lan để từ đó chúng ta có thể suy ra những kinh nghiệm cho Việt Nam, rồi tôi sẽ phân tích vài điểm cốt yếu nhất trong luận điệu tuyên truyền lừa bịp của Ca Tô và Tin Lành.

 

   Năm 1984, tuy chưa tới 1% dân Thái theo Ki Tô Giáo nhưng chính quyền Thái đã cho phép Giáo hoàng John Paul II đến Thái Lan viếng thăm tín đồ của ông.  Sau Công Đồng Vatican II, Ca Tô Giáo Rô Ma mở chiến dịch truyền đạo ở Thái với nhiều thủ đoạn bất lương và bất chính.  Trước tình hình như vậy, nhiều tổ chức Phật Giáo ở Thái Lan đã ra tuyên ngôn kèm theo bằng chứng, và viết thư phản đối gửi đến các chức sắc Ca Tô trong giáo hội Ca Tô tại Thái.  Nhưng giáo hội Ca Tô tại đây ù lì, không có một biện pháp sửa sai nào.  Cho nên, nhân dịp giáo hoàng sắp viếng thăm Thái Lan, nhiều tổ chức Phật giáo cũng như dân sự Thái Lan đã viết những bức thư ngỏ gửi giáo hoàng, trình bày và phản đối những hành động sai trái của Ca Tô giáo tại Thái Lan. Điển hình là Tỳ Kheo Sathienpong Wannapok đã viết một bức thư ngỏ gửi John Paul II.  Đọc kỹ bức thư, và nếu chúng ta hiểu về lịch sử và bản chất của Ca Tô Giáo Rô Ma, thì đây vừa là một cái tát vào mặt Giáo hoàng, vừa là một bài học về đạo đức tôn giáo cho giáo hoàng, tuy lời văn khiêm tốn và nhẹ nhàng.  Nguyên văn bức thư như sau:

3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“CỦA GH JOHN PAUL II – Trần Chung Ngọc

3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐOẠN ĐẦU TRONG BẢN “TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á“
                 CỦA GH JOHN PAUL II

 

 BẢN TÔNG HUẤN LÀ MỘT LỜI TUYÊN CHIẾN CHỐNG NỀN VĂN HÓA Á ĐÔNG, CÁC TÔN GIÁO Á ĐÔNG, VÀ XÃ HỘI Á ĐÔNG NÓI CHUNG, ẤN ĐỘ GIÁO NÓI RIÊNG.

   (“Ecclesia in Asia” is a Declaration of War against Asian culture, Asian religions, and Asian society in general, and Hinduism in particular.)

MAC KHER (WWW.NYCNY.COM)

 

     Lâu lâu, Tòa Thánh lại tung ra một bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng, với danh nghĩa là người thừa kế Phê-rô, một tông đồ của Chúa Giê-su khi xưa mà giáo hội phịa ra chuyện Chúa đã trao cho nhiệm vụ thành lập giáo hội Ca Tô, để dạy dỗ các tín đồ có đầu mà không có óc, về một vấn đề nào đó.  Tuy nhiên, không phải tất cả mọi tín đồ đều thuộc loại vô não. Cho nên, trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma, đã có nhiều trường hợp mà tín đồ không những coi “Tông Huấn” này hay “Tông Huấn” nọ của Tòa Thánh như không có, mà còn lên tiếng phê bình chỉ trích.

    Bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) mà Vatican tung ra trong dịp Giáo hoàng John Paul II đến Ấn Độ vào tháng 11 năm 1999 có nội dung chỉ đạo cho các giám mục Ca Tô ở Á Châu phải tăng gia nỗ lực cải đạo Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba của Tây phương. Nỗ lực cải đạo Á Châu này dựa trên một nền thần học mới có tên là “Thần học theo cung cách Á Châu”, nội dung  của nền thần học này chỉ là những mánh mưu, thủ đoạn ăn cắp những cái hay của các nền văn hóa và tôn giáo Á Đông, xào xáo lại, thay đổi và diễn giải xuyên tạc để biến chúng thành của Ki Tô Giáo như sẽ được chứng minh trong một phần sau. 

   Thần học Ki Tô Giáo, bất kể là nó mang cái nhãn hiệu nào, cũng chỉ là môn học về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, một môn học đã quá lỗi thời, ngày nay không còn có thể thuyết phục được ai.  Thật vậy, Giáo sư David Voas, đại học New Mexico, Hoa Kỳ,  tác giả cuốn sách khảo cứu Tân Ước nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước, đã viết trong phần dẫn nhập như sau:

 

   Thật là đáng xấu hổ…  Thần học – chấp nhận như là môn học về Thiên Chúa – bị coi là không có chủ đề nào, hoặc ít nhất là không có chủ đề nào chúng ta có thể nghiên cứu.  Đó là ngành học duy nhất với những chuyên gia thực sự không biết mình đang nói cái gì… Những tư tưởng gia Ki Tô ngày nay có nhiệm vụ phải chứng tỏ rằng Thánh Kinh có ý nghĩa, nhất quán, và có đạo đức.  Điều này thật là khó khăn.

   (David Voas, The Bad News Bible: The New Testament, Introduction: It’s a shame… Granted, theology – the study of God – suffers from the suspicion that it has no subject, or at least none we can study.  It is the only field with experts who don’t know what they are talking about… Christian thinkers now have the job of showing that scripture makes sense, is consistent, and appears morally defensible.  This can be difficult.)

    Đọc kỹ bản “Tông Huấn..” chúng ta thấy rõ đúng là tác giả thực sự không biết mình đang nói cái gì.  Trước khi đi vào phần nhận định một đoạn nhỏ tiêu biểu trong bản “Tông Huấn..”, tưởng chúng ta cũng nên biết thực chất nền

thần học Ki Tô Giáo là như thế nào.

    H. L. Mencken (1880-1956), một Văn hào Mỹ, đã viết:

    “Thần học: một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng cách đặt sự giải thích vào những cái không đáng biết”

   (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.)

 

   Và Alfred North Whitehead (1861-1947), một nhà Toán học và Triết gia Mỹ cũng đưa ra nhận định:

    Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại.

   (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race).

    Và cũng vì vậy mà John E. Remsburg đã viết trong cuốn False Claims (Những Điều Nhận Vơ Sai Sự Thực của Giáo hội Công Giáo. TCN):

    Trong  những giới  thông  minh  ở  Âu châu và  Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết. 

    (Among the intelligent classes of Europe and  America, Christian theology is practically dead.)

 

   Remsburg đã đưa ra một nhận định rất đúng: không phải là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã chết, theo như quan niệm của Nietzche, mà là chính nền thần học Ki Tô Giáo đã chết.  Bởi vì làm gì có Thiên Chúa để mà chết.  Cái chết đi chính là nền thần học Ki Tô Giáo đã tạo nên một vị thần hay Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, và nền thần học này ngày nay đã không còn chỗ đứng trong sự tiến bộ trí thức của nhân loại, dù nó mang nhãn hiệu Phi Châu hay Á Châu.

   Thế mà, ngày nay Giáo hội Công Giáo La Mã còn tung ra chiến dịch cải đạo Á Châu.  Phải chăng giáo hội tin rằng dân Á Châu ngu muội, không có ai đủ thông minh để nhận ra mánh mưu của giáo hội, nên ai ai cũng sẽ nhắm mắt nuốt trọn cái gọi là “Thần học theo cung cách Á Châu”, một nền thần học gian dối, hạ đẳng, xảo quyệt nhất trong các loại thần học?

    Khi xưa, ở vị thế Thần quyền chỉ huy thế quyền, giáo hội đã thi hành một sách lược cải đạo ở khắp nơi trên thế giới bằng cường quyền, bạo lực, và cưỡng ép.

   Thật vậy, học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden, sau khi nghiên cứu về lịch sử Ki Tô Giáo đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Sau Cùng (The Final Superstition), trang 169, như sau:

    “Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki Tô Giáo trong cả hai thế giới cổ và Tân thế giới phần lớn dựa vào sự cưỡng bách bạo hành và đàn áp.  Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc tiêu diệt những người lạc đạo ngay từ thuở đầu, cho tới những cuộc thánh chiến, những tòa án xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác khắp hoàn cầu, Ki Tô Giáo đã chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống nhân loại của tôn giáo này.”

   (In summary, the evidence is overwhelming that the propagation of Christianity in both the Old World and the New was due in large measure to coercion, persecution and suppression.  Throughout its history, from the earliest purges of heretics, through the crusades, the Inquisition, and repression of other cultures throughout the world, Christianity was demonstrated its destructive anti human values.)

 

3 nhà trí thức chống Kitô

 

   Đây là những vết nhơ không bao giờ có thể rửa sạch trên khuôn mặt của giáo hội.  Nhưng ngày nay, giáo hội đã mất đi thế quyền, và thần quyền đã không còn một giá trị nào ngoài khối tín đồ thấp kém, mê tín, cả tin, giáo hội không còn có thể áp dụng sách lược “cường quyền bạo lực thắng công lý” được nữa.  Đúng như John E. Remsburg đã nhận định trong cuốn Những Lời Nhận Vơ (Của giáo hội Ca Tô) False Claims, trang 24:

    “Hình như tôi nghe người Ki Tô biện hộ cho giáo hội nói: “Nhưng bây giờ giáo hội không còn giết nữa”.  Đúng vậy, một con hổ sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi.  Ngày nay giáo hội không còn giết nữa vì không còn quyền lực để mà giết.  Bó củi (để thiêu sống người) và thanh gươm (để giết người) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và ngày nay giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống.”

   (“But the church does not kill now,” methinks I hear the Christian apologist exclaim.  No, a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious.  The church does not kill now because it does not have the power to kill.  The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.)

 

   Suốt trong chiều dài lịch sử, giáo hội Ca Tô Rô Ma đã nổi tiếng về xảo thuật ngụy tạo tài liệu, sửa đổi Thánh Kinh, nói ngang nói ngược, nói ngược nói xuôi v..v.. để kéo con người vào đạo.  Cái gọi là “Thần học theo cung cách Á Châu” cũng không ra ngoài lệ, có đầy đủ những sắc thái trên.  Và do đó, bản “Tông huấn..” của Giáo hoàng John Paul II là một văn kiện ngụy biện, dối trá, gian xảo, nhằm mục đích đẩy mạnh nỗ lực cải đạo Á Châu của Ca-tô giáo Rô-ma bất kể thủ đoạn.

   Theo Mac Kher (www.nycny.com) thì bản “Tông Huấn..” “là một lời Tuyên Chiến chống nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ Giáo nói riêng.”     

   Điều đáng nói là, để chống nền văn hóa nhân bản Á Đông, các tôn giáo trí tuệ của Á Đông, và các xã hội phi Ki-Tô ở Á Đông, bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng John Paul II đã phải vận dụng tối đa xảo thuật diễn giải méo mó Kinh Thánh cùng viện dẫn rất nhiều điều trong Thánh Kinh, coi đó là những chân lý, trong khi đối với thức giả ngày nay thì những điều được viện dẫn thực ra chỉ là những điều mê tín vụn vặt (out of context) cổ xưa còn sót lại và không còn một giá trị nào trong thế giới khoa học, tiến bộ trí thức của nhân loại.  Chứng minh?

 

    Trong bài nhận định về bản “Tông Huấn” ở trên, tác giả Ngô Triệu Lịch đã đưa ra những nhận định sâu sắc, rất chính xác, và khá chi tiết về bản “Tông Huấn..” cho nên tôi sẽ không đi vào nhiều chi tiết trong đó.  Ở đây, tôi chỉ muốn chứng minh những nhận định tổng quát như trên của tôi về bản “Tông Huấn..” qua sự phân tích đoạn đầu tiên trong bản  “Tông Huấn..”,  mục  “Kế Hoạch  Kỳ Diệu  Của

Thiên Chúa Tại Á Châu”:

 

   1. Giáo Hội tại Á Châu phải ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này. Thật vậy, chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Ngài hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi Môsê đưa dân Ngài đến chỗ tự do (x. Xh 3,10). Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và những phụ nữ can đảm trong đức tin. Và “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu ! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).

 

   Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng điểm một trong đoạn trên.  Trước hết tôi xin quý độc giả hãy kiên nhẫn, vì phê bình đoạn văn ngắn ngủi trên, tôi lại phải viết khá dài, nếu không, tôi không thể vạch rõ thủ đoạn xử dụng Thánh Kinh một cách không được quang minh chính đại cho lắm của Giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”.

   Trước hết, thực ra thì “Kế Hoạch Kỳ Diệu Của Thiên Chúa Tại Á Châu” là như thế nào?   Chúng ta hãy đọc câu mở đầu:

 

   “Giáo Hội tại Á Châu phải ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này.”

   (Ecclesia in Asia:  The Church in Asia sings the praises of the “God of salvation” (Ps 68:20) for choosing to initiate his saving plan on Asian soil, through men and women of that continent.)

