Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “Quan điểm”

Tản Mạn Về Video Clip Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn – Trần Chung Ngọc

Tn Mn V Video Clip

Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts36.php

 

29-Apr-2012

 

 

   Vài Lời Về “Tôi”.

Trước hết tôi cần phải thú thực rằng, về ca nhạc của người Việt Nam ở hải ngoại hay ở trong nước, và về các văn gia, nghệ sĩ Việt Nam, đối với tôi thật là xa lạ.  Ở Mỹ đã 37 năm mà tôi chưa từng bỏ tiền ra đi xem hay mua DVD Paris By Night.  Tôi cũng chưa từng đọc cuốn sách nào của Nguyễn Ngọc Ngạn.  Điều này không có nghĩa là các màn show Paris By Night hay truyện của Nguyễn Ngọc Ngạn không có giá trị mà chỉ vì những màn văn nghệ đó hay những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Ngạn không  nằm trong lãnh vực sở thích của tôi, và tôi không có thì giờ để làm những việc phí thì giờ đối với tôi. 

Về nhạc thì sở thích của tôi là nhạc cổ điển Tây phương, tôi đã học piano trong nhiều năm.  Cách đây ít năm, đến nhà anh chị Nguyễn Mạnh Quang, tôi đã nổi hứng chơi mấy bài ngắn của Beethoven, Chopin và Tekla Badarzewska trước một số thân hữu của anh chị Quang.  Về nhạc Việt thì trước sau tôi chỉ “nghe được” có 4 bài:  Thuyền Mơ của Dương Thiệu Tước, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải, Chiều Hành Quân (không nhớ tên tác giả), và sau này Hương Xưa của Cung Tiến, bài này của Cung Tiến có ảnh hưởng rõ rệt của nhạc cổ điển Tây phương.  Bài Chiều Hành Quân là một kỷ niệm.  Năm 1963, vợ chồng tôi đi tắm biển ở Nha Trang.  Buổi tối ngồi trước một quán ở bờ biển và suốt cả buổi tối, quán đó không có gì hơn là vặn đi vặn lại cái đĩa hát Chiều Hành Quân.  Nghe mãi rồi nó cũng thấm vào người và thấy hay hay, vì khi đó tôi là một sĩ quan, Trưởng Khoa Khoa Học trong Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia. Nhân mùa quân sự của sinh viên Võ Bị, nên các giáo sư trong Văn Hóa Vụ nghỉ dạy.  Ngoài ra, thình thoảng nghe vài câu Vọng Cổ, hay bài hát Chầu Văn tôi cảm thấy rung cảm hơn là nghe nhạc của Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn [Xin lỗi các “fan” của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn].  Về nghệ thuật, cái gì làm cho ta rung cảm thì cái đó có giá trị với ta, không nhất thiết phải có giá trị với người khác.

Về truyện thì trong thời còn đi học đã đọc khá nhiều truyện của Pháp như của Victor Hugo, Alexandre Dumas, Lamartine v..v.. Sau này ở Saigon thì đọc Kim Dung và tập truyện OSS 117 của Jean Bruce..  Từ ngày sang Mỹ, năm 1975, ngoài những cuốn của John le Carré thì không còn đọc truyện nữa, chỉ đọc những cuốn sách khảo cứu về khoa học, lịch sử, tôn giáo… Vì thế nếu nói về truyện, hay hồi ký v..v… của các văn gia hay chính khách Việt Nam thì tôi rất lạc hậu, không biết gì để nói.  Tôi nhớ và viết lại về những sở thích cá nhân để chứng tỏ tôi rất ít biết về những cuộc trình diễn văn nghệ ở hải ngoại cũng như về MC Nguyễn Ngọc Ngạn, chứ tôi biết chắc rằng những thông tin về cá nhân này chẳng có ai cần biết đến hay quan tâm đến làm gì.

Tuy nhiên, tôi cũng phải thú thực là Paris By Night không hẳn là hoàn toàn xa lạ với tôi, vì lâu lâu tôi cũng xem ké ở nhà người quen, hay mượn một vài DVD về coi xem sao, không nhớ là những số mấy. Có những người bạn, chỉ nghe tiếng hát là biết ngay là ca sĩ nào.  Còn tôi thì ngay cả nhìn mặt tôi cũng chẳng biết là ai.  Đã lâu rồi, loáng thoáng nghe thấy người ta chống đối Paris By Night 40 gì đó, làm như PBN 40 là B 40 trong thời chiến. Tôi chẳng mấy quan tâm vì chưa hề coi PBN 40.

Xem vài DVD Paris By Night thì, đối với tôi, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, người đẹp nhưng đôi khi có giọng cười hơi thiếu duyên [xin lỗi, đây chỉ là nhận xét thuần túy cá nhân].  Còn MC Nguyễn Ngọc Ngạn thì những câu nói dí dỏm của ông ta đôi khi cũng gây được những trận cười trong số khán thính giả.  Nhưng điểm son của Nguyễn Ngọc Ngạn là ông ta rất chịu khó làm bài tập [do home work], cho nên ông đã có thể khai sáng cho khán thính giả nhiều về văn hóa và lịch sử Việt Nam.  Tôi cho đây là điểm rất đáng quý trong những buổi trình diễn văn nghệ của Paris By Night.

   Duy Chống Cộng Thị Nghiệp.

Một số nhỏ người Việt hải ngoại hành nghề “Duy chống Cộng thị nghiệp” thường phát dị ứng với bất cứ cái gì mà đầu óc lệch lạc của họ hoang tưởng là dính tới “Việt Cộng”, chứng tỏ mấy chục năm rồi mà họ vẫn còn sợ “Việt Cộng”, khi không còn Cộng, ở nơi không có Cộng..

Họ sợ một tu sĩ Phật Giáo từ Việt Nam được dân tỵ nạn CS mời sang giảng đạo nhưng tưng bừng đón tiếp một “Chúa thứ hai” sang quyên tiền về xây nhà thờ hay để làm gì chẳng ai biết.  Họ sợ từ một cuộc triển lãm tranh, một cuộc trình diễn văn nghệ, cho đến một bản nhạc của Trịnh Công Sơn.  Họ sợ màu đỏ và nương cao màu vàng, tin tưởng rằng đó là màu của chính nghĩa và có một lịch sử huy hoàng, anh dũng nhất hành tinh. Với tâm cảnh sợ và với ảo tưởng như vậy nên ngày nay mới có chiến dịch tố khổ Nguyễn Ngọc Ngạn vì ông này chưa có phép của “cộng đồng” mà lại dám nhận làm MC cho chương trình văn nghệ “Tình Ca Mùa Xuân” ở Berlin trong ngày 30/4/2012.  Tôi không biết tối ở Berlin thì ở Việt Nam là mấy giờ, ngày nào, nhưng tôi biết rõ, nếu tổ chức ở Chicago tối 30/4 thì lúc đó là sáng ngày 1/5, nghĩa là không còn là ngày “quốc hận”, hay “mất nước”, hay “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” của chúng ta.

 

NNN bị chống nhưng các nhóm khác vẫn tổ chức show và còn đề rõ để ăn mừng ngày 30/4

Tôi biết được vụ ông Nguyễn Ngọc Ngạn bị tố khổ vì gần đây, trên trang nhà Sách Hiếm, http://www.sachhiem.net/index.php?content=showemail&id=91 trong mục “Thư, Ý kiến ngắn” có cái video clip về “Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn”.  Tuy chẳng mấy quan tâm đến nhân vật Nguyễn Ngọc Ngạn nhưng tôi thường đọc tất cả những gì xuất hiện trên Sách Hiếm.  Cho nên tôi cũng tò mò xem cho biết.  Xem xong rồi lại muốn biết nhiều hơn lên tôi lại phải làm bài tập, vào Internet tìm hiểu thêm về nội vụ sự việc, từ cá nhân Nguyễn Ngọc Ngạn cho đến những luận điệu chống đối show ở Berlin ngày 30/4/12.. 

MC Nguyễn Ngọc Ngạn

Về Nguyễn Ngọc Ngạn thì tôi được biết một số chi tiết về tiểu sử, khuynh hướng v…v…khi đọc bài: MC NGUYỄN NGỌC NGẠN NGOÀI ĐỜI VÀ TRÊN VIDEO do một người viết từ năm 2008.  Cuộc đời của ông ta cũng khá đặc biệt, và sau 20 năm ông vẫn đứng vững trên “chiến trường hải ngoại” thì đó cũng là điều đáng kể.

Xem video clip Hoàng Anh phỏng vấn Nguyễn Ngọc Ngạn và đọc những luận điệu chống đối Nguyễn Ngọc Ngạn tôi thấy rõ ràng là Nguyễn Ngọc Ngạn và những người chống đối thuộc hai lớp người khác nhau, trình độ khác nhau, hiểu biết khác nhau, và do đó bất khả tương hợp, không thể nói chuyện với nhau được. Trong video, ông Nguyễn Ngọc Ngạn có nói: không đồng ý thì hãy đối thoại cùng nhau.  Nhưng làm sao ông có thể đối thoại với những người không thuộc lớp người như ông, không có hiểu biết như ông, không có tâm tư như ông.  Trong video cũng có những bài học của Nguyễn Ngọc Ngạn cho những người chống đối, nhưng tôi e họ không thể lãnh hội được, vì đầu óc họ đã mất đi một số thần kinh suy tư, hay thần kinh biết ngượng, có thể từ khi họ gia nhập hay tự trói buộc mình trong một đoàn thể nào đó..

Thật vậy, về các luận điệu chống Nguyễn Ngọc Ngạn thì tôi không thể ngờ là trình độ của những người chống đối lại thấp đến thế.  Tôi có cảm tưởng là họ viết để mà viết, chống để mà chống, bất kể lý lẽ, hầu như là chính họ cũng không biết mình viết cái gì, có hợp tình hợp lý hay không.  Điều rõ ràng là những người chống đối Nguyễn Ngọc Ngạn cho rằng Nguyễn Ngọc Ngạn cũng phải nghĩ như mình, phải có cảm xúc như mình, phải thù hận như mình, phải đau đớn như mình v…v… về ngày 30/4, ngày mà họ vẫn ngu ngơ gọi là ngày “quốc hận” hay “mất nước”.  Quốc là nước, nhưng mà là nước nào đây, miền Nam thua chứ có mất đi đâu, và thử hỏi trên 80 triệu người Việt Nam hiện nay, kể cả một số không nhỏ ở hải ngoại, có bao nhiêu người coi ngày 30/4 là ngày “quốc hận”?  Chẳng có ai cấm ai coi ngày đó là ngày “quốc hận”, nhưng muốn mọi người khác cũng phải dùng một từ vô nghĩa như mình, nghĩ như mình thì là một điều hoang tưởng, chưa kể cái mà mình gọi là “quốc hận” đặt căn bản trên sự hiểu biết thiếu sót và sai lầm về lịch sử Việt Nam trong chính trường quốc tế.  Đó chỉ là cảm tính cá nhân của một số người ít văn hóa, không phải là sự thực lịch sử.  Và cảm tính cá nhân thì chỉ có giá trị đối với cá nhân mà thôi, không thể diễn giải để tổng quát hóa, muốn mọi người khác cũng phải có cùng một cảm tính như mình. Có lẽ những người chống NNN không hiểu được như vậy.

Những Luận Điệu Chống Nguyễn Ngọc Ngạn:

Đọc một số những luận cứ chống Nguyễn Ngọc Ngạn của Thụyvi  (Thư của người vợ lính); Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc (Thư Không Niêm Gởi Ông Nguyễn Ngọc Ngạn Và Trung Tâm Thúy Nga Paris); Nguyễn Đan Quốc, Germany (Berlin Báo Động: Nguyễn Ngọc Ngạn, Ý Lan, Nguyễn Hồng Nhung, Minh Tuyết, Bằng Kiều, Đan Nguyên  Tham Gia “Liên Hoan VC 30-4”); Lý Mỹ Tâm, CHLB Đức ; Nguyễn Bá Chổi  (Thư gửi Nhà văn MC Nguyễn Ngọc Ngạn); Đinh Lâm Thanh (NHÂN NGÀY 30.4 – NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC NGẠN); Dược sĩ Lê Ngọc Túy Hương (phê bình Giá Không Có Tôi) và vài thư ngỏ chống đối, tẩy chay v…v… show ở Berlin, đôi khi kèm theo những từ thiếu văn hóa mà trong video Nguyễn Ngọc Ngạn cho là “không trong sáng”, tôi thấy tất cả những người này đều có một quan điểm chung: phát dị ứng với ngày 30/4 vì coi ngày đó là ngày “quốc hận”, “ngày để tang cho cả nước” “ngày Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” v…v…, và hiển nhiên là quan điểm chung của họ là:  “bất cứ ai không đồng ý với “họ”, “không chống Cộng như “họ”, “không thù hận Cộng như họ”, “không dằn vặt đau đớn về ngày 30/4 như họ” v…v…, đều là “CS nằm vùng”, hay “thân Cộng”, hay “làm tay sai cho CS”, hay là “phản bội quốc gia, phản bội căn cước tỵ nạn”, hay là “Việt Cộng” cả. Họ nhân danh cả cộng đồng người Việt tỵ nạn, họ nhân danh cả nước, và đưa ra quan niệm là “trong mùa quốc hận, không ai được ăn mừng vui vẻ, không được đi nghe Tình Ca Mùa Xuân, không ai được vui chơi, mà phải biểu tình để kỷ niệm ngày quốc hận, phải hát “anh là ai” của Việt Khang, quên rằng lời lẽ trong bài hát của Việt Khang chỉ là những hoang tưởng, ấu trĩ, thiếu hiểu biết, và đoán mò những việc chưa xảy ra về Trung Cộng, về đất nước, và cả ngàn sau v…v…  Tiện đây có vài ý kiến về bài “Anh là ai?”

Xin hỏi anh là ai?

Không cho tôi xuống đường để tỏ bày

Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!

[Xuống đường 5 lần biểu tình là đủ rồi, chuyện quốc gia đại sự

không thể giải quyết bằng cách xuống đường]

Xin hỏi anh ở đâu?

Ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm

[Xuống đường biểu tình không thể chống được giặc Tàu ngoại xâm, chỉ để

bày tỏ một thái độ, một lập trường, và không thể kéo dài ngày này sang ngày khác.

Hãy đọc lịch sử để xem ông cha ta chống giặc Tàu ngoại xâm như thế nào]

Xin hỏi anh ở đâu?

Sao mắng tôi bằng giọng nói dân tôi?

[Bởi anh nông nổi và ngu quá đi]

Dân tộc anh ở đâu?

Sao đang tâm làm tay sai cho Tàu?

[Đây là một khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite) và láo xược]

Để ngàn sau ghi dấu

Bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào

[Đoán mò, làm sao biết ngàn sau bàn tay nào ghi dấu nào]

Tôi không thể ngồi yên

Khi nước Việt Nam đang ngã nghiêng

Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm

Một ngàn năm hay triền miên tăm tối

[Không ngồi yên, nhưng không thể cứu nước bằng một bài hát lãng xẹt,

ngu si, vô trí.  Đoán mò, sắp là bao giờ]

Tôi không thể ngồi yên

Để đời sau cháu con tôi làm người

Cội nguồn ở đâu?

Khi thế giới nay đã không còn Việt Nam

[Nói bậy, bao giờ thì không còn Việt Nam? Việt Nam đã tồn tại trên 4 ngàn năm,

Đã chiến thắng các cường quốc như Tàu, Pháp và Mỹ, và nay là một nước

Độc lập, thống nhất được cả thế giới công nhận, có mốc biên giới phân định

ranh giới giữa Tàu và Việt Nam]

Những tiếng hát ngu si, vô trí, đoán mò, sỉ nhục quốc gia như vậy mà người ta cũng hồ hởi ca tụng và ký thỉnh nguyện thư để xin quan trên can thiệp cho Việt Khang bị bắt vì tội nói láo thì không hiểu đầu óc của những người này thuộc loại nào.  Có vẻ như bất cứ cái gì nói xấu về chính quyền, nói xấu về quốc gia dân tộc là tập thể phi dân tộc cũng hồ hởi lên tiếng tung hô, ủng hộ, bất kể phải trái, bất kể đúng sai.

Đọc những lời chống đối Nguyễn Ngọc Ngạn, tôi không hiểu họ đang sống ở Mỹ, Pháp, Đức, Gia Nã Đại, hay ở Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm mà trong những nơi đây con người phải suy nghĩ và hành động theo sự chỉ đạo.  Sau đây chúng ta hãy đọc vài luận điểm của họ  để xem họ thuộc lớp người nào.  Tôi không để tên tác giả vì thấy không cần thiết.

  •    NNN nói ông Sĩ “là một bầu show chuyên nghiệp”. Việc ông tham gia tổ chức những chương trình từ thiện không có nghĩa là ông có tinh thần quốc gia, lại càng không thể chứng tỏ rằng ông có tinh thần chống cộng.

   [Vậy thì sao ! Tại sao ông Sĩ lại phải có tinh thần quốc gia hay tinh thần chống Cộng nếu ông ta không muốn.]

  •    Một người có tinh thần Quốc Gia , không ai có thể vui mừng tổ chức Đại nhạc hội vào ngày tang đất nước.Dù cho có là người vô cảm đi nữa, cũng phải biết ngày 30/4 đối với cọng đồng tỵ nạn là ngày không thể nào vui.

[Thế nào là tinh thần quốc gia?  Đệ nhất hay đệ nhị Cộng Hòa?  Tinh thần đó như thế nào?  Đối với cộng đồng tỵ nạn?  Cộng đồng tỵ nạn nào? Tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn kinh tế? Thành phần ở những lớp tuổi nào.  Bao nhiêu phần trăm sinh sau 1975, và sinh ở ngoại quốc.  CS làm gì họ mà họ phải tỵ nạn.  Cái gọi là Cộng đồng tỵ nạn ngày nay chỉ còn lại một thiểu số già nua, một thế hệ khác đã trưởng thành và hầu hết thế hệ trẻ này không coi mình là người tỵ nạn, trừ khi bị các bậc cha mẹ làm ô nhiễm đầu óc để tiếp nối sự thù hận.  Ai có tư cách để nói thay cho cộng đồng tỵ nạn?  Xin đừng lấy cảm tính của mình làm cảm tính của cả cộng đồng]

  •    Tại sao các ca nhạc sĩ không dành ngày thứ hai 30.4 này để tham gia biểu tình quốc hận tại các nước Âu Châu rồi sau đó sẽ trình diển tiếp vào ngày 1.5 ? Làm như vậy thì đây là một chứng minh hùng hồn nhất rằng họ coi trọng ngày quốc hận, đứng chung chiến tuyến với người VN quốc gia tại Đức chống cộng sản.

   [Câu hỏi ngớ ngẩn.  Tại vì họ không muốn bị người khác sai khiến làm theo ý của người khác.  Họ có quan niệm riêng và suy tư riêng.  Tại sao họ phải chứng minh hùng hồn (sic) rằng họ “coi trọng” (sic) ngày “quốc hận” (sic).  Mặt khác người VN quốc gia ở Đức chống cộng sản có đủ tư cách và có đáng để cho họ đứng chung chiến tuyến không?]

  •     Khi ông và những ca sĩ của Trung tâm Thúy Nga Paris chọn trình diễn trong ngày 30.04 tức là quý vị đã bước sang chiến tuyến khác. Chiến tuyến khác, tức là đã đứng về phía nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

   [Cái chiến tuyến đó nó nằm trong đầu của các ông chứ không nằm trong đầu của chúng tôi.  Không có một lý do nào để ông nhét cái chiến tuyến đó vào đầu chúng tôi.  Lực lượng của các ông ở phía bên này chiến tuyến là bao nhiêu.  Biểu tình, kiến nghị, thỉnh nguyện thư, chụp mũ, xuyên tạc, văn phong chửi rủa thô tục, hay “không trong sáng” (theo Nguyễn Ngọc Ngạn), đó là tất cả những gì các ông có thể làm được. Chúng tôi có quan niệm riêng, có suy tư riêng và hiểu biết hơn, không có bổn phận phải nghe theo bất cứ ý kiến nào của người khác. Vậy tại sao chúng tôi phải đứng về phía chiến tuyến của các ông. Các ông là những ai, tư cách ra sao, khả năng như thế nào và tại sao chúng tôi phải đứng về phía chiến tuyến của các ông, nếu thực sự có một cái gọi là “chiến tuyến”. Các ông có hiểu được như vậy không.  Ông đang ở nước Mỹ, Pháp, Đức, hay đang đóng vai Chúa Sơn Lâm ở trong rừng?]

  •    Bao nhiêu năm qua, cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã bảo-bọc, nuôi nấng ông cùng Trung tâm Thúy Nga, cho dù có những giai đoạn quý vị gặp khó khăn kinh tế, nhưng không vì lẽ đó lại đi hợp tác với kẻ thù, bỏ đi sự bảo-bọc nuôi nấng của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Như thế có còn đúng với ý nghĩa câu nói bên trên hay không?

[Ông nói bậy. Lại là cộng đồng, cộng đồng hải ngoại là số người đi xem PBN hay mua DVD PBN? Trình diễn văn nghệ là một thương vụ.  Chúng tôi bán hàng, ông thích thì mua, không thích thì thôi, có ai bắt buộc ông đâu.  Chẳng có ai bắt ông phải mua hàng của chúng tôi.  Đối với tôi, Thúy Nga Paris có cho không vé tôi cũng không đi coi, vì những thứ đó không thuộc sở thích của tôi.  Ông bỏ tiền ra để mua vui cho chính ông chứ đâu có phải ông muốn bao-bọc cho ai]

Trên đây là vài luận điệu chống NNN điển hình.  Đại cương thì đa số những luận điệu chống đối đều thuộc loại như vậy cả. Huênh hoang nhân danh cộng đồng, nhân danh cả nước v..v.. NNN đã nói rất đúng trong video.  Họ tự trói buộc mình trong những gì mà họ cho là liên hệ đến CS.  Đây không phải là chống đối mà chỉ là mặc cảm.  37 năm qua, sống trong những đất nước văn minh tự do nhất thế giới mà vẫn chưa hiểu thế nào là tự do, là quyền suy tư cá nhân v…v của người khác.

 

Vài Quan Điểm Của Giới Trẻ:

“Các bác” chống NNN hăng say như vậy nhưng có cảm thấy ngượng, nếu trong đầu còn một số thần kinh biết ngượng, với đám trẻ thuộc hàng con cháu của mình khi đọc những hàng chữ sau đây: 

  • Ông MC này lại bị bà con phàn nàn chuyện đi show 30-04-2012 ở Berlin

Xin lổi nha CC thì sao ngày đó là ngày người buồn thì cứ đi kiếm rượu uống hay chửi VC.

Tại sao người ta đi kiếm tiền lại phản đối, tui thiệt hết biết CC theo kiểu gì đây!

Tại VN kìa có bao nhiêu trò vui giải trí nhân ngày 30/04 sao không vận động thân nhân họ ở nhà tẩy chay 30/04 đi.

  • Ông ghét là cá nhân ông ghét, không ảnh hưởng gì tới chuyện show bên Berlin, người tổ chức show ở Berlin cho người ở Berlin coi, ông ở chổ khác thích thì bay qua đó coi, không thích thì ở nhà leo lên net chửi tẩy chay v.v.. Xứ tự do mà ông?

 

  • KD [Kỳ Duyên] chỉ thắc mắc… ngày 30 tháng 4 là ngày thứ hai thì mọi người Việt Hải Ngoại (ở Mỹ, Canada, Úc…trừ Âu Châu vì đó là ngày lễ) trong mọi ngành nghề đều phải đi, ĐƯỢC đi làm, duy có nghệ sĩ và bầu show là không được đi làm?

Hay là các bạn thử gọi vào sở sáng thứ hai nói với ông chủ là mình không đi làm được vì đó là ngày 30/4 coi ông ta nói làm sao? Ồ…nhưng thôi nhỡ ông ta không cho nghỉ, các bạn đành phải lấy ngày “vacation day off” thì “Các Bác” lại mắng là mình đang ăn mừng!

Có nghĩa là đi làm cũng không được mà nghỉ làm cũng không xong với “Các Bác”? Biết làm thế nào đây? Ủa mà “Các Bác” này là ai mà mình phải sợ dữ vậy?

  • Nếu mà phải đào sâu thêm vào cái biến cố 30/4 thì ngay tại nước Mỹ cũng sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh hiềm khích giữa những người VN đi bằng tàu đến được bến bờ tự do và những người được đi máy bay qua đoàn tụ với gia đình một cách nhanh chóng hạnh phúc.

Sự chênh lệch và không cộng bình rất hiển nhiên trong cái xã hội mà chúng ta đang sống đây, làm sao có thể tránh được, làm sao bắt buộc tất cả mọi người phải suy nghĩ giống nhau hay đồng quan điểm như nhau được vì hoàn cảnh của họ khác mình.

    Về Video Hoàng Anh Phỏng Vấn Nguyễn Ngọc Ngạn:

Thường thường thì khi xem hay đọc một cái gì đó, chúng ta có thể rút tỉa ra những gì mà chúng ta  có thể học và dùng trong đời.  Thí dụ, trong những truyện chưởng của Kim Dung, Cổ Long hay xem những phim lịch sử chúng ta cũng có thể học được nhiều triết lý trong đó.  Đó là khuynh hướng đọc sách và xem phim của tôi.

Đọc những luận điệu chống NNN chúng ta học được những gì?  Có nên học sự thù hận phản ánh những cảm tính cá nhân bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, trong khi đọc câu kết trong cuốn truyện Cửu Nguyệt Ưng Phi của Cổ Long điều mà chúng ta có thể học được là:  “Nếu một người vẫn không thể quên thù hận, há chẳng ngu xuẩn lắm sao?”

Nhưng trong video Hoàng Anh phỏng vấn Nguyễn Ngọc Ngạn chúng ta có thể học được vài điều hữu ích. 

Trước lời than phiền của Hoàng Anh là giới trẻ phải đọc những lời công kích thô tục trên Internet, NNN đã khuyên “các Bác” đại khái là:  Những lớp người nhiều tuổi hãy nhìn lại chính mình.  Hãy nghĩ đến con cái.  Mình dạy chúng không được ăn nói thô tục mà chính mình lại phát ra những lời đó thì làm sao có được sự kính trọng của con cái mình.  Và NNN cho rằng những người như vậy cần phải biết ngượng với chính mình.  NNN cũng đưa ra một nhận xét là một số người chỉ đánh giặc hình thức và giặc đây là chúng ta đã tạo ra trong cộng đồng của chúng ta chứ không ở đâu khác.  NNN nói đúng, đây là một sự kiện khiến cho nhiều người không cảm thấy thoải mái vì mình ở trong một cộng đồng có những thành phần như vậy.  NNN cho rằng những người chụp mũ, xuyên tạc, dùng lời lẽ thô tục chỉ là những kẻ bất chính trong cộng đồng và ông khuyên hãy bỏ đi những chửi bới, nặc danh, có giận thì nuốt giận, không đồng ý thì đối thoại với nhau, không nên làm gương xấu cho giới trẻ.  Ông nói là những hoạt động của ông, những lời phê bình của ông đối với những tệ đoan tham nhũng lạm quyền ở trong nước chỉ có mục đích là muốn cho nước Việt Nam tiến lên ngang bằng với những văn minh tiến bộ trên thế giới và con người khá hơn.  Cá nhân tôi rất đồng ý với NNN, vì ai mà không muốn như vậy?

Vài Suy Tư Cá Nhân:

Tùy theo tâm tư cá nhân, ngày 30/4 có nhiều tên khác nhau.  Đối với một số người thì đó là ngày “quốc hận” hay ngày “mất nước” hay ngày “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam”, ngày “cả nước để tang”.  Đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam thì đó là ngày “Thống nhất đất nước”, vì đây là một sự kiện lịch sử bất khả phủ bác. 

80 tuổi đầu mà tôi vẫn không hiểu “quốc” với “nước” của họ là nước nào, và Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam như thế nào.  Đồng minh, đúng ra là ông Chủ chi tiền, tháo chạy và chúng ta chạy theo, Việt Cộng tiến như đi vào chỗ không người, hoàn thành mục đích thống nhất đất nước trong một thời gian kỷ lục, vậy “cưỡng chiếm” ở chỗ nào.  Miền Nam là một phần đất của Việt Nam, vì hoàn cảnh lịch sử nên tạm thời bị chia cắt, nhưng trước sau gì rồi đất nước cũng phải thống nhất.  Có vẻ như sự hiểu biết về lịch sử của họ là một con số không vĩ đại.  Ngày nay, dùng “cưỡng từ” để “đoạt lý” là chuyện của thời Trung Cổ hay thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức. 

Chúng ta hãy đọc vài ý kiến của giới trẻ trên kbchn.net:

longthanh – longk97@gmail.com – 27/04/2012 06:43

Ngày non sông liền một dải “vui sao nước mắt lại trào” mà gọi là tháng tư đen thì pó tay.Xin thưa với các vị tôi chỉ thấy 1 điều dù hiện nay trong nước có những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế ,vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Nhưng chưa bao giờ nước Việt Nam độc lập, tự do, người dân Việt Nam chưa bao giờ có niềm tin lạc quan về tương lai tươi sáng của dân tộc như ngày nay .Tôi biết chắc chắn rằng nếu VNCH mà lãnh đạo đất nước thì Việt Nam không bao giờ được như vậy.

tran hung – 27/04/2012 05:18

   Nhân đọc bài “ viết cho giới trẻ : ý nghĩa của ngày quốc hận 30/4 “ của cái gọi là GS có tên là Trần Thuỷ Tiên ( Không biết đàn ông hay bàn bà ) trên trang mạng của SMCĐ. Bài viết có đoạn như sau:

  “Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975.”

   Không biết cái gọi là giáo sư ấy là GS gì? Nên chăng nên đổi lại là Pháp sư Trần thuỷ Tiên. Chỉ có pháp sư là người có phù phép cao cường biến trắng thành đen , biến đúng thành sai và ngược lại. Một trí thức như vậy thì không có gì để nói. Xin mời các bạn bình luận giúp

Nguyễn Hoàng An – 27/04/2012 05:28

   Ui cái thứ GS gió bay ấy thì nói làm cái gì , 1 thằng đầu óc ngu dốt về chính trị lịch sử thì k nên nói chuyện với nó, nói như nước đổ đầu vịt thôi, cái thứ này k biết cái quái gì về CS hết, tui thách nó biết đc chủ nghĩa CS là như thế nào, XHCN là như thế nào đấy, với cái đầu óc dốt đặc như thế này thì còn lâu mới hiểu đc.

NNN nói lớp người lớn tuổi phải biết ngượng với con cháu mình.  Tuy tôi chẳng dính líu gì vào chuyện này nhưng cũng cảm thấy ngượng.  Ngượng vì chúng ta đã thua CS về quân sự, nay chúng ta lại thua về hiểu biết và đạo đức.

Tại sao sau 37 năm rồi mà chúng ta vẫn còn mang những quan niệm sai lầm về ngày 30/4?  Tại vì chúng ta tự giam mình trong hào quang của những ảo tưởng.  Ảo tưởng cho rằng chúng ta giỏi hơn, văn minh hơn, dân chủ hơn, nhân đạo hơn đối phương.  Ảo tưởng cho rằng CSVN gây ra cuộc chiến ở Việt Nam, làm tay sai cho Nga Tàu nên phải theo lệnh của Nga, Tàu.  Ảo tưởng cho rằng Pháp trở lại Việt Nam và Mỹ can thiệp vào VN vì VN là Cộng Sản.  Từ những ảo tưởng này đưa chúng ta đến những hành động sai lầm, và trong mấy chục năm nay, chúng ta tiếp tục dùng mọi thủ đoạn, từ bịa đặt cho đến xuyên tạc, từ những hành động hạ cấp phi dân chủ tự do cho đến khủng bố, vu khống để gây thù hận, với hi vọng là mọi người sẽ theo ý của chúng ta, chống Cộng đến người CS cuối cùng.  Nhưng kết quả như thế nào, chúng ta vẫn chưa tỉnh, tiếp tục sống trong sự mê sảng. 

Đối với những người Công giáo chống Cộng cho Chúa vì cho rằng CS vô thần, từ chối không chấp nhận Chúa, nên phải tiêu diệt đến người cuối cùng, thì không nói làm gì.  Nhưng chúng ta là đa số người Việt Nam không bị mê hoặc bởi cái bánh vẽ trên trời, còn có đầu óc thì chúng ta cũng nên dùng đến đầu óc để suy nghĩ và tìm hiểu sự thật, chứ không thể cứ mãi mãi sông trong ảo tưởng.

Có gì vô lý hơn khi người trong nước đã quên đi mối thù đối với kẻ thù chính, Pháp, Mỹ, và tái lập bang giao và giao thương với các nước này, để đưa nước nhà tiến lên, trong khi một thiểu số trong chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng sự thù hận và chống chính những đồng bào của chúng ta, cho rằng mọi người ở hải ngoại và ở trong nước phải tin vào những lời tuyên truyền sai sự thật của chúng ta:  Vì ngày 30/4 cho nên VN trở thành đói khổ nhất thế giới, không có tự do tôn giáo v…v… và thỉnh nguyện những quốc gia một thời đã tàn phá đất nước chúng ta phải xía vào những chuyện nội bộ của Việt Nam để cho một thiểu số chúng ta được hài lòng. Chẳng có ai có thể phủ nhận là ngày 30/4 đã gây cho một số người không nhỏ người Việt ở miền Nam những vết thương lòng.  Nhưng thay vì tìm hiểu để chữa lành vết thương thì chúng ta lại cứ làm chấn thương thêm vết thương đó.  Người Mỹ gọi là “add insult to injury”, nghĩa là làm cho tình trạng xấu xấu hơn.  Nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu về mọi khía cạnh của cuộc chiến thì vết thương của chúng ta đã lành từ lâu rồi. Và tôi đã tự chữa lành vết thương của tôi từ lâu rồi.  Ai nói là phải bỏ nhà, bỏ xe, bỏ địa vị, ra đi với tay không, mà lòng không bị thương.  Nhưng chữa lành như thế nào?  Qua sự hiểu biết.

Kết cục của cuộc chiến vào ngày 30/4 đã đưa đến cho tôi một thắc mắc và ấm ức trong vài năm đầu sống ở Mỹ sau 1975.  Thắc mắc và ấm ức đó là:

Tại sao chúng ta lại thua?

“Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay chiến đấu, về B52 để trải thảm bom từ trên thượng tầng không khí, xe tăng, tàu chiến, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng], và cuối cùng, Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam?  Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng phe Quốc Gia của chúng ta có vấn đề về chính nghĩa, về chủ quyền?  Phải chăng quân dân miền Nam không tích cực chống Cộng?  Hay phải chăng yếu tố quyết định là truyền thống yêu nước của  người dân Việt Nam?  Thực ra thì Quốc Gia và Cộng sản bên nào có Chính Nghĩa? Bên nào hợp lòng dân và được dân ủng hộ? Nếu không được người dân miền Nam ủng hộ và che chở, Bắc Việt có thắng được không?  Ý chí và khả năng chiến đấu của binh sĩ hai bên ra sao?  Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo dân chính cũng như quân sự?  Và còn những gì gì nữa?” 

Những thắc mắc trên cứ ám ảnh đầu óc tôi, cho nên sau vài năm, khi việc làm và đời sống kinh tế gia đình đã ổn định, tôi đã để thì giờ tìm hiểu, và đọc rất nhiều sách viết về cuộc chiến ở Việt Nam, phần lớn là sách Mỹ, sách Pháp, mà tôi tin rằng các tác giả không tự trói buộc mình trong sự phân biệt Quốc-Cộng ở Việt Nam.  Phần lớn họ là những học giả, giáo sư đại học, những viên chức cao cấp trong chính quyền và trong Quân lực Mỹ, và những tác phẩm của  họ, xuất bản nhiều năm sau khi chiến tranh đã chấm dứt, chỉ là những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh trong lãnh vực học thuật.

Ngày nay, lịch sử đã rõ ràng.  Với những kiến thức đúng về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ,  cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng, xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, bất kể là Việt Nam có phải là Cộng sản hay không, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của đế quốc Mỹ. Ngày 14 tháng 8, 1945, Tổng Thống Pháp De Gaulle bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để “cắm lại lá cờ tam tài của chúng ta ở đó” (y replanter notre drapeau).  Và Mỹ đã giúp hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này

Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của MỹĐây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái Quốc-Cộng của người Việt Nam.  Chúng ta thường cho rằng Mỹ can thiệp vào Việt Nam để giúp chúng ta chống Cộng, thực thi tự do dân chủ trên đất nước..  Sự thực không phải vậy, đó chỉ là một chiêu bài.  Sự thật là, Mỹ tự ban cho mình quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của mình, nghĩa là, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lý của kẻ mạnh để gây ảnh hưởng và nhất là cho những mục đích kinh tế.  Theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam.  Mỹ đã can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Dominican Republic, Philippines, Thailand v..v..  Và ngày nay, Mỹ đã xuất cảng tự do dân chủ sang Iraq, Afghanistan, Syria, Libya v…v… với hậu thuẫn của máy bay tàng hình, của bom đạn, trong đó có cả “bom áp nhiệt” mà một nữ khoa học gia Việt Nam của chúng ta đã có công lớn góp phần chế tạo để tạ ơn nước Mỹ.

Thật vậy, trong thời điểm đó, hơn 1/4 thế giới theo Cộng Sản.  Cuba ở ngay sát nách Mỹ là Cộng Sản, toàn thể Đông Âu theo Cộng Sản, và hai Cộng Sản gộc là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống ở những nơi đó  mà lại đi chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi, tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy hại nào cho Mỹ?  Chúng ta đừng quên là Mỹ đã giúp 80% chiến phí cho Pháp để Pháp tái lập nền đô hộ Việt Nam. Và chúng ta cũng đừng quên là ngay sau đệ nhị Thế Chiến, TT Eisenhower đã hỏi Tưởng Giới Thạch là có muốn Đông Dương không, trong đó có Việt Nam, làm như Việt Nam là một sản vật của Mỹ, Mỹ muốn cho ai thì cho.  Nhưng với kinh nghiệm lịch sử, Tưởng Giới Thạch đã từ chối.

Bởi vậy cho nên Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Stanford, viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri  (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967), trang 79:

Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, thì ở những nơi khác chúng ta lại sống chung với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư.  Ở những nơi khác, chúng ta rõ ràng quyết định là sống chung hòa bình với Cộng Sản, và khuyến khích những xã hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối Cộng sản.

(It is ironic that at precisely the moment we are saying that we must “halt communism” in Vietnam, we are coming to terms with it elsewhere, working out new treaty agreements with Russia, extending trade in Eastern Europe, giving support to Tito in Yougoslavia.  Elsewhere, we have clearly decide to coexist with communism, and to encourage independent Communist societies that will be increasingly free of the need for alliance with one another.)

Mục sư Brown nhận định không sai.  Ngày 4 tháng 11, 1956, xe tăng Nga tiến vào Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, một sự xâm lăng trắng trợn để dẹp một chính quyền Cộng Sản ngỏ ý cho dân được bầu cử tự do.  Mỹ chỉ can thiệp bằng miệng, dùng đài phát thanh VOA khuyến khích dân Hung chống trả, hứa suông là sẽ đem quân vào can thiệp, rồi án binh bất động.  Việt Nam không có quân xâm lăng từ ngoài vào.  Vậy tại sao lại là Việt Nam?

   Cho nên, những lý do Mỹ viện ra để can thiệp vào Việt Nam không chính đáng.  Giáo sư Mortimer T. Cohen viết trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979, trang 208:

Trong 21 năm bị lôi cuốn  vào Đông Dương, Chính Phủ Mỹ đã đưa ra những “lý do” về những hành động của mình.  Những lý do này vô giá trị.  Lý do duy nhất mà Mỹ vào Đông Dương là để ngăn chận vùng này khỏi rơi vào tay Cộng Sản bằng một cuộc bầu cử, một cuộc cách mạng nội bộ…  Và đó cũng đủ là lý do.

Thêm nhiều lý do.  Và thêm nhiều lý do nữa.  Chúng mọc lên như măng tháng 5.  Trước khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, những lý do có thể chứa đầy một cuốn sách.  Không lý do nào có giá trị.

(During the course of its 21 years of involvement in Indochina, the United States Government offfered “reasons” for its actions.  These reasons were worthless.  The only reason for the American being in Indochina was to prevent the area from going Communist by an election, by an internal revolution… And this was reason enough…

More reasons.  And more reasons.  They sprouted like asparagus in May.  Before the Indochina War came to an end, a book could have filled with reasons.  None of them were valid.)

Vậy thì, thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là gì?  Phải chăng đó là để giúp Nam Việt Nam chống Cộng (tại sao phải chống ở Việt Nam?) hay chỉ là một cuộc xâm lăng ngụy trang đàng sau chiêu bài giúp Nam Việt Nam để có tự do dân chủ.  9 năm dưới chế độ Ngô Đình Diệm có tự do dân chủ không?  Ngày nay, chúng ta có thể đọc vài tài liệu về thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, do chính người Mỹ viết, và viết sau khi chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt từ lâu.

Sau đây là vài đoạn điển hình trong cuốn The Pentagon Papers, tài liệu của Ngũ Giác Đài, hiển nhiên không phải thuộc loại phản chiến hay thiên Cộng:

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, tình báo Mỹ ước tính trong thập niên 1950 là chiến tranh phát khởi phần lớn là do sự nổi dậy ở miền Nam để chống chế độ tham nhũng và càng ngày càng đàn áp dân chúng của Ngô Đình Diệm .

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói về những năm 1956-1959, khi mà cuộc nổi dậy bắt đầu, hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí là những người Việt miền Nam và những nguyên nhân họ chiến đấu không có cách nào có thể bảo đó là do kế hoạch tính toán trước ở Bắc Việt.

Chỉ có rất ít bằng chứng là Bắc Việt đã chỉ đạo, hoặc có khả năng để chỉ đạo, những sự bạo động ở miền Nam (3 tháng cuối 1957: 75 viên chức địa phương bị ám sát.  Ngày 22 tháng 10, 1957, 13 người Mỹ bị thương trong 3 cuộc nổ bom ở Saigon)

Từ năm 1954 đến năm 1958 Bắc Việt tập trung vào sự phát triển nội bộ, hiển nhiên là hi vọng vào một cuộc thống nhất đất nước hoặc qua cuộc bầu cử theo như Hiệp Định Genève hoặc là kết quả của sự sụp đổ đương nhiên của chế độ Diệm yếu ớt.  Cộng sản để lại ở miền Nam một bộ phận nòng cốt khi họ đi tập kết ra Bắc năm 1954 sau cuộc chiến với Pháp chấm dứt, nhưng những cán bộ được lệnh chỉ được “tranh đấu chính trị[để sửa soạn kiếm phiếu trong cuộc bầu cử mà Bắc Việt hi vọng, và điều này không vi phạm hiệp định Genève].

Tháng 5, 1959, các nhà lãnh đạo Bắc Việt quyết định nắm quyền cuộc nổi dậy càng ngày càng lớn mạnh ở miền Nam. [Vì hi vọng thống nhất đất nước bằng hòa bình qua một cuộc Tổng Tuyển Cử không thể thực hiện do sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam]

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, cả tình báo Mỹ và các tù binh Việt Cộng đều cho sự thành công nhanh chóng của Việt Cộng sau 1959 là do những sai lầm của Diệm.

Tài liệu Ngũ Giác Đài mô tả trạng thái tâm lý của Ngô Đình Diệm như là của một “Đại Phán Quan Tây Ban Nha).

(American Intelligence estimates during the 1950s show, The Pentagon account says, that the war began largely as a rebellion in the South against the increasingly oppressive and corrupt regime of Ngo Dinh Diem.

“Most of those who took up arms were South Vietnamese and the causes for which they fought were by no means contrived in North Vietnam,” the Pentagon account says of the years from 1956 to 1959, when the insurgency began.

There is only sparse evidence that North Vietnam was directing, or was capable of directing, that violence (Last quarter of 1957: 75 local assassinated or kidnapped.  On October 22, 1957, 13 Americans were wounded in three bombings in Saigon)

From 1954 to 1958 North Vietnam concentrated on its internal development, apparently hoping to achieve reunification either through the election provided for in the Geneva settlement or through the natural collapse of the weak Diem regime.  The Communist left behind a skeletal apparatus in the South when they regrouped to North Vietnam in 1954 after the war with the French ended, but the cadre members were ordered to engage only in “political struggle.”

North Vietnam’s leaders formally decided in May, 1959, to take control of the growing insurgency.

The Pentagon account says that both American intelligence and Vietcong prisoners attributed the Vietcong’s rapid success after 1959 to the Diem’s mistakes.

Diem’s mentality is described in the account as like that of a “Spanish Inquisitor”.)

Đến đây, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu chút ít là chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm những gì để cho người dân miền Nam phải nổi dậy chống đối, và như chúng ta đã biết, không phải là chủ trương của Bắc Việt cho đến năm 1959.  Đây không phải là chỗ đi vào chi tiết những hành động khủng khiếp của chính quyền Diệm đối với người dân, các đảng phái, và tôn giáo khác.  Quý độc giả nào muốn biết rõ hơn thì có thể tham khảo nhiều cuốn sách hiện hữu ngày nay bằng tiếng Anh, tiếng pháp, hoặc hai cuốn “9 Năm Máu Lửa Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm” của Nguyệt Đam và Thần Phong và “Đảng Cần Lao” của Chu Bằng Lĩnh.  Ở đây, tôi chỉ đưa ra vài nét chính qua những nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 240, 41, 61:

Diệm là một người Công Giáo thuộc thời Trung Cổ – ông ta đúng, mọi người khác đều sai.  Chân lý (Phúc Âm) có quyền ưu tiên, những sự sai lầm không có.  Và, biết rõ bản chất bất ổn định của quyền cai trị của ông ta, ông ta bị ám ảnh bởi ý tưởng là người nào phê bình bất cứ điều gì về chế độ của ông ta cũng là những kẻ thù thâm căn cố đế.

Ông ta là thánh Dominique (Người được Giáo Hội Công Giáo giao cho nhiệm vụ phát động những Tòa Án Xử Dị Giáo (The Inquisition) trong thời Trung Cổ).

Tháng 5 1955, ông ta mở chiến dịch Tố Cộng.  Hiệp Định Genève đặc biệt cấm không được trả thù chính trị.

Do đó, Diệm đã khởi sự những sự thù nghịch.  Chính hắn, bằng chính sách tấn công tiêu diệt Việt Minh, đã khởi sự cuộc chiến ở miền Nam.  Và chúng ta cần nhấn mạnh là, hắn ta hành động như vậy không phải là để trả đũa bất cứ sự khiêu khích nào của Việt Minh, nhưng từ sự thúc đẩy là phải tiêu diệt Cộng đỏ – tinh thần của một tên Công Giáo thời Trung Cổ đi săn lùng kẻ lạc đạo…

(Diem was a medieval Catholic – he was right, the others were wrong.  Truth has privileges, error đoes not have.  And, well aware of the precarious nature of his rule, he was obsessed with the idea that all who criticized anything about his regime were inveterated enemies.

He was St. Dominick.

June of ’55 he opened an “Anti-Communist Denunciation Program”.  The Geneva Accord specifically forbade political reprisals.

Thus, Diem began the hostilities.  It was he, who by his assault on the Vietminh, began the fighting in the South.  And, it must be emphasized, that he did this not in response in any Vietminh provocations, but out of his compulsion to exterminate the Reds – the spirit of the Medieval Catholic heretic-hunter.)

Phê bình chiến dịch Tố Cộng với những kết quả khủng khiếp của nó qua một vài con số trích dẫn mà tôi không muốn kê ra ở đây, Avro Manhattan viết trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, 1984, trang 99, như sau:

Đằng sau cái bề mặt (Tố Cộng), mục tiêu thực của nó là Công Giáo hóa quốc gia.  Sự đàn áp của Công Giáo ở Nam Việt Nam không phải là sự tác động của một cá nhân cuồng tín, hay của một nhóm cá nhân thí dụ như ba anh em của Diệm, hiến thân cho chính sách Công Giáo hóa một nước Phật Giáo.  Nó là phó sản của một chính sách dài hạn đã được tính toán cẩn thận, nhận thức và đẩy mạnh bởi những bộ óc mà những mục tiêu căn bản là bằng mọi giá, bành trướng một tôn giáo mà họ tin chắc rằng là một tôn giáo chân thật duy nhất trên thế giới.

Người gây cảm hứng chính và theo đuổi chính sách này, như chúng ta đã thấy, là Giáo Hoàng Pius XII.  Chính sách đó hoàn toàn hợp điệu với chiến lược toàn cầu của ông ta, nhắm tới hai mục tiêu căn bản: tiêu diệt Cộng Sản, và bành trướng Giáo Hội Công Giáo.

[Behind its facade its real objective was the Catholicization of the Country.  The Catholic repression of South Vietnam was not the work of a fanatical individual, or a group of individuals, like the three Diem brothers, dedicated to the Catholicization of a Buddhist country.  It was the by-product of a well calculated long range policy conceived and promoted by minds whose basic objectives were the expansion at all costs, of a religion which they were convinced was the only true religion on earth.

The main inspirer and prosecutor of such a policy, as we have seen, was Pope Pius XII.  Such policy was totally consonant with his globl strategy, directed at two fundamental objectives: the destruction of Communism, and the expansion of the Catholic Church.]

    Chúng ta biết rằng, sở dĩ Diệm được đưa về Việt Nam là do lệnh của Giáo hoàng Pius XII cho Francis Spellman và do vận động của Hồng y Spellman với chính trường Mỹ chứ không phải là vì tài đức của Diệm. Ở Việt Nam rất ít người biết đến Diệm, Lansdale phải thuê một số người đi đón Diệm khi Diệm được đưa về nước. Mỹ là nước theo Ki Tô Giáo, vào thời đó, trên 70% theo Tin Lành và Tin Lành chưa có gì ở Việt Nam nên Mỹ dùng Diệm để từ đó Mỹ có thể bành trướng đạo Tin Lành của mình như lịch sử đã chứng minh.  Tin Lành chỉ phát triển ở Việt Nam từ thời Diệm và tuy rằng Công giáo đối nghịch với Tin lành nhưng Diệm không thể làm gì vì Tin Lành là Mỹ, và Tin Lành không phải là một lực lượng đối đầu được với Công Giáo ở Việt Nam.  Do đó sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam bản chất là một cuộc xâm lăng có mưu tính.

Có lẽ không có gì rõ ràng hơn là đoạn sau đây của Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ..

Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ.  Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và  những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ.  Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.

Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ  là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.

Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm,  sự xâm lăng của Mỹ.

(There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.

In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American.  In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest.  A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war.  To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war  do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “agression from the North”.  In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.]

Tại sao Daniel Ellsberg lại có thể viết như vậy. Không phải vì Ellsberg phản chiến mà vì Ellsberg là viên chức trong chính quyền Mỹ, đã từng đọc được những tài liệu mật nhất của Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến ở Việt Nam.  Chính ông là người đã tiết lộ Tài Liệu Ngũ Giác Đài.  Và ông viết đoạn trên năm 2002 chứ không phải là trong thời kỳ “phản chiến” sôi nổi trên đất Mỹ.  Nếu chúng ta đã đọc một số những sách viết về cuộc chiến Việt Nam, viết sau 1975, của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy rằng đa số đồng ý với Daniel Ellsberg về điểm này.

Sau đây là một tài liệu khác về bản chất của cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm.  Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), John Carlos Rowe and Rick Berg viết, trang 28-29:

Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện.  Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam.  Số tử vong vào khoảng nửa triệu.  Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. 

 Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ.

 Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.”  Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam.  Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương.

(As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..

It is worth recalling a few facts.  The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam.  The death toll was about half a million.  When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined. 

In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting.  The US maintained that it was invited in, but as the  London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.”  The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam.  In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Qua sự phân tích những sự kiện lịch sử và qua một số tài liệu đã dẫn chứng ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, theo truyền thống chống xâm lăng của người dân Việt, ngày 30 tháng 4 tất nhiên phải đến, trước sau gì, không có ngày 30/4 này rồi cũng có ngày 30/4 khác, vì đó là niềm khao khát nếu không phải của toàn dân thì cũng của đa số người dân.. Bất kể là Tàu, hay Nga, hay Mỹ có muốn Việt Nam thống nhất hay không, điều này không quan trọng, người Việt Nam muốn và đã thực hiện được, thế là đủ.  Đối với những người còn mang nặng  trên vai cuộc xung đột Quốc – Cộng trong quá khứ, và còn muốn tiếp tục cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, thì họ chỉ có thể nhìn thấy khía cạnh tiêu cực của ngày 30/4/75, vì thế chúng ta mới thấy xuất hiện những từ như “mất nước”, “Quốc Hận”, hay “cưỡng chiếm”.  Nhưng nhìn vào khía cạnh tích cực của ngày 30/4/75, chúng ta cần phải nhìn vào ngày đó như nó thực sự là như vậy (To see it as it really is). 

Cuộc chiến vô lý mà một nước nhỏ bé như Việt Nam bắt buộc phải gánh chịu ngoài ý muốn đã giáng trên đất nước Việt Nam những tổn thất về nhân mạng và vật chất như thế nào.  Chúng ta hãy đọc vài con số thống kê, chắc chắn không đầy đủ:

Theo tài liệu trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble, Inc., New York, 2005, trang 358, để cho chúng ta có thể nghĩ lại và hiểu rõ hơn bộ mặt thật của cuộc chiến:

–         Mỹ:  Chết 57702; bị thương 313616, cộng với hơn 1000 chết không phải do chiến trận.

–         Nam Việt Nam:  Chết 185528; bị thương 499026.

–         Bắc Việt:  Chết 924048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

–         Cả hai miền:  415000 thường dân chết; 936000 bị thương.

–         Nam Hàn:  Chết 1107.

–         Thái Lan:  Chết 350.

–         Úc và New Zealand: Chết 475.

–         8 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cambod, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần

tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

–         Viện trợ của Nga Sô Viết và Trung Cộng cho Bắc Việt ước tính khoảng 3 tỷ Mỹ Kim.

–         Mỹ đã tiêu ở Việt Nam khoảng 300 tỷ Mỹ Kim (viện trợ và quân phí).

Ngoài ra, Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76.954.806 lít hóa chất trong đó có 49.268.937 lít chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam, Giao Điểm 2005, trang 52).  Tác hại lâu dài của các loại hóa chất, nhất là chất độc Da Cam, trên môi sinh và con người Việt Nam vô tội, kéo dài cho đến tận ngày nay,  là một sự kiện không ai có thể phủ nhận. 

Nhìn vào những con số trên, chúng ta cảm thấy thế nào, khi biết rằng không phải là Việt Cộng là Cộng sản, hay Việt Cộng gây chiến, mà là do Mỹ can thiệp vào Việt Nam, đưa Công giáo Ngô Đình Diệm về Việt Nam, không thi hành Hiệp Định Geneva 1954, toan tính Công giáo hóa miền Nam, lập miền Nam như là một chư hầu của Mỹ.  Nhìn vào cuộc chiến, “Việt nam hóa” chiến tranh có nghĩa gì, phải chăng Ellsberg đã nói đúng: từ đầu đến cuối, đó là cuộc chiến của Mỹ.  Và khi đồng minh tháo chạy, cúp viện trợ thì miền Nam sụp đổ.  Sự thực đau lòng của lịch sử là ở chỗ đó.  Tại sao chúng ta không nhìn thấy.  Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục nhìn vào ngày 30/4 một cách biến dạng qua một lăng kính để rồi có những tư tưởng thái độ không thích hợp với sự thực lịch sử?

Chúng ta hãy quên đi sự thù hận một chiều và nhìn vào khía cạnh tích cực của ngày 30/4.  Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược.  Một khía cạnh tích cực khác của ngày 30/4/1975 là nó mở đầu cho một cuộc di dân vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.  Qua nhiều năm, hơn hai triệu người, đi chính thức cũng như vượt biên, hiện đang sống ở nước ngoài.  Sau một thời gian khó khăn trong việc hòa nhập vào một xã hội mới, sau khi đã ổn định được đời sống qua công ăn việc làm, đa số người Việt lưu vong không từ bỏ quê hương, dù rằng có một số tên đầu bò hô hào không về Việt Nam, không gửi tiền về Việt Nam, không mua hàng Việt Nam v…v….  Như là một nghịch lý, khối người Việt lưu vong cũng đã đóng góp không ít cho quốc gia dân tộc, và đã giúp cho chế độ bên nhà bền vững, một chế độ mà một số hội đoàn, tổ chức hữu danh vô thực, kể cả thế lực đen và tổ chức lãnh tiền của NED Mỹ để chống phá Việt Nam, thường hô hào cần phải lật đổ, giải thể, hay cất lên tiếng kêu vô vọng: “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”.. (SH: Lời Giáo Hoàng John Paul 2)  mà không bao giờ nhìn thấy đất nước ngày nay đã phát triển như thế nào, đời sống của người dân đã cải tiến ra sao, số lượng khách ngoại quốc du lịch Việt Nam là bao nhiêu, và số lượng người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương là như thế nào. Từ 1986, số tiền người Việt lưu vong gửi về mỗi năm không ít, và ngày nay mỗi năm có mấy trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, mang về mỗi năm trên dưới 7,8 tỷ đô la, và không phải là không có những chuyên gia mang những kiến thức mới về Việt Nam hay những nhà doanh nghiệp về làm ăn ở Việt Nam.  Danh sách 300 trí thức cấp cao mà một số người thiếu đầu óc cho là “nằm vùng” là một chứng minh. Đất nước đã mở mang phát triển về nhiều mặt tuy chính quyền còn nhiều điều bất cập.  Tệ nạn tham nhũng, lạm quyền và địa phương không tuân theo trung ương, giáo dục xuống cấp v..v.. là những vấn đề cần phải giải quyết, nhưng cần thời gian, không thể một sớm một chiều có thể thực hiện được.  Nhưng không ai có thể phủ nhận là, qua thời gian, chính quyền Việt Nam đã cải tiến rất nhiều, và tôi hi vọng chính quyền tiếp tục đặt nặng nỗ lực trên vấn đề cải tiến xã hội, mở mang dân trí, và coi dân là trọng.

Hi vọng những hiểu biết, qua những công cuộc nghiên cứu lịch sử ở trên, có thể phần nào đóng góp cho việc tìm hiểu những vấn đề nhức nhối giữa những khối người Việt có chính kiến khác nhau về cuộc chiến tranh trên ba mươi năm trước, những vấn đề nhức nhối đáng lẽ không nên có.

Trong Tứ Vô Lượng Tâm, có vẻ như hạnh “xả” là một hạnh khó khăn nhất đối với những người hành đạo cũng như không hành đạo. Dĩ vãng đã qua.  Theo tôi, sống với dĩ vãng, dù là dĩ vãng của sự vinh quang hay dĩ vãng của hận thù, chẳng qua cũng chỉ là tự mình làm khổ mình mà thôi.  Khổ một nỗi, có vẻ như con người lại cứ thích tự mình làm khổ mình, không quên được sự vinh quang của dĩ vãng, phần lớn là do thời thế tạo nên chứ chẳng phải do tài cán gì, hay không dứt bỏ được hận thù của dĩ vãng, không những thế, còn nuôi dưỡng hận thù, lao đầu vào nghiệp vụ đi buôn hận thù, và truyền lại hận thù cho thế hệ sau.  Thật là tội nghiệp cho đám trẻ nếu bị các bậc cha mẹ truyền lại mối hận thù của đời họ. 