 

   Bản “Tông Huấn..” viết như vậy, nhưng sự thực lịch sử thì sao?  Không ai có thể phủ nhận sự kỳ diệu nhất của kế hoạch Thiên Chúa tại Á Châu là Á Châu không hề biết đến Thiên Chúa trong mấy ngàn năm nay.  Hiện nay ở Á Châu chỉ có chưa tới 3% biết tới Thiên Chúa và những thế hệ đầu tiên của số người này thuộc giới cùng đinh nghèo khổ, ít học trong xã hội.  Họ là nạn nhân của những cuộc chinh phục thuộc địa của Âu Châu, dựa vào sức mạnh của súng ống, kỹ thuật hàng hải, và bả vật chất chứ không phải dựa vào “Tin Mừng” (sic) của Thiên Chúa.  Trong số những nạn nhân bất hạnh đáng kể nhất chúng ta phải kể Phi Luật Tân, bị Tây Ban Nha chiếm, đổi luôn tên nước và cưỡng bức cả nước phải theo Ca Tô Giáo Rô Ma.  Hiện nay hơn 60% dân Phi sống dưới mức nghèo khổ (Over 60% live under the poverty line). Thứ đến là Việt Nam, tuy bị Pháp đô hộ gần 100 năm và Công Giáo La Mã chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng số giáo dân luôn luôn chỉ quanh quẩn ở mức 7% dân số, phần lớn sống trong  những ốc đảo Công Giáo ngu dốt (Từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm).  Những ốc đảo này nguyên thủy là những vùng dân đánh cá nghèo nàn như Bùi Chu, Phát Diệm v..v… 

   Trái lại, Trung Quốc, một nước với trên 1 tỷ 3 dân, tuy đã có thời bị Tây phương xâm chiếm một phần nhỏ, nhưng ngày nay cũng chỉ chưa tới 4 phần ngàn theo Ki Tô Giáo.  Nhật Bản với khoảng trên dưới 130 triệu dân cũng chỉ có chưa tới  1% theo Ki Tô Giáo.  Thái Lan cũng vậy, tuy Công Giáo La Mã đã tung ra những đòn phá ngầm Phật Giáo từ thập niên 1970, 80, nay cũng chỉ chưa tới 1% theo Ki Tô Giáo trên một dân số trên 60 triệu.  Kế hoạch cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa khởi sự ở Á Châu, cho dân Á Châu, nhưng kế hoạch đó lại không thể phát triển được ở Á Châu trong suốt 2000 năm qua.  Nghịch lý này được giải thích cho giáo dân có đầu mà không có óc: đó là sự mầu nhiệm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thật vậy, trong bản “Tông Huấn..”, mục 2, có viết: “Quả là một mầu nhiệm khi Đấng Cứu Thế sinh ra tại Á Châu lại vẫn cứ vô danh đối với các dân tộc trên lục địa này cho tới ngày hôm nay.”  Và ngày nay, Vatican  muốn tước bỏ sự mầu nhiệm trên của “Đấng Cứu Thế” của Ca Tô Giáo Rô Ma bằng cách hô hào các giám mục địa phương phải gia tăng nỗ lực cải đạo Á Châu, với hi vọng làm cho Đấng Cứu Thế từ “vô danh” trở thành “hữu danh”, hiện nguyên hình là một bung xung của một  tổ chức thế tục mượn danh Chúa để mưu cầu những quyền lợi thế tục.  Sự mầu nhiệm của Chúa không chỉ có ở Á Châu mà hiện hữu ngay trong cái nôi của Ki Tô Giáo.  Như  chúng ta đã biết, trong những nôi của Ki Tô Giáo nói chung, đặc biệt là của Ca Tô Giáo Rô Ma, Ki Tô Giáo đang suy thoái không có cơ cứu vãn.  Sự mầu nhiệm này không được giáo hoàng nói tới.

   Sự tiến bộ trí thức của con người đã mở mắt Tây Phương, kéo họ ra khỏi thời đại man rợ và đen tối trí thức (the ages of barbarism and intellectual darkness), thời đại mà Ca Tô Giáo Rô Ma độc chiếm thần quyền và thế quyền ở Tây phương. Và ngày nay, Tây phương đang sống như là không có Thiên Chúa như hội đồng giám mục đã ghi nhận ở trên.  Trong thiên niên kỷ thứ ba của Tây phương này, người dân Á Đông, về vấn đề tâm linh vốn đã vượt xa Tây phương từ ngàn xưa, cho nên đã từ khước “Tin Mừng” của Thiên Chúa trong bao thế kỷ nay, ngay cả khi dưới áp lực của thực dân và đoàn quạ đen đồng hành với thực dân, chẳng lẽ nay lại tự nguyện tụt hậu đến độ phải hồ hởi chấp nhận đồ phế thải tâm linh của Âu Châu, và đi giật lùi trở lại   thời đại man rợ và đen tối trí thức của thời Trung Cổ hay sao?  Không thể nào có chuyện đó, vì thật ra, cái gọi là “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa” chỉ là kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu của giáo hội Ca Tô Rô Ma hoàn vũ chứ làm gì có Thiên Chúa để mà đặt kế hoạch, và ai có thể biết được kế hoạch của Thiên Chúa ra sao nếu thực sự có một thực thể không ai thấy, không ai biết, không ai hiểu, mang nhãn hiệu Thiên Chúa?  Tất cả chỉ là mượn danh Thiên Chúa để lừa dối đám dân đầu óc yếu kém mà thôi.

 

    Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là cái mà Ki Tô Giáo gọi là Thiên Chúa thực ra chỉ là một vị thần của dân Do Thái khi xưa, và sự hiện hữu của Thiên Chúa đó hiện nay là một dấu chấm hỏi lớn.  Chúng ta cũng bỏ qua sự kiện là Á Châu là một tên địa dư (geographical name) chứ không phải là một lục địa mà trên đó chỉ có một sắc dân thuần nhất.  Trên lục địa này có nhiều sắc dân khác nhau, với những màu da, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán khác nhau, tiếng nói khác nhau v..v…không liên hệ gì tới nhau, cho nên Thiên Chúa của một đám dân du mục Do Thái nhỏ bé khi xưa, nếu có, tuyệt đối không phải là Thiên Chúa của những sắc dân khác như Hi Lạp, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, A Phú Hãn, Saudi Arabia, Iran, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,Việt Nam v..v..

   Mặt khác, trong phần nhận định sơ khởi, tôi đã đưa ra những tài liệu của giáo hoàng chính thức công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, công nhận thuyết tiến hóa, bác bỏ sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục, do đó đã chính thức bác bỏ những huyền thoại sáng tạo, tội tổ tông, cứu rỗi, luận phạt v..v.. cho nên cụm từ “Thiên Chúa cứu độ (sic)” đã trở thành hoàn toàn vô nghĩa.  Ở đây, tôi sẽ không đi vào chi tiết những huyền thoại trên mà ngày nay đã trở thành lỗi thời, thuộc loại mê tín, mà tôi chỉ muốn vạch ra xảo thuật  diễn giải và trích dẫn Thánh Kinh (Tv 68,20) một cách lắt léo, gian xảo, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) của giáo hoàng, phản ánh một sự bất lương trí thức cố hữu của Ki Tô Giáo từ ngày đầu.

    Tiểu xảo của các nhà truyền giáo Ki Tô là trích dẫn vụn vặt Thánh Kinh, rồi diễn giải lệch lạc chúng với mục đích lừa dối quần chúng thấp kém.  Sách lược này đã có hiệu quả và thành công trong quá khứ, khi mà giáo dân không được phép đọc Thánh Kinh và giới giáo sĩ giữ độc quyền rao giảng Thánh Kinh.  Nhưng ngày nay, nhân loại đã tiến bộ nhiều, và đòn phép diễn giải Thánh Kinh một cách tùy tiện đã luôn luôn bị vạch trần, không còn có thể lừa dối được ai nữa.

    Thật vậy, cũng như Matthew trong Tân Ước đã tách riêng Isaiah 7, 14 để “chứng minh láo” là sự sinh ra của Giê-su phù hợp với lời “tiên tri“ (sic) trong Cựu Ước, Giáo hoàng đã tách riêng Tv 68, 20 để “chứng minh láo” về cái gọi là “kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trên đất Á Châu”, cho rằng cách đây 3000 năm, trong thời đại của David, Thiên Chúa của Do Thái thật sự đã biết đến toàn thể Á Châu, một chuyện hoang đường không thể nào phù hợp với những sự kiện lịch sử và nội dung Thánh Kinh.  “Chứng minh láo” vì như Thomas Paine đã nhận định rất đúng về các Thánh Vịnh (hay Thi Thiên) trong cuốn Thời Đại Lý Trí (The Age of Reason) như sau: “Phần lớn những thánh vịnh liên hệ đến những hoàn cảnh địa phương của dân Do Thái trong thời buổi chúng được viết, chớ chẳng dính líu gì đến chúng ta.”  (The greater part of the Psalms relates to certain local circumstances of the Jewish nation at the time they were written, with which we have nothing to do).  Nhận định này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn trong phần phân tích sau đây.

 

   Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của các Thánh Vịnh, hay Thi Thiên (Psalms) mà Ki Tô Giáo thường cho David là tác giả. Ki Tô Giáo tôn David là thánh, thực ra  David chỉ là một tên tướng cướp, một bạo chúa, hoang dâm vô độ, vô đạo đức và cuồng sát (Xin đọc bài “Thánh David Là Ai?” trong phần Phụ Lục, cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?” của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, tháng 4, 2002).  Và “Thánh vịnh” là một tập hợp 150 bài thơ dài ngắn khác nhau mà nội dung là những lời rên rỉ, ca thán, vò đầu bứt tai, của những kẻ loạn thần kinh, bài nào cũng buồn chán như bài nào (Xin đọc The Happy Heretic của  Judith Hayes, p. 131: Psalms: This is one long, whining, grousing, hand-wringing, neurotic harangue. There are 150 chapters, each as depressing as the next.)  Nếu Thánh Vịnh có đôi chút giá trị thì đó là giá trị văn chương trong thời đại cách đây 3000 năm chứ tuyệt đối không thể có những giá trị tâm linh cho những dân tộc phi – Do Thái, nhất là trong thời đại tiến bộ trí thức ngày nay.

    Thánh Vịnh 68 có đầu đề là “Sự Vinh Quang của Thiên Chúa về lòng tốt của Ngài đối với Israel” (Holy Bible, The New King JamesVersion, p. 501: The Glory of God in His Goodness to Israel), do đó chỉ liên hệ đến dân Israel (Do Thái), không liên quan gì đến bất cứ dân tộc nào khác ngoài Israel. Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước tiếng Việt (The Holy Bible in Vietnamese), American Bible Society, New York, 1998, cũng vậy, viết đầu đề của Tv 68 là: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Si-na-i (Do Thái) và của nơi thánh.” không liên hệ gì đến bất cứ dân tộc nào khác.

   Chúng ta hãy đọc Thánh Vịnh 68, 20 và đọc tiếp theo Thánh Vịnh 68, 21-23 thì sẽ thấy rõ sự xảo quyệt của giáo hoàng trong việc trích dẫn Thánh Kinh như thế nào, cùng lúc sẽ thấy rõ bản chất của Thiên Chúa mà Giáo hội tại Á Châu phải ca ngợi, theo lệnh của giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”, Thánh Kinh tiếng Việt, trang 543:

 

20.  Đức Chúa trời (của chúng tôi) là Đức Chúa trời giải cứu chúng tôi, Ấy là nhờ Chúa Giê-Hô-Va mà loài người được tránh khỏi sự chết.  21.  Nhưng Đức Chúa trời sẽ đạp nát đầu kẻ thù nghịch Ngài, Đỉnh tóc của kẻ cứ phạm sự gian ác. 22.  Chúa đã phán rằng: Từ Ba-san Ta sẽ dẫn dân ta về, đem chúng nó lên khỏi biển sâu:  23.  Để người dầm chân mình trong huyết, Và lưỡi chó ngươi cũng được phần trong kẻ thù nghịch ngươi  (Psalms 68, 20-23: 20.; Our Lord is the Lord of salvation, And to God the Lord belong escapes from death.  21.  But God will wound the head of His enemies, The hairy scalp of the one who still goes on in His trespasses.  22.  The Lord said, “I will bring back from Bashan, I will bring them back from the depths of the sea,  23. That your foot may crush them in blood, And the tongues of your dogs may have the portion from your enemies.”)