 

 

Trần Chung Ngọc

Grayslake, Ilinois

http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5306

 

Advertisements

22 năm GIAO ĐIỂM – Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ Sinh ( Phần 3 )

22 năm GIAO ĐIỂM – Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ Sinh

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts056.php

3. ĐỘ SINH :

 

Sự kiện thứ nhì mang tính tiên phong đột phá của Giao Điểm ở hải ngoại đã được tạp chí Giao Điểm số 39&40 tường trình: Mùa Đông năm 1997, bão Linda cuồn cuộn thổi vào đồng bằng sông Cửu Long với vận tốc hơn một trăm cây số giờ, và nước cứ mỗi ngày một dâng cao thêm phủ tràn 8 tỉnh miền Nam. Hình ảnh đồng bào Nam Bộ màn trời chiếu đất giữa cảnh sông nước chập chùng mà các hãng thông tấn quốc tế liên tục báo động trên các màn ảnh truyền hình đã làm đồng hương hải ngoại ai cũng thấy chạnh lòng. Nhưng nỗi ám ảnh “chống Cộng” và chống luôn cả quốc gia, và quá trình hung hăng chụp mũ “thân Cộng” của thế lực “đen” tại hải ngoại, với những vận động “van xin Mỹ đừng bỏ cấm vận”, hay “Cha đã giải phóng quê hương cha, tiếp đến xin cha hãy giải phóng quê hương con” v.v… Ngoài ra còn suy nghĩ sai lầm rằng gởi quà từ thiện về Việt Nam là nuôi dưỡng CS sống còn. Lối lập luận thiếu cơ sở nầy khiến tất cả các tổ chức, đoàn thể và đồng bào Việt Nam hải ngoại dè dặt lúng túng không biết phải làm gì.

 

Nhưng Giao Điểm đã tức khắc, công khai cổ động đồng hương hướng về đồng bào đang gặp thiên tai hoạn nạn ở quê nhà. Một buổi họp tại chùa Liên Hoa với sự tham gia của một số tổ chức ái hữu đồng hương gốc miền Nam, để tiến hành kế hoạch vận động cuộc cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Việt Nam. Dưới sự điều hành của cố bác sĩ Hội trưởng Trần Quý Nhu, chỉ trong một tuần lễ, Giao Điểm và thân hữu đã khẩn cấp gửi về đến tận tay đồng bào nạn nhân một số tiền và nhu yếu phẩm trị giá hơn 15 ngàn Mỹ kim. Không những sớm nhất và là tiên phong trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, mà còn sớm hơn cả những tổ chức thiện nguyện chuyên nghiệp như Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế nữa. Nhờ nỗ lực khai phá kịp thời đó của Giao Điểm mà đồng hương hải ngoại, sau đó, đã ồ ạt phát động những chiến dịch cứu trợ tuyệt vời khác và trong những thiên tai về sau ở nước nhà. Riêng Giao Điểm, khi đóng sổ cứu trợ, đã gửi về bên nhà hơn 40 ngàn Mỹ kim để cứu trợ trong dịp bão Linda.

Nhưng không phải chỉ có vậy. Trong thập niên đầu, Giao Điểm còn thực hiện được nhiều thành quả khác. Chúng ta có thể đọc bảng kết toán chi tiết những Thành Quả Hoạt Động 10 Năm Của Giao Điểm sau đây trong số báo Giao Điểm 39&40 :

 

 

Điều đáng nói là, sau vụ tòa án phạt ông NVT, người vu khống Giao Điểm CS phải trả 75 ngàn MK cho một bài viết 5 trang, nên những người muốn phát ngôn chụp mũ bừa bải không dám ngang ngược. Vụ án đầu tiên trong cọng đồng người Việt hải ngoại nầy đã mở một con đường mới và một bài học cho những thành phần núp dưới chiều bài chống cọng phải cẩn thận và lùi bước.

Cũng từ việc cứu trợ tiên phong (pioneer) và tiến hành các chương trình từ thiện khác như trợ cấp học phí cho nhiều sinh viên và học sinh nghèo, học giỏi, hạnh kiểm tốt, giúp các lớp học tình thường, cô nhi, quả phụ, bệnh xá đã tạo chất xúc tác và trợ duyên cho những hội từ thiện người Việt khác tại hải ngoại ra đời. Người sinh quán làng nào giúp làng đó, quận nào, tỉnh nào giúp quận đó tỉnh đó, tạo thành một phong trào làm từ thiện hướng về quê hương khắp cả nước, sau bao năm chinh chiến điêu tàn.

Có thể nói, thành quả của Hội Từ thiện Giao Điểm không phải là ở các con số vài chục ngàn MK mỗi năm, hay hằng trăm ngàn lon sữa Ensure, PediaSure hoặc bao nhiêu tấn Âu dược, mà ở chỗ là Giao Điểm đã đi những bước tiên phong, đúng đắn và nhân đạo để những ai có tâm muốn góp phần giúp dân nghèo tại quê nhà, không còn e ngại các thế lực đen tối chụp mũ hoặc phá hoại.

Một trong những chương trình chính của Giao Điểm hiện nay là giúp học sinh thiếu dinh dưỡng tại một số trường ở Việt Nam. Hằng ngày, mỗi học sinh được cung cấp hai ly sữa đậu nành nóng (do những nhân viên được Giao Điểm huấn luyện cách nấu và chế biến tại trường). Buổi chiều các em ăn cháo đậu và gạo, uống vitamine có chất sắt và một loon sữa PediaSure. Kết quả vô cùng khích lệ. Hằng năm, AmeriCares và Abott cho một số nhân viên chuyên ngành về kiểm nghiệm chương trình của Giao Điểm. Họ rất hài lòng và khuyến khích Giao Điểm HF nhiều hơn nữa.

Được biết tất cả các chương trình từ thiện của Giao Điểm từ khởi đầu cũng như chương trình dinh dưỡng, và y tế lưu động hiện nay, đạt được kết quả rất tốt là do các cọng sự viên của Hội trong cũng như ngoài nước làm việc rất tích cực không những hằng sản mà còn hằng tâm, cũng như sự quan tâm của ban giám hiệu, cô giáo, phụ huynh, nhân viên trường, y tá và bác sĩ địa phương và cơ quan chức năng… tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình từ thiện và giảm thiểu nạn suy dinh dưỡng. Đặc biệt những vị điều hành chương trình đã bỏ nhiều công sức cho chương trình từ thiện của Giao Điểm trong hơn 20 năm qua. Mỗi lần đi công tác từ thiện tại Việt Nam, tất cả đều tự trả chi phí hoàn toàn, từ vé máy bay, phương tiện di chuyển nội địa, phòng ở, ăn uống…

Giao Điểm đã cố gắng nhiều để làm từ thiện tại các tỉnh phía Bắc và Hà Nội như, hơn 10 năm trước, chúng tôi gởi tám tấn Âu dược đến chùa Quán sứ Hà Nội để chùa tổ chức các buổi khám bệnh và biếu thuốc giúp những bà con cần, nhưng chùa thiếu phương tiện và e ngại. Kết quả số thuốc ấy, được biết, biếu hết cho hội Chử thập đỏ. Về sau, chúng tôi có gởi khoảng 5 ngàn loon sữa Ensure và gần một tấn Âu dược đến chùa Bồ Đề. Sư Thầy Đàm Lan giúp cho những người neo đơn, người bệnh và phân phối đến nhiều chùa, kết quả rất tốt.

Lúc đầu Giao Điểm HF nhận sự hỗ trợ tùy tâm từ cọng đồng người Việt hải ngoại, về sau nhận sự giúp đỡ của hai Hội thiện nguyện AmeriCares và Abott tại Mỹ. Hằng năm hai cơ sở nầy giúp tiền, sữa Ensure, và hằng tấn Âu dược trị giá có lúc đến vài triệu MK.

 

Khám bệnh, Biếu thuốc và sữa Ensure tại Kontum, Thừa Thiên, Sông Cầu

 

Thân hữu GĐ tặng quà tại tỉnh Thái Bình

Dưới đây là thông tin và số liệu về những hoạt động trong mười năm gần đây của Ban Từ Thiện, Hội Từ thiện Giao Điểm (Giao-Diem Humanitarian Foundation – GDHF) :

(Xem thêm : www.giaodiemhumanitarian.org )

I. Địa Bàn Hoạt Động:

Do nhiều yếu tố khách quan (sự hợp tác hay không hợp tác của chính quyền địa phương; khoảng cách địa lý gần gũi hay quá xa xôi; điều kiện của tổ chức tài trợ…) và chủ quan (giới hạn về nhân sự, giới hạn về thời gian…), những hoạt động của Ban Từ Thiện phần lớn nằm trong các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Đồng Tháp (ngừng năm 2010), Bến Tre (chỉ trong năm 2011), An Giang (bắt đầu từ 2010), và Ban Mê thuột (không thường xuyên).

II. Kinh phí và phẩm vật từ thiện đến từ ba nguồn chính:

· Một phần rất lớn kinh phí và sữa Pediasure đến từ Abbott Fund qua tiến trình dự án (Grant) hàng năm, bắt đầu từ 2004. Theo yêu cầu của tổ chức tài trợ, kinh phí này chỉ dành riêng cho chương trình Sữa Đậu Nành Chống Suy Dinh Dưỡng của Ban Từ Thiện, GDHF.

· Một phần không nhỏ là Âu dược, dụng cụ y khoa, và hổ trợ cho nạn nhân bị thiên tai do AmeriCares Foundation hiến tặng. [AmeriCares Foundation cũng là tổ chức trung gian nối liền Hội Từ thiện Giao Điểm và Abbott Fund].

· Đóng góp của cộng đồng người Việt và thân hữu cùng một số thành viên của GDHF. Nguồn kinh phí này chiếm một tỷ lệ khá nhỏ so với hai nguồn trên.

III. Các hoạt động từ thiện:

Trong mười năm qua, cùng với một số tổ chức từ thiện trong nước như Ban Từ thiện Xã hội Phật giáo tỉnh Quảng Trị, Hội từ thiện tỉnh Quảng Trị, Trung tâm Giáo dục và Nhân đạo Huế, Ban Từ thiện Phật giáo huyện Phú Lộc…, Ban Từ Thiện GDHF đã thực hiện các hoạt động sau:

· Trợ giúp nạn nhân của thiên tai ở Việt Nam (Huế, Quảng Trị và Quảng Bình) và thiên tai ở Hoa Kỳ và Nhật Bản.

· Hỗ trợ tài vật cho những bệnh viện và các đoàn khám bệnh miễn phí cho người nghèo ở Quảng Nam Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị.

· Giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ đang theo học những trường mầm non và hỗ trợ xây cất + sửa chữa cơ sở vật chất cho những trường mầm non qua chương trình Sữa Đẫu Nành Chống Suy Dinh Dưỡng ở Quảng Trị, Thừa Thiên, An Giang (cùng Bến Tre và Đồng Tháp, và Ban Mê Thuột (nay đã ngừng).

· Giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của một số cụ già neo đơn tại chùa Diệu Pháp, Gò Vấp (đã ngừng) + khoảng 50 cụ già neo đơn tại chùa Tịnh Đức, Huế (từ 2008 và vẫn tiếp tục).

· Hỗ trợ kinh phí nuối trẻ mồ côi tại chùa Bửu Thắng, Ban Mê Thuột (không thường xuyên) + hỗ trợ kinh phí để mua một xe chuyên chở các cháu đi học và để nhà chùa đi chợ;

· Hỗ trợ học bỗng cho quý tăng ni sinh ở Huế đang theo học Trung và Đại Học và người nghèo do quý sư cô ở chùa Kiều Đàm, Huế, tổ chức (do anh Uyển và gia đình tài trợ qua GDHF).

· Hỗ trợ kinh phí giúp chương trình “Nồi cháo tình thương” của bệnh viện đa khoa Triệu Hải cho bệnh nhân nghèo và gia đình (mới bắt đầu năm 2012).

· Phát áo ấm cho tất cả trẻ trong chương trình Sữa Đậu Nành Chống Suy Dinh Dưỡng tại miền Trung vào các tháng lạnh và lũ lụt (bắt đầu từ năm 2010).

· Hổ trợ kinh phí mổ tim cho một số em nghèo ở Huế và Quảng Trị có hoàn cảnh khó khăn.

 

IV. Chương trình Sữa Đậu Nành Chống Suy Dinh Dưỡng và những hiến tặng của Abbott Fund:

Hoạt động từ thiện của GDHF khá đa dạng nhưng đây là chương trình trọng tâm của Ban Từ Thiện kể từ 2004 cho đến nay và được tái xét hàng năm. Mục đích của chương trình là gieo hạt giống nhận thức và kiến thức về dinh dưỡng, cách chăm sóc trẻ mầm non bằng những phương tiện, thức ăn sẵn có ở địa phương.

· Khởi đầu là chương trình thí điểm gồm 9 lớp và hơn 300 trẻ tại huyện Phú Lộc, Thừa Thiên.

· Sau 7 năm, chương trình hiện đang có hơn 4,800 cháu suy dinh dưỡng trong hơn 100 lớp tại Quảng Trị, Thừa Thiên, và An Giang (Bến Tre và Đồng Tháp) thuộc các trường ở vùng sâu, vùng xa, và có một số lớp chỉ có trẻ thuộc dân tộc thiểu số.

· Tùy điều kiện địa phương, phần lớn trẻ trong chương trình được uống sữa đậu nành xay chung với đậu phụng (để tăng chất béo và năng lượng), calcium, multi-vitamin nước cho trẻ dưới 2 tuổi, và những vi chất khác như chất sắt, folic acid, kẽm. Chương trình cũng tài trợ việc tẩy giun cho trẻ ở vùng chưa được nhà nước hổ trợ. Một số trẻ suy dinh dưỡng được hổ trợ thêm phần ăn sáng và bổ sung thêm dầu ăn đậu nành để tăng năng lượng. Hổ trợ thêm tiền ăn trưa cho một số trẻ nghèo. Hai tháng lũ lụt được uống Pediasure thay cho sữa đậu nành. Năm 2009, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong chương trình dinh dưỡng của GDHF đã được hạ thấp dưới 25%, vốn là mục tiêu thiên niên kỷ Liên Hiệp Quốc đề ra cho Việt Nam. Từ năm 2004 đến 2011, tỷ lệ suy dinh dưỡng trung bình của trẻ trong chương trình của GĐHF đã giảm từ 40% xuống đến 15%.

· Ban Từ Thiện nhấn mạnh phần bổ sung kiến thức: Tổ chức tập huấn hàng năm về cách pha chế sữa đậu nành, về kiến thức dinh dưỡng, và về giáo dục mầm non cho Ban Giám hiệu và các cô Bảo Mẫu. Ban Từ Thiện cũng tổ chức giáo dục cộng đồng mỗi ba tháng về dinh dưỡng, vệ sinh, y khoa phòng ngừa, và cách nuôi con cho tất cả phụ huynh có con em trong chương trình và đặc biệt là cho trẻ bị suy dinh dưỡng.

· Ngoài trang bị máy xay đậu và các thiết bị để nấu và phân phối sữa đậu nành cho các trường, Ban Từ Thiện hỗ trợ sửa chữa hay xây dựng nhà bếp, phòng học, sân chơi, và tường rào cho nhiều trường, lớp trong chương trình.

· Qua tiến trình dự án “Proposal and Funding” hàng năm, hiện kim do Abbott Fund hiến tặng chương trình đã gia tăng từ $50,000USD (2004) lên đến $201,321USD (2011-2012), chưa kể số lượng Pediasure hiến tặng mỗi năm cho trẻ uống trong hai tháng lũ lụt (tháng 12 và tháng 1) ước lượng trị giá $500,000USD mỗi năm.

V. Thuốc và dụng cụ y khoa và những hiến tặng của tổ chức AmeriCares Foundation:

Qua những liên hệ với Ban Từ Thiện GDHF, AmeriCares đã hỗ trợ như sau:

· Mỗi năm AmeriCares hiến tặng trung bình từ 2 đến 4 containers. Một ví dụ tiêu biểu là năm 2010 nhận 4 lô hàng từ AmeriCares gồm Âu dược và dụng cụ y khoa trị giá hơn 4 tỷ đồngVNĐ (tương đương với $200,000USD).

· Số phẩm vật này đã được phân phối đến Đoàn Khám bệnh Miễn phí (BS Diệu Ngọc ở Đà Nẵng); Tuệ Tĩnh đường Hải Đức (Thầy Thích Hải Ấn ở Huế); các bệnh viện chấn thương và chỉnh hình cũng như bệnh viện đại học Y ở Huế; các bệnh viện đa khoa Triệu Phong và Triệu Hải ở Quảng Trị, phòng khám bệnh miễn phí lưu động của Hội Từ thiện Quảng Trị (cho dân nghèo và người khuyết tật) ở các trạm y tế của 20 xã.

· Năm 2008, AmeriCares đã hỗ trợ kinh phí ($12,000USD) để giúp bệnh viện Triệu Hải mua một máy xét nghiệm sinh hóa trong công tác phục vụ bệnh nhân nghèo.

Sau đây là một tài liệu bằng Anh ngữ về sự hợp tác của Giao Điểm với Abbott và Americares trong công cuộc từ thiện ở Việt Nam để chứng tỏ Giao Điểm đã “Làm theo lời nói, Nói theo việc làm, tất cả đều chân thật, không hư dối” . (Americares là tổ chức từ thiện Mỹ với bà Barbara Bush là Đại sứ lưu động): http://www.pqmd.org/cms/node/112 Quý vị có thể đọc thêm về sự hợp tác của Giao Điểm với Abbott và Americares trong tài liệu : http://www.us-asean.org/cr/abbott-malnutrition.asp

* * *

Thay Lời Kết:

Chúng ta có thể nói gì về Tổ Chức Từ Thiện Giao Điểm? Trước hết, tôi xin cám ơn Giao Điểm đã cung cấp cho tôi những thông tin về hai lãnh vực “Hiển Chánh” và “Độ Sinh” của Giao Điểm. Cộng tác với Giao Điểm gần 20 năm nay, tôi thật không thể ngờ là Giao Điểm đã có những thành quả lớn lao như vậy. Giao Điểm, vì lợi ích của quốc gia, của quần chúng , với hai bước tiên phong đột phá “Trừ Tà” và “Độ Sinh”, đã hoạt động trong tinh thần vô úy bất kể những luận điệu chống đối hay chụp mũ của những người nặng lòng hận thù quốc gia. Ảnh hưởng của hai bước đột phá này trên quần chúng, ở hải ngoại cũng như ở trong nước, không thể đo lường được. Chúng ta hãy đọc một số trang nhà trên Internet, ở hải ngoại cũng như ở trong nước, chúng ta sẽ thấy rõ ảnh hưởng này. 37 đầu sách và 66 số báo do Giao Điểm xuất bản mà nội dung dựa trên những sự kiện lịch sử bất khả phủ bác không hề gặp phải sự phản biện trí thức đúng đắn nào.

Quần chúng, nhất là giới trẻ, đã không còn e ngại trước những vấn đề mà người ta thường cho là nhạy cảm tôn giáo, thuộc loại “cấm ngoại thủy không ai được biết”, và đã thẳng thắn cất lên tiếng nói, ý nghĩ của mình. Những công việc “Hiển Chánh” và “Độ Sinh” của Giao Điểm thì không có mấy tổ chức khác ở hải ngoại có thể so sánh vì tinh thần dân tộc bất vụ lợi. Tôi thật cảm thấy mình may mắn và có đôi chút hãnh diện khi được cộng tác và là một thân hữu của Giao Điểm.

 

Trần Chung Ngọc

Các bài thời sự cùng tác giả

22 Năm Giao Điểm: Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ SinhTrần Chung Ngọc
Vài Ý Kiến Ngắn Về “Thỉnh Nguyện Thư”Trần Chung Ngọc
Bang Giao Với Vatican? Bang Giao Như Thế Nào ??Trần Chung Ngọc
Chuyện Phịa Thời Sự: Tin Vịt Truyền ThôngTrần Chung Ngọc
Quấy Rối Nhà Thờ: Chuyện Nhỏ Thôi MàTrần Chung Ngọc
Tản Mạn Về Dân Chủ Nhân Quyền – & Vụ Án Cù Huy Hà VũTrần Chung Ngọc
Vô Thần Đang Lên – Hơn một trăm ngàn người Anh … Người Đọc Tin
Sáng Kiến Được Ủng Hộ: Vô Hiệu Hóa “Bí Tích Rửa Tội”Người Đọc Tin
Bang Giao “Bắc Kinh-Vatican” (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt NamTrần Chung Ngọc
Avro Manhattan: Cơn Ác Mộng Của Một Quốc Gia Trần Chung Ngọc
Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar Trần Chung Ngọc
Một Trong Ba ThứTrần Chung Ngọc
Tản Mạn về Chống CộngTrần Chung Ngọc
Những Người Máy Chống CộngTrần Chung Ngọc
Chủ Nghĩa Khủng Bố và Diệt ChủngTrần Chung Ngọc
Tại Sao Những Người Tin Chúa Lại Thù Ghét Những Người Vô Th��Trần Chung Ngọc

22 năm GIAO ĐIỂM – Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ Sinh (Phần 2:Hiển chánh)

22 năm GIAO ĐIỂM – Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ Sinh

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts056.php

2. HIỂN CHÁNH :

 

Hiển chánh, cụ thể là đóng góp phần nhỏ của mình vào việc phát triển tôn giáo dân tộc: Phật Giáo. Như độc giả đã biết, trong 66 số báo, hay trên trang nhà http://www.giaodiemonline.com/ ; http://giaodiemonline.info/ , Giao Điểm luôn luôn thao thức đến tiền đồ Phật giáo. Vì Phật giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua mọi thời đại: Quốc gia thịnh Phật Giáo thịnh, Tổ quốc lâm nguy Phật Giáo cùng chung số phận. Và 3 trong số 37 tác phẩm chỉ viết về Phật Giáo là các cuốn “Phật Giáo trong thế kỷ mới”, tập 1, 2 và 3, link: http://giaodiemonline.info/sach_detail.php?sachid=84 . Trong tập 3, có thêm phụ đề với câu hỏi “Tại sao phải chấn hưng?” Điều đó cho thấy, dưới con mắt của Giao Điểm, Phật Giáo không nên là chiếc thuyền nang quanh quẩn trong ao tù mà phải là một chiếc thuyền đủ tầm vóc để ra khơi với thời đại.

 

Năm 2002, một thành viên của Giao Điểm, cư sĩ Hồng Quang tham dự Đại hội Phật Giáo Việt Nam tổ chức tại Hà Nội và đọc bài tham luận với đề nghị “Mười vấn đề cấp thiết của Phật Giáo Việt Nam”. Năm 2006 Giao Điểm trực tiếp tích cực đóng góp và tham gia Hội thảo với chủ đề “Phật Giáo trong thời đại mới, Cơ hội và thách thức” do Viện nghiên cứu Phật Học tổ chức tại Học viện Vạn Hạnh, TP HCM. Có thể nói, đây là một cuộc hội thảo mang tầm vóc thời đại mà suốt hơn 2000 năm qua Phật Giáo Việt Nam, vì các chướng duyên, nên chưa có dịp tổ chức. Hai năm gần đây, không mang danh Giao Điểm, nhưng anh em trong ban Điều hành góp ý và hỗ trợ để cư sĩ Hồng Quang biên soạn bộ sách nhỏ “Phật học ứng dụng” 10 cuốn nhằm góp phần việc hoằng pháp đến các lớp Phật tử sơ cơ thiếu phương tiện thông tin điện tử.

 

Trang bìa mười cuốn sách “Phật học ứng dụng

Năm nay khoảng gần 10 cuốn khác đang được xúc tiến xuất bản do anh em phần lớn trong Giao Điểm và thân hữu biên soạn với tên gọi “Tủ sách tôn giáo”. Đây cũng là một bộ sách nhỏ khác, khoảng 100 trang cho mỗi cuốn.

 

Một cuốn trong bộ sách nhỏ nầy có tên là “Thiền-Tịnh và những lợi ích thiết thực” do cư sĩ Hồng Quang, một thành viên của Giao Điểm biên soạn. Theo tác giả, khoa học và y giới đã nghiên cứu và đưa ra những bằng chứng cụ thể: Thiền-Tinh-Mật có khả năng làm cho con người mạnh khỏe hơn, thông minh hơn, đẹp hơn, sống lâu hơn, chống bệnh tật và lão hóa [Xin xem trong www.tongiaovadantoc.com, trang chính “danh mục tác giả”]. Nếu trường học dạy phương pháp Thiền quán thì học sinh và sinh viên sẽ thông minh hơn. Bệnh viện áp dụng sẽ giúp việc chữa bệnh có nhiều kết quả hơn, và sẽ góp phần làm giảm ngân sách chi tiêu y tế quốc gia xuống một cách đáng kể. Và đó cũng là một trong những phương cách đóng góp làm cho dân giàu nước mạnh xã hội văn minh phú cường. Ngoài ra tác phẩm “Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân”, mà trước đây Giao Điểm đã xuất bản tại Mỹ, cũng được chính thức xuất bản tại Việt Nam, năm 20011, để góp phần đánh giá lại cho đúng với con người thật của Nguyễn Trường Tộ, được vinh danh sai lầm qua nhiều thế hệ [http://www.tongiaovadantoc.com].

Khoảng 1995, Giao Điểm hội ý với vài vị Tăng và cư sĩ để xây cất tại Bà rịa Vũng Tàu một Trung tâm Phật Giáo trên vài chục mẫu dất. Đây là một cơ sở mang tầm thế kỷ 21 với bảo tháp 9 tầng, thiền đường có thể chứa vài ngàn thính chúng một lúc, viện bảo tàng Phật Giáo, công viên thiền cảnh, nhà hàng…và hệ thống khách sạn vài trăm phòng để có thể thu nhập lợi nhuận cho việc hoằng pháp. Trong tham luận đọc tại Hà nội năm 2002 (như đã nói ở trên) cư sĩ Hồng Quang thỉnh cầu Giáo hội chấn hưng Phật Giáo với chương trình 10 điểm, mà điểm số 10 là cần có một “Trung tâm văn hóa có tầm cỡ của thế kỷ 21”. Họa đồ đã vẽ xong, giấy phép và kế hoạch xây dựng đang tiến hành thì một chướng duyên xẩy ra là “Phật giáo Việt Nam bên ngoài bị xúi bẩy đối kháng với chính phủ Việt Nam” nên chương trình phải ngưng. Nay chính quyền địa phương muốn lấy lại 43 mẫu đất nầy để xây khách sạn 5 sao và nhà nghỉ mát cao cấp, nhưng còn bị trở ngại vì quý thầy đứng tên chủ đất không đồng thuận giao đất.

Phiên dịch đại tạng kinh

 

Năm 2007 một số thành viên của Giao Điểm đã hợp tác với chư tăng ni và cư sĩ trong và ngoài nước thành lập TUỆ QUANG FOUNDATION đặt trụ sở tại Nevada-Hoa kỳ để chuyên dịch Đại tạng kinh, link: http://daitangvietnam.com/. Chương trình được chia ra năm giai đoạn: 1.Nghiên cứu cách phiên âm Hán Tạng bằng máy vi tính, 2. Phiên âm Hán tạng, 3. Dịch nghĩa tiếng Việt bằng máy vi tính, 4. Hiệu đính và ấn chứng bởi Chư Tôn Đức, và 5. Ấn tống và phát hành bản điện tử.

Sau năm năm hoạt động, đây là những thành quả:

  1. Phiên âm toàn thể Đại chánh tân tu CBETA từ tiếng Hán ra âm Hán-Việt để tiện đọc tụng hoặc nghiên cứu, phiên dịch;
  2. Từ điển PHẬT HỌC ĐA NGỮ (Hán Việt, Việt, Sanskrit, Anh ngữ) gồm 58.000 mục từ, sắp ấn hành;
  3. Cư sĩ Nguyên Hồng (giáo sư Lý Kim Hoa) và cư sĩ Nguyên Huệ (nhà văn Đào Nguyên) đã hoàn tất phiên dịch toàn thể 6 tập Luận tạng ra tiếng Việt gồm hơn 30.000 trang, sẽ được phát hành một ngày gần đây;
  4. Chư tăng ni và cư sĩ của Trung tâm văn hóa Phật giáo Huế LIỄU QUÁN và ban phiên dịch chùa Châu Lâm Huế đã hoàn thành phiên dịch 8 tập Kinh tạng, gồm trên 30.000 trang.

Công việc phiên dịch Kinh tạng vẫn đang được tiến hành tốt đẹp.

Ngoài ra, trang nhà http://vnbaolut.com/ do cư sĩ Nguyên Tánh thành lập để giúp dự báo thời tiết tại Việt Nam và Myanmar, đặc biệt những lúc sắp có bão lụt. Hàng ngày có bốn dự báo hoàn toàn miễn phí và có hiệu lực trong vòng 72 giờ bắt đầu từ 00 UTC (7 giờ sáng Việt Nam), 06 UTC (1 giờ trưa Việt Nam, 12 UTC (7 giờ tối Việt Nam) và 18 UTC (1 giờ sáng Việt Nam). Các dự báo được hoàn tất trong vòng 30 phút sau giờ dự báo, ví dụ dự báo 00 UTC được hoàn tất vào lúc 7:30 giờ sáng Việt Nam và dự báo 12 UTC vào lúc 7:30 giờ tối Việt Nam. Điều kiện đầu tiên và biên phòng cho mô hình MM5 được lấy từ dự báo toàn cầu của Nha Khí Tượng Hoa Kỳ. Các dự báo được cập nhật hoá với những dữ kiện và tin tức khí tượng mới nhất từ vệ tinh, radars, báo cáo từ các đài khí tượng, phi trường và thương thuyền trong vùng.

22 năm GIAO ĐIỂM – Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ Sinh (Phần 1: Trừ tà)

 

22 năm GIAO ĐIỂM – Trừ Tà – Hiển Chánh và Độ Sinh

Trần Chung Ngọc

28-Mar-2012

http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts056.php

Cho tới nay (2012), Giao Điểm đã được 22 tuổi đời. Trong nhiều năm gần đây, nền thần học đoán mò của TCN đoán rằng chắc có nhiều người thắp nến cầu nguyện hiệp thông, cầu cho Giao Điểm bị con Ma Thánh (Holy Ghost) dẹp tiệm, đặc biệt là vào năm 2006, khi Giao Điểm xẩy ra một biến cố nho nhỏ do lòng tin của Giao Điểm đặt không đúng chỗ, khiến cho Giao Điểm phải chuyển mình từ giaodiem.com thành giaodiemonline.com. Từ đó, cũng như từ trước đó, Giao Điểm đã giẫm lên trên tất cả mọi chống đối, từ những lời lẽ hạ cấp của những côn đồ văn hóa, đao phủ văn chương, cho tới những cuồng phong của giới chống Cộng, và tới những cơn sóng thần của con cái Thiên Chúa, Thiên Chúa của người Do Thái, thật ra chỉ là nô lệ của Vatican. Như là một phép lạ, lạ hơn phép lạ ở Fatima hay Lourdes, vì đây là sự thật hiển nhiên tuy lạ và khó tin, Giao Điểm vẫn vững như bàn thạch và vẫn tiếp tục bước trên con đường đã chọn cho tới ngày nay, lẽ dĩ nhiên cho đến khi hết duyên, một ẩn số bất khả tri. Năm nay, để kỷ niệm Giao Điểm gần tròn 22 tuổi, với tư cách của một thân hữu lâu năm của Giao Điểm, tôi muốn viết chút ít về những điều tôi biết về tổ chức này, thứ nhất để đọc giả thấy rõ Giao Điểm là một tổ chức như thế nào, và thứ nhì để đánh tan những xuyên tạc về Giao Điểm.

Theo tôi biết thì Giao Điểm được thành lập từ năm 1990. Theo Trần Đức Viết, một thân hữu [đã qua đời] của Giao Điểm, thì SỰ RA ĐỜI CỦA GIAO ĐIỂM sau khi tổ chức Hội Phật Đản rất thành công với khoảng hơn 20 ngàn người tham dự tại khuôn viên của Đại Học Golden West, miền Nam California. Đây là một con số chưa từng có từ trước đến nay trong sinh hoạt Phật Giáo Việt Nam bang Cali. Từ Hội Phật Đản nầy, vài nhân sĩ từ trong ban tổ chức cho ra đời tạp chí Giao Điểm, được một số quí thầy và cư sĩ khắp nơi hưởng ứng. Sau đó, vì tờ Giao Điểm số 6 có đăng bài “Trong Núi Có Ngôi Chùa Nhỏ” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nên sinh ra chuyện một vài Phật tử chụp mũ nhau là Cọng Sản, rất ồn ào. Vì không dàn xếp được nên đã đưa nhau ra tòa. Kết quả là Giao Điểm thắng vụ kiện, người cáo buộc Giao Điểm là CS bị tòa án phạt 75 ngàn Mỹ kim. Người này (NVT) đã trốn biệt từ đó đến nay. Tên chính thức được đăng ký như mội hội vô vị lợi với chính quyền tiểu bang California của tổ thức Giao Điểm là Tổ Chức Từ Thiện Giao Điểm (Giao-Diem Humanitarian Foundation).

Cách đây 12 năm, năm 2000, trong báo Giao Điểm số đặc biệt 39&40, link: http://www.giaodiemonline.com/thuvien/tapchi/39-40/index.htm để kỷ niệm 10 năm “sống còn” của Giao Điểm, trong bài “Những Bức Phá Của Một Chặng Đường Mười Năm”, Hạ Long viết như sau:

“Trong sinh hoạt báo chí tại nước ngoài, duy trì và phát triển một tạp chí bằng tiếng Việt chỉ bằng nguồn tài chính tự sinh mà không cần đến quảng cáo đã là khó, nhưng duy trì được đến mười năm với một lập trường và một nội dung tiền phong để khai phá hướng đi mới trong một môi trường tư duy còn nhiều quán tính tiêu cực thì thật là thiên nan vạn nan. Nhưng Giao Điểm đã lội dòng nước ngược tại hải ngoại và vượt được “ngàn khó vạn khó” đó để hôm nay, đứng vững như thiền trượng Vạn Hạnh, tiếp tục gắn bó chặt chẽ với đạo Phật Việt Nam và Quê hương Việt Nam…”

Và khi trang nhà giaodiem.com trên Internet ra đời vào năm 2001 – link: http://giaodiemonline.info/thuvien/mluc/mucluc.html , thì Trang Chủ cũng nói rõ hơn về lập trường khai phá hướng đi mới của Tổ Chức Giao Điểm như sau :

“Trong phạm vi khả năng thực hữu, chúng tôi đang làm công việc có thể làm được: – công tác từ thiện trực tiếp hay vận động và cổ suý tinh thần từ thiện để giúp đỡ bà con ở quê nhà, và xiển dương một tinh thần và nội dung văn hóa dân tộc, trong đó có phần nghiên cứu, phê phán các nội dung tôn giáo, văn hóa khác qua thực chứng lịch sử đã tác hại cho đất nước Việt Nam và nhân loại nói chung như thế nào.”

Kể từ tháng 8 năm 2006, khi Giao Điểm tái cấu trúc lại tổ chức của mình, chủ trương của trang nhà giaodiemonline được xác định cô đọng lại như sau:

Chủ trương của Giao Điểm Online

Trang nhà www.giaodiemonline.com là một cơ quan truyền thông trong không gian Internet của Tổ chức Giao Diem Humanitarian Foundation (gọi tắt tiếng Việt là “Giao Điểm”). Tổ chức nầy đã được đăng ký với tư cách pháp nhân là một tổ chức vô vị lợi với chính quyền Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Với chức năng của một cơ quan truyền thông do một nhóm Phật tử Việt Nam tại Mỹ chủ xướng, Trang nhà giaodiemonline chủ trương như sau:

  1. Phục vụ Dân tộc dưới ánh sáng của Phật pháp, và xiễn dương Phật pháp vì quyền lợi của Dân tộc.
  2. Các sáng tác và thông tin trên Trang Nhà được điều hướng vào ba mục tiêu: Trừ tà, Hiển chánh và Độ sinh.
  3. Nội dung và Hình thức của các sáng tác và thông tin trên Trang Nhà cần có tính nghiên cứu khoa học, lương thiện trí thức, hòa hợp xây dựng và văn phong nghiêm chỉnh.

Trang nhà giaodiemonline chân thành kêu gọi sự hợp tác của tất cả mọi người Việt trong và ngoài nước, nhất là của quý Phật tử Việt Nam, và dành quyền không đăng tải những bài không hợp với ba chủ trương trên.

Mọi cá nhân và tổ chức đều được tự do trích đăng lại một phần hay toàn phần nội dung trên Trang nhà giaodiemonline, chỉ xin ghi rõ xuất xứ.

BAN CHỦ TRƯƠNG

Đó là những lời hứa hẹn của Giao Điểm đối với đất nước và độc giả. Và cho tới nay, Giáo Điểm đã thực hiện đúng những lời hứa hẹn đó chứ không mê hoặc con người bằng những lời hứa hẹn hoang đường giả dối không thể thực hiện được.

Chủ trương của Giao Điểm như trên có thể thu gọn trong ba mục tiêu: Trừ Tà, Hiển Chánh và Độ Sinh. Có thể nói, những bài viết về Ki Tô Giáo, đặc biệt là về Công giáo và Tin Lành thuộc mục “Trừ Tà”. Bởi vì những sự kiện lịch sử đã chứng tỏ bản chất của Ki Tô Giáo là một “tà đạo”, và đưa ra những sự thật về bản chất “tà” của Công giáo chính là để “trừ tà”. Thật ra, quan niệm “trừ tà” của Giao Điểm chỉ có nghĩa là “giải hoặc”, trừ đi những tà thuyết trong Công giáo chứ không phải là trừ đi Công giáo, điều mà không ai có đầu óc có thể nghĩ như vậy. Bản chất “tà” của Công giáo là như thế nào? Công giáo dựa vào niềm tin những điều viết trong cuốn Thánh Kinh cùng với những giáo lý, tín lý mà Giáo hội Công giáo tùy tiện đưa ra để lừa dối, mê hoặc đầu óc tín đồ, giam hãm họ trong một ngục tù tâm linh, tuyệt đối phải tuân theo lời dạy về “đức vâng lời” để hi vọng được ăn một cái bánh vẽ trên trời.

 

1. TRỪ TÀ

 

Trước hết, chúng ta chỉ cần đọc cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, đọc kỹ nội dung trong đó và dùng đầu óc một chút để xét đến những bí tích, tín lý của Công giáo chúng ta sẽ thấy bản chất tà thật là rõ rệt. Nhưng “Tà” chỉ có thể lừa dối con người một thời nhưng không thể lừa dối được con người mãi mãi. Cho nên Công giáo đang suy thoái không phương cứu chữa trên khắp thế giới, là vì quần chúng đã nhận ra bản chất tà của Công Giáo, bất kể là trong Công giáo vẫn còn một số đông tin nhảm tin nhí vào những điều không thể tin được. Chính Giáo hoàng Benedict XVI cũng phải thú nhận: “Âu Châu ngày nay sống như là không biết đến Gót (của Ki Tô Giáo) và cũng chẳng cần đến sự “cứu rỗi” của Giê-su nữa”.

Nhưng đối với người Việt nam, tại sao chúng tôi lại thấy vấn đề cấp thiết là phải “giải hoặc Ki Tô Giáo”? Bởi vì lịch sử thế giới đã cho chúng tôi thấy rõ những tác hại của Ki Tô Giáo trên thế giới đối với nhân loại nói chung, Việt Nam nói riêng. Riêng đối với các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam, chúng tôi đã nhiều lần dựa vào những tài liệu bất khả phủ bác để đặt ra một số câu hỏi điển hìn, nhưng cho tới nay không hề thấy hồi đáp, một hình thức của sự thú nhận. Những câu hỏi đó như sau và có kèm theo các tài liệu :

Tại sao một giáo hội mà Công Giáo tự nhận là do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là “thánh thiện”, là “ánh sáng của nhân loại”, là quán quân về “công bằng và bác ái”, luôn luôn được “thánh linh hướng dẫn”, là “con đường vinh quang” v…v… lại có thể có một lịch sử tàn bạo đẫm máu và vô đạo đức như lịch sử đã viết rõ về những cuộc gọi là “thánh chiến”, những tòa hình án xử dị giáo, những cuộc săn lùng phù thủy, mang về tra tấn với những hình cụ khủng khiếp nhất rồi mang đi thiêu sống, làm cho cả trăm triệu người gồm già, trẻ lớn bé các phái nam nữ vô tội chết vì sự cuồng tín của Công Giáo v…v… đến độ không còn che đậy dấu diếm được nữa nên Giáo hoàng John Paul II cùng bộ tham mưu của ông ta phải chính thức lến tiếng xưng thú 7 núi tội ác của Công giáo đối với nhân loại?

Sử Liệu về NĂM CHƯƠNG LỊCH SỬ TỘI ÁC CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO:

Phần Dẫn Nhập:
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=56

Núi tội ác thứ nhất: Ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại:
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=55

Núi tội ác thứ 2: Những cuộc Thập Tự Chinh:
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=52 http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=51

Núi tội ác thứ ba: Những tòa hình ánh xử dị giáo:
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=361 http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=360

Núi tội ác thứ 4: Hơn 300 năm săn lùng, tra tấn và thiêu sống phù thủy:
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=490; http://giaodiemonline.com/2007/feb/hacsu4.htm

Núi tội ác thứ năm: Gây hận thù và bách hại người Do Thái:
http://giaodiemonline.com/2007/07/cghacsu5.htm

Tại sao trong giáo hội Công Giáo lại có những triều đại dâm loạn loạn luân, giết người của một số không ít Giáo hoàng, tự nhận là đại diện của Chúa trên trần? Tại sao Giáo hội do Chúa thành lập lại biến thành một định chế độc tài buôn thần bán thánh? Tại sao Vatican lại dính líu đến những vụ rửa tiền, buôn bán ma túy, vũ khí và liên với tổ chức Mafia? Tại sao Giáo hội lại liên kết của với các chế độ thực dân để đi truyền đạo ở các nước nghèo yếu? Tại sao đạo đức của giới chăn chiên lại suy sụp, điển hình là các vụ đồi bại như Linh mục alias “Chúa thứ hai” cưỡng bức tình dục một số nữ tu trong 27 quốc gia trên thế giới, rồi cưỡng bức một số đi phá thai? Tại sao một số không nhỏ Linh mục ở Mỹ, cũng như ở trên thế giới, kể cả Việt Nam, khoảng hơn 5000 “Chúa thứ hai” cưỡng bức tình dục trẻ em và nữ tín đồ, đến độ Giáo hội Mỹ phải bỏ ra trên 2 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các Linh mục loạn dâm?

Sử Liệu : Lịch sử các Giáo Hoàng:

http://giaodiemonline.com/2007/06/duccha.htm
http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN20.php

Vấn nạn Linh mục loạn dâm:
http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN97.php
http://giaodiemonline.com/2010/05/loandam.htm
http://www.sachhiem.net/TONGIAO/tgS/SH15.php

Tại sao cho tới ngày nay mà những người Công Giáo Việt Nam ngu ngơ vẫn luôn luôn mở miệng ra là ca tụng Công Giáo là một “hội thánh” và lên án vô thần, làm như vô thần đồng nghĩa với vô đạo đức, vô tôn giáo, trong khi, xét theo lịch sử, chính cái tôn giáo của họ, Công Giáo, là vô đạo đức và vô tôn giáo vào bậc nhất thiên hạ, trong khi các đạo khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị khoác lên mình cái nhãn hiệu vô thần, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá trình truyền bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm?

Tài Liệu: Sự Phá Sản Tâm Linh & Đạo Đức Của Giáo Hội Công Giáo:

http://www.sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5236

Chính Thống Nga vs. Công Giáo Việt:
http://www.sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5228

“KHÔNG THẦN” và “CÓ THẦN” : HAI ANH EM THÍCH ANH NÀO ?? :
http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN11.php

Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” Nhân Đọc Cuốn “Hành Trình Và Truyền Giáo” Của Alexandre de Rhodes:
http://sachhiem.net/TCN/TCNls/TCNls01.php

 

Phật Giáo – Ki Tô Giáo Đối Chiếu Qua Những Nhận Định Điển Hình Của Một Số Danh Nhân Trí Thức Thế Giới :

http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN56.php

 

Đặc biệt, trong những tác phẩm thuộc loại trừ tà này, chúng ta phải kể đến sự đóng góp tư duy quý báu của một trí thức Công giáo đạo gốc. Đó là Charlie Nguyễn aka Thẩm Phán Bùi Văn Chấn, với bốn tác phẩm: “Công Giáo : Huyền Thoại Và Tội Ác”, Giao Điểm xuất bản, 2001; “Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm”, Giao Điểm xuất bản, 2002, “Thực chất đạo Công giáo & các đạo Chúa” (2003), và “Thế giới Hồi giáo xưa và nay” (2004) link: http://www.sachhiem.net/index.php?content=PagingCNsub . Ngoài ra chúng ta cũng còn phải kể Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, một trí thức Công giáo khác với 30 năm tuổi đạo, với tác phẩm: “Công Giáo: Nhận Định Mới Về Tín Lý Và Giáo Lý”, Giao Điểm xuất bản, 2007, link: http://www.sachhiem.net/NVTho/NVThodir.php .

Đọc giả Giao Điểm, có lẽ chỉ biết đến mục tiêu “trừ tà” này của Giao Điểm qua những bài viết về những sự thật của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, chứ không biết đến hai mục kia: “hiển chánh “ và “độ sinh”. Ngoài “trừ tà” ra, Giao Điểm còn có các chương trình hoạt động Từ Thiện, Y Tế, Xã Hội – Văn Hóa, Giáo Dục – và Phật Sự trên ba miền đất nước, và đã đạt được những kết quả mà chưa có đoàn thể hay tổ chức nào khác của người Việt di cư làm được. [Xin đọc bảng Thành Quả Hoạt Động 10 Năm Của Giao Điểm trong số báo 39&40 (2000) kỷ niệm 10 năm của Giao Điểm.]

* THƯ MỤC GIAO ĐIỂM

1. ĐỐI THOẠI VỚI G. H. GIOAN PHAO LỒ 2 (Tái bản lần 3)

Tuyển Tập Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới:

 

………. 15 Mỹ Kim

2. Tập 1, gồm 18 tác giả ………. 15 Mỹ Kim
3. Tập 2, gồm 12 tác giả ………. 15 Mỹ Kim
4. Tập 3 gồm 13 tác giả (Tại sao phải chấn hưng?)

PHÊ BÌNH VỀ NHỮNG BÀI PHÊ BÌNH …

………. 15 Mỹ Kim
5. Tập 1, trả lời ông Dương Ngọc Dũng (trong nước) [Hết]
Nguyễn Kha, Trần Chung Ngọc, Trần văn Kha
………. 15 Mỹ Kim
6. Tập 2, trả lời Ông Đỗ Mạnh Tri
Nguyễn Đăng Lâm & Trần Chung Ngọc.
………. 10 Mỹ Kim
7. ĐỐI THOẠI VỚI GIÁO HOÀNG (bản tiếng Anh). [Hết] ………. 15 Mỹ Kim
8. .A..DE RHODES, NGƯỜI ĐẦU TIÊN VẬN ĐỘNG PHÁP CHIẾM VIỆT NAM VÀ CHỮ QUỐC NGỮ (9 tác giả) [Hết] ………. 14 Mỹ Kim
9. NGUYỄN T. TỘ, THỰC CHẤT CON NGƯỜI VÀ DI THẢO
Bùi Kha & Trần Chung Ngọc (Hết)
………. 12 Mỹ Kim
10. TRẦN LỤC, THỰC CHẤT CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP, Bùi Kha & Trần Chung Ngọc ………. 12 Mỹ Kim
11. CÔNG GIÁO CHÍNH SỬ (Tái bản lần 2) , Trần Chung Ngọc ………. 18 Mỹ Kim
12. VẠCH TRẦN ÂM MƯU PHÁ NGẦM PHẬT GIÁO
Thích Nhật Từ & Trần Chung Ngọc
………. 14 Mỹ Kim
13. VATICAN THÚ TỘI VÀ XIN LỖI (6 tác giả) ………. 14 Mỹ Kim
14. ĐỨC TIN CÔNG GIÁO ,-Trần Chung Ngọc ………. 15 Mỹ Kim
15. BƯỚC ĐẦU HỌC ĐẠO (4 tác giả) [Hết] ………. 7 Mỹ Kim
16. CÔNG GIÁO-HUYỀN THOẠI VÀ TỘI ÁC Charlie Nguyễn [Hết] ………. 15 Mỹ Kim
17. CÔNG GIÁO TRÊN BỜ VỰC THẲM Charlie Nguyễn [Tái bản] [Hết] ………. 15 Mỹ Kim
18. BẢN CHẤT CÁC PHẢN ỨNG VỀ BÀI GIẢNG CỦA HT. NHẤT HẠNH (10 tác giả) ………. 10 Mỹ Kim
19. PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, NHÌN TỪ NHỮNG KHÍA CẠNH & NHẬN THỨC KHÁC NHAU (7 tác giả) ………. 16 Mỹ Kim
20. CHÚA GIÊ-SU LÀ AI ? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ ? Trần Chung Ngọc ………. 15 Mỹ Kim
21. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ YÊU NUỚC? Bùi Kha & Trần Chung Ngọc ………. 12 Mỹ Kim
22. THỰC CHẤT ĐẠO CÔNG GIÁO & CÁC ĐẠO CHÚA Charlie Nguyễn ………. 16 Mỹ Kim
23. SÁU THÁNG PHÁP NẠN 1963 – Vũ Văn Mẫu ………. 20 Mỹ Kim
24. GIÁO SĨ THỪA SAI VÀ CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA Cao Huy Thuần [Hết] ] (GĐ phát hành) ………. 20 Mỹ Kim
25. BÚA PHÙ THUỶ (3 tập) – Trần Quý Nhu ………. 45 Mỹ Kim
26. BỐN MƯƠI NĂM NHÌN LẠI : 1963-2003 (20 tác giả) ………. 20 Mỹ Kim
27. THẾ GIỚI HỒI GIÁO XƯA VÀ NAY – Charlie Nguyễn ………. 15 Mỹ Kim
28. Bàn về Thiên Chúa Giáo &Tam Giáo – Đăng Thái Việt ………. 12 Mỹ Kim
29. KI TÔ GIÁO, NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM – Trần Quý Nhu ………. 12 Mỹ Kim
30. CHẤT ĐỘC DA CAM VÀ CUỘC CHIẾN VIỆT NAM Nguyễn Văn Tuấn ………. 15 Mỹ Kim
31. KITO GIÁO: KẾ HOẠCH CẢI ĐẠO Á CHÂU
Nhật Từ, Ngô Triệu Lịch, Trần Chung Ngọc
………. 15 Mỹ Kim
32. TẠI SAO TÔI BỎ GIÁO ĐIỀU CÔNG GIÁO – Phạm Hữu Tạo [Hết] ………. 15 Mỹ Kim
33. BANG GIAO VỚI VATICAN, NÊN HAY KHÔNG? (Tái bản) 10 tác giả. [Hết ………. 10 Mỹ Kim
34. LA VANG GIÁO SỬ (5 tác giả) ………. 5 Mỹ Kim
35. CÔNG GIÁO: NHẬN ĐỊNH MỚ VỀ TÍN LÝ VÀ GIÁO LÝ Nguyễn Văn Thọ ………. 15 Mỹ Kim
36. TÔN GIÁO VÀ TỔ QUỐC, NHỮNG VẤN ĐỀ CẤP THIẾT ………. 15 Mỹ Kim
37. TỪ CHÙA BẢO THIÊN ĐẾN TÒA KHÂM SỨ (với Sách Hiếm) [Hết] ………. 15 Mỹ Kim

Có hai sự kiện về những việc làm tiên phong đột phá của Giao Điểm trong một môi trường tư duy còn nhiều quán tính tiêu cực ở hải ngoại, luôn luôn có sự chống đối, nhưng Giao Điểm đã “mạnh dạn làm, thấy đúng là làm, vì đồng bào ruột thịt mà làm, Giao Điểm không ngại khổ, không ngại khó, quyết phá vỡ, vượt lên trên những chướng ngại vô minh” mà ít người để ý đến ảnh hưởng sâu rộng của những hành động đột phá này trên cộng đồng người Việt di cư ở hải ngoại cũng như trong quốc nội. Việc làm tiên phong đột phá thứ nhất của Giao Điểm là về lãnh vực “Trừ Tà”. Việc này cần đến cái “dũng” và “trí tuệ” trong Phật Giáo. Việc đột phá thứ hai là về lãnh vực “Độ Sinh”, việc này cần đến cái “Tâm” của người con Phật và thân hữu.

■ Thứ nhất, năm 1994, Nhà Xuất Bản Alfred A. Knopf ở New York phát hành cuốn Crossing The Threshold of Hope, nội dung là những câu hỏi của nhà báo Ý Vittorio Messori, một giáo dân Công giáo, và những câu trả lời của Giáo hoàng John Paul II. Có tất cả 34 câu hỏi ngắn và các câu trả lời của Giáo hoàng đã hình thành một cuốn sách dày hơn 200 trang. Phân tích kỹ những câu trả lời của Giáo hoàng, chúng ta thấy Ngài giảng đạo của Ngài chứ không phải là trả lời thẳng vào câu hỏi, vì Ngài thường viện dẫn Kinh Thánh để giảng đạo, kể cả những điều mà thế giới ngày nay xếp vào loại mê tín hoang đường, làm như tất cả những gì viết trong Kinh Thánh đều là những chân lý mạc khải, không thể sai lầm. Cuốn sách trên được một số giáo dân Việt Nam: Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt, Cựu Thẩm Phán Nguyễn Cần, Kỹ sư Trần Văn Trí, và Giáo sư Trần Văn Nhượng, cùng đóng góp dịch ra tiếng Việt. Tên sách là Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, và được nhà xuất bản Thăng Tiến phát hành năm 1995.

Nếu cuốn sách chỉ là về những điều Giáo hoàng giảng đạo trong Công giáo thì chẳng có mấy người ngoại đạo quan tâm. Nhưng trong cuốn sách, Giáo hoàng John Paul II đã có những nhận định sai lầm và tiêu cực, nếu không muốn nói là cố ý xuyên tạc với ác ý về Đức Phật và Phật giáo, ngoài những điều hạ thấp Mohammed và Hồi giáo. Do đó cuốn sách đã gây nên một làn sóng phê bình phản đối trên khắp thế giới, từ những nhà trí thức và tôn giáo học, kể cả một số vị ngay trong Giáo hội Công giáo, về sự bất lương trí thức và đạo đức tôn giáo trong tác phẩm trên. Giao Điểm, như là một tổ chức với chủ trương “trừ tà, hiển chánh” cũng không thể đứng ngoài nên đã nhập cuộc. Cư sĩ Phan Mạnh Lương, Chủ tịch Hội Từ thiện Giao Điểm, đã triệu tập buổi họp để xin anh em “có thái độ văn hóa tích cực và đúng mức đối với vị chủ chăn Ca-tô La-mã, người đã mở ra một cơ duyên mới cho chúng ta đối thoại kể từ thế kỷ 16” [Giao Điểm 39&40, trang 7]. Kết quả là, tháng 6, 1995, tác phẩm “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan-Phao-Lồ II Nhân Đọc Cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” ra đời như một trái bom bức nổ.

 

Link: http://giaodiemonline.com/sach_detail.php?sachid=81

Chúng ta nên để ý là đối với con chiên thì Giáo hoàng có nói gì hay viết gì thì con chiên chỉ có việc nghe và tuân theo cùng ca tụng, chứ không làm gì có chuyện đối thoại với Giáo hoàng. Nhưng trí thức Việt Nam là con người chứ không phải là con chiên, nên với tinh thần vô úy, 18 tác giả, 18 bài viết từ Mỹ, Pháp, Úc, Đan Mạch, Việt Nam, gửi về và những tài liệu văn hóa đó đã đập tan những luận điệu vu khống, xuyên tạc của Giáo hoàng John Paul II đối với Phật Giáo. Trong số các tác giả trên có cả sự đóng góp của người Công giáo, và tác phẩm cũng đã được gửi đến Tòa Thánh Vatican với ghi nhận của Tòa Thánh “đã nhận được”. Trước phản ứng trên thế giới, đại diện “Tòa Thánh” đã lên tiếng xin lỗi Phật Giáo. Cuốn Đối Thoại đã được độc giả hoan nghênh và đánh giá cao cho nên chỉ hai tháng sau khi ấn bản đầu tiên phát hành vào tháng 6, 1995, đến tháng 8, 1995 đã phải in lại ấn bản hai, rồi đến năm 2000 lại phải in lại lần nữa để có thế đáp ứng sự đòi hỏi của độc giả.

Năm 1997, Giao Điểm lại xuất bản cuốn Đối Thoại bằng tiếng Anh: Dialogue With Pope John Paul II: A Vietnamese Buddhist Critique of The Pope’s Crossing The Threshold of Hope, với tám tác giả chọn lọc trong cuốn bằng tiếng Việt. Trong cuốn này, bài “Crossing the Threshold of Ignorance” (Bước Qua Ngưỡng Cửa Của Ngu Dốt) của Trần Chung Ngọc đã được được đưa lên trang nhà Giao Điểm: http://giaodiemonline.com/2007/06/buocqua.htm và trang nhà Sách Hiếm với lời giới thiệu của Sách Hiếm cho các bạn trẻ quen thuộc với tiếng Anh hơn tiếng Việt như sau:

Sachhiem xin giới thiệu cùng các bạn trẻ bài của Gs Trần Chung Ngọc trong cuốn sách tiếng Anh này. Bài dài 66 trang trong cuốn sách, từ trang 1 đến trang 66, gồm có phần Tài liệu Tham Khảo ở cuối. Sachhiem để ý đây là bài duy nhất mà Gs Trần Chung Ngọc ghi học vị PhD của mình và đại học xuất thân: University of Wisconsin – Madison.

Ảnh hưởng quan trọng của tác phẩm “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan-Phao-Lồ II Nhân Đọc Cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” không chỉ ở trong tự thân tác phẩm mà là có tác dụng cất bỏ mặc cảm của người dân nói chung, Phật Giáo nói riêng, đối với Công giáo, một mặc cảm đã được tạo nên do hoàn cảnh chính trị của nước nhà bị Pháp và tay sai Công giáo ngự trị trong 80 năm. Một vài hồi ứng điển hình của đọc giả đã nói lên sự kiện này: “Phật Giáo đã có thể ngóc đầu dậy, đứng ở vị thế cao hơn, nhìn Công Giáo chính xác hơn, không còn bị mê hoặc bởi những lời tuyên truyền sai sự thực của Công Giáo”, hoặc từ anh NHĐ ở Pháp điện thoại qua: “Cái công lớn của các cậu là làm cho người ta hết khúm núm sợ hãi Giáo quyền Vatican và chức vụ Giáo hoàng. Thật ra những bạn bè Công giáo tiến bộ của tớ đọc cuốn sách còn “sướng” hơn các cậu nhiều.” (Hạ Long, Giao Điểm 39&40, trang 7)

Sự kiện là càng ngày càng có nhiều người tham gia viết cho Giao Điểm về đề tài tôn giáo và Công giáo cũng như sự xuất hiện của nhiều trang nhà ở hải ngoại cũng như ở trong nước trong đó đọc giả đã thẳng thắn tranh luận, phê bình Công giáo, và một số giới trẻ Công giáo trong nước đã tỉnh ngộ qua những thư trao đổi với tòa soạn Giao Điểm và Sách Hiếm đã nói lên hơn gì hết ảnh hưởng của hành động vô úy tiên phong đột phá tư tưởng của Giao Điểm. Nói tóm lại, có thể nói là nhờ bước đi này của Giao Điểm mà tinh thần vô úy của Phật Giáo đã được trải rộng ở hải ngoại cũng như ở trong nước.