 

   Đây là một bài thơ của David viết cho “thầy soạn nhạc” để ca tụng Đức Chúa Trời của Isarel.  Rõ ràng là “Đức Chúa Trời” này chỉ là một vị Thần của dân Do Thái mà David tin là chính vị Thần này đã giúp David để chiến thắng quân thù. Đọc toàn thể Thánh Vịnh 68, từ 1 đến 35, chúng ta thấy đây là một bài ca ca tụng Thần Giê-hô-va, thần của dân Do Thái, đã giúp ông ta chiến thắng quân thù. Thật vậy, Tv 68, 20 mở đầu bằng câu “Đức Chúa trời (của chúng tôi) là Đức Chúa Trời giải cứu chúng tôi” (Our God is the God of salvation).  Chúng tôi ở đây là ai?  Rõ ràng chỉ là người Do Thái, và Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái, tuyệt đối không phải là Thiên Chúa của loài người.   Cho nên, chữ “salvation” trong Tv 68, 20 chỉ có nghĩa là “cứu giúp” hay “giải cứu” như Kinh Thánh tiếng Việt đã viết, chứ không có nghĩa tôn giáo là “cứu rỗi linh hồn” hay “cứu rỗi linh hồn khỏi tội qua một Đấng Cứu Rỗi” (Salvation from sin through a Savior) của nền thần học Ki Tô Giáo sau này, và tuyệt đối không có nghĩa là “cứu độ”, một danh từ đặc thù của Phật Giáo với ý nghĩa khác hẳn sự “cứu rỗi” của Ki Tô Giáo.  Dịch “salvation” trong Ki Tô Giáo là “cứu độ” là một sách lược lấy những tư tưởng, từ ngữ trong các tôn giáo Á Đông làm tư tưởng, từ ngữ của Ki Tô Giáo để xâm nhập các xã hội Á Đông trong việc truyền đạo.  Và  lấy một câu trong Thánh Vịnh 68 ra, một câu chỉ liên hệ đến dân Do Thái, rồi diễn giải “Thiên Chúa giải cứu dân Do Thái” là “Thiên Chúa cứu độ” cho toàn thể Á Châu là một thủ đoạn lừa dối bất lương trí thức, nhằm đạt một mục đích thế tục: quyền lực tinh thần cũng như quyền lợi vật chất của giới giáo sĩ trên đám tín đồ kém hiểu biết, cả tin.   Điều này sẽ được chứng minh rõ ràng hơn trong một phần sau.

 

    Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là bản Kinh Thánh tiếng Việt đã hiểu sai và dịch sai Tv 68, 20-23 như trên.  Vì nếu hiểu đúng và dịch đúng thì chữ “them” trong Tv 68, 22 không phải là “dân ta” mà là những kẻ thù của Giê-hô-va.  Ngoài ra “escapes from death” là những người Do Thái thoát chết trong cuộc chiến với kẻ thù chứ tuyệt đối không có nghĩa “loài người được tránh khỏi sự chết”.  Lịch sử của Do Thái cách đây khoảng 3000 năm tuyệt đối không dính dáng gì đến “loài người” vì chính Thần của Do Thái trong Cựu Ước, alias Giê-hô-va, alias “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II, cũng không biết là quả đất tròn, như đã viết rõ trong Thánh Kinh.

   Kẻ thù của Giê-hô-va là ai?  Cũng là kẻ thù của David vì Giê-hô-va đã chọn David, về phe David, và đã giúp David chiến thắng kẻ thù nhiều lần, cũng như đã giúp David chiến thắng trong huyền thoại “cậu bé David đánh bại người khổng lồ Goliath”.  Vì vậy, theo sự hoang tưởng của David, thần mới nói ( The Lord said): dù chúng có lên núi, xuống biển, thần cũng kéo chúng về để cho dân Do Thái dẫm chân nghiền nát chúng trong máu (your foot may crush them in blood) và chó của dân Do Thái cũng có phần thưởng là được liếm máu chúng (And the tongues of your dogs may have the portion from your enemies.).  Đúng là một hoang tưởng của David vì theo Ca-Tô Giáo thì không ai thấy được Thiên Chúa (invisible), không ai biết được Thiên Chúa (unknowable), không ai hiểu được Thiên Chúa (incomprehensible).  Vấn đề là, một vị thần của dân Do Thái khát máu và dã man như vậy mà nay được giáo hoàng dạy các giáo hội Á Châu phải “ca ngợi “Thiên Chúa cứu độ”(sic) (Tv 68,20) vì đã quyết định khởi sự kế hoạch cứu độ của mình trên mảnh đất Á Châu, thông qua những người nam người nữ của lục địa này.”

   Có thể nào có một luận điệu thần học nào gian dối, lắt léo, sai sự thật hơn là suy diễn “Thiên Chúa giải cứu” dân Do Thái cách đây 3000 năm thành “Thiên Chúa cứu độ” cho toàn thể Á Châu không?  Thế mà nó nằm ngay trong câu đầu của bản “Tông Huấn..” của “Đức Thánh Cha” và bản “Tông Huấn..” này được Phêrô ĐXT – Antôn NNS chuyển ngữ và giới thiệu như sau: “Đây là Tông Huấn, trong đó, Đức Thánh Cha đúc kết và chuẩn nhận những suy tư sâu sắc, những nhận định đúng đắn và những phương hướng hành động của Thượng Hội Đồng Giám Mục bàn về Á Châu.”  Sâu sắc và đúng đắn ở chỗ nào?  Chẳng trách là đã có vị linh mục ở Saigon than thái độ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là “Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm”.  Thật là tội nghiệp.

   Chúng ta hãy đọc tiếp bản “Tông Huấn..”: “Thật vậy, chính tại Á Châu, ngay từ đầu Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Ngài hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi Môsê đưa dân Ngài đến chỗ tự do (x. Xh 3,10). Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và những phụ nữ can đảm trong đức tin.”  (It was in fact in Asia that God revealed and fulfilled his saving purpose from the beginning. He guided the patriarchs (cf. Gen 12) and called Moses to lead his people to freedom (cf. Ex 3:10). He spoke to his chosen people through many prophets, judges, kings and valiant women of faith.)

 

    Chúng ta hãy khoan bàn đến những chuyện hoang đường về Moses trong Cựu Ước và đặt một câu hỏi:  “Chuyện Thiên Chúa của dân Do Thái “hướng dẫn các tổ phụ Do Thái và kêu gọi Môsê đưa dân của Thiên Chúa (dân Do Thái) đến chỗ tự do” thì có dính dáng gì đến toàn thể Á Châu, một lục địa rộng lớn mà chính Thiên Chúa cũng không biết hết?  Dân Do Thái bị Ai Cập bắt làm nô lệ và sau đó được tự do nhờ “kế hoạch cứu độ” (sic) của Thiên Chúa đối với dân của Ngài, dân Do Thái.  Vậy mắc mớ gì đến các dân tộc khác trong lục địa Á Châu? 

     Khi Đức Quốc Xã áp dụng chính sách diệt chủng, giết 6 triệu người Do Thái, thì sao không ai thấy “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đối với dân của Ngài (dân Do Thái)?  Nhưng sự kiện Thiên Chúa giúp dân Do Thái thoát khỏi cảnh nô lệ, nếu chúng ta có thể tin được huyền thoại này vì ngày nay các học giả đã bác bỏ hoàn toàn điều mê tín cổ xưa này của dân Do Thái, thì việc đó cũng không thể diễn giải là thuộc kế hoạch cứu độ (sic) của Thiên Chúa.  Vì  kế hoạch “cứu rỗi” của Thiên Chúa là để cho những người tin Chúa chứ không phải là sự thoát khỏi cảnh nô lệ, khoan kể là chính Thiên Chúa cũng đã cổ súy việc mua bán nô lệ trong Thánh Kinh như chúng ta sẽ chứng minh về sau.

   Thật vậy, Việt Nam bị Tàu đô hộ tất cả là cả ngàn năm, nhưng đã nhiều lần đánh đuổi quân xâm lăng, lấy lại tự do, chủ quyền cho đất nước.  Đó là nhờ các ông Vua vô thần hay các ông Vua Phật Giáo như trong thời đại Lý Trần, đâu có cần đến “kế hoạch cứu độ” (sic) của Thiên Chúa của dân Do Thái, làm ra vài phép lạ để cho Tàu hoảng sợ và trả độc lập tự do cho Việt Nam?  Gần đây, Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm.  Nhưng sau cùng Tây cũng bị đánh đuổi về Tây, đó là nhờ công của ai, nếu không phải là của Cộng Sản Vô Thần?  Việt Nam đâu có cần đến Thiên Chúa của Do Thái trổ tài làm phép lạ để trừng phạt thực dân Pháp, giúp Việt Nam thu hồi chủ quyền?  Dân Do Thái có thể biết ơn Thiên Chúa của họ vì tin rằng chính Thiên Chúa đó đã cứu dân tộc họ ra khỏi vòng nô lệ như được kể trong huyền thoại về Moses trong Thánh Kinh.  Nhưng người Việt Nam chúng ta thì đương nhiên là phải nhớ ơn tổ tiên, ông cha chúng ta, và ngay cả Cộng Sản vô thần (Voltaire đã từng nói: “Vô thần là thói xấu của một số ít người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people)) đã có công đánh đuổi xâm lăng, giành lại quyền tự chủ, độc lập cho nước nhà.  Thời đại Lý Trần thì không hề có ai biết đến Thiên Chúa, và thời cận đại thì Thiên Chúa đã dẫn dân Bùi Chu, Phát Diệm di cư vào Nam.  Thiên Chúa và Đức Mẹ đi trước, giáo dân đi theo sau, và đến năm 1975 thì Thiên Chúa lại theo Mỹ về Mỹ, có cứu giúp gì được dân Việt đâu?  Vậy “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đối với dân Việt Nam là kế hoạch nào, khoan nói đến chuyện là cho toàn thể Á Châu.  Tất cả những huyền thoại về Thiên Chúa của dân Do Thái đều xảy ra ở Trung Đông, quanh vùng Jerusalem.  Vậy tôi đề nghị Vatican hãy mang “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đến các nước lân cận Jerusalem như A Phú Hãn, Iran, Saudi Arabia, Ai Cập, Pakistan v..v.. trước, có thành công rồi hãy tính đến chuyện mang “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa đến các nơi xa hơn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam v…v…  Chưa làm được như vậy thì tại sao chúng ta lại có thể nuốt nổi chuyện tầm phào là Thiên Chúa của dân Do Thái ở Á Châu giúp cho dân Do Thái được tự do là thực hiện kế hoạch cứu độ (sic) cho toàn thể Á Châu?  Rõ ràng đây chỉ là một luận điệu bịp bợm bất kể đến sự lương thiện trí thức của con người.

 

   Để cho vấn đề được rõ ràng hơn nữa, chúng ta cần trở lại lịch sử Do Thái.  Trong giai đoạn mà tất cả các bé trai sơ sinh Do Thái đều bị ném xuống sông, vào khoảng thế kỷ 13 Trước Thường Lịch (TTL), thì Môsê (Moses) sinh ra đời. Môsê là ai?  Thánh Kinh viết rõ, Môsê là sản phẩm của một cuộc loạn luân: Cha của Môsê lấy cô ruột của mình và sinh ra Aaron và Moses (Exodus 6: 20:  Amram lấy Jochebed, cô ruột của mình, làm vợ, và bà sinh ra Aaron và Moses (Now Amram took for himself  Jochebed, his father’s sister, as wife, and she bore him Aaron and Moses)).  Mẹ của Moses không nỡ giết con nên để Moses vào một cái giỏ và đặt giỏ trôi trên sông.  Moses được một công chúa Ai Cập vớt và nuôi nấng cho đến khi Moses khôn lớn, rồi nhận Moses làm con nuôi.

   Thánh Kinh (Exodus 2-14) kể rằng, Moses bỗng nhiên biết mình là người Do Thái và cảm thấy đau lòng khi thấy dân Do Thái bị người Ai Cập hành hạ.  Và một hôm, khi thấy một người lính canh Ai Cập đánh đập dân Do Thái, Moses bèn giết người lính canh rồi khi bị Vua Ai Cập ra lệnh truy lùng, trốn sang xứ Madian.  Ở đây. Moses lấy vợ, sinh con.