Chủ trương của Giao Điểm rất hợp với chủ trương của tôi, nên tôi đã tích cực viết bài gửi cho Giao Điểm. Đối với tôi, sự hấp dẫn nhất của Giao Điểm, đưa tôi đến sự cộng tác với Giao Điểm, là những hoạt động “Lội ngược dòng hải ngoại”, và thẳng thắn “phê phán các nội dung tôn giáo”, văn hóa khác qua những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh, bởi vì cốt lõi, tôi là một nhà khoa học.

Cho tới khi tôi viết bài này thì số lượt người vào đọc giaodiemonline.com là 1,302,232 người, không kể số người đọc giaodiem.com trước đây. Lẽ dĩ nhiên không phải tất cả số người đọc Giao Điểm đều ủng hộ chủ trương của Giao Điểm. Có lẽ phần lớn không quan tâm đến những việc “hiển chánh” và “độ sinh” của Giao Điểm, mà họ vào đọc Giao Điểm để xem Giao Điểm viết những gì về tôn giáo của họ. Cho nên chúng ta ít thấy ai nhắc đến các khía cạnh này trên các diễn đàn truyền thông. Đọc xong rồi thì có người không thể nào thốt ra lời. Một số nhỏ thuộc loại hạ cấp, cặn bã của xã hội, lên tiếng, không phải để phản biện các luận điểm trong các bài, mà chỉ để vu khống, chụp mũ, và rủa sả tục tĩu Giao Điểm hay các tác giả, chứng tỏ họ đã hấp thụ được một nền giáo dục đặc biệt dành riêng cho họ, không phải để cho con người nói chung. Có người nhờ đó thay đổi tư duy. Có người hưởng ứng và tham gia viết bài cho Giao Điểm. Ảnh hưởng giải hoặc Ki-tô của Giao Điểm, tuy chưa được như ý muốn, vì Nhà Nước còn chưa muốn mở mang dân trí về vấn đề Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, nhưng cũng có thể nói là đáng khích lệ. Phản hồi tích cực từ phía đọc giả, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đặc biệt là giới trẻ, tỉnh ngộ ra khỏi sự mê hoặc, và sự tham gia viết bài cho Giao Điểm và Sách Hiếm càng ngày càng nhiều đã nói lên sự kiện này.

Thật ra, rất ít người biết rõ về Giao Điểm. Tôi là người, tuy không biết hết, nhưng cũng may mắn biết khá nhiều về Giao Điểm. Tôi cộng tác với Giao Điểm thuần túy với cương vị của một người viết bài, đóng góp những hiểu biết của mình. Tôi không là thành viên của Giao Điểm, cho nên không ở vị thế có thể điều hành hay đưa ra những quyết định về tiêu chuẩn chọn bài để đăng hay không đăng. Tất cả đều do những người điều hành Giao Điểm quyết định. Nhưng không phải là tôi không biết rõ tổ chức này, nếu không biết rõ thì làm sao có thể cộng tác. Vì tôi viết nhiều bài cho Giao Điểm và trước đây cũng viết ít nhiều về nội bộ Giao Điểm, nên có người cho tôi là “lý thuyết gia” (sic) của Giao Điểm, có người còn cho tôi chính là người điều khiển nhóm Giao Điểm kiêm M.C của Giao Điểm v.v…

Có thể nói tôi thực sự cộng tác với tổ chức Giao Điểm bắt đầu từ năm 1995, khi mà tôi được Giao Điểm mời để viết bài phê bình trong cuốn “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao-Lồ II Nhân Đọc Cuốn Bước Qua Nhưỡng Cửa Hi Vọng”, có lẽ vì Giao Điểm biết tôi đã viết trên vài tập san Phật Giáo. Đây là diễn đàn truyền thông duy nhất mà tôi cộng tác, và sau này với trang nhà Sách Hiếm ( http://sachhiem.net/ ) từ năm 2006. Cho tới ngày nay tôi không hề viết cho bất cứ diễn đàn truyền thông nào khác, nhưng tôi biết qua bạn bè, vì những bài tôi viết không giữ bản quyền nên có những người mà tôi không hề quen biết đã đưa một số bài của tôi lên những diễn đàn mà tôi rất ít biết đến, kể cả vài diễn đàn trong nước. Đối với tôi, không phải dễ dàng để tôi cộng tác với bất cứ bất cứ cơ quan truyền thông nào. Có người nói rằng bài của những tác giả đăng trên Giao Điểm và Sách Hiếm không được diễn đàn nào khác đăng, ngụ ý hạ giá trị của những bài đó. Lẽ dĩ nhiên, làm sao mà các báo thương mại hay các diễn đàn chống Cộng hay Ki Tô Giáo có thể đăng bài của chúng tôi. Giao Điểm và Sách Hiếm là hai tổ chức trí thức, độc lập, không thuộc bất cứ tổ chức nào khác, đặt sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, không chịu áp lực của bất cứ ai, không có mục đích thương mại, và không vì bất cứ lý do nào mà bán rẻ lương tâm của mình để loan truyền những điều không đúng sự thật. Cho đến nay, đã hội đủ và duy trì những điều kiện trên.

Tôi biết trong Giao Điểm có những nhân vật mà không có cách nào Nhà Nước có thể biến họ thành cánh tay nối dài của Nhà Nước. Tại sao? Bởi vì họ đều là những trí thức miền Nam di cư năm 1975 : Bác sĩ, Tiến sĩ, Dược sĩ, Sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa v.v… Ở ngoại quốc, họ rất thành công trong công ăn việc làm, dư tiền của để làm việc thiện, và tất cả đều nặng lòng với tiền đồ Phật Giáo. Qua các tác phẩm nghiên cứu và những bài viết của Giao Điểm, chúng ta phải thấy rằng Giao Điểm có một tầm nhìn xa về dân tộc và không có tham vọng chính trị, chỉ tập trung vào nỗ lực giải hoặc Ki Tô, đồng thời đóng góp trí tuệ trong mục đích chấn hưng Phật Giáo, cùng tham gia tổ chức những công tác từ thiện vô vị lợi. Đây cũng chính là lý do tôi đã cộng tác với Giao Điểm bấy lâu nay, Tôi tin rằng, chính Nhà Nước Việt Nam cũng không biết rõ Giao Điểm cho nên cũng chưa đánh giá đúng mức Giao Điểm. Bởi vì, nếu đánh giá đúng mức Giao Điểm, và nếu có một tầm nhìn xa hơn nữa, thì Nhà Nước đã giúp để cho những hoạt động của Giao Điểm được phổ biến tốt đẹp hơn. Lẽ dĩ nhiên, ngoại đạo và các tổ chức thù nghịch với Việt Nam không bao giờ muốn điều này xảy ra.

Thật ra, rất ít người biết sự thực về Giao Điểm. Tất cả những nhận xét bên ngoài về Giao Điểm chỉ là đoán mò, hoặc suy diễn vô căn cứ với ý đồ xấu nhằm mục đích hạ uy tín của Giao Điểm qua những thủ đoạn bất lương trí thức, chỉ vì Giao Điểm đã viết ra những sự thật về tôn giáo của một tập thể đã nổi tiếng là “hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc” và “không sợ tội lỗi mà chỉ sợ có sự thật” (theo Samuel Butler), hoặc viết ra những điều đượm tinh thần dân tộc trái với tâm cảnh của những kẻ nổi tiếng là phi dân tộc hay vì thù hận một chiều một tổ chức nhưng mù quáng chuyển thành thù hận cả dân tộc. Điều lạ là có những người mà Giao Điểm cũng như tôi chẳng biết là ai và cũng chẳng đọc đến bài của họ, nhưng nếu viết với đúng ý con người nhưng nghịch với ý của con chiên, hoặc đưa một vài bài của các tác giả Giao Điểm lên các diễn đàn khác, thì y như rằng người đó tất nhiên phải … thuộc tổ chức Giao Điểm. Giao Điểm đã trở thành cái mũ để đội lên đầu những người mà Giao Điểm chẳng biết là ai, nhiều nhất là chỉ biết đến tên mà thôi.

Sau 22 năm thử thách trên diễn đàn truyền thông, một sự thử thách đặt trước giới trí thức cũng như bình dân, cộng với những công tác từ thiện hoàn toàn bất vụ lợi, không phân biệt, nơi quê nhà, Giao Điểm đã tạo được một chỗ đứng trong những cộng đồng người Việt trên thế giới và cả ở trong nước. Chỗ đứng này đạt được khi mọi giới độc giả nhận ra rằng tiếng nói và hoạt động của Giao Điểm thực sự là vì Dân Tộc, và chỉ vì Dân Tộc, chứ không vì bất cứ một phe phái, đoàn thể chính trị hay tôn giáo nào. Cũng vì vậy mà chính quyền Việt Nam không còn nghi ngờ về những mục đích của Giao Điểm như lúc đầu và Giao Điểm đã “dễ thở” hơn để thực hiện những hoạt động “hiển chánh” và “độ sinh” ở trong nước. Riêng về lãnh vực “trừ tà” thì còn nhiều giới hạn vì nhà nước, trên vị thế điều hành quốc gia, nghĩ khác với tư duy của Giao Điểm.

 

link: http://giaodiemonline.info/tapchigd.php

Trong số báo Giao Điểm 39&40, Hạ Long kết bài tường trình về những hoạt động 10 năm của Giao Điểm bằng một hứa hẹn: “Xin hẹn 10 năm sau sẽ …kể tiếp”. Nhưng số báo Giao Điểm cuối cùng, số 66, là vào năm 2008. Vì vậy chúng ta không được đọc những lời “kể tiếp” của tác giả. Tôi cảm thấy những lời “kế tiếp” này thật sự cần thiết, nên đã liên lạc với Giao Điểm để biết về những hoạt động của họ trong 12 năm qua, những hoạt động ngoài lãnh vực “trừ tà” mà tôi thường tham gia.

Trong các phần sau đây là những thông tin về chương trình “Hiển Chánh” của Giao Điểm và những số liệu về những hoạt động trong mười năm qua của Ban Từ Thiện, Hội Từ thiện Giao Điểm (Giao-Diem Humanitarian Foundation – GDHF) trong chương trình “Độ Sinh”:

 ( CÒN TIẾP )

Hành tinh đầu tiên có thể có sự sống giống Trái đất

Hành tinh đầu tiên có thể có sự sống giống Trái đất

(VOV) – Hành tinh vừa được tìm thấy, có tên Kepler-22b, là hành tinh nhỏ nhất cho đến nay tìm được nằm trong vùng có thể có sự sống.

Ngày 5/12, cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) thông báo chương trình không gian Kepler đã khẳng định được một hành tinh nằm trong vùng “có thể có sự sống” do khoảng cách của hành tinh này với một ngôi sao tương tự như Mặt trời vừa đủ để bề mặt hành tinh không quá nóng hoặc quá lạnh, cho phép lưu giữ nước.

 

Kepler-22b theo mô phỏng của NASA. Ảnh: NASA

Hành tinh vừa được tìm thấy, có tên Kepler-22b, là hành tinh nhỏ nhất cho đến nay tìm được nằm trong vùng có thể có sự sống. Kepler-22b có đường kính lớn gấp 2,4 lần Trái đất, nằm cách Trái đất 600 năm ánh sáng. Hành tinh này quay quanh một ngôi sao giống Mặt trời theo một quỹ đạo dài 290 ngày.

Ngôi sao này thuộc nhóm G, tức là tương đương với Mặt trời. Hiện nay, các nhà khoa học chưa biết bề mặt của Kepler-22b là đá, là khí hay hỗn hợp lỏng. Tuy nhiên, việc phát hiện ra Kepler-22b là một bước tiến trong cuộc khám phá các hành tinh giống như Trái đất.

Kết quả của chương trình Kepler cũng cho thấy trong Dải thiên hà có rất nhiều hành tinh có kích thước bằng từ 1 đến 4 lần Trái đất. Chỉ trong khoảng thời gian từ tháng 2/2011 đến nay, số lượng các vật thể có thể là hành tinh với kích thước xấp xỉ Trái đất tìm được đã tăng lên hơn gấp đôi.

Các nhà khoa học NASA cho rằng, sự gia tăng nhanh chóng này cho thấy tiềm năng chương trình Kepler có thể tìm được sự sống ngoài Trái đất./.

Theo TTXVN

http://vov.vn/Home/Hanh-tinh-dau-tien-co-the-co-su-song-giong-Trai-dat/201112/193613.vov

Đóng diễn lại phim tư liệu Bồ tát Quảng Đức tự thiêu?? (Mục đích là để làm gì?) – Minh Thạnh

Đóng din li phim tư liu B tát Qung Đc t thiêu?

nguồn http://www.phattuvietnam.net/diendan/16859.html

 

Minh Thạnh

  03-Nov-2011

LTS: Nếu không ai cảnh giác để ý những chi tiết hoặc diễn biến câu chuyện trong các tác phẩm đồ thuật như phim ảnh, nghệ thuật,… ít hay nhiều có thể vô tình làm cho người xem hiểu sai lạc về lịch sử. Biến cố xúc động thế giới: Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vì Phật giáo bị kỳ thị và bức hại đã có người làm phim. Nhưng coi chừng, có khi những chi tiết nhỏ vô tình gây ra đề tài cho những kẻ bênh vực nhà Ngô lợi dụng để diễn dịch bất lợi cho tín đồ Phật giáo. Chúng ta cần những sự lưu tâm để giữ cho lịch sử còn nguyên vẹn với đầy đủ cảm xúc và ý nghĩa của nó. (SH)


Bài viết này chỉ nhằm mục tiêu chỉ ra một số khác biệt trên hình ảnh (tĩnh/video) ghi lại khoảnh khắc Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu, để hướng đến vấn đề, rằng sự khác biệt đó cho thấy một số tư liệu hình ảnh (tĩnh/video) có thể là đã được dựng đóng lại về sau, không phải là hình ảnh thực ghi tại hiện trường.

Chúng tôi kính lời cảm ơn một bạn đọc đã gởi cho chúng tôi những hình ảnh với những so sánh khác biệt ban đầu. Từ đó, chúng tôi tiếp tục so sánh và phát hiện thêm một số những khác biệt nữa.

Chúng tôi chỉ xin dừng lại ở kết luận là có thể đã có việc đóng diễn lại hình ảnh/video, còn:

– Ai làm việc đó? – Tại sao họ làm? – Để làm gì? – Những tư liệu dàn dựng lại đã được dùng như thế nào? – Hậu quả ra sao?

thì xin để bạn đọc chúng ta cùng tìm hiểu, sưu tầm những tư liệu, thông tin bổ sung.

Chúng tôi tạm thời chia những hình ảnh dưới đây làm hai phần (SH xin phép được biên tập bắt đầu từ đoạn này để đơn giản hoá cách trình bày) :

– Phần đầu, ngay sau đây, là những hình ảnh tài liệu (đánh số 1,2, 3, 4, 5, 6), hoặc ảnh chụp, hoặc ảnh trích từ phim đã được nhiều người biết đến từ sau khi xảy ra sự việc Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu năm 1963.

-Ảnh 1– Chiều cao của vách tường trước căn nhà chỉ cao khoảng 1,7 lần chiều cao các vị sư.

– Mái nhà có nhiều mái chồng chất lên nhau, và những căn nhà khác tiếp nối ở bên trong.

– Vũng lửa trên mặt đường lại cháy song song với trục xe Austin

 
Ảnh 2 Chi tiết:

Ngay từ lúc ngài TQĐ chưa ngã, ngọn lửa đã thưa và loảng lắm rồi vì ít xăng hơn.

– Bình xăng gần bên ngài TQD và bắt đầu móp mép vì bị hơi nóng.

 
Ảnh 3– Mái nhà có nhiều mái chồng chất lên nhau, và những căn nhà khác tiếp nối ở bên trong.

– Bên xe đậu, từ trái sang phải có 3 cột thẳng đứng nằm trước ngôi nhà: Một trụ cột điện xây kiểu échafaudage, một trụ ximăng hình ống, và một trụ đèn xanh/đỏ kiểm soát giao thông..

 
Ảnh 4 Chi tiết 1: Cũng như ảnh số 1, từ ngoài nhìn vào, phía tay phải của căn nhà lợp mái tôn đỏ là những căn nhà khác xây nối theo như trong hình thật.

Chi tiết 2: Enjoliveur bánh trước của xe trong hình thật (Ảnh 3 và Ảnh 4) có vòng trung tâm rất đậm, rõ nét lồi ra. Còn trong Video thì chỉ là một enjoliveur phẳng (flat/plat)

 
Ảnh 5Chi tiết chú ý:

Không có cảnh sát trong hàng tu sĩ Phật giáo, cũng, không thấy biểu ngữ,

Ảnh 6 ảnh số 6 chụp tư liệu di vật chiếc xe chở Hòa thượng Quảng Đức đến và đậu ở nơi tự thiêu được bảo tồn như một cổ vật lịch sử, chụp về sau.   

Và sau đây là nhóm ảnh chụp ra từ video clip (http://www.youtube.com/watch?v=ZO_5HNkQ8IU) mới xuất hiện và được biết đến thời gian gần đây trên mạng, nhất là ở trang You Tube.

Xin bạn đọc xem kỹ những bức ảnh dưới đây, tập trung chú ý vào các mũi tên để so sánh những điểm khác biệt giữa các ảnh 1, 2, 3, 4, 5, 6 với các chi tiết trong ảnh A, B, C, D, Đ.

Ảnh AẢnh Video mới:

So với ảnh số 1, khác nhau như sau:

Chi tiết 1:

Chiều cao của vách tường trước building cao gấp 2,3 lần chiều cao các vị sư (so với 1.7 lần trong ảnh số 1).

Chi tiết 2:

Mái nhà trong hình không giống trong ảnh cũ số 1 ở trên, Những căn nhà khác tiếp nối ở bên trong của ảnh cũ số 1 không có, thay vào đó là những lùm cây to của một công viên.

 Chi tiết 3: Những cây cột điện, cột đèn của ảnh số 1 cũ không có trong video mới này. Trái lại có một cây cột đèn sơn khúc trắng khúc đen! Các ảnh cũ không có cột đèn nào sơn giống như thế này.
Ảnh BTrong nhóm ảnh 1, 2, 3, 4, 5, đặc biệt ảnh 5, cho thấy không có sự hiện diện của cảnh sát. Trong khi, ở đây sự hiện diện của cảnh sát là rõ ràng.  
Ảnh CChi tiết 1:
Enjoliveur bánh trước của xe trong hình thật (Ảnh 3 và Ảnh 4 ở trên) có vòng trung tâm rất đậm, rõ nét lồi ra. Còn trong Video thì chỉ là một enjoliveur phẳng (flat/plat)

Chi tiết 2:

Video (1.14): Trước khi đốt, một nhà sư đổ xăng xuống mặt đường, từ lưng của Bồ Tát hướng về bánh xe Austin,cho nên sau khi đốt (Video 3.45) dòng lửa tạo thành một trục thẳng góc với chiếc xe.

 
Ảnh DChi tiết chú ý:

Có nhiều cảnh sát, và có biểu ngữ, dường như không phải tiếng Việt vì ở dòng chữ lớn nhất không có khoảng trắng nào ở giữa.

 
Ảnh ĐNgọn lửa trước khi HT TQĐ sắp ngã xuống: Video từ 2.47 đến Video 3.07.

– Trong video, dù đã cháy được 41 giây (từ 2.06 bắt đầu đến 2.47) mà lửa vẫn bùng cháy dữ dội vì quá nhiều xăng. Còn trong hình thật (Ảnh 2 ở hình cũ), ngay từ lúc ngài TQĐ chưa ngã, ngọn lửa đã thưa và loảng lắm rồi vì ít xăng hơn.

– Thùng xăng còn nguyên và ở vị trí hoàn toàn khác khi nhục thân Hòa thượng đã ngã ra đất.

 

Chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt

– Nhóm các ảnh A, B, C, D, Đ có hậu cảnh (bối cảnh) khác biệt rõ ràng với nhóm ảnh 1, 2, 3, 4. Xin chú ý các chi tiết cột đèn có bảng tên đường, tấm biểu ngữ, trụ đèn xanh đèn đỏ, hình dáng tòa nhà. Đặc biệt là việc có xuất hiện một tấm biểu ngữ, dường như không phải tiếng Việt vì ở dòng chữ lớn nhất không có khoảng trắng nào ở giữa.

– Cũng cùng trong sự so sánh, chú ý sự khác biệt vị trí ngồi của Hòa thượng Quảng Đức, hướng nhìn của ngài so với chiếc xe. Đặc biệt so sánh sự khác biệt vị trí của thùng xăng so với bánh trước chiếc xe hơi. Chú ý, một bên, thùng xăng bị biến dạng vì nóng khi Hòa thượng Quảng Đức vẫn còn ngồi yên trong lửa đỏ, và một bên thùng xăng còn nguyên và ở vị trí hoàn toàn khác khi nhục thân Hòa thượng đã ngã ra đất.

– Trong nhóm ảnh 1, 2, 3, 4, 5, đặc biệt ảnh 5, cho thấy không có sự hiện diện của cảnh sát. Trong khi, ở nhóm ảnh A, B, C, D, Đ sự hiện diện của cảnh sát là rõ ràng.

– Có thể so sánh màu sơn chiếc xe là di vật lịch sử (ảnh 6) với màu sơn chiếc xe trong video clip liên hệ.

Một loạt các chi tiết khác biệt cho phép chúng ta đặt vấn đề, có thể video clip tư liệu được công bố gần đây là chỉ là phim đóng lại, không phải là phim quay tại hiện trường nơi xảy ra sự việc.

Như đã trình bày ở trên, bài viết này sẽ chỉ là phần mở đầu của một câu chuyện dài, mà bạn đọc sẽ giữ vai trò là những tác giả tiếp theo, bằng những lời bình luận, thông tin, tư liệu bổ sung.

Chúng tôi, trong dự tính, cũng có thể có những bài viết tiếp theo về vấn đề này.

Trong quá trình hoàn thiện bài viết này, chúng tôi có được một số nhà báo đề nghị không nêu danh tính đóng góp ý kiến bổ sung. Chúng tôi xin phép được đưa nguyên văn vào dưới đây:

Vài chi tiết rõ nhất – không thể chối cãi – cho thấy cảnh video đã được dàn dựng lại:

A. Tỷ lệ (proportion) chiều cao của căn nhà sau lưng hiện trường so với chiều cao chung của đám đông : Trong những ảnh thật (Ảnh A1 chẳng hạn), căn nhà nầy chỉ cao khoảng 5/3 (1,7 lần) chiều cao của các vị sư dù đứng gần hay xa căn nhà. Trong khi đó, trong Video, ngoài kiến trúc và ngoại cảnh của căn nhà đã khác rồi, chiều cao của căn building lại cao khoảng 7/3 (2.3 lần) chiều cao của các vị sư.

B. Từ ngoài nhìn vào, phía tay phải của căn nhà lợp mái tôn đỏ là những căn nhà khác xây nối theo như trong hình thật. Ngược lại, trong Video, những căn nhà khác nay đã biến mất, thay vào đó là những lùm cây to của một công viên.

C– Trong hình thật (Ảnh 3), từ trái sang phải có 3 cột thẳng đứng nằm trước ngôi nhà: Một trụ xây kiểu échafaudage, một trụ ximăng hình ống, và một trụ đèn xanh/đỏ kiểm soát giao thông. Nhưng trong Video, trước căn nhà nầy không có cột đèn nào cả.

D. Enjoliveur bánh trước của xe trong hình thật (Ảnh 3 và Ảnh 4) có vòng trung tâm rất đậm, rõ nét lồi ra. Còn trong Video thì chỉ là một enjoliveur phẳng (flat/plat)

E. Ngọn lửa trước khi HT TQĐ sắp ngã xuống: Video từ 2.47 đến Video 3.07.

Trong video, dù đã cháy được 41 giây (từ 2.06 bắt đầu đến 2.47) mà lửa vẫn bùng cháy dữ dội vì quá nhiều xăng. Còn trong hình thật (Ảnh 2), ngay từ lúc ngài TQĐ chưa ngã, ngọn lửa đã thưa và loảng lắm rồi vì ít xăng hơn.

F. Người đổ xăng trong Video tiếp tục đổ xăng lên mặt đường hướng về phía đầu chiếc xe Austin (nghĩa là thẳng góc 90 độ với trục xe). Nhưng trong hình thật (Ảnh 1), toàn bộ vùng lửa (trên mặt đường) lại song song với trục xe.

Video (1.14): Trước khi đốt, một nhà sư đổ xăng xuống mặt đường, từ lưng của Bồ Tát hướng về bánh xe Austin,cho nên sau khi đốt (Video 3.45) dòng lửa tạo thành một trục thẳng góc với chiếc xe. Trong khi đó, trên Hình thật (Ảnh 1), vũng lửa trên mặt đường lại cháy song song với trục xe Austin.

Video nầy đương nhiên là GIẢ (Video đen trắng, được thêm màu vào, giống những carte postale Phap thời 1960, thời này chỉ có super 8 -andy warhol- nên màu thêm vào sau này, khi transferred qua Video).

Vị trí, tư thế ngồi của vị Bồ Tát, cách bố trí của chiếc xe, và chính chiếc xe trong Video đều được dàn dựng. Cách quét ông kính camera ẫn sau lưng các vị sư hoặc các viên cảnh sát đều để tìm cách che dấu / giảm thiểu những sơ hở có thể bị phát hiện.

Video nầy có lẽ làm với 2 mục đích:

(i) như một film tài liệu tái dựng lại (reinact) sự cố để ai dùng vào mục đích gì thì dùng vô tội vạ; và

(ii) mà đây mới là mục đích chính : một cách vô thức, implant (cài đặt) vào memory mọi người ấn tượng rằng vị Đại Bồ Tát Thích Quảng Đức đã bị tưới xăng lên người chứ không tự tưới xăng lấy.

Mỹ là vua xử dụng phương pháp nầy để đầu độc cả thế giới. Phương pháp nầy có tên gọi ai cũng biết mà chẳng ai ngờ: Hollywood!

http://www.youtube.com/watch?v=ZO_5HNkQ8IU


● Các bài cùng tác giả:
Cảnh giác với người từ xa tới trục lợi vụ Bát Nhã (Minh Thạnh)
Mắt xích cải đạo tu sĩ trong tiến trình cải đạo tín đồ Phật giáo (Minh Thạnh)
Tiền và việc cải đạo tín đồ Phật giáo (Minh Thạnh)
“Lập lờ đánh lận”… ông trời! (Minh Thạnh)
Một nhà sư thương tiếc, tưởng niệm kẻ bách hại PG (Minh Thạnh)
Lửa đã cháy ở Mỹ Đình, bao giờ lan đến Quán Sứ? (Minh Thạnh)
Đóng diễn lại phim tư liệu Bồ tát Quảng Đức tự thiêu?

minh ngọc vào lúc 01/11/2011 23:50

Xin cảm ơn tác giả về bài viết. Thật tình cờ khi bài viết này được đăng vào ngày 1/11. Mọi người vào trang youtube.com, gõ từ khóa “Thích Quảng Đức tự thiêu” thì sẽ xuất hiện những clip với tiêu đề, bình luận mà tôi không tiện nêu ra. Đoạn clip trên được dựng lại là là sự thật hiển nhiên, đã có người phát hiện và comment, và giờ đây là tác giả Minh Thạnh. Với mục đích gì, theo tôi là đánh phá, chia rẽ Phật giáo và Dân tộc: làm cho nhiều người, nhất là thế hệ trẻ không tin vào sự kiện lịch sử Phật giáo gây chấn động thế giới vào năm 1963. Những người thực hiện clip này không ngoài mục đích viết lại sử, bẻ cong sự thật, quy chụp vu vơ và “giết” lịch sử của Phật giáo và dân tộc. Mục tiêu sau cùng của họ theo tôi là diễn biến hòa bình trong tôn giáo và cải đạo Phật tử. Thế nên, đề xuất của Minh Thạnh về năm Quảng Đức 2013 và bộ sử Phật giáo mới là hoàn toàn xác đáng và có cơ sở. Tôi ủng hộ các đề xuất này.

vào lúc 02/11/2011 00:32

Trước kia cách đây 20 năm trên truyền hình tv mình có xem phim tài liệu BỒ TÁT QUÃNG ĐỨC TỰ THIÊU ở stockton ở mỹ phim màu trắng đen,VÀ CÓ QUẢ TIM BỒ TÁT,không gióng như cái clip ở trên youtube,clip đó có hình màu và có cảnh sát canh giữ chắc chắn là đống phim lại rồi.

Giai Nhu Thich vào lúc 02/11/2011 07:27

Thời gian gần đây, tôi có xem đoạn video Clip này. Tôi có thắc mắc là khi Bồ tát tự thiêu sao lại có cảnh sát ở đó. Bởi lẽ có cảnh sát ở đó thì chắc chắn việc tự thiêu của Ngài sẽ bị cản trở. Bởi lẽ giai đoạn đó, chính phủ Diệm rất lo ngại việc tự thiêu phản đối của Tăng Ni Phật tử về chính sách kỳ thị tôn giáo của mình. Rất may là anh Minh Thạnh đã phanh phui ra sự giả mạo nầy. Mong rằng anh Minh Thạnh tiếp tục có những bài viết tiếp để làm sáng tỏ vấn đề nầy. Chúc anh tinh tấn và dõng mãnh.