   Dân Do Thái, dân được Thần Giavê (Giê-hô-va) chọn làm dân cưng của Ngài,  vì bị làm việc cực nhọc và bị đối xử như nô lệ, ta thán và khóc than với Thần.  Thần nghe tiếng kêu than của họ, nhớ lại (Ngài quên khuấy đi mất rồi, vì đã trải qua 6, 700 năm) lời Ngài đã hứa với Abraham, Isaac, và Jacob.  Do đó, một hôm,  Thiên sứ của Thần hiện ra trước Moses trên núi Horeb, nơi Thần cư ngụ.  (Dân Do Thái tin rằng dân tộc họ ở đâu thì Thần Ki Tô ở đó để che trở, bao bọc, giúp đỡ họ.  Vì vậy, khi lang thang trên sa mạc, họ làm một chiếc tàu lớn để cho Thần Gia-vê ngồi trong đó, và khi Vua Solomon đóng đô ở Jerusalem thì dựng lên một đền thờ để Thần Gia-vê cư ngụ trong đó).  Thế rồi Thần (Thánh kinh chỉ viết Thiên sứ của Thần hiện ra chứ không phải đích thân Thần hiện ra (And the Angel of the Lord appeared to him…) gọi Moses và sai Moses trở về Ai Cập để thuyết phục Vua Ai cập Pharaoh thả dân của Ngài trở về xứ.  Vua Ai Cập không chịu vì chính Thần Giavê đã làm cho lòng Vua chai cứng (Exodus 7: 3: Nhưng Ta sẽ khiến cho lòng Pharaoh trở nên chai cứng, và Ta sẽ đưa ra gấp bội những dấu hiệu và phép lạ của Ta trong nước Ai cập. (And I will harden Pharaoh’s heart, and multiply My signs and My wonders in the the land of Egypt)

   Thật là chuyện lẩm cẩm nhất trong những chuyện lẩm cẩm.  Theo “lý luận” của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng” thì sự kiện Ai Cập bắt dân Do Thái làm nô lệ và hành hạ dân Do Thái chính là ý định của Thiên Chúa dùng Vua Ai Cập để giáo dục dân Do Thái.  Giáo dục xong rồi, Ngài chỉ việc khẩy cái móng tay là dân Do Thái ào ào chạy ra khỏi  xứ Ai Cập, như dân Bùi Chu, Phát Diệm lên tầu Mỹ chạy theo Đức mẹ bồng Chúa Giê-su vào Nam năm 1954.  Nhưng không, Ngài lại sai Moses trở về Ai Cập làm thuyết khách, rồi lại làm cho lòng Pharaoh chai cứng, không chịu thả dân Do Thái, nghĩa là biết trước Moses thất bại trong nhiệm vụ của mình, rồi bấy giờ Ngài mới làm nhiều phép lạ trên đất Ai Cập để ép Vua Ai Cập phải thả dân Ngài đi. Những phép lạ Thần mượn tay Moses tạo ra là những phép lạ nào?  Đó chẳng phải là phép lạ mà là những tai họa mà thời đó người ta coi như là của Thần giáng xuống đầu dân Ai Cập.  Đặc biệt là sau mỗi lần tai họa được giáng xuống, Thần lại làm cho lòng Vua Ai Cập chai cứng, không chịu để cho dân Do Thái rời khỏi xứ, kết quả là Ngài phải giáng tới 10 tai họa xuống dân Ai Cập, gây ra bao cảnh khổ, chết chóc, rồi bấy giờ Ngài mới làm cho lòng Vua Ai Cập bớt chai cứng, chịu thả cho dân Do Thái ra đi. Ấy thế mà nhiều người vẫn còn tin rằng “Thiên Chúa” là bậc “nhân từ” nhất hạng.  Nhưng những tai họa mà Thần giáng xuống đầu dân Ai Cập là những tai họa gì? Hầu hết chẳng qua chỉ là những thiên tai hoặc những hiện tượng thiên nhiên như: nước sông Nile đỏ ngầu như máu, nhiều ếch nhái, bọ rận chấy, ruồi muỗi, bệnh dịch làm súc vật chết, ghẻ lở, mưa đá, châu chấu, hoặc phản khoa học như tối tăm trên toàn đất Ai Cập trong 3 ngày nhưng lại có ánh sáng trong những nơi cư ngụ của dân Do Thái, và vô cùng tàn nhẫn và độc ác như: tất cả những đứa con đầu lòng của dân Ai Cập, từ Vua cho tới thứ dân, và những con vật sinh ra đầu tiên trong xứ Ai Cập, đều chết hết.  Sau 10 tai họa trên, Vua Ai cập mới sợ và để cho dân Do Thái ra đi.

    Chuyện vô lý và lẩm cẩm như vậy mà vẫn có nhiều người tin, cũng như tin chuyện Thần tạo ra những cảnh khổ ở Calcutta rồi mới mượn bàn tay của bà Teresa chứng tỏ lòng nhân từ của Thần.  Ấy thế mà ngày nay giáo hoàng John Paul II của Ca-Tô Giáo Rô-ma còn mang chuyện lẩm cẩm này ra để quảng cáo “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa của dân Do Thái cho toàn thể Á Châu trong sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu.

 

   Ngày nay, nhiều người, từ những bậc trí thức cho tới những dân thường trong những xã hội văn minh tiến bộ đã đặt câu hỏi:  “Một vị Thần độc ác như vậy, có đáng để chúng ta tôn thờ hay không?  Chúng ta nên nhớ, theo thuyết Ba Ngôi của giáo hội Ca Tô Rô Ma, thì vị Thần độc ác táng tận lương tâm này, Chúa Cha, và Giê-su, Chúa Con, cùng Chúa Thánh Thần chỉ là một.  Chúng ta có nên mong ước được sống đời đời bên cạnh vị Thần hung ác này không, vị Thần mà chúng ta biết chắc rằng có tính đồng bóng, thưởng phạt bất công, hỉ nộ vô chừng, và nhất là không hề có thiện tâm, nếu chúng ta tin tất cả những lời trong Thánh Kinh đều là những lời “mặc khải” không thể sai lầm của Thần.”  Xin để cho những cán bộ truyền giáo cùng những nhà trí thức Ca Tô cũng như Tin Lành Việt Nam trả lời câu hỏi này với sự thành thực nhất trong lương tâm của họ. 

   Trong giáo hội Ca Tô hoàn vũ đã có nhiều người trong hàng giáo phẩm như Giám mục, Linh Mục và nhiều tín đồ đã trả lời câu hỏi này một cách dứt khoát, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói: từ bỏ giáo hội và viết sách để lại cho hậu thế những suy tư lương thiện và thành thực nhất của họ về chính tôn giáo của họ.  Thực chất của sự từ bỏ này bắt nguồn từ sự nhận thức được rằng, Thần Giavê không đáng để cho con người tiến bộ ngày nay kính trọng, đừng nói là thờ phụng, do đó tiến tới quyết định dứt khoát khước từ ân sủng “được thấy nhan Thánh Chúa” sau khi chết, một thứ bánh vẽ ở trên trời.

 

   Bản chất của “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II là như thế nào?  Chúng ta có thể thấy rõ hơn nữa khi chúng ta phân tích câu tiếp theo của giáo hoàng trong bản “Tông Huấn..”: “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu ! Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1). (In “the fullness of time” (Gal 4:4), he sent his only-begotten Son, Jesus Christ the Saviour, who took flesh as an Asian! Exulting in the goodness of the continent’s peoples, cultures, and religious vitality, and conscious at the same time of the unique gift of faith which she has received for the good of all, the Church in Asia cannot cease to proclaim: “Give thanks to the Lord for he is good, for his love endures for ever” (Ps 118:1).)

 

   Ở đây, chúng ta lại thấy “xảo thuật” trích dẫn Thánh Kinh một cách lạc lõng của Giáo hoàng John Paul II trong mưu đồ cải đạo Á Châu.  Thật vậy, giáo hoàng viết: “khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4), Ngài sai Con duy nhất của mình xuống, là Đức Giêsu Kitô Cứu thế, mang hình hài của người Á Châu”.  Chúng ta cần đặt câu hỏi: ““khi thời gian đã mãn” (Gl 4, 4)” là khi nào, có phải là cách đây khoảng gần 2000 năm, khi Giê-su mới sinh ra đời không?  Và Giê-su có phải là đấng “cứu thế” hay không, “cứu thế” như thế nào?  Cứu thế theo nghĩa cứu chuộc cái tội tổ tông hoang đường trong nền thần học Ki Tô Giáo, hay cứu thế theo nghĩa đã rửa sạch tội lỗi của nhân loại, làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn, hay cứu thế là khuyên dân Do Thái hãy mau mau sám hối tội lỗi vì ngày tận thế đã gần kề?  Tất cả những loại “cứu thế” trên nay đã không còn chỗ đứng trong thế giới nữa.

 

   Đọc Tân Ước, chúng ta phải hiểu rằng, đây là câu Paul viết cho dân Galati, và “khi thời gian đã mãn”  là Paul muốn nói đến niềm hoang tưởng của Giê-su, tin rằng ngày tận thế đã gần kề, Giê-su tự nhận là Con Thiên Chúa xuống trần để khuyên dân Do Thái hãy mau mau sám hối để được Thiên Chúa tha tội và có thể về nước trời cùng Thiên Chúa.  Trong thời đó, Paul, cũng như tất cả nhưng người tin vào lời tiên tri nhảm nhí về ngày tận thế của Giê-su, đều tin là ngày tận thế đã gần kề (thời gian đã mãn), chứ tuyệt đối không có liên hệ gì đến việc Giê-su sinh ra, dù mang hình hài Á Châu, hay Ma-rốc, hay Congo v..v..  Hơn nữa, kiến thức nhân loại ngày nay đã chứng tỏ sự phi lý của điều mà giáo hoàng John Paul II trích dẫn trong Tân Ước và diễn giải láo ở trên.  Chứng minh? 

   Tuổi của trái đất mà chúng ta đang sống trên đó ít ra cũng là bốn tỷ rưỡi năm. Theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận ở đại học Virginia, một chuyên gia về  ngành vật lý học các thiên thể (astrophysics), thì những đại diện đầu tiên của con ngưởi hiện đại đã dẫm chân trên trái đất từ 2 triệu năm trước (Trịnh Xuân Thuận, The Birth of The Universe, p. 120: “..about 2 million years ago the first representatives of Homo Sapiens trod the earth”). Mới đây, các nhà khảo cổ đã kiếm ra ở xứ Cộng Hòa Phi Châu Chad một chiếc sọ, nhiều mảnh xương hàm và răng đã hóa thạch, có tuổi là 7 triệu năm, của một  tổ tiên xa của con người hiện đại (Chicago Tribune, July 11, 2002: Archeologists have found a fossilized skull, jaw fragments and several teeth belonging to a 7 million-year-old ancester of modern humans..).  Một lần nữa, thuyết Tiến Hóa của Darwin đã được kiểm chứng.  Đối với khoa học gia White ở đại học Berkeley thì con người tiến hóa như thế nào nay đang trở nên rõ ràng hơn (To Berkeley’s White, the picture of how humans evolved is becoming clearer) và White nói: “Darwin đã tiên đoán sự tiến hóa này, và đó chính là những điều chúng tôi tiếp tục kiếm ra” (Darwin predicted that, and it’s what we keep finding). Đây là những sự kiện khoa học trong khoa khảo cổ, và vô số sự kiện trong nhiều ngành khoa học khác, đã kiểm chứng và chứng minh sự xác tín vào thuyết Tiến Hóa, những sự kiện bất khả phủ bác, những sự kiện mà vị tự nhận là đại diện của đấng Ki-tô trên trần (Vicar of Christ), nghĩa là giáo hoàng của Ca-tô giáo Rô-ma, Gioan PhaoLô II, cũng đã phải chính thức công nhận. 

   Những khám phá của khoa học hiện đại như trên đã dứt khoát dẹp bỏ vai trò “cứu thế” của Giê-su.   Thật đúng vậy, như chúng ta đã biết, vai trò “cứu thế” của Giê-su trước đây đã được giáo hoàng John Paul II “giải thích” (sic) trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, qua “nghệ thuật” trích dẫn một câu trong Phúc Âm John, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” và nay lại lập lại trong mục 5 của bản “Tông Huấn”. Chúng ta thấy ngay rằng, cách giải thích trên thật là hoang đường và phi lý.  Hoang đường và phi lý vì rõ ràng là câu trên chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giêsu.  Nhưng trước khi Giêsu sinh ra cả nhiều triệu năm thì trên thế gian này đã có biết bao nhiêu người sống rồi, và hiển nhiên họ đâu có biết tới Giêsu.  Vậy họ có bị luận phạt hay không?  Vì theo giáo lý Gia Tô, đến ngày tận thế, Chúa sẽ giáng trần để thưởng phạt nhân loại, làm cho người chết sống lại, kẻ nào tin Giêsu thì được lên Thiên đường, kẻ nào không tin Giêsu thì sẽ bị đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục.  John 3, 18 đã viết rõ:  “Ai tin Con Thiên Chúa sẽ không bị luận phạt, ai không tin đã bị luận phạt rồi, vì không tin nhận Con Một của Thiên Chúa”. Trong số những kẻ không tin Giêsu này gồm cả nhân loại trước thời Giêsu và trong đó tất nhiên có cả gia hệ của Giêsu gồm không biết là bao nhiêu đời.  Một giáo lý thuộc loại mê tín dị đoan, phi lôgic, phi nhân đạo, phản khoa học v… v.. như vậy mà vẫn có nhiều người tin thì chúng ta phải hiểu rằng họ thuộc những thành phần nào trong cộng đồng thế giới.  Trước thế kỷ 16, dân Việt Nam không biết Giêsu là ai.  Từ thế kỷ 16, những người dân Việt Nam đầu tiên biết tới Giêsu thuộc thành phần cùng đinh của xã hội, như nhiều tài liệu lịch sử đã chứng tỏ.  Tín đồ Ca-Tô Việt Nam hẳn rất lấy làm sung sướng được lên Thiên đường thấy nhan thánh Chúa, sống đời đời bên Chúa, trong khi ông bà tổ tiên nhiều đời của họ bị đày địa ngục.  Cái đạo gì mà đưa ra một giáo lý ác ôn như vậy, và những người bị mê hoặc bởi cái giáo lý ác ôn này có bao giờ nghĩ đến đồng bào ruột thịt, ông bà tổ tiên của họ không?  Nhưng điều đáng nói là câu Giáo hoàng viết như trên vào năm 1994 và lập lại trong bản “Tông Huấn” vào tháng 11 năm 1999, đã chứng tỏ cái tâm địa lắt léo của vị chủ chăn Ca Tô, vì trước đó có mấy tháng, tháng 7, 1999, chính ông đã phủ nhận sự hiện hữu của Thiên đường và Hỏa ngục, chứng tỏ cái mà ông gọi là “luận phạt” hay “sống đời đời” chỉ là những điều Giáo hội bày đặt ra để hù dọa và khuyến dụ  những người có đầu óc yếu kém.

 

   Đây chính là thực chất bịp bợm, lừa dối của nền Thần học Ki Tô Giáo mà ngày nay, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại cùng với những khám phá của khoa học, đã trở thành, theo như nhận định của Giám Mục Spong, những sự vô nghĩa trong thời hậu-Darwin.  Tuy nhiên, Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói riêng, không bao giờ muốn cho tín đồ của mình biết những sự thực này, sợ tín đồ mất đi niềm tin và kéo theo hậu quả Giáo hội mất đi nguồn lợi và quyền lực về vật chất cũng như về tinh thần.  Nhưng tiến hóa là một định luật tự nhiên của con người, không có một quyền lực nào, thế tục cũng như tôn giáo, có thể ngăn chặn nổi.  Bởi vậy trong những xã hội Âu Mỹ tân tiến ngày nay, những công cuộc nghiên cứu về lịch sử nhân loại cũng như tôn giáo càng ngày càng vạch ra những sự thực không ai có thể chối cãi, và người dân trong những xã hội này càng ngày càng hiểu biết hơn, do đó đã xảy ra tình trạng bỏ đạo, thiếu hụt linh mục đến mức độ trầm trọng.  Đây là những sự kiện xã hội trong thế giới mà chính Tòa Thánh Vatican và các lãnh tụ Chính Thống Giáo, Tin Lành đều công nhận. 

   Lại nữa, đọc Tân ước, chúng ta biết rằng, phẩm Galatians trong Tân ước là Thư Của Tông Đồ Paul (Phao Lồ) Viết Cho Dân Galati (The Epistle of Paul the Apostle to the Galatians), một đám dân ở Tiểu Á, vùng Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.  Thánh Kinh tiếng Việt dịch đầu đề này là “Thơ của Phao-Lô Gởi Cho Người Ga-La-Ti”.  Chúng ta hãy đặt một câu hỏi:  Thư của Paul viết cho người Galati thì có liên quan gì đến toàn thể Á Châu?  Phải chăng Paul là đại diện của toàn thể Á Châu và dân Galati là đại diện cho tất cả các sắc dân ở Á Châu?  Mặt khác, chúng ta cũng đã biết, dù Đức Giêsu KiTô mang hình hài của người nào, người mặt thô da ngăm ngăm đen, môi dày, tóc quăn như hình của đài BBC mới tái tạo gần đây, hay người Congo, hay người da trắng như trong các hình tượng mà chúng ta thường thấy, thì ông ta cũng không phải là đấng Cứu Thế.   Khi xưa, khi mà giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh với những biện pháp tịch thu tài sản hay xử tử hình những kẻ nào vi phạm lệnh cấm này, thì có thể giáo dân không còn cách nào khác là phải tin theo những lời giảng dạy thậm vô lý của Giáo hội.  Nhưng ngày nay, con người được tự do đọc Thánh Kinh và tự do dùng đến khả năng suy tư của mình, thì những luận điệu bịp bợm, trích dẫn vụn vặt ngoài toàn bộ vấn đề và diễn giải lệch lạc không còn có thể lừa dối được ai.  Có vẻ như giáo hoàng quên đi sự kiện là ngày nay con người đã tiến bộ văn minh hơn nhiều, không còn như thời của Giê-su, và nhất là giáo hội Ca Tô đã mất đi quyền lực thế tục đễ có thể cưỡng bách những người ngoại đạo phải tin theo những điều thậm phi lý mà giáo hội đưa ra.

      Thật ra thì Phao-Lô không phải là tông đồ của Giê-su.  Ông ta không biết Giê-su là ai ngoài những lời đồn đại sau khi Giê-su đã chết trên thập giá.  Ông ta chỉ “thấy” Giê-su, trên con đường ông ta đi tới Damascus, trong một ảo giác (vision) sau khi Giê-su đã chết.  Ngày nay chuyện Giê-su sống lại đã bị bác bỏ hoàn toàn cho nên ảo giác của Phao-Lô không có bất cứ một giá trị nào, cũng như bất cứ ảo giác nào khác mà con người “thấy” Giê-su hoặc bà Mary hiện ra bất cứ ở đâu. 

     Cũng như trên, vì trích dẫn câu Gal 4,4 riêng biệt nên câu này trở thành lạc lõng và giáo hoàng đã dựa vào sự lạc lõng này để truyền đạo.  Đọc tiếp Gal 4,5 chúng ta mới thấy được Phao-Lô muốn viết gì.  Gal 4, 4-5 như sau: Nhưng khi kỳ hạn đã mãn, Đức Chúa Trời bèn sai con mình, sinh ra từ một người đàn bà, sinh ra dưới luật pháp, để chuộc tội những người ở dưới luật pháp, để cho chúng ta có thể được nhận làm con Ngài.  (Gal 4, 4-5: But when the fullness of the time had come, God sent forth His Son, born of a woman, born under the law, to redeem those who were under the law, that we might receive the adoption as sons)

 

   Thật là rõ ràng, Phao Lô đã viết Giê-su sinh ra từ một người đàn bà (woman), không phải từ một nữ trinh (virgin), và sinh ra dưới luật pháp của Do Thái, nghĩa là luật pháp của Thần Gia-vê “mặc khải” cho Môsê trước đó.  Giê-su được Chúa Cha sai xuống chỉ để chuộc tội cho những người đang sống dưới luật pháp của Chúa Cha, nghĩa là dân Do Thái.  Vì vậy trong Tân Ước chúng ta thấy nhiều lần Giê-su đã khẳng định là chỉ cứu giúp dân Do Thái mà thôi, như sẽ được chứng minh trong phần sau.  Trích dẫn lạc lõng một câu trong Tân Ước rồi dựa vào đó để mà diễn giải về một “kế hoạch cứu độ” hoang đường cho toàn thể Á Châu, tôi cho đây là một thủ đoạn bất lương trí thức.  Đây không phải là vấn đề tự do tín ngưỡng, vấn đề đức tin, mà là vấn đề ngụy biện một cách gian xảo với mục đích lừa dối, lạc dẫn quần chúng.

   Điều này chúng ta còn có thể thấy rõ ràng hơn nữa trong phần cuối của đoạn tôi trích dẫn ở trên:

   “Sung sướng trước sự tốt lành của các dân tộc và các nền văn hoá trên lục địa này, hãnh diện về sức sống tôn giáo tại châu lục này, đồng thời ý thức về hồng ân đức tin có một không hai mà mình đã tiếp nhận vì ích lợi của mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không thể ngừng xướng lên : “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).” (Exulting in the goodness of the continent’s peoples, cultures, and religious vitality, and conscious at the same time of the unique gift of faith which she has received for the good of all, the Church in Asia cannot cease to proclaim: “Give thanks to the Lord for he is good, for his love endures for ever” (Ps 118:1).)

   Đọc toàn thể Thánh Vịnh 118, chúng ta thấy đây chỉ là những lời ca tụng Thần Gia-vê của David, vua của Israel, vì David tin rằng Thần đã về phe ông ta và giúp ông ta chiến thắng, chứ chẳng có liên hệ gì tới “kế hoạch cứu độ” Á Châu của Thần Gia–vê, dù rằng chúng ta có vứt bỏ khả năng suy tư của con người để trở thành những con cừu non, tin rằng Thần Gia-vê của người Do Thái có một “kế hoạch cứu độ” Á Châu.    Thật vậy, nếu chúng ta đọc tiếp Thánh Vịnh 118, 2-4: “Bây giờ hãy để cho Israel nói rằng:  Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời; Bây giờ hãy để cho dân của Araon (dân Do Thái) nói rằng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời; Bây giờ hãy để cho những người sợ Chúa nói rằng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.” (Psalms 118, 1-4: Oh give thanks to the Lord, for He is good!  Because his mercy endures forever; Let Israel now say, His mercy endures forever; Let the house of Aaron now say, His mercy endures forever; Let those who fear the Lord now say, His mercy endures forever).  Điều rõ ràng là David đã ca tụng Thần Gia-vê của ông ta một cách lố bịch và kêu gọi dân Israel của ông, những người luôn luôn sợ Thần Gia-vê trừng phạt vì họ được giới giáo sĩ Do Thái dạy rằng: “Những bất hạnh xảy ra cho dân Do Thái là do Chúa trừng phạt vì đã không theo luật Chúa”, hãy theo ông, ngay trong thời đại của ông (now), ca tụng Thần Gia-vê để được Thần ban cho ân huệ.  Tại sao lại là lố bịch?  Vì chỉ mấy câu sau, ông ta đã tuyên bố là Chúa về phe ông thì không ai có thể làm gì ông và ông sẽ nhân danh Chúa mà hủy diệt mọi quốc gia bao vây ông (Psalms 118, 9- 10:  “Chúa về phe tôi, Tôi sẽ không sợ hãi, con người có thể làm gì được tôi?  Tất cả các nước bao vây tôi, nhưng nhân danh Chúa (nghĩa là với sự giúp đỡ của Chúa) tôi sẽ hủy diệt tất cả “ (The Lord is on my side; I will not fear.  What can man do to me?  All nations surrounded me, But in the name of the Lord I will destroy them).  Chúa giúp David để tiêu diệt các quốc gia bao vây ông, nghĩa là những quốc gia không tin Chúa nên là kẻ thù của Chúa. Vậy thì Chúa nhân từ ở chỗ nào, và nhân từ với ai?  Và những câu ca tụng Thần Giavê một cách lố bịch từ một đầu óc bệnh hoạn của David cách đây trên 3000 năm thì liên hệ gì đến các quốc gia khác mà Giáo hoàng phải dạy họ bắt chước David và dân Do Thái “không thể ngừng xướng lên ““Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118, 1).”   Trải qua bao thế kỷ, sự lắt léo của giáo hội Ca Tô trong việc xử dụng láo Thánh Kinh để truyền đạo vẫn không thay đổi.

   Phải chăng vì vậy mà Leo Tolstoy (1828-1910), văn hào Nga, đã phát biểu:

 

   “Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội (Ca-Tô)  là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành

   (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) 

 

   Nhận định của Leo Tolstoy quả là vẫn còn chính xác khi chúng ta đọc kỹ bản “Tông Huấn..” của giáo hoàng John Paul II.

   Về những Phúc Âm trong Tân Ước, George H. Smith đã viết trong cuốn Vô Thần: Bản Án Chống Ki Tô Giáo (Atheism: The Case Against Christianity) như sau, trang 209: 

 

   “Qua thời gian và luôn luôn, những đoạn trong Cựu Ước bị xuyên tạc, diễn giải sai lạc và được trích dẫn ngoài toàn bộ vấn đề để dựng lên những lời tiên tri về Giê-su”

   (Time and again, Old Testament passages are distorted, misinterpreted and quoted out of context in the attempt to manufacture prophesies for Jesus). 

 

   Và ngày nay, sau gần 2000 năm, giáo hoàng Ca Tô John Paul II cũng không có sáng kiến nào thông minh hơn, lại chỉ có thể xử dụng thủ đoạn gian dối của những tác giả viết Phúc Âm, trích dẫn Thánh Kinh ngoài toàn bộ vấn đề, diễn giải lệch lạc để dựng lên cái gọi là “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa cho Á Châu.  Thật không có gì đáng khinh hơn trong thời đại tiến bộ trí thức ngày nay.  Đáng khinh vì ông ta đã lấy một câu của David ca tụng Thiên Chúa của David, coi đó như là một chân lý, và muốn người đời cũng phải ca tụng Thiên Chúa như David, bỏ qua tất cả những đoạn khác nói về Thiên Chúa trong Thánh Kinh hoàn toàn mâu thuẫn với lời ca tụng Thần Gia-vê, hay Thiên Chúa của John Paul II, như trên.