Hai Ho vào lúc 02/11/2011 07:29

Có lẽ họ quay tại Thailand. Thiên hạ rồi không biết sẽ ra sao nếu thế hệ trẻ không phân biệt được Trắng-đen.Đúng là đã và đang cò âm mưu nhắm vào PG chúng ta !

vào lúc 02/11/2011 09:06

Cám ơn cư sĩ Minh Thạnh đã phân tích, so sánh để mọi người nhận ra sự dối trá trong clip dàn dựng ! Quá thâm độc ! Chi tiết một nhà sư đổ xăng lên người HT. Thích Quảng Đức trong clip dàn dựng là một sự bịa đặt vô liêm sỉ. Xem clip này ta thấy HT. Thích Quảng Đức bị thiêu chứ không phải tự thiêu. Mục đích của clip dàn dựng này quá rõ : xuyên tạc lịch sử, phủ nhận sự kiện tự thiêu vì đạo pháp của Bồ Tát Thích Quảng Đức, vu khống Phật giáo tổ chức đốt chết thầy Thích Quảng Đức. Tôi có xem bài viết của Phật tử hải ngoại nhận định về chi tiết bịa đặt có người đổ xăng lên mình thầy TQĐ , xin trích ra đây một đoạn ngắn : “Xin nhớ rằng, sau khi Hòa Thượng tự thiêu, Chánh phủ Ngô Đình Diệm không phải dốt nát về luật pháp, cũng không phải là bà Trần Lệ Xuân (vợ của ông Ngô Đình Nhu) chẳng có luật sư riêng để giúp bà truy tố người phạm pháp dám đổ xăng để đốt một người, mà cũng chẳng phải Tổng thống Ngô Đình Diệm chấp nhận bỏ qua một vụ án giết người, nếu vụ này xảy ra thật”. Clip dàn dựng này đã xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Phật giáo, bôi nhọ HT.Thích Quảng Đức, các con chiên đạo Chúa đã dựa vào clip này để chửi bới, xúc phạm Phật giáo. Những người dàn dựng clip này là ai ? mục đích để làm gì ? CÂU TRẢ LỜI ĐÃ QUÁ RÕ !

BÌNH MINH vào lúc 02/11/2011 16:05

Theo mình nghĩ dù có thầy nào đổ xăng lên mình HT QUÃNG ĐỨC HAY KHÔNG LÀ KHÔNG QUAN TRỌNG,QUAN TRỌNG NHẤT LÀ QUẢ TIM BỒ TÁT QUÃNG ĐỨC CÒN NGUYÊN VẸN LÀ CÓ THẬT.HUY VỌNG GIÁO HỘI LÀM MỘT CUỐN PHIM HOẠT HÌNH NÓI VỀ LỊCH SỬ BỒ TÁT QUÃNG ĐỨC ĐỂ KỸ NIỆM VÀO NĂM 2013 LÀ RẤT CÓ Ý NGHĨA .

hoadoi vào lúc 02/11/2011 20:56

Tan than cong duc bao ve va xien duong chanh phap cua phat tu Minh Thanh, cau chuc cho PT Minh Thanh: chan cung da mem.

Sen Hong vào lúc 03/11/2011 17:50

Tôi đã được xem hình này từ rất lâu rồi, trong cuốn album của Ba Má tôi cất giữ rất cẩn thận vì Ba Má tôi là những huynh trưởng trong đoàn Phật tử ngồi niệm Phật xung quanh HT. T. Quảng Đức nên có được những tấm hình quý giá này , thể hiện từ lúc bắt đầu thiêu cho đến từ từ nghiêng, từ từ ngã, và ngã ra phía sau. Thật là xúc động và ấn tượng vô cùng mỗi khi xem lại những tấm hình này. Tôi không biết họ làm giả những tư liệu như vậy để làm gì nhưng với những con người những nhân chứng thực thì không thể chối cãi được. Thân chúc anh tinh tấn và mạnh mẽ hơn.

 (CÒN TIẾP)

 

5 bài tập rèn não mỗi ngày

5 bài tập rèn não mỗi ngày

Chủ Nhật, 06/11/2011 – 07:46

 

(Dân trí) – Việc tự đặt ra những thử thách, kích thích và luyện tập hiệu quả cả 5 nhóm chức năng của bộ não sẽ giúp sống khỏe, minh mẫn ngay cả khi tuổi tác đã nhiều.

 

Ghi nhớ

 

Ghi nhớ đóng vai trò thiết yếu hơn cả trong nhóm các chức năng tri giác, nó có trong những việc đọc, lập luận, tính toán.

 

Để duy trì trí nhớ tốt, bạn cần phải rèn luyện, và điều này đơn giản hơn bạn tưởng: Nghe nhạc rõ ràng là hoạt động rất thú vị, và nếu bạn chọn một bài hát không biết hoặc không nhớ lời, bạn sẽ tự làm tăng lượng acetylcholine, một chất hóa học giúp kiến tạo thêm cho não, nâng cao khả năng ghi nhớ cho não bộ.

 

Hãy tự tạo ra thử thách cho mình bằng cách tắm hoặc mặc quần áo trong bóng tối, hoặc dùng tay trái đánh răng. Tất cả những hoạt động như vậy sẽ giúp tạo ra những kết nối mới giữa các tế bào thần kinh khác nhau trong bộ não.

 

Sự tập trung

 

Khả năng tập trung là yếu tố rất cần thiết gần như trong mọi hoạt động hàng ngày của con người. Biết tập trung tốt sẽ giúp bạn có thể duy trì sự chú ý ngay cả khi xung quanh rất ồn ào và liên tục bị ngắt quãng để hoàn thành nhiều hoạt động trong cùng một thời điểm.

 

Ta có thể cải thiện năng lực tập trung bằng cách đơn giản là thay đổi những thói quen hàng ngày. Chẳng hạn, bạn có thể thay đổi đường đi tới công ty hay sắp xếp lại bàn làm việc, cả hai cách đó đều sẽ bắt trí óc bạn phải tỉnh táo hơn để thoát khỏi những thói quen.

 

Khi tuổi tác nhiều hơn, sức chú ý của chúng ta cũng giảm dần, điều này khiến ta dễ bị phân tán hơn và khả năng kết hợp nhiều hoạt động cùng lúc cũng giảm hiệu quả. Bằng cách kết hợp các hoạt động như vừa nghe một cuốn sách nói vừa chạy bộ, hay làm toán trong khi lái xe có thể khiến não bạn hoạt động nhiều hơn trong cùng một thời điểm.

 

Ngôn ngữ

 

Các hoạt động ngôn ngữ sẽ buộc chúng ta phải nhận diện, ghi nhớ và hiểu ý nghĩa các từ vựng. Chúng cũng sẽ giúp ta rèn luyện kỹ năng ngữ pháp, sự trôi chảy trong khi nói, viết và tăng lượng từ vựng.

 

Với bài tập hàng ngày, bạn có thể mở rộng kho từ mới và dễ dàng nhận diện các từ ngữ quen thuộc. Chẳng hạn, nếu bạn chỉ thường xuyên đọc những bản tin thể thao thì bây giờ, hãy thử đọc những bài báo viết về thương mại một cách kỹ lưỡng.

 

Bạn sẽ tiếp cận với những từ mới, tuy nhiên, chúng sẽ dễ hiểu hơn khi đọc trong một văn cảnh nhất định và thậm chí, nếu bạn chưa hiểu được, bạn có thể tra cứu bằng từ điển. Hãy dành thời gian để hiểu những từ mới đó ngay trong ngữ cảnh văn bản, điều này sẽ giúp bạn xây dựng kỹ năng ngôn ngữ và dễ dàng vận dụng những từ ngữ mới trong cuộc sống hàng ngày cũng như công việc.

 

Nhận thức thị giác

 

Chúng ta đang sống trong một thế giới 3 chiều đầy màu sắc. Việc phân tích các thông tin về mặt thị giác là điều cần thiết và có thể được thực hiện ngay trong môi trường sống của bạn.

 

Để luyện tập chức năng tri giác này, bạn hãy đi vào một căn phòng, chọn tìm 5 đồ vật và ghi nhớ vị trí của chúng. Khi ra khỏi phòng, hãy cố gắng nhớ lại 5 vật đã chọn đó cùng vị trí của chúng. Bạn thấy điều này quá đơn giản ư? Hãy chờ qua 2 giờ đồng hồ sau đó, và nhớ lại những vật này cùng vị trí của chúng.

 

Hãy nhìn về phía trước và ghi lại mọi điều bạn có thể thấy trước mặt và hai bên tầm nhìn của bạn. Hãy bắt mình nhớ lại mọi điều và ghi ra. Cách làm này sẽ buộc bạn phải sử dụng trí nhớ và rèn luyện cho trí não khả năng tập trung vào những điều xung quanh bạn.

 

Chức năng hành động

 

Mặc dù có thể không nhận ra, nhưng bạn đang sử dụng kỹ năng logic và lập luận hàng ngày để đưa ra những quyết định, xây dựng các giả thuyết và xem xét những kết quả có thể diễn ra trong những hành động của mình. Các hoạt động trong đó bạn phải xác định chiến lược để đạt được kết quả mong muốn và tính toán những hành động thích hợp để tìm ra giải pháp trong thời gian ngắn nhất có thể chính là những hoạt động yêu thích bạn làm mỗi ngày, giống như các hoạt động tương tác xã hội và các trò game chẳng hạn.

 

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với một người bạn có thể kích thích hoạt động trí tuệ vì bạn sẽ phải cân nhắc những lời đối đáp có thể và những kết quả mong muốn. Các trò game đòi hỏi người chơi phải có chiến lược và kỹ năng giải quyết những khó khăn để đạt được mục đích tốt nhất.

 

Luyện tập trí óc

 

Cùng với tuổi tác, việc rèn luyện trí óc cũng quan trọng như luyện tập cơ thể. Và bây giờ, bạn đã biết 5 nhóm chức năng tri giác của não và cách thức luyện tập chúng, thế nên bạn sẽ nhận thấy dễ dàng hơn những hoạt động hàng ngày có thể giúp mình rèn luyện trí óc và não bộ ra sao.

 

Đỗ Dương

Theo Askmen

http://dantri.com.vn/c7/s7-534909/5-bai-tap-ren-nao-moi-ngay.htm

Ngụy Tạo Và Xuyên Tạc Về Cuộc Tự Thiêu Của Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tại Sao ? (2)

Ngụy Tạo Và Xuyên Tạc Về Cuộc Tự Thiêu Của Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tại Sao ?

Pháp Lạc và Nguyễn Kha

(… tiếp theo phần đầu) 3.4 – Thông tín viên Malcolm Browne (1933 – ), nhân chứng thứ tư, nguyên là Trưỏng nhiệm sở của Thông tấn xã Mỹ Associated Press tại Sài Gòn. Ông là một trong những nhà báo ngoại quốc được thông báo trước để quan sát cuộc Tự thiêu của Ngài Quảng Đức. Tấm hình chụp cuộc tự thiêu của ông được giải thưởng World Press Photo of the Year (1963). Malcom Wilde Browne sinh năm 1933 tại New York City, bang New York. Mẹ ông theo đạo Tin Lành Quaker còn cha ông là một kiến trúc sư Công giáo. Ông theo học Hóa học tại một trường Tin Lành Quaker nhưng bị động viên trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, và làm cho tạp chí quân đội Stars and Stripes hai năm tại chiến trường Thái Bình Dương. Sau đó, ông làm cho tờ Times Herald Record rồi chuyển qua làm cho hảng thông tấn Associated Press (AP) tại Baltimore từ năm 1959 đến 1961. Sau đó, ông được thăng chức làm Trưởng thông tín viên (Chief Correspondent) tại Đông Dương. Sau khi được giải thưởng Putlizer nhờ những tấm hình chụp cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, và nhờ đó nhận được nhiều lời mời cọng tác, ông rời AP năm 1965. Sau đó, ông còn làm việc cho đài truyền hình ABC, cho Đại học Columbia (NY), nhật báo The New York Times, tạp chí Discover. Năm 1991, ông cũng đã tham dự cuộc chiến Vùng Vịnh. Hiện nay, 11/2011, ông vẫn còn sống ở thành phố New York. Ông đã xuất bản một tác phẩm về cuộc chiến Việt Nam (The New Face of War, Bobbs-Merrill, Indianapolis, 1965) và nhận nhiều giải thưởng báo chí, trong đó có World Press Photo of the Year (1963), Pulitzer Prize for International Reporting (1964), và giải George Polk về can đảm trong nghiệp vụ báo chí. Trình tự cuộc tự thiêu (theo thứ tự từ ảnh 1 đến 9) Ảnh số (2) [Nguồn: http://iconicphotos.wordpress.com/2009/06/19/the-immolation-of-quang-duc/ ] Dùng từ khóa “Malcolm Browne” để truy tìm trên Google và Wikipedia ta được nhiều hình ảnh về chiến tranh Việt Nam của ông, và dĩ nhiên trong đó có những ảnh về cuộc Tự thiêu. Chín tấm ảnh đen trắng của Malcolm Browne được Word Press bố cục sắp xếp và đánh dấu từ (1) đến (9) ghi lại trình tự từ lúc Đại đức Thích Chơn Ngữ bắt đầu đổ xăng đến lúc các vị sư tìm cách cuốn thân xác đã cháy đen của Ngài Quảng Đức trong lá cờ Phật giáo. Đặc biệt trong ảnh số (2), Đại đức Chơn Ngữ đã bước rời xa Ngài Quảng Đức và đi nhanh về hướng các Tăng Ni, để lại HT Quảng Đức một mình tìm cách tự quẹt diêm giữa vũng xăng lênh láng] 3.5 – Và nhân chứng thứ năm, nhà văn kiêm nhà báo David Halberstam (1934-2007), chuyên gia về những vấn đề Việt Nam cho nhật báo The New York Times tại Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1960’. Ông có mặt tại hiện trường trong cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức. Sau đó, ông tường trình lại cuộc tự thiêu nầy trên The New York Times và nhờ vậy được Giải thường báo chí Putlizer năm 1964, năm ông mới 30 tuổi. David Halberstam sinh năm 1934 tại thành phố New York, bang New York. Ông tốt nghiệp Đại học Harvard năm 1955 và đã từng là chủ bút tờ báo The Harvard Crimson nỗi tiếng của trường nầy. Ông bắt đầu nghề báo với tờ Daily Times Leader ở Mississipi. Ông đến Việt Nam năm 1962 với tư cách là một chuyên gia toàn thời về Việt Nam (full time Vietnam specialist) cho nhật báo The New York Times. Cùng với những đồng nghiệp như Neil Sheehan, Peter Arnett, Stanley Karnow, … ông đã tường trình sâu sát về chiến tranh Việt Nam, nhất là cuộc khủng hoảng Phật giáo kéo theo sự sụp đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Ông cũng là người khám phá ra âm mưu của ông Ngô Đình Nhu cho Lực lượng Đặc biệt giả dạng Quân đội VNCH tấn công chùa chiền để vu khống các tướng lãnh quân đội (During the Buddhist crisis, he and Neil Sheehan debunked the claim by the regime of Ngo Dinh Diem that the Army of the Republic of Vietnam regular forces had perpetrated the Xa Loi Pagoda raids, which the American authorities initially believed, and that instead, the Special Forces loyal to Diem’s brother Ngo Dinh Nhu had done so to frame the army generals). Năm 1964, ông rời Việt Nam và được Giải thưởng Pulitzer năm mới 30 tuổi nhờ những phóng sự của ông về chiến tranh Việt Nam. Trong thập niên 1960’s, ông vẫn làm cho The New York Times để phúc trình về Phong trào Dân quyền của người da đen. Sau đó, ông ít hoạt động báo chí mà chủ yếu chú tâm vào việc viết sách, kể cả sách về thể thao vào cuối đời. Ông mất trong một tai nạn xe hơi vào ngày 23/4/2007 trên đường đến diển thuyết tại Đại học UC Berkeley, bang California. Ông đã viết 21 cuốn sách trong khoảng thời gian từ 1961 đến 2007. Những cuốn nổi tiếng có liên hệ đến Việt Nam là: The Making of a Quagmire: America and Vietnam during the Kennedy Era. McGraw-Hill. 1965; Ho. McGraw-Hill. 1971; The Best and the Brightest. Ballantine Books. 1972; October 1964. Ballantine Books. 1994. Trong cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, ông cùng có mặt tại hiện trường với Malcolm Browne. Sau đó ông kể lại trong The Making of a Quagmire, trang 211, New York, Random House, 1965, như sau: “Tôi không muốn nhìn thấy cảnh đó thêm một lần nữa, một lần đã là quá đủ. Những ngọn lữa tỏa ra từ một con người, thân xác của vị sư từ từ khô héo dần và co quắp lại, đầu vị sư trở nên đen dần và hóa thành than. Không khí đượm mùi thịt người cháy; (thì ra) con người cháy nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Tôi có thể nghe từ sau lưng tôi tiếng khóc thổn thức của những người Việt Nam đang tụ họp tại đó. Tôi đã quá sốc nên không khóc được, quá rối rắm nên không ghi chép hay hỏi han gì được, quá hoang mang đến nỗi thậm chí không thể nghĩ gì được. Khi vị sư ấy tự thiêu, bắp thịt của vị sư không hề cử động, vị sư không thốt ra một âm thanh nào, cái vẻ ngoài điềm tĩnh của vị sư thì trái ngược hẳn với đám đông khóc than chung quanh.” (I was to see that sight again, but once was enough. Flames were coming from a human being; his body was slowly withering and shriveling up, his head blackening and charring. In the air was the smell of burning human flesh; human beings burn surprisingly quickly. Behind me I could hear the sobbing of the Vietnamese who were now gathering. I was too shocked to cry, too confused to take notes or ask questions, too bewildered to even think… As he burned he never moved a muscle, never uttered a sound, his outward composure in sharp contrast to the wailing people around him.) [Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/David_Halberstamhttp://en.wikipedia.org/wiki/Thich_Quang_Duc ] Là một nhà văn nhậy cảm và một phóng viên sắc sảo cho tờ nhật báo đứng đầu nước Mỹ về nghiệp vụ thông tin, lại đứng ngay tại hiện trường chắm chú theo dõi, không thấy ông Halberstam đề cập gì đến động thái bất thường (như “vô hốn” hay “bị chích thuốc mê”) của Ngài Quảng Đức trước khi tự thiêu cả.

4- THỬ TÁI DỰNG SỰ THẬT VỀ DIỄN TIẾN CUỘC TỰ THIÊU Trong khi chờ đợi hồ sơ chính thức của Phật Giáo Việt Nam, căn cứ trên các tài liệu và chứng tích của 4 trong 5 nhân chứng nói trên, ta có thể giải quyết một điểm tuy không ăn khớp với nhau trong lời kể nhưng lại quan trọng về tình trạng tâm thần của HT Quảng Đức ngay trước phút tự thiêu: Nhân Chứng Vật liệu bật lửa Động thái tưới xăng Động thái bật lửa ThT. Thích Đức Nghiệp hộp quẹt bao diêm ĐĐ. Thích Chơn Ngữ bao diêm ĐĐ Chơn Ngữ “đổ xăng lên đầu” HT Quảng Đức “mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh” Ô. Nguyễn Văn Thông Ảnh+Bài) hộp quẹt (đá lữa) bao diêm Ảnh T1: Sau khi được tưới xăng, Ngài Quảng Đức ngồi một mình HT Quảng Đức “bật quẹt (đá lửa) do ướt xăng nên không cháy, nên ông nhận cái hộp quẹt khác rồi bật tiếp” và “chính tay mình châm lửa tự thiêu” Ô. Malcolm Browne (Ảnh số N)>

 Ảnh (2): không biết hộp quẹt (hay bao diêm)

 Ảnh (1): một vị sư đổ xăng lên đầu

Ảnh (2): rồi vị sư bỏ đi Ảnh (2)

và ảnh (3): Ngay trước và ngay sau khi phực lửa, HT. Quảng Đức ngồi kiết già chỉ một mình Nhận xét: Tuy ĐĐ Chơn Ngữ không nhắc đến hộp quẹt (lighter/briquet) trong lởi kể của mình, nhưng cả TT Đức Nghiệp lẫn ông Nguyễn Văn Thông đều có nhắc đến có hai nguồn bật lửa là hộp quẹt và bao diêm. Hơn nữa, ông Thông còn kể lại một chi tiết đáng nhớ là hộp quẹt (đá lửa) do ướt xăng nên không cháy, vì vậy Ngài Quảng Đức phải xài hộp diêm (phù hợp với mô tả “mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh” của ĐĐ Chơn Ngữ). Điều nầy chỉ để chứng tỏ rằng ngay cả vào những giây phút quyết liệt cuối cùng, HT Quảng Đức vẫn rất tỉnh táo, tự mình biết tìm giải pháp khi bị trở ngại để quyết tâm đạt được mục đích tự thiêu của mình. Bây giờ thì ta có thể tạm thời thử tái hiện cuộc tự thiêu của Ngài Thích Quảng Đức một cách hợp lý và sát với sự thật nhất theo trình tự sau đây: • Ngày 27/5/1963, hơn 2 tuần trước ngày tự thiêu, Thượng tọa Thích Quảng Đức gởi một lá đơn lên Giáo Hội Tăng Già, xin được phép phát nguyện tự thiêu. Lá đơn này gữi cho “Hòa Thượng Hội Chủ, Thượng Tọa Trị Sự Trưởng, Chư Thượng Tọa, Ðại Ðức trong Giáo Hội Tăng Già Việt Nam” • Vài ngày sau đó, Thượng tọa Thích Tâm Giác đã thay mặt Giáo hội trả lời cho Ngài, từ chối lời thỉnh cầu “trên nguyên tắc pháp lý (Luật Phật đã định cũng như Luật Pháp thế gian) Giáo Hội không thể chấp nhận điều nguyện thiêu đốt thân xác của Đại Đức được.” [Theo Trần Kiên Cường] • Ngày 4/6/1963, Ngài để lại di chúc bằng một lá thư chữ Nôm tựa là “Lời Nguyện Tâm Quyết”, trong đó Ngài nói rõ rằng: “Tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai, không lẽ cứ ngồi điềm nhiên toạ thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui vẻ phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dưỡng chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo. Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức, Tăng ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau:” [Theo Phạm Quý Vinh / Tạp chí Sông Hương]. Lá thư nầy, sau đó được dịch ra tiếng Việt Latinh để phổ biến cho báo chí và quần chúng. • Lúc 10 giờ sáng ngày 11/6/1963, Đại đức Chơn Ngữ dìu Ngài ra khỏi cổng chùa Bửu Tự ở đường Cao Thắng thuộc Quận 3, Sài Gòn. Tại đó, Thượng tọa Thích Đức Nghiệp mở cửa chiếc xe Austin đã đậu sẵn, mời Ngài lên. Xe chạy từ từ tiến theo đường Phan Đình Phùng, hướng về trung tâm thủ đô. Đi hai bên hông xe và đông đảo ở phía sau là quý Tăng Ni Phật Tử, tất cả kết hợp nhau thành một đoàn khoảng 500 vị, và càng ngày càng đông thêm vì đồng bào ở hai bên đường đã túa ra rồi tự động đi theo đoàn. Xe quẹo phía trái vào đường Lê Văn Duyệt, xéo trước mặt Tòa Đại sứ Cambốt thì dừng lại. Xung quanh, các Tăng Ni đã đứng chật, che kín ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng, còn đồng bào đi theo thì bắt đầu xôn xao vì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra [Theo TKCường, Thích Đức Nghiệp và Huỳnh Văn Hải] • Rồi đoàn Tăng Ni tự động tách ra làm hai, bao quanh lấy chiếc xe Austin thành một vòng tròn khá rộng, đủ ngăn cả bốn ngã đường. Ngài được Đại đức Chơn Ngữ dìu ra khỏi xe Austin, đi thong thả và ung dung đến giữa ngã tư đường, tay cầm tràng hạt, và hai tay chấp vào nhau cúi lạy Chư Phật bốn phương. Đại đức Chơn Ngữ thi tay trái xách thùng xăng bước theo, còn Thượng tọa Đức Nghiệp thì trao vào tay Ngài hộp quẹt (lighter/briquet) và bao diêm (matchbox/boîte d’allumette) để Ngài tự bật lửa thiêu. Trong lúc đó , bác tài xế thì lăng xăng dở nắp capot máy xe lên làm như đang sửa chữa … [theo TĐNghiệp, HVHải và TKCường] • Đến vị trí ngay giữa ngã tư đường, Đại đức Chơn Ngữ mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay trái. Đại đức Chơn Ngữ cầm thùng xăng đáng lẽ tưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Rồi Đại đức Chơn Ngữ để thùng xăng xuống cách Ngài khoảng một mét rồi bước vội về phía các Tăng Ni, để Ngài ngồi lại một mình trên vũng xăng lênh láng. [Theo HVHải, Halberstam và hình B2 của Browne]. • Một mình, Ngài niệm Phật xong rồi bật hộp quẹt (lighter/briquet) nhưng vì hộp quẹt ướt xăng nên tia lửa không bật ra để bắt xăng mà cháy. Ngài bèn mở hộp diêm (matchbox/boîte d’allumette) rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho tượng trong khi các Tăng Ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Tiếng niệm Phật rất não nùng thê thảm trong lúc ngọn lửa càng bốc cao, phủ kín cả người Ngài, nhưng Ngài vẫn ngồi vững như bàn thạch chấp hai tay trước ngực. [theo Nguyễn Văn Thông, Halberstam và HVHải] • Sau 7 đến 10 phút, toàn thân Ngài từ từ khô héo dần và co quắp lại, đầu Ngài trở nên đen dần và hóa thành than. Không khí đượm mùi thịt người cháy.Lửa vẫn bùng cháy khi thân thể Ngài ngã ra phía sau mà hai tay vẫn còn chắp trên ngực. Xung quanh, các Tăng Ni vừa bái lạy vừa khóc, vừa niệm Phật. Cảnh sát đã cố ngăn vụ tự thiêu nhưng không thể xuyên qua được đám đông Phật tử đang vây quanh Ngài. Một cảnh sát phi mình vào và phủ phục trước Hòa thượng nhằm tỏ lòng kính trọng. Những người chứng kiến phần lớn sửng sốt trong yên lặng, số khác thì khóc thét và bắt đầu cầu nguyện. Nhiều nhà sư và ni cô cũng như người qua đường vì quá bàng hoàng đã quỳ lạy trước vị Hòa thượng đang cháy bừng. Một nhà sư tuyên bố nhiều lần qua một micrô bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt: “Một nhà sư đã tự thiêu. Một nhà sư đã trở thành con người tử vì đạo” [Theo Halberstam và hình của Browne cũng như của NVThông] • Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Thích Quảng Đức được bọc trong một lá cờ Phật giáo và rước về chùa Xá Lợi. Tới cổng chùa, ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. [theo TĐNghiệp] Trong khi cố gắng tái dựng lại diễn tiến cuộc tự thiêu, chúng tôi thấy có ba điểm nổi bật: (a) Quyết định tự thiêu của Ngài Quảng Đức là một quyết định hoàn toàn cá nhân, xuất phát từ tâm nguyện riêng của Ngài muốn cúng dường đạo pháp để cứu nguy cho Phật giáo Việt Nam. Quyết định nầy được ấp ủ từ lâu, bắt nguồn từ chứng nghiệm tình hình Phật giáo đồ và chùa chiền bị đàn áp lúc bấy giờ, và đã được thể hiện thành văn từ trước, dù bị các vị lãnh đạo Phật giáo từ chối.

(b) Sau khi Ngài Quảng Đức ngồi kiết già, người tưới xăng lên mình Ngài là Đại đức Thích Chơn Ngữ, thế danh là Huỳnh Văn Hải. Sau khi tưới xăng xong thì Đại đức bỏ đi về hướng các Tăng Ni để Ngài ngồi lại một mình trên vũng xăng. Ngài Quảng Đức bèn bật hộp quẹt (lighter/briquet) do TT Đức Nghiệp trao cho nhưng vì hộp quẹt đẩm ướt xăng nên không bắt cháy. Do đó, Ngài vẫn đủ tỉnh táo để lấy nhiều que diêm trong hộp diêm (matchbox/boîte d’allumette) do TT Đức Nghiệp dúi vào tay từ trước, chập lại vào nhau, bật lên, lửa mới bắt đầu bùng cháy phựt lên. (c) Thật ra, để tái dựng một cách trung thực cuộc Tự thiêu, chúng ta cần một cuốn phim được quay tại hiện trường vào lúc đó. Truy tìm trên Google và các nguồn khác, chúng ta chỉ được những tấm hình tĩnh (still photos) của Browne và ông Nguyễn Văn Thông. Và dĩ nhiên có một số Video ngụy tạo mà chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau. Tuy nhiên, có một Video ở trong nước, theo góc quay thì có vẽ là của một cơ quan nào đó của chính quyền VNCH cũ hơn là của Phật giáo, nay được phát hình lại như phim tài liệu ở trong nước. Theo chúng tôi thì có lẽ đây là phim động duy nhất của người Việt Nam còn được lưu trữ [Xem Video nầy ở

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-139_4-5374_5-50_6-1_17-46_14-1_15-1/

  Rất tiếc đây là loại phim đen trắng rất cũ, lại có vẻ đang “quay lén”, nên không rõ ràng. Và chẳng giúp cho chúng ta xác lập được những diễn biến chi tiết ngay trước khi lửa phựt cháy. Rồi đây, khi cuốn phim đó được bạch hóa, và được xem phiên bản gốc, hy vọng chúng ta sẽ có nhiều chi tiết hơn.