    Thật vậy, thực ra thì Thiên Chúa của John Paul II nhân lành như thế nào, và tình thương ngàn đời của Thiên Chúa ra sao?  Thánh Kinh đã viết rất rõ.  Chúng ta hãy chịu khó đọc kỹ Thánh Kinh thì sẽ thấy ngay. Nhưng trước hết là vài nhận định về “Thiên Chúa nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương “ mà giáo hoàng John Paul II dạy các giáo hội Á Châu phải “không ngừng xướng lên..”.

 

   Trước hết là nhận định của James A. Haught trong cuốn 2000 Years of Disbelief:

 

   Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với lòng thương yêu nhất mực không đứng vững.  Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

   (Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doens’t hold water.  If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDS, Alzheimer’s disease, and Down’s syndrome.  He mandated foxes to rip rabbits apart and cheetahs ro slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he’s a monster, not an all-merciful father.)

 

    Và theo Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson thì Chúa là “một nhân vật có cá tính cực kỳ độc ác, đầy hận thù, đồng bóng và bất công” (In the words of Thomas Jefferson, God is “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust”. 

    Thomas Jefferson nhận định đúng hay sai?  Sau đây chỉ là tóm tắt vài sự kiện trong Thánh Kinh chứng tỏ nhận định của Thomas Jefferson không hề sai sự thực. 

 

   Trong Amos 3, 6, nhà tiên tri Amos đặt câu hỏi:  “Nếu tai họa xảy ra trong một thị trấn, chẳng phải là Chúa đã gây ra hay sao?” (If there is calamity in a city, will not the Lord have done it?) và nhà tiên tri Jeremiah đồng ý,  Ca Thương (Lamentations) 3, 38: “Há chẳng phải từ miệng Đấng Tối Cao (Chúa) ra tai họa và an lành?” (Is it not from the mouth of the Most High that woe and well-being proceed?).  Và trong Isaiah 45, 6-7, chính Chúa đã khẳng định: “Ta là Chúa, và không có Chúa nào khác…Ta làm ra hòa bình và tạo ra tai họa; Ta, là Chúa, đã tạo ra tất cả những điều đó” (I am the Lord, and there is no other…I make peace and create calamity; I, the Lord, do all these things.)  Kết luận: Chúa chính là tác giả của những tai họa, và như vậy không thể nào là một “Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”

   Trong Cựu Ước, chúng ta thấy đầy dãy những chuyện độc ác mà tác giả chính là “Thiên Chúa cứu độ” của John Paul II.  Lẽ dĩ nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi không thể liệt kê tất cả những chuyện độc ác, vô đạo đức của Thiên Chúa như được viết trong Thánh Kinh.  Ở đây tôi chỉ đưa ra một số nhỏ những việc Chúa làm và chỉ dẫn quý độc giả có thể đọc ở đâu trong Thánh Kinh để có thể kiểm chứng những sự kiện này.

 

–         Thiên Chúa đòi hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11;  2 Samuel  21).

–         Thiên Chúa giết đứa con đầu lòng trong mọi gia đình Ai Cập (Exodus 12)

–         Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25)

–         Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21)

–         Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22)

–         Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31)

–         Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa tạo ra (2 Samuel 24)

–         Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ vì chúng chế riễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2)

–         Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đình tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, vì Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra, tội lỗi (Genesis 6) [Con người tội lỗi nhưng Chúa lại giết cả mọi sinh vật chính Chúa “sáng tạo” ra]

–         Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13)

–         Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật  (Genesis 17)

 

    Vài  trích dẫn trong số rất  nhiều điều  tương tự từ Thánh Kinh ở trên cũng đủ để cho chúng ta thấy là “Thiên Chúa cứu độ” của giáo hoàng John Paul II độc ác như thế nào, và lời răn dạy của giáo hoàng cho các giáo hội Á Châu phải “Cảm tạ Chúa đi, vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” có ý nghĩa gì, và nếu các giáo hội Á Châu tuân theo lời dạy của Giáo hoàng thì bản chất của họ có khác chi những nô lệ không có đầu óc.

   Hẳn chúng ta có người còn nhớ là Thomas Paine, sau khi đọc cuốn Thánh Kinh, đã viết trong cuốn Thời Đại Lý Trí như sau:

 

   “Bất cứ khi nào mà chúng ta đọc những chuyện tục tĩu, những chuyện trụy lạc dâm dục, những chuyện tra tấn giết người độc ác, những chuyện thù hận bất tận, những chuyện chứa quá nửa cuốn Thánh Kinh, thì đúng hơn chúng ta phải coi đó là những lời của một con ác quỷ chứ không phải là lời của Thiên Chúa.  Đây là một lịch sử của sự độc ác, đã được dùng để bạo hành nhân loại và làm cho con người đồi bại; và, về phần tôi, tôi thành thực ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác.”

   (Whenever we read the obscene stories, the voluptuous debaucheries, the cruel and torturous executions, the unrelenting vindictiveness, with which more than half the Bible is filled, it would be more consistent that we called it the word of a demon, than the word of God.  It is a history of wickedness, that has served to corrupt and brutalize mankind; and, for my part, I sincerely detest it, as I detest everything that is cruel.)

 

   Sau cùng, cái thuộc tính “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” của Thiên Chúa mà John Paul II dạy các giáo hội Á Châu nô lệ của ông là phải gia tăng nỗ lực mang đi rao bán ở Á Châu không thể phù hợp với những thực tế trong vũ trụ.  Sự hiện diện của những sự xấu ác trên thế giới từ trước tới nay vẫn là một cái gai đâm vào cạnh sườn của nền Thần học Ki Tô Giáo mà các nhà Thần học vĩ đại nhất của Ki Tô Giáo cũng không có cách nào nhổ nó ra được.  Những bất hạnh, đau khổ vật chất và tinh thần xảy ra cho loài người đã đương nhiên bác bỏ thuộc tính “nhân lành, muôn đời trọn tình thương” của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa được quan niệm là một bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, quá khứ cũng như vị lai.

   Các nhà thần học Ki Tô Giáo đã một thời cố gắng biện hộ cho Thiên Chúa của họ qua thuyết “Tự do ý chí” (free will) mà họ giảng là Thiên Chúa không muốn cho con người là những người máy (robot) mà là những con người có tự do trong ý chí hành động của mình.  Do đó, những điều xấu ác của con người gây ra không phải là lỗi của Thiên Chúa mà chỉ là lỗi của con người không biết xử dụng đúng quyền “tự do ý chí” mà Thiên Chúa ban cho loài người.  Lý luận này đã hoàn toàn bị bác bỏ vì những hiện tượng xấu ác không chỉ xảy ra trong xã hội loài người, mà còn xảy ra trong xã hội loài vật, và trong thiên nhiên.  Những bất hạnh xảy ra cho con người không thuần chỉ là tác phẩm của con người mà còn là những hành động của chính Thiên Chúa mà các hãng bảo hiểm không chịu bảo hiểm vì coi đó là những hành động của Thiên Chúa (Acts of God).

   Chúng ta hãy tự hỏi:  Thiên Chúa là bậc toàn năng, do đó có thể chọn lựa trong vô số phương pháp “sáng tạo” để tạo ra một vũ trụ tốt đẹp, hay một thế giới loài người tốt đẹp, vậy tại sao Thiên Chúa lại “sáng tạo” ra thế giới của chúng ta đầy những cảnh khổ đau mà chúng ta thấy thường ngày.  Chúng ta không thể nào không thắc mắc:

a).  Thiên Chúa “sáng tạo” ra ra rắn, rết, bọ cạp, các thú dữ cắn giết lẫn nhau, những con khổng long nay đã không còn trên trái đất, những cảnh cá lớn nuốt cá bé trong thế giới loài vật để làm gì?

b). Thiên Chúa “sáng tạo” ra những con ròi bọ, vi trùng, siêu vi trùng, vi trùng sinh ra bệnh AIDS và đủ các thứ bệnh khác như cùi hủi, ung thư  v..v.. để làm gì, giúp ích gì cho loài người mà Thiên Chúa tạo ra theo như hình ảnh của chính Thiên Chúa?

c). Thiên Chúa “sáng tạo” ra những cảnh thiên tai như: động đất, núi lửa, sóng thần, bão lụt, hạn hán, nạn đói, bệnh dịch v..v.., với kết quả là gây ra bao nhiêu bất hạnh và tai họa cho loài người để làm gì?

d).  Và sau cùng, tại sao Thiên Chúa lại để cho xảy ra những cảnh như một đứa bé vừa sinh ra đời, thật sự vô tội, đã trở thành ngay một quái thai, mất chân, mất tay, mắt mù, đầu óc trì trệ, và bị đủ mọi thứ khuyết tật?

 

   Kết luận?  Cái thế giới mà chúng ta sống trong đó không thể nào là sự sáng tạo của một Thiên Chúa “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương”, và hiển nhiên một Thiên Chúa như vậy chỉ có trong văn tự truyền đạo của giáo hội Ca Tô chứ thực ra không làm gì có Thiên Chúa, và dù chúng ta có tin một cách không cần biết, không cần hiểu theo như quan niệm của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng đi chăng nữa thì Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã thực sự bất lực, và do đó không thể giúp ích gì cho nhân loại.  Thật vậy, những thiên tai không chỉ xảy ra trên những miền đất không ai biết đến Thiên Chúa mà còn xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong những quốc gia hầu hết tin ở Thiên Chúa.  Những sự kiện lịch sử sau đây có thể dùng để bác bỏ quan niệm về một Thiên Chúa “nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” của Ki Tô Giáo.

   Giữa thế kỷ 6 (540), bệnh dịch hạch (bubonic plague) phát ra ở Byzantine mà một tài liệu lịch sử ghi rằng đã làm chết hại gần 100 triệu người.

   Trong thế kỷ 14, Âu Châu có thể nói là hầu như toàn tòng Ca Tô Giáo Rô Ma.  Nhưng bệnh dịch hạch đã phát ra (1348-1350) và giết  hại  gần nửa  dân số Âu  Châu, toàn là những người tin Thiên Chúa.

    Trong thế kỷ 18, ở Bồ Đào Nha, một quốc gia toàn tòng Ca Tô Giáo Rô Ma, có một trận động đất làm chết hại 40000 người ở tỉnh Lisbon.  Về sự kiện này, Voltaire đã đặt câu hỏi:  “Phải chăng trong trận động đất này Thiên Chúa đã đích thân chọn để giết đi 40000 người dân Bồ Đào Nha ít đạo đức nhất?” (Did God in this earthquake select the 40000 least virtuous of the Portuguese citizens?).

   Rồi đệ nhất thế chiến, đệ nhị thế chiến, các quốc gia Âu Châu bị tàn phá, chẳng ai thấy mặt “Thiên Chúa nhân lành, ngàn đời vẫn trọn tình thương” ở đâu.

   Những sự kiện lịch sử trên và hàng trăm hàng ngàn những thiên tai, bệnh tật khác mà con người phải thường xuyên đối phó và khắc phục đã chứng tỏ rằng cái bánh vẽ “Thiên Chúa nhân lành, muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” trong “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa” không còn có một giá trị nào, hay còn đủ hấp dẫn để có thể khuyến dụ con người Á Châu cải đạo.

    Vậy mà Giáo hoàng John Paul II vẫn còn không hề biết ngượng, ra lệnh cho các giáo hội Á Châu:

Hãy cảm tạ Chúa đi, Vì Chúa nhân lành,

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

   Qua sự phân tích một đoạn ngắn ở đầu bản “Tông Huấn..”, chúng ta cũng đã có thể thấy rõ thực chất bản “Tông Huấn..” của Giáo hoàng John Paul II là như thế nào.  Tôi không nghĩ rằng một người ở địa vị và có trình độ học thức như ông ta lại không biết đến những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh ngày nay để mà hiểu rằng Thánh Kinh Ki Tô Giáo chẳng qua chỉ là một tác phẩm liên hệ đến lịch sử và niềm tin của  dân Do Thái khi xưa, tuyệt đối không làm gì có “kế hoạch cứu độ” của Thiên Chúa cho bất cứ quốc gia nào ngoài Do Thái, khoan nói đến chuyện cho toàn thể Á Châu, trong đó.

   “Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa ở Á Châu” không có cách nào có thể thành công ở Á Châu được.  Tại sao?  Vì một lẽ rất đơn giản: Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành, đều đã và đang dùng những thủ đoạn không chính đáng, vô đạo đức, để thực hiện “kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa ở Á Châu”, nói đúng hơn là “Kế hoạch xâm lăng văn hóa và tôn giáo Á Châu” của Ki Tô Giáo, và vì trí tuệ con người nay đã mở mang, không còn có thể dễ dàng lừa dối như trước nữa.  Đây chính là những chủ đề mà tôi muốn bàn tới trong Phần II về nền “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” và những “Thủ Đoạn Cải Đạo Á Châu của Ca Tô và Tin Lành.”

 

KITÔ GIÁO – KẾ HOẠCH CẢI ĐẠO Á CHÂU – Trần Chung Ngọc

KITÔ GIÁO – KẾ HOẠCH CẢI ĐẠO Á CHÂU

 

Trần Chung Ngọc

 

 

Bài viết “Công giáo, Tin Lành và Sách lược cải đạo Á châu” dưới đây của tác giả Trần Chung Ngọc là một trong ba bài viết của Tuyển tập “Kitô giáo – Kề hoạch Cải đạo Á châu” do Nhà xuất bản Á Châu phát hành vào năm 2005.

Hai bài kia là Phê bình “Thần học Ky-tô giáo theo Cung cách Á châu” của Mục sư Choan Seng Song  của Đại Đức Thích Nhật Từ và Nhận Định Về Văn Kiện “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á của tác giả Ngô Triệu Lịch.

GDOL đăng lại ba bài nầy, và Lời Nói đầu của tác phẩm đó, để làm sáng tỏ thêm ý đồ tương lai của Vatican trong nỗ lực đàm phán hiện nay để thiết lập bang giao với Việt Nam.

   

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

       Qua những thống kê về số linh mục, mục sư và tín đồ Ca Tô cũng như Tin Lành bỏ đạo, số tín đồ đi lễ nhà thờ ngày thứ Tám, số tiền thu vào của các giáo hội Ki Tô giảm sút, số nhà thờ được rao bán và được biến đổi thành kho chứa hàng, hộp đêm, phòng ngủ cho thuê v..v.., số trường học Ca Tô phải đóng cửa vì không có đủ sĩ số, và trước những vấn nạn của Ki Tô Giáo như linh mục và mục sư loạn dâm, nghiện rượu, đồng giống luyến ái, tỉ số bị bệnh AIDS gấp 4 lần dân thường v..v…, hiện tượng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo Rô Ma nói riêng, ở trong các phương trời Âu Mỹ, là một hiện tượng đã rõ rệt.

Giám mục Tây đi thăm các xứ đạo tại Đông Dương

      Sự suy thoái của Ki Tô Giáo là điều tất nhiên phải xảy ra vì nhiều lý do.  Những thời đại Lý Trí, Khai Sáng, Phân Tích v..v.. đã đưa con người ra khỏi vòng đen tối và man rợ trí thức  (Intellectual darkness and barbarism) của Ki Tô Giáo, một tôn giáo đồng hành với súng ống của các thế lực thực dân Âu Châu với chính sách diệt chủng dân da mầu của Tin Lành ở Mỹ châu và Phi châu, một tôn giáo với 200 triệu nạn nhân trên bờ vai của Ca Tô Giáo Rô Ma.  Ngày nay, bó củi để thiêu sống người và gươm giáo để chém giết người đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Ki Tô Giáo nên Ki Tô Giáo không còn khả năng dùng bạo lực để cưỡng bách con người vào đạo cũng như tàn sát người ngoại đạo như trong quá khứ.  Sự tiến hóa trí thức của nhân loại đã đưa đến sự phá sản của nền Thần học Ki Tô Giáo, phản ánh qua những tác phẩm nghiên cứu về lịch sử, về những luận cứ thần học ngụy biện mà ngày nay đã không còn giá trị v..v..  Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của chính những bậc trí thức trong các giáo hội Ki Tô Giáo, điển hình là của các nhà thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann, các giám mục linh mục như Peter de Rosa, Malachi Martin, John P. Meier, Leonardo Boff, Joseph McCabe, James Kavanaugh, John Dominic Crossan v..v.., các giám mục mục sư Tin Lành như John Shelby Spong, Ernie Bringas, Ruben Alves, các học giả KiTô như Karen Armstrong, Joseph L. Daleiden v..v..các bậc trí thức như Robert G. Ingersoll, Bertrand Russell v..v.., các khoa học gia như Carl Sagan, Stephen Hawking, Paul Davies v..v.. Mặt khác, trí tuệ của người dân thường, trừ những người sống trong những ốc đảo của Ki Tô Giáo, đã mở mang, đời sống vật chất của con người đã cải tiến, cho nên Ki Tô giáo không còn đất dụng võ.

         Cái hồ nước ngu dốt và nghèo khổ mà trong đó con cá Ki Tô đã bơi lội vẫy vùng trong nhiều thế kỷ ở Tây phương nay đã cạn, cho nên Ki Tô Giáo phải đi tìm một hồ nước khác để có thể sống còn.  Và Ki Tô Giáo nghĩ rằng, Á Châu chính là cái hồ nước ngu dốt và nghèo khổ đó để Ki Tô Giáo có thể bơi lội trong thiên niên kỷ thứ ba của thường lịch.  Từ niềm hoang tưởng này, Ki Tô Giáo đã sáng chế ra cái gọi là “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu”, khoác bộ áo Á Châu để cải đạo Á Châu.  Nhưng dù cho có khoác bộ áo Á Châu với những chiêu bài như “Giê-su là người Á Châu”, “hội nhập văn hóa Á Châu” v..v.. , Ki Tô Giáo cũng không thể che đậy được cái ruột thần học Tây phương đã mọt rỗng qua nhiều thế kỷ.  Chứng minh sự kiện này chính là nội dung của tác phẩm mà quý độc giả đang cầm trên tay, một tác phẩm qui tụ ba bài phân tích rất trí thức, rất khoa học, về bản chất sách lược Cải Đạo Á Châu của Ki Tô Giáo, của ba tác giả: Tỳ kheo Thích Nhật Từ, nhà trí thức Ngô Triệu Lịch, và cư sĩ Trần Chung Ngọc.

      Sách lược Cải Đạo Á Châu bản chất ra sao và có thể thành tựu được không?  Câu trả lời nằm trong nội dung cuốn sách quý vị đang cầm trên tay.  Đây là một tác phẩm với sự đóng góp của ba trí thức Việt Nam, ở trong nước (Thích Nhật Từ) ở trên trang nhà Giao Điểm (Ngô Triệu Lịch) và ở Mỹ (Trần Chung Ngọc), ba nhân vật đã được giới độc giả biết đến nhiều, ở trong cũng như ở ngoài nước, mà giá trị nghiên cứu trong những tác phẩm của họ không ai có thể nghi ngờ về tính lương thiện trí thức, về kiến thức rộng rãi và sâu sắc, về lý luận chặt chẽ và khoa học.

     Sách lược cải đạo Á Châu của Ki Tô Giáo chẳng qua chỉ là sách lược xâm lăng các nền văn hóa và truyền thống Á Đông qua những thủ đoạn bất lương trí thức gian xảo như một số phê bình gia Tây phương, Ấn Độ, Thái Lan v..v.. đã nhận định.  Thực chất của sách lược này, người Việt Nam chúng ta sẽ thấy rõ qua ba bài nghiên cứu và phân tích rất công phu của ba trí thức Việt Nam nêu trên mà Giao Điểm có được cơ duyên góp thành một cuốn sách và xuất bản để cống hiến bạn đọc.  Sau đây Giao Điểm xin giới thiệu sơ lược cùng quý độc giả ba tác giả trên.

      Tỳ Kheo Thích Nhật Từ là một vị Tăng trẻ, hiện trụ trì tại Chùa Giác Ngộ, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.  Với học vị Tiến Sĩ Phật Học, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ hiện là trang chủ của trang nhà Đạo Phật Ngày Nay (Buddhismtoday.com) và là tác giả của nhiều bài biên khảo về Phật Giáo rất công phu.  Tỳ kheo cũng là tác giả cuốn Kinh Tụng Hằng Ngày, một cuốn có thể nói là có giá trị nhất trong những cuốn Kinh Nhật Tụng hiện hữu.  

     Cách đây 12 năm, năm 1991, ở Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã gây chấn động dư luận quốc nội qua bài thuyết trình tại  2 ngày hội thảo do Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, phê bình “Thần Học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Châu Á” của Mục sư Tống Tuyền Thịnh, chủ đề của cuộc hội thảo.  Đây là bài đầu tiên trong cuốn sách này mà Giao Điểm được hân hạnh in lại và xin có lời cảm tạ tác giả.

      Bài thứ hai trong cuốn sách này là bài của Ngô Triệu Lịch, một trí thức đạo gốc như Charlie Nguyễn, với tựa đề “Nhận Định Về Văn Kiện “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ecclesia in Asia) của Giáo hoàng John Paul II.  Ngô Triệu Lịch là tác giả của một số bài nghiên cứu sâu sắc, đúng đắn về Ki Tô Giáo, rất được tán thưởng trên trang nhà Giao Điểm (giaodiem.com) như: “Ki Tô Nguyên Thủy! Họ Là Ai?”; “Tản Mạn Noel”; “Đôi Điều Về “Thánh Truyền”, “Huấn Quyền Hội Thánh” và “Đấu Tranh Cho Quyền Tự Do Tôn Giáo Hay Đấu Tranh Cho Sự Bành Trướng Của Nhà Nước Vatican?”.

      Bài sau cùng là của Giáo sư Trần Chung Ngọc viết về đề tài  “Công Giáo, Tin Lành Và Sách Lược Cải Đạo Á Châu”.  Giá trị của những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo trước đây của Giáo sư Trần Chung Ngọc khó có ai có thể phủ nhận nên Giao Điểm không thấy cần thiết phải giới thiệu thêm nữa.

     Cũng như tất cả những cuốn sách do Giao Điểm xuất bản trước đây đã được đánh giá cao, chúng tôi tin rằng quý độc giả sẽ không thất vọng với tác phẩm mới này.

 Giao Điểm, Hè 2005

Hồ sơ tội ác của “đồ tể” Ratko Mladic

Hồ sơ tội ác của “đồ tể” Ratko Mladic

27/05/2011 12:39

 
 

(TNO) Trước ống kính camera, các vệ sĩ của tướng Ratko Mladic thân thiện tặng chocolate cho những đứa trẻ người Hồi giáo Bosnia, hứa hẹn với các phụ nữ đang khiếp sợ rằng bạo lực đã chấm dứt.

>> Serbia bắt nghi phạm gây tội ác chiến tranh Ratko Mladic

“Không ai sẽ bị làm hại”, Tư lệnh quân đội người Bosnia gốc Serbia nói vào ngày 12.7.1995 trong khi dịu dàng vuốt đầu một đứa bé Hồi giáo, “Các bạn không có gì phải sợ. Tất cả sẽ được di tản”.

Trong khi Mladic nói, hàng ngàn binh lính của hắn đã thiết lập một vòng vây rộng lớn xung quanh thị trấn Srebrenica, khu vực an toàn do Liên Hiệp Quốc (LHQ) bảo vệ vừa mới thất thủ.   

Trong 10 ngày kế tiếp, binh lính của Mladic đã lùng sục, bắt bớ và hành quyết ngay tức khắc 8.000 người đàn ông và con trai trong thị trấn. Phụ nữ bị hãm hiếp và những lời khẩn cầu kiềm chế từ cộng đồng quốc tế bị nhạo báng.

 Ratko Mladic quan sát một trận chiến ở thành phố Gorazde vào tháng 4.1994 – Ảnh: Reuters

“Trên 500 nạn nhân của vụ diệt chủng Srebrenica là những đứa trẻ dưới 18 tuổi”, Hasan Nuhanovic, một người trốn thoát khỏi Srebrenica có cha, mẹ và một người em trai bị hành hình, kể lại, “Chúng đều chỉ mới 16, 17 tuổi khi bị hành quyết”.

Vụ tàn sát Srebrenica đã biến Mladic trở thành nỗi kinh hoàng của nhân loại. Sự căm phẫn sau vụ tàn sát đã thúc đẩy cộng đồng quốc tế ra tay chống lại quân Bosnia gốc Serbia, sau nhiều năm lực lượng này đẩy người Hồi giáo và người gốc Croatia ở Bosnia ra khỏi lãnh thổ mà họ khẳng định thuộc về người Serbia một cách có hệ thống.

Trong vòng vài tuần, chiến dịch không kích của NATO đã đảo ngược tình thế cuộc chiến. Vài tháng sau, một hiệp định hòa bình được ký kết và Mladic trở thành kẻ lẩn trốn cho đến khi bị CH Serbia bắt giữ vào hôm 26.5.2011.