5- NHỮNG NGỤY TẠO VÀ XUYÊN TẠC – BÓC TRẦN HAI LỜI VU KHỐNG Ngoài rất nhiều tài liệu ngụy tạo và xuyên tạc sự thật về tình hình Phật giáo dưới chế độ Diệm, những bài viết vu khống và phỉ báng cấp lãnh đạo cao cấp của Phật giáo Việt Nam (đã mất hay còn sống, cả ở trong lẫn ngoài nước), những bài gọi là “nghiên cứu lịch sử” hạ cấp phê phán Giáo pháp của Đức Phật, … đặc biệt có hai cuốn phim được phát tán trên YouTube để trực tiếp phủ nhận ý nghĩa cao cả của cuộc tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức, cuộc tự thiêu dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ giáo trị phản dân tộc và phản thời đại, chế độ Ngô Đình Diệm:

 ■ Thứ nhất là Video “A shot in ‘Mondo Cane 2’ ” với tựa đề “Saigon 1963 với vụ tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức”. Video nầy do billymoc phát lên YouTube ngày 24 tháng 7 năm 2011 (sau đó cũng đã được tinhban1987 phát lên YouTube ngày 18-9-2011 dưới tên gọi khác). Thông tin ghi địa điểm quay phim là “Sardina tạinước Ý, phim được thuyết minh bằng tiếng Ý và phát hành ngày 30 tháng 11 năm 1963 tại Ý”. Phim của hai nhà làm phim người Ý tên là Guatiero Jacopettit và Franco Prosperi về những vụ đàn áp biểu tình tại Sài Gòn và vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng”. Phim dài 7 phút 48 giây. Đây là một video ngụy tạo rất vụng về, hiện trường và diễn viên có lẽ tại Thái lan hoặc Cambốt, nhưng tên tiếng Việt của Video (“Saigon 1963 với vụ tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức”) cũng như thông tin đi kèm (phát hành ngày 30 tháng 11 năm 1963 tại Ý) là chỉ cốt lạc dẫn người xem mà thôi. Xin đọc bài phân tích “Clip HT Quảng Đức tự thiêu diễn lại: từ điểm nhìn chuyên môn”của tác giả Minh Thạnh, trong đó ông đã chỉ ra gần 30 điểm dàn dựng giả mạo của Video nầy 

 http://www.phattuvietnam.net/diendan/16902.html 

 Không rõ phim có thật do hai người Ý làm không, làm năm nào, và không biết thuyết minh tiếng Ý mang nội dung gì, nhưng khi dàn dựng cho có vẻ Việt Nam (nhân vật, khung cảnh, trang phục, diễn tiến sự cố … lại đan chen thêm những clip thật như đoạn bà Ngô Đình Nhu để tạo hỏa mù) lại đặt tiêu đề là “Saigon 1963 với vụ tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức” thì rõ ràng những người chế tạo ra đoạn phim video này nhắm đối tượng là khán giả Việt Nam (nhất là người Việt Nam chỉ xem một lần rồi không quan tâm đến biến cố 1963 nầy nữa) với một ý đồ rõ rệt: Vụ tự thiêu của vị sư Thích Quảng Đức là cao điểm của một vụ bạo loạn chống chính quyền với sự đồng ý của lực lượng … cảnh sát ! (vì Cảnh sát đã không vào cứu vị sư mà ngược lại, còn giữ trật tự cho vị sư được tự thiêu). Điều thắc mắc duy nhất là tại sao (những) người thực hiện đoạn phim video nầy lại phạm quá nhiều sơ hở như thế ? Ai xem cũng biết đó là phim dàn dựng, đó là phim ngụy tạo một sự thật lịch sử ! Thế mà vẫn cho phổ biến để được những người chống phá Phật giáo phát tán thì những người thực hiện đó có ý đồ gì ?

Ngụy Tạo Và Xuyên Tạc Về Cuộc Tự Thiêu Của Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tại Sao ? – Pháp Lạc và Nguyễn Kha

Ngụy Tạo Và Xuyên Tạc Về Cuộc Tự Thiêu Của Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tại Sao ?

Pháp Lạc và Nguyễn Kha

NguyenKha0

1.php 18-Nov-2011

Trong cuồng vọng muốn thiết lập một chế độ giáo trị tương lai ở Việt Nam (theo Tông huấn của Vatican thúc giục qua Tông huấn Á châu Ecclesia In Asia 1999 do Giáo hoàng Gioan Phao lồ 2 phát động), những người Công giáo hoài Ngô đó lại càng phải tìm cách phá hoại Phật giáo mà họ xem là phên dậu văn hóa vững chắc của dân tộc Việt. Từ đó, và thô bạo nhất, họ tìm cách bôi nhọ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, biểu tượng bất bạo động và cao điểm tố cáo tội ác của chế độ Ngô Đình Diệm. Vì vậy, bài viết nầy cũng nhằm vạch ra một số ngụy tạo và xuyên tạc về cuộc Tự thiêu của Hòa thương Thích Quảng Đức. Đồng thời, trong phần cuối bài viết, cố gắng giải thích vì sao có những ngụy tạo và xuyên tạc đó. (SH trích đoạn từ bài viết để tóm lược)

 ________________________________________ 1- MỤC ĐÍCH BÀI VIẾT: Bài viết nầy có ba mục đích: • Trước hết, vào đầu thập niên 60’ của thế kỷ trước, Cuộc vận động đòi bình đẳng Tôn giáo và Tự do Tín ngưỡng năm 1963 của Phật giáo đồ tại miền Nam Việt Nam là một biến cố lịch sử to lớn và mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc và lâu dài không những cho Phật giáo Việt Nam mà còn cho cả dân tộc Việt Nam. Đó là lúc dân tộc đang đối diện vời sự bành trướng của chủ nghĩa nước lớn tại Việt Nam, và riêng Phật giáo tại miền Nam thì đang phải chịu đựng một sách lược Công giáo hóa miền Nam mà trong đó Phât giáo trở thành đối tượng hàng đầu phải bị khống chế và tiêu diệt. Đã có nhiều tài liệu của người Việt và người ngoại quốc viết về lần trở mình bi hùng đó của Phật giáo tại miền Nam. Tuy nhiên, một công trình quy mô và chính thức của Phật giáo Việt Nam thì cho đến nay vẫn chưa có. Song song, lại có nhiều “tài liệu” của những thế lực xem Phật giáo là kẻ thù được tung ra làm nhiễu loạn sự thật lịch sử. Do đó, trong niềm ao ước được thấy một hồ sơ như thế vào năm 2013, kỷ niệm 50 năm của biến cố 1963, chúng tôi quyết định hoàn thành bài viết nầy để góp một số thông tin vào hồ sơ đó. • Thứ đến, sau 1975, tại hải ngoại, lợi dụng tình trạng thiếu thốn tài liệu và mất dần nhân chứng, một số tàn dư của chế độ Ngô Đình Diệm, mà tuyệt đại đa số là các tín đồ Công giáo, đã tìm cách mạo hóa lịch sử để vinh danh chế độ Ngô Đình Diệm. Một trong những nỗ lực nầy là cố ngụy tạo lịch sử để chứng minh rằng ông Diệm còn thì miền Nam không “rơi vào tay Cọng sản” và bây giờ muốn lấy lại miền Nam thì phải “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm”. Luận điểm nầy đẩy Phật giáo lên thành đối tượng bị đánh phá hàng đầu vì trong biến cố 1963, họ cho rằng chính Phật giáo (chứ không phải vì chế độ thì độc tài chính trị, xã hội thì bất công thảm nhũng, còn quốc sách “chống Cọng” thì phụ thuộc rồi phản bội đồng minh) đã làm sụp đổ Ngô triều. Thêm vào đó, trong cuồng vọng muốn thiết lập một chế độ giáo trị tương lai ở Việt Nam như các Tông huấn của Vatican thúc dục (nhất là tư tưởng chủ đạo của Tông huấn Á châu Ecclesia In Asia 1999 mà Giáo hoàng Gioan Phao lồ 2 phát động), những người Công giáo hoài Ngô đó lại càng phải tìm cách phá hoại Phật giáo mà họ xem là phên dậu văn hóa vững chắc của dân tộc Việt Nam. Từ đó, và thô bạo nhất, họ tìm cách bôi nhọ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, biểu tượng bất bạo động và cao điểm tố cáo tội ác của chế độ Ngô Đình Diệm. Vì vậy, bài viết nầy cũng nhằm vạch ra một số ngụy tạo và xuyên tạc về cuộc Tự thiêu của Hòa thương Thích Quảng Đức. Đồng thời, trong phần cuối bài viết, cố gắng giải thích vì sao có những ngụy tạo và xuyên tạc đó. • Cuối cùng, đặc biệt bài viết sẽ trả lời luận điệu vu khống cụ thể sau đây của một số người Công giáo hoài Ngô thù ghét Phật giáo: Đó là “Hoà thượng Thích Quảng Đức đã bị ông Nguyễn Công Hoan, vốn là một điệp viên của Việt Cọng, đầu độc từ trước, và với sự chỉ đạo của giới lãnh đạo Phật giáo đấu tranh năm 1963, đã thiêu sống Hoà Thượng khi Ngài đã hoàn toàn mê man”. Luận điệu vu khống nầy là nhằm triệt tiêu giá trị cao cả của cái chết của Ngài Quảng Đức, đồng thời cũng biện hộ cho lời tuyên bố “nướng sống” (“barbecued”) của bà Ngô Đình Nhu lúc đi “giải độc dư luận” tại Mỹ là đúng. Và quan trọng hơn, là nhằm thực hiện lời nguyền “tôi chết trả thù cho tôi” của người đồng đạo và cũng là lãnh tụ chính trị của họ là ông Ngô Đình Diệm để, theo lời một số giáo dân tại hải ngoại, dọn đường cho Vatican phong thánh ông trong tương lai. Đáng lẽ ra người cáo buộc phải trưng dẫn bằng cớ, nhưng cho đến nay (2011), chúng tôi chưa thấy những kẽ hoài Ngô đưa ra được bất kỳ một tài liệu hoặc nhân chứng nào khả tín cả. Tuy vậy, những cáo buộc nầy cũng có những tác động nhất định trên một số người nhẹ dạ, hoặc một số người không chịu nghiên cứu, chỉ thích nghe những gì mình muốn nghe, hoặc những người đóng chốt trong không gian Internet, cứ lập đi lập lại mãi một điều để tẩy não người đọc như Đức Quốc xã và Vatican đã từng làm. Bài viết nầy, do đó, sẽ nhằm chấm dứt các tác hại đó bằng cách khẳng định lại và chứng minh rằng (i) Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã đơn phương có ý định tự thiêu từ trước, và cho đến phút chót, Ngài vẫn tỉnh táo với hành động bật lửa tự thiêu của mình, và (ii) Người tưới xăng lên đầu và thân thể Ngài Quảng Đức là Đại đức Thích Chơn Ngữ, thế danh Hùynh Văn Hải, chứ không phải “ông Việt Cọng” Nguyễn Công Hoan.

2- QUYẾT ĐỊNH TỰ THIÊU: 2.1 Ai cũng biết rằng ngay từ đầu, phương thức đấu tranh của phong trào Phật giáo là bất bạo động. “Tự thiêu” là một khái niệm xa lạ trong phương thức đấu tranh của Phong trào Phật giáo lúc bấy giờ. Giáo sư Lê Cung ghi nhận như sau: “Tuân thủ những nội dung trên đây của lý thuyết bất bạo động, phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 ngay từ đầu đã khẳng định phương pháp đấu tranh là bất bạo động… Thật vậy, Trong cuộc hội nghị mật vào tối 7-5-1963 tại chùa Từ Đàm (Huế), giới lãnh đạo Phật giáo khẳng định phương pháp đấu tranh là bất bạo động. Tiếp theo, phương pháp đã khẳng định lại một lần nữa trong “Bản phụ đính” bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963 được công bố vào ngày 23-5-1963. Bất bạo động bằng hình thức tự thiêu vẫn chưa được đặt ra, mặc dầu trong những cuộc tuyệt thực đầu tiên của Tăng Ni trên toàn miền Nam vào cuối tháng 5, đầu tháng 6-1963, giới lãnh đạo đã dự tính rằng: “Nếu kéo dài các cuộc rước linh và tuyệt thực một cách nhàm chán thì phong trào tự nó cũng bị xẹp vì thiếu những hình thức mới mẻ, gây xúc động mạnh nuôi dưỡng” (Theo Nguyễn Khải, Sư già chùa Thắm và ông Đại tá về hưu, Báo Lao Động, số 24, ngày 25-3-1993.). Song hình thức mới mẻ là gì vẫn chưa được tìm ra, ngay cả khi giới lãnh đạo Phật giáo nhận được bức tâm thư đề ngày 27-5-1963 của Hòa thượng Thích Quảng Đức với nội dung xin tự thiêu để bảo vệ Phật pháp, họ vẫn không chấp thuận. Trên thực tế, giới lãnh dạo Phật giáo còn “thật lúng túng, cũng không biết tự thiêu như thế nào!” (Theo Thích Thông Bửu. Tư tưởng Bồ tát Quảng Đức, trong “Đại lễ kỷ niệm năm thứ 37 ngày tự thiêu của Bồ tát Quảng Đức”. Tổ đình Quán Thế Âm ấn hành, tr.15).” [Nguồn: Lê Cung – http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-135_4-13730_5-50_6-1_17-23_14-1_15-1/ ] 2.2 Nhưng trước thái độ ngoan cố của chính quyền Diệm không thật tâm muốn giải quyết “5 Nguyện Vọng” của Phật giáo, thậm chí còn gia tăng mức độ đàn áp chùa chiền và Tăng tín đồ, HT Thích Quảng Đức đã gửi cho Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc một lá thư đề ngày 27/5/1963, nói rõ tâm nguyện muốn được tự thiêu của mình, tâm nguyện vốn đã được ấp ủ từ khi chính quyền Diệm tiến hành chính sách kỳ thị Phật giáo, đặc biệt khốc liệt nhất tại 5 tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình Định trong ba năm 1960, 1961 và 1962. Rồi tâm nguyện đó lại càng thúc bách hơn khi lá cờ biểu tượng của Phật giáo bị lăng nhục và sau đó máu tử đạo của Phật tử đổ ra tại Huế. Lá thư như sau: Phật lịch 2507, Sài Gòn ngày 27-5-1963 Kính bạch Hòa Thượng Hội Chủ, Thượng Tọa Trị Sự Trưởng Chư Thượng Tọa, Ðại Ðức trong Giáo Hội Tăng Già Việt Nam Kính bạch quý Ngài, Nhìn lại quá trình lịch sử truyền thống dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã ghi đậm những nét son huy hoàng trong mọi lãnh vực: học thuật, văn hoá, chính trị, quân sự, kiến thiết, đã hòa một nếp sống của quần chúng. Qua các triều đại Ðinh, Lê, Lý, Trần, quốc gia hưng thịnh, Phật giáo đã là cương lĩnh của chính quyền, của nền pháp trị bình đẳng. Nhưng Phật giáo không vì sự đóng góp hữu dụng vào quốc sách dân sinh một cách tích cực và chân chính mà khuynh loát, đàn áp các tôn giáo khác. Ngược lại, Phật giáo đã dung hoà mầu nhiệm cùng với các tôn giáo khác để cung ứng những tinh ba thuần túy cho sự ích quốc lợi dân. Tinh thần Phật giáo đã gắn liền với tinh thần quốc gia dân tộc: Phật giáo thịnh thì quốc gia thịnh, Phật giáo suy thì quốc gia suy. Ðiều này lịch sử đã minh nhận. Nhưng hơn một thế kỷ nay, nhất là trong giai đoạn hiện tại, Phật giáo Việt nam luôn luôn nằm trong tình trạng hổn mang, bi thảm đau thương: nào bị đàn áp, nào bị đối xử bất công, ngược đãi…Phật giáo đồ bị bức bách khuynh loát một cách trắng trợn, có nơi bị chôn sống, bị tù đày, có nơi bị cản trở ngăn cấm cả về hành đạo, tu tập, tụng niệm (như vùng Tuy Hòa, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh). Quyền tự do tín ngưỡng, một quyền bất khả xâm phạm của con người, đã bị tổn thương chà đạp. Cao quý thay lòng ẩn nhẫn của Phật tử Việt Nam! Vốn được giáo thụ, un đúc tính từ bi cao thượng của Ðấng Chí Tôn, Phật giáo đồ chúng ta đã âm thầm nhẫn nhục chịu đựng một cách chân thành, nhưng kẻ manh động đã cố tình lợi dụng cử chỉ cao đẹp ấy của chúng ta, gieo mãi thương đau cho Phật giáo đồ Việt Nam. Mùa Phật Ðản 2507 – 1963 tại Cố đô Huế, một cảnh tang thương đã xảy ra cho Phật giáo Việt Nam nói riêng, Phật giáo thế giới và nhân loại nói chung là máu Phật tử đã chảy, xương thịt Phật tử đã nát tan trước họng súng bạo tàn của kẻ ác độc, vô nhân đạo. Thế là những sinh mạng đã ngã gục và những thân mạng đã mang thương tích trên mình, tất cả đều muốn phát lộ ý chí của người Phật tử: bảo vệ Chánh pháp, bảo vệ quyền sống của những con người tin đạo, bảo vệ lá cờ Phật giáo quốc tế mà một phần ba nhân loại tôn thờ. Ai có thể chối cãi được sự thật của nguyên nhân chính ấy là: lá cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi công điện số 9195 phát xuất từ Phủ Tổng thống, ngày 6-5-1963. Trước sự kiện thảm thương ấy, Phật giáo Việt Nam đã đến lúc bắt buộc phải đứng lên tranh đấu cho lý tưởng tự do tín ngưỡng của mình, được minh định rõ ràng trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa và đường lối dân chủ pháp trị, cộng đồng đồng tiến xã hội của Chánh phủ do Tổng thống Ngô Ðình Diệm chủ trương. Với tính cách ôn hòa bất bạo động, kỷ luật trong sự tranh đấu hợp tình hợp lý, người Tăng sĩ Phật giáo Việt Nam cần phải có một ý niệm sáng suốt, tiêu biểu ý niệm chân chánh, trong giai đoạn vô tiền khoán hậu của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vậy tôi tên là Nguyễn Văn Khiết, pháp danh Thị Thủy, pháp hiệu Thích Quảng Ðức, tu sĩ Giáo hội Tăng Già Việt Nam, mang thẻ căn cước số 399703, cấp tại quận Tân Bình ngày 21-12-1962. Hiện tọa chủ chùa Long Phước, xã Ninh Quang, Khánh Hòa, xác định rằng: 1.Năm nguyện vọng tối thiểu ghi trong Bản tuyên ngôn của Tăng tín đồ Phật giáo là phản ảnh tinh thần chân chính của Phật giáo Việt Nam. 2.Nguyện luôn luôn son sắc bền chí với lý tưởng tranh đấu hợp tình hợp lý, bất bạo động của Phật giáo đồ Việt Nam. 3.Triệt để tuân theo và ủng hộ các cấp lãnh đạo Phật giáo. Và để minh định lập trường của chúng tôi, chúng tôi tự nguyện thiêu đốt thân này nếu Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không làm thỏa mãn nguyện vọng ghi trong Bản tuyên ngôn là phản ảnh tha thiết mong cầu của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam. Phật giáo Việt Nam bất diệt! Lá cờ Phật giáo không thể bị triệt hạ! Và xin quý Thượng Tọa chấp thuận, chuyển tới toàn thể tín đồ lời ước nguyện cuối cùng của chúng tôi: ” Phật tử chúng ta hãy cùng nhau tự nguyện tự giác, bền chí với sứ mạng duy trì Chánh pháp và bảo vệ lá cờ Phật giáo.” Kính Tỳ khưu Thích Quảng Ðức (Nguyễn Văn Khiết- đóng dấu và ký tên)

 [Nguồn:

 http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-139_4-5380_5-50_6-1_17-46_14-1_15-1/ ] 2.3

 Vài ngày sau đó, vị Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Việt Nam là Thượng Tọa Thích Tâm Giác, đã từ chối nguyện vọng “tự nguyện thiêu đốt thân nầy” của Ngài trong một lá thư nguyên văn như sau [trích từ bài viết của ông Trần Kim Cường]: “Kính gởi Đại Đức Tỳ Khưu Thích Quảng Đức (Nguyễn Văn Khiết). Kính bạch Đại Đức Tôi trân trọng tin để Đại Đức rõ, sau khi tiếp nhận văn thư của Đại Đức đề ngày 27-5-1963 xin Giáo Hội cho phép được thiêu đốt thân xác để cúng dường lên Tam Bảo nhân vụ biến động ở Huế, vì lý do lá cờ Phật Giáo bị triệt hạ trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong ngày Đại Lễ Phật Đản mà tại Huế đã có 9 người chết và nhiều người bị trọng thương. Với quyết tâm bảo vệ Phật pháp, Đại Đức nguyện hiến xác thân phẩm này bằng cách thiêu đốt để phản đối chính sách bất bình đẳng Tôn giáo với nhà cầm quyền và nêu tỏ thái độ hy sinh vì Đạo cao cả mà mình đã tôn thờ. Giáo Hội rất thông cảm trước ý chí cao đẹp ấy. Nhưng trên nguyên tắc pháp lý (Luật Phật đã định cũng như Luật Pháp thế gian) Giáo Hội không thể chấp nhận điều nguyện thiêu đốt thân xác của Đại Đức được. Vậy xin Đại Đức hoan hỉ và cầu chúc Đại Đức vô biên an lạc. Trân trọng kính chào Đại Đức. Thượng Tọa Thích Tâm Giác ký tên. Qua lá thư của chính Ngài Quảng Đức và thư trả lời của Giáo Hội Tăng Già, người ta thấy rõ ràng là Ngài Thích Quảng Đức đã có ý nguyện tự thiêu từ trước. Không ai có thể cáo buộc Ngài bị thiêu đốt, kể cả các ký giả ngoại quốc cũng không biết chuyện này. Ngoài ra, cũng theo văn thư trả lời thì Giáo Hội Tăng Già đã không chấp thuận cho Ngài Thích Quảng Đức tự thiêu, vậy thì không thể có sự việc cắt đặt người với tên tuổi đàng hoàng lãnh trách nhiệm tẩm xăng cho Ngài, còn nếu Ngài có nhờ các đệ tử giúp đỡ trong các công việc, thì những việc làm ấy không phải là các sự việc được chánh thức sắp xếp, để cho ngày nay các ông cứ phải bàn cãi, cò kè với nhau. Vậy thì rõ ràng là cuộc tự thiêu của Thượng Tọa Thích Quảng Đức không do ai tổ chức cả, khi Ngài muốn điều gì thì các đệ tử của Ngài chiều theo ý của Ngài mà thôi. Và do việc Giáo Hội không chấp thuận qua văn thư như trên, nên phải xác định rõ ràng rằng Giáo Hội không có chủ trương việc tự thiêu của Thượng Tọa, vậy thì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không có lỗi lầm gì trong biến cố này, và cũng do đó mà Chánh phủ Ngô Đình Diệm đã không có lý do gì để truy tố Giáo Hội Phật Giáo.” [Nguồn: Trần Kiên Cường – http://quocsam2009.blogspot.com/2011/07/su-that-nao-sau-vu-tu-thieu-lich-su.html#!/2011/07/su-that-nao-sau-vu-tu-thieu-lich-su.html ] 2.4 Trong lúc đó, theo vị Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống thời Ngô Đình Diệm là ông Đoàn Thêm (trong “Hai mươi năm qua” và “Những ngày chưa quên”, Đại Nam, 1969) thì ngày 29 tháng 5, lực lượng an ninh Huế vẫn siết chặt vòng vây “nội bất xuất ngoại bất nhập” ở chùa Từ Đàm , nơi mà sinh viên và Phật tử thường tụ họp đông đảo để ủng hộ cho những đòi hỏi của Phật giáo, đồng thời chính quyền cho cắt điện và nước ở ngôi chùa này. Trước hành động đàn áp đó của Chính phủ, ngày 30 tháng 5, Phật giáo tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang, các Tăng Ni và Phật tử tuyệt thực 48 giờ, đồng thời 300 Tăng Ni biểu tình trước Quốc hội với những khẩu hiệu yêu cầu Chính phủ thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo. Thấy tình hình bắt đầu căng thẳng, ngày 1 tháng 6, Chính phủ Diệm thay vị Đại biểu Trung phần Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Văn Đẳng, là những người mà Chính phủ cho là nhu nhược thân Phật giáo, bằng các ông Nguyễn Xuân Khương và Thiếu tá Nguyễn Mâu (một si quan Công giáo ở trong đảng Cần Lao) để hai nhân vật này hành động quyết liệt hơn trong việc đàn áp Phật giáo. Vì tình hình nghiêm trọng đó, chính phủ đã thành lập ủy ban Liên Bộ và Phật giáo hình thành Ủy ban Liên Phái để thương nghị với nhau. Trong khi hai ủy ban đang tiến hành những buổi họp đàm phán thì lực lượng an ninh vẫn bao vây chùa chiền và gia tăng các biện pháp cắt điện, cắt nước tại các chùa lớn ở Huế và Đà Nẵng. Riêng tại chùa Tỉnh Hội Nha Trang, cảnh sát và công an còn chăng kẽm gai chận đường các Phật tử vào chùa và cản trở việc đi lại của các Tăng Ni từ Sài Gòn về các tỉnh và ngược lại. Cho đến ngày 7 tháng 6, trước phản đối của Phật giáo, Ủy ban Liên Bộ mới công nhận hành động thiếu thiện chí đó và gởi văn thư trả lời cho Ủy ban Liên Phái là đã cho cấp lại điện nước và quân đội không chận đường vào chùa nữa. Nhưng dù có văn thư chính thức của Ủy ban Liên Bộ, những hành động chống phá Phật giáo vẫn tiếp tục xảy ra càng lúc càng thô bạo tại các địa phương và ngay giữa thủ đô Sài Gòn. Độc hại hơn nữa, chính quyền đã cho một số công an và cảnh sát cạo đầu, giả vờ mặc áo nâu hay áo lam của tăng sĩ để ra chợ chọc gái, ăn thịt, uống rượu, mua hàng không chịu trả tiền,… rồi đưa lên báo nhằm bôi lọ các nhà sư và xuyên tạc cuộc đấu tranh của Phật giáo. Ngày 8 tháng 6, trong một thông cáo gửi cho Phong trào Phụ nữ Liên Đới, bà Nhu còn công khai lên án và hăm dọa Phong trào Phật giáo khi tố cáo những người trong phong trào Phật giáo là hợp tác với Cọng sản và yêu cầu chính quyền phải có biện pháp quyết liệt với phong trào đấu tranh. Để ứng phó với thái độ phá hoại và không có thiện chí giải quyết nguyện vọng đó của chính quyền, Phật giáo đành phải lấy những hành động hy sinh quyết liệt hơn mong cảnh tỉnh và khai thông đầu óc giáo điều của cấp lãnh đạo Chính phủ. Trong một ngôi chùa vắng lặng giữa Sài Gòn sôi động, Ngài Thích Quảng Đức đã lấy một quyết định làm chuyển đổi cả một chế độ và đẩy lịch sử Việt Nam lên một chiều cao bi hùng mới. Quyết định đó được trình bày một cách thấu tình đạt lý của một ngưòi vừa là Phật tử vừa là công dân trong “Lời Nguyện Tâm Quyết”, nguyên bản được viết bằng chữ Nôm, và được dịch ra tiếng Việt Latinh để phổ biến trong giai đoạn đó. Sự hình thành của văn bản đó được kể lại như sau: “Về một bức thủ bút chữ Nôm của Hòa thượng Thích Quảng Đức” của Phạm Quý Vinh (nguồn: Tạp Chí Sông Hương số 227 – 2008) đăng lại với phiên bản điện tử năm 2009 trên http://tapchisonghuong.com.vn/ “Trước lúc tự thiêu, Thích Quảng Đức có để lại một bức thủ bút bằng chữ Nôm(2).

 Đây là một văn bản rất ít người được biết đến và chính là lời tâm nguyện của Thích Quảng Đức trước lúc đi về miền Tây phương cực lạc. Bởi vì, nó không những nêu lên được ước nguyện của một con người mộ đạo, mà nó còn đặt ra cho chúng ta một câu hỏi khó trả lời: Tại sao trong lúc chữ Quốc ngữ đang thịnh hành thì Thích Quảng Đức lại dùng chữ Nôm (loại chữ do dân tộc Việt Nam sáng tạo) để viết? Phải chăng là Thích Quảng Đức đã đề cao bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam! Với những giá trị về lịch sử của văn bản, chúng tôi xin được giới thiệu bức thủ bút của Thích Quảng Đức. Vì bản photocopy có đôi chỗ mờ nhạt nên trong quá trình chế bản vi tính sẽ không tránh được những thiếu sót nhất định, hy vọng là những ai quan tâm và hiểu biết sẽ đóng góp những ý kiến chân tình để cho bản vi tính và phiên âm được hoàn chỉnh hơn. Nội dung của bức thư cụ thể như sau: Phiên âm: Lời nguyện tâm quyết Tôi là Tỳ kheo Thích Quảng Đức, trụ trì chùa Quan Thế Âm Phú Nhuận Gia Định. Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa. Tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai, không lẽ cứ ngồi điềm nhiên toạ thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui vẻ phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dưỡng chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo. Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức, Tăng ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau: Một là mong ơn Phật Trời gia hộ cho tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên cáo. Hai là nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt. Ba là mong nhờ hồng ân Đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ ác. Bốn là cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc. Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân, đều thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để nước nhà xưng yến muôn thuở. Tôi thiết tha kêu gọi chư Đại Đức, Tăng ni, Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo. Nam Mô A Di Đà Phật Làm tại chùa Ấn Quang ngày bốn tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba. Tỳ kheo Thích Quảng Đức thủ ký. Bằng lời lẽ nhẹ nhàng, cô đúc nhưng lại giàu tính thuyết phục, Thích Quảng Đức đã gởi gắm tâm nguyện của mình vào bức thư tuyệt mệnh với mong ước bảo vệ Phật giáo ở Việt Nam. Đó quả là một tấm gương một lòng vì đạo pháp mà xưa nay hiếm vậy. P.Q.V (2) Văn bản này chúng tôi vừa sưu tầm được từ một thượng tọa ở chùa Thiền Lâm (Biết chúng tôi có hiểu biết về Hán Nôm, nên thượng tọa đã tặng chúng tôi một bản photocopy bức thủ bút này).” Như vậy, qua ba lá thư nói trên (thư xin tự thiêu ngày 27/5, thư trả lời của Giáo hội Tăng Già, thư “Lời nguyện Tâm quyết” 4/6), chúng ta thấy quyết định tự thiêu của Ngài Thích Quảng Đức là một quyết định xuất phát từ những động cơ sâu sắc, có suy nghĩ chính chắn. Quyết định lại đi theo một trình tự hợp lý, biến thiên theo mức độ trầm trọng của tình hình. Và dù bị từ chối, cá nhân Ngài vẫn quyết tâm hoàn thành cho được tâm nguyện. Quyết tâm đó, tâm nguyện đó, không chứa một mảy may hận thù và tuyệt vọng nào mà trái lại còn thấm nhuần tình thương và hy vọng thì, lúc đó cũng như bây giờ, những kẻ ngoại đạo hay giáo gian mang tâm cảnh hận thù làm sao hiểu được, lại càng làm sao chấp nhận được. Đó là về phần Hòa thượng Thích Quảng Đức. Còn diễn biến cuộc tự thiêu thì sao ?