Trong đầu những năm 1990, Mladic ủng hộ Tổng thống Serbia (khi đó) Slobodan Milosevic. Hắn kích động sự chia rẽ dân tộc và cố gắng biến phần lớn lãnh thổ Bosnia trở thành vùng “Đại Serbia” do dân tộc Serbia thống trị. Trong thời gian đó, giao tranh đã nổ ra giữa ba nhóm sắc tộc chính ở Nam Tư – người Chính thống giáo Serbia, người Thiên chúa giáo La Mã Croatia và người Hồi giáo Bosnia, trong một loạt các cuộc nội chiến chồng lên nhau.

Vụ thảm sát Srebrenica không phải là hành động tàn bạo đầu tiên của Mladic. Nó là đỉnh điểm của những năm tháng bạo lực bắt đầu bằng cuộc bao vây Sarajevo vào năm 1992, cuộc vây hãm dài ngày nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Các cuộc oanh tạc trong 4 năm đã làm thiệt mạng 10.000 người, bao gồm khoảng 1.500 trẻ em. Tại Sarajevo, Mladic đã ra lệnh sử dụng trọng pháo và các tay súng bắn tỉa nhắm vào dân thường. Lực lượng của hắn cũng bị tố cáo sử dụng việc hãm hiếp có hệ thống như một vũ khí chiến tranh.

Vào năm 2003, trong thông báo về phiên xử một thuộc cấp của Mladic, các công tố viên tội phạm chiến tranh đã nói: “Một quân đội chuyên nghiệp đã thi hành chiến dịch bạo lực không thương xót. Không có nơi nào an toàn cho người dân Sarajevo, từ nhà đến các trường học hay bệnh viện, trước cuộc tấn công có chủ tâm”.

Sinh ra tại ngoại ô Sarajevo, Mladic lớn lên trong một gia đình bị ám ảnh bởi sự chia rẽ sắc tộc mà nhà lãnh đạo Nam Tư cũ, Thống chế Josip Broz Tito, từng cố gắng kìm nén trong hàng thập kỷ.

Cha của Mladic bị giết trong một cuộc tấn công chống lại lực lượng người Croatia liên minh với Đức Quốc xã, trong đó có cả một số người Hồi giáo Bosnia. Chỉ là một đứa bé mới sinh vào lúc đó, Mladic không bao giờ biết mặt cha mình. Hồ sơ của người Đức cho thấy có hàng trăm ngàn người Serbia đã chết trong cuộc chiếm đóng và Maldic tự trao cho mình nhiệm vụ báo thù.

Tại các cuộc họp báo, Mladic đóng vai một kẻ lặng lẽ, suy tư song đáng sợ bên cạnh Radovan Karadzic. Hai người này là thủ lĩnh của những người Serbia chủ trương ly khai trong cuộc chiến với người gốc Croatia và người Hồi giáo từ 1992 đến 1995. Cả hai tuyên bố lực lượng của họ đang bảo vệ châu Âu trước sự xâm lăng của người Hồi giáo được các quốc gia giàu có bảo trợ.

Thực tế, “kẻ thù” của họ chỉ là những người dân địa phương được trang bị nghèo nàn mà tổ tiên vốn đã cải sang đạo Hồi cách đây hàng thế kỷ. Từ phát súng đầu tiên vào tháng 4.1992 đến hiệp định hòa bình Dayton, ở Ohio, Mỹ, vào tháng 12.1995, cuộc chiến Bosnia được tính toán là đã lấy đi mạng sống của khoảng 100.000 người Bosnia, bao gồm 10.000 người trong cuộc bao vây Sarajevo.

 Ratko Mladic (giữa) đến phi trường Sarajevo vào tháng 8.1993 – Ảnh: AFP

Là Tư lệnh Quân khu 2 của Quân đội quốc gia Nam Tư trú đóng tại Sarajevo, Mladic ở vào vị thế lý tưởng để lãnh đạo cuộc chiến ly khai của người Bosnia gốc Serbia khỏi nước Bosnia mới độc lập. Vào tháng 5.1992, Mladic ra lệnh cho quân của mình bắt đầu bao vây Sarajevo bằng cách cắt điện, nguồn thực phẩm và nước uống của thành phố. Các cầu không vận của LHQ đã giúp các cư dân sống sót song các vụ tàn sát gia tăng đều đặn.

Vào năm 1993, lính của Mladic đã bắn pháo vào một trận đấu bóng đá làm chết 15 thường dân. Một tháng sau đó, một quả pháo khác làm thiệt mạng 12 người khi họ xếp hàng chờ lấy nước. Vào năm 1994, một quả pháo rơi trúng ngôi chợ Markale làm chết 68 người. Một năm sau, một vụ tấn công thứ hai nhắm vào chợ Markale làm chết 34 người.

Trong giai đoạn đầu của cuộc bao vây, người ta phát hiện được một thông điệp qua sóng truyền tin của Mladic, trong đó hắn ra lệnh cho một trong các viên chỉ huy thuộc cấp hãy đốt cháy thành phố.

Vào mùa xuân năm 1993, trước lời đe dọa từ Tổng thống Mỹ Bill Clinton về các cuộc không kích của Mỹ nếu không rút khỏi một cao điểm của thành phố, Mladic đã dẫn các phóng viên lên cao điểm, khoát tay về phía chân trời và cảnh báo: “Tất cả mọi thứ này, từng chút một, đều là của tôi”. Vài giờ sau, hắn rút quân.

Một vài lời đe dọa của Mladic mang nhiều tính cá nhân hơn. Trong cuộc họp của Nghị viện người Serbia gốc Bosnia, cũng vào năm 1993, Mladic kéo một phóng viên sang bên cạnh để nhờ gửi thông điệp đến một bác sĩ phẫu thuật người Serbia đang làm việc cùng các đồng nghiệp Croatia và Hồi giáo tại bệnh viện Kosevo ở Sarajevo.

Mladic nói đã đến thời điểm vị bác sĩ lưu ý đến yêu cầu từ lực lượng của hắn rằng mọi người gốc Serbia phải rời Sarajevo và tham gia vào sự nghiệp ly khai. “Chúng tôi cần cô ta trong bệnh viện và cô ta phải đến. Cô ta là người Serbia và đó là bổn phận”, Mladic nói.

Khi người phóng viên hỏi lại rằng hậu quả sẽ như thế nào nếu vị bác sĩ không nghe theo, Mladic thủng thẳng: “Anh biết rõ chuyện đó mà”. Vài tháng sau, sau hai vụ ám sát bất thành do các tay súng bắn tỉa của Mladic thực hiện cùng sự gia tăng số người Serbia bị giết bất minh trong thành phố, vị bác sĩ đã bỏ trốn lên một chuyến bay cứu trợ của LHQ.

 Hàng trên: Phó tổng thống Biljana Plavsic (trái), Tổng thống của thực thể chính trị bên phía người Bosnia gốc Serbia Radovan Karadjic (giữa) và Ratko Mladic trong một phiên họp nghị viên vào tháng 8.1995 – Ảnh: Reuters

Vào năm 1994, người con gái 23 tuổi của Mladic, một sinh viên y khoa ở Belgrade, đã tự vẫn. Cái chết này dường như chỉ gia tăng thêm tính hung ác của hắn.

Theo thời gian, Mladic ngày càng coi khinh lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ. Vào năm 1994, quân của hắn đã cố gắng chiếm Gorazde, một thị trấn cùng với Srebrenica, đã được đặt dưới sự bảo vệ của LHQ. Khi NATO không kích để ngăn chặn cuộc tấn công của Mladic, hắn ra lệnh cho lính của mình bắt giữ hàng chục binh sĩ LHQ làm con tin. Rốt cuộc, Mladic cũng trao trả các tù binh, nhưng LHQ đã bị làm nhục.

Cuộc tấn công thị trấn Srebrenica vào năm 1995 đẩy LHQ đối mặt với một trong những khoảnh khắc cam go nhất trong lịch sử tổ chức này. Chỉ khoảng chừng 300 lính gìn giữ hòa bình người Hà Lan trấn thủ thị trấn, song quân của Mladic đã cắt nguồn tiếp tế của họ trong nhiều tuần.

Khi Mladic tổ chức cuộc tổng tấn công vào tháng 7.1995, máy bay của NATO chỉ thả được hai quả bom vào lực lượng tiến công người Serbia. Trong vòng vài ngày, thị trấn của 30.000 người Hồi giáo Bosnia thất thủ. Sau khi Srebrenica thất thủ, Mladic đã nhạo báng lính gìn giữ hòa bình người Hà Lan của LHQ và buộc viên chỉ huy lực lượng Hà Lan phải nâng cốc chúc mừng ngày thị trấn thất thủ cùng hắn. Hắn hứa với quân lính của mình rằng chiến thắng đó sẽ trường tồn trong lịch sử.

Trong khi lặp đi lặp lại với thường dân Hồi giáo rằng họ sẽ không bị làm hại, Mladic thể hiện ý định thực sự của mình với một đội ngũ quay phim đến từ đài truyền hình của người Bosnia gốc Serbia.

Khi đi tản bộ tại trung tâm của thị trấn thất thủ, hắn nói với binh lính của mình rằng đã đến lúc báo thù cuộc thảm sát mà người Thổ thuộc đế quốc Ottoman gây ra với người Serbia trong khu vực này cách đó 190 năm trước.

“Chúng tôi tặng thành phố này cho người Serbia như một món quà”, hắn nói, “Đã đến lúc báo thù”.

Sơn Duân
(Theo Reuters, AFP, New York Times)

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110527/Ho-so-toi-ac-cua-Ten-do-te-nguoi-Bosnia-Ratko-Mladic.aspx

Serbia bắt nghi phạm gây tội ác chiến tranh Ratko Mladic

Serbia bắt nghi phạm gây tội ác chiến tranh Ratko Mladic

26/05/2011 19:00

 
 

(TNO) Hôm nay 26.5, cảnh sát Serbia đã bắt giữ tướng Ratko Mladic, một trong những nghi phạm gây tội ác chiến tranh bị truy nã gắt gao nhất thế giới, theo xác nhận của Tổng thống Serbia, Boris Tadic.

“Nhân danh Cộng hòa Serbia, tôi có thể thông báo về việc bắt giữ Ratko Mladic. Việc dẫn độ đang được tiến hành”, ông Tadic nói trong cuộc họp báo được tổ chức vào lúc 11 giờ 30 GMT (18 giờ 30 phút giờ Việt Nam, ngày 26.5).

Trong cuộc họp báo ở Belgrade, ông Tadic cũng nói Serbia đã khép lại một chương đau đớn trong lịch sử nước này sau vụ bắt giữ Mladic.

Lãnh đạo lực lượng Bosnia Serb, Radovan Karadzic (phải) và Ratko Mladic vào năm 1995 – Ảnh: Reuters

Theo tiết lộ của một quan chức Bộ nội vụ Serbia, Mladic khai tên mình là Milorad Komadic, bị bắt tại Serbia nhờ một nguồn tin nặc danh. Tập đoàn truyền thông B92 của Serbia đưa tin vụ bắt giữ xảy ra tại Vojvodina, một tỉnh phía bắc của Serbia vào rạng sáng hôm nay, 26.5.

Mladic từng là tư lệnh quân đội của lãnh đạo lực lượng Bosnia Serb, Radovan Karadzic, trong suốt cuộc chiến Bosnia từ năm 1992 đến 1995. Hắn vốn bị Tòa án Tội ác Quốc tế ở Nam Tư cũ (ICTY) kết tội diệt chủng và một số tội ác chiến tranh khác vào năm 1995.

Cựu tướng lĩnh 68 tuổi này vốn chỉ huy cuộc bao vây thủ đô Bosnia, Sarajevo, kéo dài 44 tháng làm chết hơn 10.000 người. Hắn cũng chịu trách nhiệm cho vụ thảm sát 8.000 người đàn ông và con trai Hồi giáo ở thị trấn Srebrenica vào tháng 7.1995.

Từng sống tự do tại Belgrade trong một khoảng thời gian, Mladic đã biến mất khi cựu tổng thống Nam Tư Slobodan Milosevic bị bắt giữ năm 2001.

Theo Reuters, việc bắt giữ Mladic là điều kiện tiên quyết để Serbia có thể gia nhập Liên minh châu Âu. Giới chức Mỹ và Serbia cũng từng treo giải thưởng lên đến 19 triệu USD cho ai cung cấp thông tin dẫn đến việc bắt giữ hắn.

Kể từ khi Karadzic bị bắt ở Belgrade vào tháng 7.2008, đã có nhiều tin đồn rằng Mladic cũng sẽ sớm sa lưới.

Ngay trước khi có tin tức về vụ bắt giữ Mladic, Công tố viên trưởng của ICTY Serge Brammertz đã tố cáo rằng chính quyền Serbia không làm hết sức để truy tìm Mladic.

“Việc bắt giữ (Mladic) là bổn phận lớn nhất của Serbia”, ông Brammertz viết trong một báo cáo gửi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Sơn Duân

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110526/Serbia-bat-nghi-pham-gay-toi-ac-chien-tranh-Ratko-Mladic.aspx

Post Navigation