3- NĂM NHÂN CHỨNG BẤT KHẢ PHỦ BÁC: Về cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức, chúng ta có gần cả ngàn nhân chứng nhìn chăm chú vào nhất cử nhất động của Ngài. Không những nhìn bằng mắt mà còn “nhìn” bằng máy chụp ảnh và máy quay phim nữa. Họ là hơn 500 Tăng Ni và hàng trăm Phật tử và đồng bào Sài Gòn có mặt tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt vào buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963. Cũng có mặt hôm đó, ngoài nhân viên mật vụ chìm và nổi của chế độ Diệm có nhiệm vụ theo dõi hoạt động của phong trào Phật giáo, có lẽ cũng có những nhân viên “đặc biệt” của những tổ chức cũng “đặc biệt” không kém của chính quyền nước ngoài như Mỹ và Vatican, vốn là hai nước gắn bó chặt chẻ và có nhiều quyền lợi thiết thân với chế độ Diệm ở Việt Nam. Nhưng trong số gần cả ngàn nhân chứng đó, để tái dựng lại cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức một cách trung thực, có năm vị mà chúng tôi cho là có độ khả tín cao, có thể tin vào lời chứng hoặc hình ảnh của họ. Đó là hai tu sĩ Phật giáo có trực tiếp đóng vai trò trong động thái tự thiêu (TT Thích Đức Nghiệp và ĐĐ Thích Chơn Ngữ), một nhân viên làm việc cho cơ quan Mỹ và/hoặc chính quyền Diệm được giao nhiệm vu theo dõi và báo cáo (ông Nguyễn Văn Thông), và hai ký giả nước ngoài chuyên nghiệp làm việc cho các cơ quan truyền thông uy tín quốc tế (nhiếp ảnh gia / nhà báo Malcolm Browne và nhà văn / nhà báo David Hamberstam). Họ là những người có mặt tại chỗ, chức năng của họ là ghi nhận sự kiện một cách trung thực và sau đó, bằng cách nầy hay cách khác, phổ biến một cách công khai trên toàn thế giới. 3.1 – Sau đây là trích đoạn Hồi ký của Thượng tọa Thích Đức Nghiệp, nhân chứng thứ nhất, người chịu trách nhiệm sao cho cuộc Tự thiêu được hoàn thành: “Vào 14 giờ, ngày 30-5-1963, đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở Huế đã ra chỉ thị cho các cấp Phật giáo phải tổ chức tuyệt thực đòi hỏi chính quyền thực thi năm nguyện vọng. Tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái chúng tôi tuân luyện tổ chức ngay một cuộc biểu tình tại Công trường Lam Sơn trước quốc hội, từ 12 giờ 5 phút tới 5 giờ chiều, rồi diễn hành, căng biểu ngữ, về tới chùa Xá Lợi tuyệt thực suốt 48 giờ. Dịp này có Hòa thượng Thích Quảng Đức tham dự và Ngài có gởi một bức tâm thư xin tự thiêu lên Ủy Ban Liên Phái, đề ngày 27-5-1963. Tuy nhiên, Ủy Ban Liên Phái bác bỏ nguyện vọng tự thiêu này. Sau cuộc tuyệt thực đó, Ủy Ban Liên Phái lại tổ chức rước linh hàng tuần vào mỗi buổi sáng ngày chủ nhật, để luân phiên cầu siêu tại các chùa trong Sài Gòn; Chợ Lớn, Gia Định, là trụ sở chính của mỗi giáo phái trực thuộc Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam. Thế nhưng, về phía chính quyền, ông Diệm vẫn cứ trơ trơ trước dư luận lên án gắt gao của nhân dân Việt Nam và thế giới. Độc ác và bất nhân hơn nữa là ông Diệm lại còn hạ lệnh bắt bớ thêm, phong tỏa thêm các chùa trên toàn quốc, thậm chí ông còn cho những thuộc quyền thẳng tay cắt đứt điện nước và tuyệt đường lương thực của các chùa chủ yếu. Bởi vậy, vào 8 giờ tối ngày 10-6-1963, hai Thượng tọa Tâm Châu và Thiện Hoa có cho xe vào Ấn Quang, mời tôi (Thích Đức Nghiệp) ra Xá Lợi bàn Phật sự gấp. Khi tới Xá Lợi, tôi gặp hai vị Thượng tọa đang ngồi phòng khách. Thượng tọa Thiện Hoa nói là: – Phật giáo mình đương bị lâm nguy quá, nhất là tại Huế hiện nay… Thượng tọa Tâm Châu nói theo: – Ngày mai, buổi sáng chủ nhật, tới phiên tôi rước linh và cầu siêu tại chùa Phật Bửu Tự, do Hòa thượng Thích Minh Trực tổ chức, tại đường Cao Thắng, Quận 3. Vậy Thầy về hỏi lại ý nguyện tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức, hiện đương tụng kinh Pháp Hoa tại Ấn Quang. Nếu Hòa thượng đồng ý, thì ngay sau khóa lễ ở Phật Bửu Tự, trên đường về Xá Lợi, Thầy tìm mọi cách có hiệu quả nhất, để Hòa thượng Quảng Đức được tự nguyện tự thiêu, đồng thời để cứu nguy cho Phật giáo hiện nay. Khi về, tôi gặp ngay Hòa thượng Quảng Đức ở chùa Ấn Quang Sau khi tôi hỏi : – Hòa thượng còn giữ nguyện tự thiêu như lá thơ Hòa thượng đã gởi cho Liên Phái trước đây không ? Hòa thượng mừng rỡ trả lời : Tôi sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam Bảo và để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện của Phật giáo Tôi (Thích Đức Nghiệp) nói thêm: – Vậy Hòa thượng hãy đi nghĩ và sáng mai, con sẽ tổ chức cho Hòa thượng tự thiêu cho Hòa thượng được thành tựu viên mãn. Song Hòa thượng nói thêm: – Đại đức cho tôi được lễ tạ Phật và Thượng tọa Thiện Hoa, tôi sẽ nói: Ngày mai tôi phải đi xa vì Phật sự, đồng thời cho tôi viết một lá thơ gởi cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi trả lời đều được cả, nhưng tuyệt đối Hòa thượng không nên để cho ai biết việc tự thiêu này. Sau đó, tôi đến phòng Thượng tọa Thiện Hoa mới ở Xá Lợi về để xin ít tiền mua sắm xăng để thiêu và vải để viết biểu ngữ cho sáng ngày mai. Tiếp theo tôi gọi anh lái xe ô tô Austin của Phật tử Trần Quang Thuận gởi ở Ấn Quang và nhờ anh ta đi mua xăng và vải, đồng thời tôi nhờ anh ấy chở Hòa thượng Quảng Đức đi dự lễ tại Phật Bửu Tự. Kế đó, tôi họp ngay mấy Thầy lại để phân công vào việc sáng mai : Thầy Chân Ngữ có trách nhiệm đổ hết xăng từ đầu tới chân Hòa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi trên xe Austin để đi tới ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt trước tòa Đại sứ Cao Mên. Thầy Trí Minh phải ngồi cùng hàng ghế trước để bảo anh lái xe phải dừng lại ở ngã tư đường nói trên, rồi làm bộ chữa xe để Hòa thượng bước xuống đường và ngồi tự thiêu. Thầy Hồng Huệ giữ trật tự, Tăng Ni đi thành hai hàng và xe của Hòa thượng từ từ đi ở giữa. Tôi (Thích Đức Nghiệp) đi bên cạnh xe của Hòa thượng. Khi xe ngừng lại Hòa thượng bước xuống, tôi trao tay Hòa thượng bao quẹt và bao diêm để Hòa thượng tự bật lửa thiêu. Bùng cháy ! Ngọn lửa ngất trời ! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh ! Lệ rơi ! Tiếng khóc vang lên ! Lập tức, tôi yêu cầu hai mươi vị Tăng Ni ra nằm chặn ở bốn đầu đường để xe cứu hỏa không thể vào nơi thiêu của Hòa thượng Quảng Đức. Biết rằng trong lúc tự thiêu này, có cả Simon Michaud, đại diện hãng thông tấn AFP của Pháp; Malcome Browne, đại diện AP của Mỹ và Neel Shihanm, đại diện UPI; đều chứng kiến tận mắt và xe của Đại tướng Hawkins Mỹ cũng tới chỗ hỏa thiêu này. Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Thích Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ Phật giáo. Tới cổng chùa ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự thiêu này.” [Nguồn: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-139_4-5393_5-50_6-1_17-46_14-1_15-1/ ]

(Ghi chú: Bài phỏng vấn nầy được thực hiện hơn 40 năm sau biến cố Tự thiêu nên có vài danh xưng TT Đức Nghiệp đã dùng không chính xác. Tuy nhiên, theo chúng tôi, những điểm quan trọng khác thì đều đáng tin vì ăn khớp với dữ kiện của các nhân chứng còn lại)

 

3.2 – Đại đức Thích Chơn Ngữ, người tưới xăng lên mình Ngài Quảng Đức, là nhân chứng thứ nhì: Đại đức Thích Chơn Ngữ, thế danh Huỳnh Văn Hải, vốn là đệ tử của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở chùa Tường Vân tại Huế. Đại đức người Huế, vào khoảng 30 tuổi vào năm 1963, người tương đối cao lớn nên được phân công đổ xăng lên thân thể Hoà thượng Quảng Đức. Vì tham gia vào vụ tự thiêu trong vai trò đó, ĐĐ Chơn Ngữ đã bị chính quyền Diệm bắt giam để khảo cung, và bị tra tấn tàn bạo làm hư hại bộ phận sinh dục không thể có con. Sau khi chế độ Diệm sụp đổ, ĐĐ Chơn Ngữ được một học bổng đi du học và tốt nghiệp Tiến sĩ đệ tam cấp (Docteur Troisième Cycle) tại Pháp. Cuối năm 1973 hay đầu năm 1974, ĐĐ về nước và dạy tại Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, sinh viên ghi danh theo học lớp của ĐĐ khá đông. Sau 1975, trong tình hình mới nhiều phức tạp, Đại đức cởi áo xuất tu, trở lại với thế danh Huỳnh Văn Hải. Rồi khoảng năm 1981, theo phong trào boat people, ông vượt biển đến Indonesia. Ông được nhập cư vào Mỹ, sống ở Los Angeles một thời gian và cuối cùng về định cư tại thành phố San Jose ở bang California. Hiện nay (2011), ông Huỳnh Văn Hải đã già yếu, gần 80 tuổi nên thị lực kém, và đang ở vùng Bay Area. Ông có một số bà con ở tại Orange County, miền nam California và ở Houston, tiểu bang Texas. Năm 1985, trả lời cho tạp chí Chấn Hưng do một số cư sĩ Phật giáo ở Los Angeles chủ trương, ông Huỳnh Văn Hải (nguyên là Đại đức Thích Chơn Ngữ), người vừa là nhân chứng vừa đóng vai trò quan trọng trong cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức, đã kể lại như sau: “… Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Diệm bất đắc dĩ phải tiếp phái đoàn Phật giáo gồm 5 vị: Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành Trụ, Tâm Châu và Đôn Hậu, nhưng ông Diệm đã không thực tâm giải quyết vấn đề. Do đó, ngày 16 lại có nhiều cuộc tuyệt thực khác và biểu tình rầm rộ trước Quốc Hội, nhưng chính quyền vẫn không đả động gì đến những yêu cầu của Phật giáo đồ… Bây giờ câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là việc tự thiêu, người hưởng ứng đầu tiên là Ngài Quảng Đức. … Lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, tôi dìu Ngài ra đến cổng chùa, thầy Đức Nghiệp mở cửa chiếc xe Austin đã đậu sẵn, mời Ngài lên. Xe gặp đường Phan Đình Phùng quẹo phía trái là đường Lê Văn Duyệt, tài xế dừng xe lại, xung quanh tôi các tăng ni đã đứng chật ních bao vây ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng. Tay trái tôi xách thùng xăng, tay mặt tôi dìu Ngài bước ra xe và mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay trái. Tôi cầm thùng xăng đáng lẽ tưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho tượng trong khi các tăng ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm: A Di Đà Phật. Tiếng niệm Phật rất não nùng thê thảm trong lúc ngọn lửa càng bốc cao, phủ kín cả người Ngài, nhưng Ngài vẫn ngồi vững như bàn thạch chấp hai tay trước ngực. Sau 7 phút toàn thân Ngài ngã xuống nhưng hai tay vẫn còn chắp trên ngực. Xung quanh các tăng ni vừa bái lạy vừa khóc, vừa niệm Phật, nhưng có một người vẫn đứng thẳng như một trụ đá, không khóc, nét mặt rất đau thương đến độ trông rất lạnh lùng, chấp hai tay nhìn thẳng vào thân xác cháy đen của Ngài Quảng Đức. Đó là Thượng Tọa Thích Tâm Châu mà nay là Hòa thượng tu hành tại nước Pháp. Ngài Quảng Đức đã hiến mình cho Đạo Pháp bằng cách an nhiên tọa thuyền trong biển lửa cao ngút. BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC đã tự đốt mình để bảo vệ Đạo Pháp lúc lâm nguy và để bảo vệ quyền Tự Do Tín Ngưỡng. Hành động can đảm và tuyệt vời này của Ngài đã làm cả thế giới khâm phục và đã thức tỉnh lương tri nhân loại rằng đàn áp, chém giết chỉ gieo rắc thêm hận thù. Bạo lực sẽ thất bại trước TỰ DO, CÔNG BẰNG, TÌNH THƯƠNG và lòng KHOAN DUNG. Trích từ “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” – Nguyệt san Chấn Hưng số 4, tháng 8 năm 1985, trang 2, 3 và 19. Los Angeles, Hoa Kỳ.” Lúc bấy giờ, nguyệt san Chấn Hưng chủ yếu được phổ biến trong các chùa và cộng đồng cư sĩ Phật giáo ở Mỹ. Và 24 năm trước đây, phần trích đoạn ở trên của bài viết “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” đã được cụ Hoành Linh Đỗ Mậu in lại trong tác phẩm “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Phụ Lục A, số thứ tự 27, trang 1083 và 1084, ấn bản 1987, và được tiếp tục duy trì trên các ấn bản tiếp theo, kể cả ấn bản điện tử 2007.

 Ấn bản 1987 của tác phẩm “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Phụ Lục A, số thứ tự 27, trang 1083 và 1084 [Nguồn: – http://www.sachhiem.net/HOANHLINH/VNMLphlucA.php ; – http://www.giaodiemonline.com/2008/vnmlqht/phuluca.htm và – http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article &id=5036:y-kien-nhan-si-ve-hoi-ky-do-mau&catid=2:khaocuu&Itemid=4 ] 3.3 – Nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Thông, nhân chứng thứ ba, người được một cơ quan Mỹ (cũng có người nói ông làm cho mật vụ của chính quyền Diệm) “thuê” chụp ảnh các cuộc biểu tình của Phật giáo tại Sài Gòn, và đã có mặt để ghi lại bằng ảnh cuộc Tự thiêu của Ngài Quảng Đức. Có ba người đã gặp ông Nguyễn Văn Thông để nghe ông kể lại chi tiết vụ tự thiêu năm 1963 của Ngài Quảng Đức: 3.3.1 “Hôm 30/5/2010, nhà nhiếp ảnh Duy Anh, phụ trách Cate Nhiếp ảnh (GoNews), đã đến thăm đồng nghiệp lão thành Nguyễn Văn Thông tại nhà riêng của ông ở Cư xá Đô thành, Quận 10, TP.HCM. Ông là tác giả bức ảnh Tự thiêu, đã đoạt Giải Ngân hài bạc Anh quốc, và Huy chương đồng Phần Lan 1964. (Ảnh: Cẩm An) Tác giả Nguyễn Văn Thông kể với GoNews: “Chiếc xe hơi dừng giữa đường, giả như hư máy, các tăng ni chặn kín các ngả đường… Sau khi người đẫm ướt xăng, Hòa thượng bật quẹt (đá lửa) do ướt xăng nên không cháy, nên ông nhận cái hộp quẹt khác rồi bật tiếp. Lửa cháy… Tôi chụp và khóc, tay run lên… vì thấy nhà sư cao cả quá! Sau đó, tôi phóng một tấm lớn 50x60cm tặng cho nhà chùa. Năm sau (1964), tôi mới gởi ảnh ấy đi dự thi…”. [Nguồn: Trần Kiên Cường – http://quocsam2009.blogspot.com/2011/06/anh-thoi-su-vi-ai-nhat-moi-thoi-ai.html#!/2011/06/anh-thoi-su-vi-ai-nhat-moi-thoi-ai.html ] Nhiếp ảnh gia Duy Anh và ông Nguyễn Văn Thông, ngồi bên phải. – Ảnh T1 chụp Ngài Quảng Đức lần tràng hạt và bắt đầu niệm: “Nam mô A Di Đà Phật” trước khi tự tay châm lửa. Mọi nguời chung quanh bắt đầu hoảng hốt. Khi ngọn lửa rừng rực bùng lên, Bồ tát Thích Quảng Đức vẫn tự tại ngồi kiết già, gương mặt không lộ chút đau đớn – ảnh T2 và T3 của Nguyễn Văn Thông. Ảnh được Giải Ngân hài bạc Anh quốc, Huy chương đồng Phần Lan 1964, Huy chương bạc Liên hoan ảnh nghệ thuật Hội Nhiếp ảnh TP.HCM 1990. 3.3.2 Một người thứ nhì cũng gặp ông Nguyễn Văn Thông sau nầy đã kể lại như sau: “Ở bên ngoài, chính ông Nguyễn Văn Thông, mật vụ theo dõi hoạt động đấu tranh của Phật giáo và chứng kiến từ đầu đến cuối vụ tự thiêu, cũng công khai bác bỏ sự xuyên tạc Bồ tát Thích Quảng Đức bị chích thuốc mê. Gần nửa thế kỷ trôi qua, ông vẫn xúc động khi nhớ lại: “Chúng tôi đã theo sát vụ tự thiêu này ngay từ đầu ở chùa Xá Lợi. Chính mắt tôi và các cảnh sát khác đều thấy ngài Thích Quảng Đức khoan thai bước xuống xe, quay mặt xá tứ phương, rồi ngồi kiết già trước khi chính tay mình châm lửa tự thiêu. Những hành động bình thản của một nhà tu hành thượng đẳng như vậy không thể là người bị thuốc mê. Còn các nhà sư khác chỉ đứng vòng quanh tụng kinh cho ngài và ngăn chặn cảnh sát. Không có bàn tay nào tác động, xâm phạm đến hành động tự thiêu của ngài”. Đặc biệt, khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, ông Thông đã đem những bức hình mình chụp cận cảnh Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu tặng Phật giáo Sài Gòn. Một loạt ảnh đầy đủ từ lúc lửa chưa bùng lên trên thân thể Bồ tát Thích Quảng Đức đến lúc ngài ngã xuống. Đến lúc đó người ta mới chính thức biết có một người Việt nữa đã chụp hình được sự kiện thiêng liêng này ngoài nhà báo Malcolm Browne. Và những tấm hình đó như một chứng nhân quan trọng cho hậu thế biết sự thật cuộc vị pháp thiêu thân!” [Nguồn: http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/57mothuyenthoai.html ] 3.3.3 Người thứ ba, ông Quốc Việt, cũng đã gặp nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Thông tại Sài Gòn và cho biết: “Kể lại cuộc tự thiêu này, nhân chứng phía bên kia là ông Nguyễn Văn Thông, mật vụ đặc trách theo dõi hoạt động Phật giáo thời đó, nhớ lại: “Tin tình báo gửi về cho biết sẽ có biểu tình lớn từ chùa Ấn Quang đến công trường Lam Sơn và sẽ có nhà sư mổ bụng. Sau này tôi mới biết đó là tin giả để đánh lạc hướng chuẩn bị trấn áp của cảnh sát”. Ông Thông kể sáng đó nhóm cảnh sát mật của mình gồm bốn người mặc thường phục đi trên một chiếc ô tô. Ông Thông phụ trách hình ảnh, một người viết báo cáo, người khác trực điện đài. Họ chuẩn bị bám theo các tăng ni đến công trường Lam Sơn (Nhà hát lớn TP ngày nay) và không biết gì về cuộc tự thiêu sắp diễn ra. Lúc đó, ông Thông còn là cộng tác viên của hãng Ảnh xã nên ngoài chiếc máy ảnh cảnh sát trang bị, ông luôn mang thêm chiếc máy ảnh riêng. Khi chiếc xe Austin chở Bồ tát Thích Quảng Đức từ chùa Ấn Quang dừng lại ở ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, tài xế bước xuống giả vờ sửa xe và nhóm cảnh sát chìm vẫn tưởng thật. Thậm chí khi Bồ tát Thích Quảng Đức bước xuống xe, ngồi kiết già trên đường, ông Thông vẫn không nghĩ ngài tự thiêu. Chỉ đến lúc thân ngài bốc cháy như ngọn đuốc ông Thông mới sững sờ. Theo phản xạ ông đưa máy ảnh lên chụp, nhưng tấm đầu tiên bị nhòe vì ông xúc động run tay. Đến tấm thứ hai ông lấy được nét. Đó cũng là tấm phim cuối cùng của chiếc máy ảnh riêng của ông. Ông liền sử dụng chiếc máy ảnh thứ hai được cảnh sát trang bị để chụp tiếp đến cảnh lửa tắt, bồ tát ngã xuống. Theo ông Thông, có ít nhất ba người chụp được hình tự thiêu xúc động này là nhà báo Malcome Browne của Hãng thông tấn AP, một nhà sư và ông. Tuy nhiên, sau đó chỉ có hình của Malcome Browne lan truyền ra thế giới. Còn ông Thông phải nộp ảnh cho nha cảnh sát và lặng lẽ giấu đi mấy tấm khác vì lúc đó ông vẫn còn là nhân viên chính quyền nhà Ngô. Năm nay đã 86 tuổi, ông Thông hồi tưởng chi tiết cuộc tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức: “Lửa bao trùm thân ngài nóng đến mức chiếc can để gần đó phải chảy ra, nhưng bồ tát vẫn tĩnh tại ngồi thiền, thản nhiên đón nhận cái chết. Đặc biệt, khi lửa gần tàn, thân đã cháy đen nhưng ngài vẫn gật đầu về hướng tây mấy lần như lạy Phật rồi mới bật ngửa ra chứ không ngã sấp xuống. Xe cứu hỏa, cảnh sát đổ đến. Các nhà sư nằm chặn trước bánh xe, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ cuộc vị pháp thiêu thân. Nhiều nhân vật chủ chốt của ngành cảnh sát chế độ Sài Gòn bấy giờ cũng có mặt nhưng chỉ đứng nhìn, không thể phản ứng được gì trước ngọn lửa chính nghĩa…”. [Nguồn: http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/57mothuyenthoai.html#Kỳ_3:_Vị_pháp_thiêu_thân_]

Cố vấn Lý Quang Diệu: Chỉ có Mỹ mới kiềm chế được Trung Quốc

Cố vấn Lý Quang Diệu: Chỉ có Mỹ mới kiềm chế được Trung Quốc

Thực lực kinh tế và quân sự đang ngày càng gia tăng của Trung Quốc là mối lo ngại của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước láng giềng. Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu cho rằng chỉ có Mỹ mới kiềm chế nổi Trung Quốc ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

 


Hải quân Trung Quốc diễu võ dương oai

Trong cuộc hội thảo “Tương lai của Châu Á” tổ chức cuối tháng 5/2011 tại Tokyo với sự tham dự của đông đảo lãnh đạo và chính khách các nước, Cố vấn cao cấp Lý Quang Diệu nói: “Hiện nay thế lực của Trung Quốc đang tăng lên, làm các nước khu vực tỏ ra lo ngại. Nếu cộng Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, thậm chí cộng thêm cả Đài Loan và Ấn Độ cũng không đủ sức đối phó với Trung Quốc. Trung Quốc hiện quá lớn, nên chỉ có Mỹ với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến và tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh mẽ mới có thể kiềm chế được Trung Quốc”.

Các nước láng giềng – kể cả Nhật Bản và Nga – đều lo ngại về tình trạng ngày càng bành trướng của Trung Quốc. Một khi thực lực kinh tế quân sự của Trung Quốc ngày càng tăng lên, việc bành trướng ra ngoài là không thể tránh khỏi vì Trung Quốc muốn có một lực lượng hải, lục, không quân lớn mạnh tương xứng với thực lực kinh tế. Tuy nhiên, ông Lý Quang Diệu cũng cho rằng trong tương lai khá dài, Trung Quốc chưa đủ thực lực thách thức Mỹ cả về kinh tế lẫn quân sự và khoa học kỹ thuật. Vì vậy, Mỹ là nước duy nhất có khả năng kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc. Bởi vậy sự hiện diện của Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là vấn đề nhạy cảm và vô cùng quan trọng.

Tờ “Thời báo Eo biển” của Singapore ngày 14/7 đưa tin trong cuộc hội thảo quốc tế mang tên “Diễn đàn toàn cầu đánh giá Trung Quốc” tổ chức tại Singapore, Cựu Thủ tướng hiện là Cố vấn cấp cao Singapore Lý Quang Diệu nói: “Nếu giữ được ổn  định trong nước, Trung Quốc có thể duy trì mức tăng trưởng bình quân từ 9% tới 11%/năm. Như vậy, trong 10 năm tới, GDP của Trung Quốc có thể đuổi kịp Mỹ và trong vòng 20 năm tới có thể vượt Mỹ. Sự phát triển mạnh mẽ này của Trung Quốc khó có thể ngăn cản, ngay cả Mỹ”.

Tuy nhiên, ông Lý Quang Diệu cho rằng mặc dù GDP rất lớn, nhưng do Trung Quốc có tới 1,3 tỉ dân, nên GDP bình quân đầu người vẫn rất thấp. Hơn nữa, mô thức lãnh đạo của Trung Quốc cần phải thay đổi để thích ứng với thời đại. Ông Lý nói so với Trung Quốc, ngoài những ưu thế về kinh tế, quân sự, văn hóa và khoa học kỹ thuật, người Mỹ có ngôn ngữ thông dụng là  tiếng Anh và có khả năng thu hút rất nhiều nhân tài trên thế giới. Mặc dù người Hoa chiếm tới 80% dân số Singapore, nhưng giá như trước đây  chọn Hán ngữ mà không chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức, thì Singapore đã không thể phát triển được như ngày nay.

Với tiêu đề “Thuyết về mối đe dọa của Trung Quốc trong dân chúng Nga đang ngày càng phổ biến”, tờ “Thời báo Hoàn cầu” của Trung Quốc ngày 16/7 đưa tin Cơ quan “Quỹ dư luận xã hội” của Nga thường tổ chức thăm dò dư luận xã hội trong dân chúng về chủ đề “Những nước đang đe dọa Liên bang Nga”. Kết quả thăm dò dư luận năm 2000 cho thấy 21% người được hỏi cho là Mỹ, xếp thứ nhất. Tiếp đó là Afghanistan với 13%, thứ ba là Trung Quốc với 8%.

Nhưng kết quả công bố ngày 15/7/2011 cho thấy 26% người được hỏi cho rằng “Mỹ là nước đe dọa chủ yếu từ bên ngoài”;  13% người được hỏi cho rằng “Trung Quốc là nước đe dọa trực tiếp chủ yếu” đối với nước Nga và sau đó là Grudia 5%.

Trả lời phỏng vấn báo “Russian News”, Tổng biên tập tạp chí “Nước Nga trong chính trị toàn cầu” Lukoyannov ngày 15/7 cho rằng sở dĩ có sự thay đổi lớn về “Trung Quốc là mối đe dọa chủ yếu trực tiếp” đối với Nga là do:
Một là,  thực lực tổng thể, nhất là thực lực quân sự đang tăng lên, Trung Quốc đã trở thành mối đe dọa đối với Nga,  nhất là đối với vùng Viễn Đông. Người dân vùng Viễn Đông của Nga cho rằng Trung Quốc hùng mạnh đang là mối đe dọa đối với an ninh và chủ quyền lãnh thổ của Nga.

Hai là người dân Nga đã chứng kiến những biểu hiện và hành vi của Trung Quốc thời gian qua đối với các nước láng giềng xung quanh. Bởi vậy, người Nga cũng lo ngại về mối đe dọa đến từ Trung Quốc.

Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=280054#ixzz1cqFFqd42
http://www.xaluan.com/

Post Navigation