Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “Tiểu Sử”

BA CÂU CHUYỆN VỀ TRIẾT LÝ SỐNG CỦA STEVE JOBS (*) – Khải Thiên

BA CÂU CHUYỆN VỀ TRIẾT LÝ SỐNG CỦA STEVE JOBS (*)
Khải Thiên (Thích Tâm Thiện)

LTS. Steve Jobs được thế giới ca ngợi là thiên tài kỹ thuật, nhà phát minh vĩ đại, một doanh nhân tài ba… Ẩn dưới những bề nổi đó, Steve Jobs là một Phật tử, thực hành thiền định từ thuở thanh niên. Là người sở hữu tài sản rất lớn, nhưng ông luôn sống đơn giản, thiểu dục tri túc, ăn chay. Steve Jobs từng bộc bạch: “Tâm vắng lặng là chìa khóa của mọi sáng tạo”. Ngày Steve Jobs tạm biệt thế giới này, cả thế giới thương tiếc ông, dành những lời tốt đẹp nhất để nói về Steve Jobs.

Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam, 13-10, Câu chuyện trong tuần kỳ này dành nói về những triết lý sống đã hướng đạo cuộc đời Steve Jobs. GN trân trọng giới thiệu cùng độc giả bài viết của thầy Khải Thiên (Thích Tâm Thiện), sáng lập tu viện Cát Trắng và Cát Sơn, Florida, Hoa Kỳ.

 

Cuộc đời Steve Jobs – sống vì cái đẹp, vì tình yêu và vì lý tưởng

Người viết bài này chẳng liên hệ gì với Steve Jobs trong mọi lĩnh vực. Mối liên hệ duy nhất với ông ta đơn giản chỉ là một chiếc máy tính Macbook Air mới vừa mua chưa đầy vài tháng… Bao nhiêu niềm vui vì tiện ích kỳ vĩ của chiếc máy tính này trong thoáng chốc đã nhuốm màu u buồn khi hay tin người sáng tạo ra nó đã vĩnh viễn ra đi! 

Càng ngậm ngùi hơn khi biết rằng người ấy đã nói về sự ra đi của mình 5 năm trước qua bài thuyết trình nhân lễ tốt nghiệp tại một đại học danh giá bậc nhất thế giới, Stanford University, cũng là nơi tràn đầy kỷ niệm của tác giả. Bài viết như một lời tri ân… không phải vì tôn vinh sự lên ngôi của những chiếc máy tính cực mỏng, iPad, iPhone… mà vì xúc động trước bức thông điệp về triết lý sống “rất Phật” đến bất ngờ của người sáng lập Apple. 

Thông điệp ấy đang truyền cảm hứng về một đời sống với lý tưởng cao đẹp đến khắp hành tinh này, nhất là đối với các bạn thanh thiếu niên, những người vốn đang sống vì cái đẹp, vì tình yêu, và vì lý tưởng. Dưới đây là ba câu chuyện và triết lý sống của Steve Jobs đã truyền đạt cho các bạn trẻ tại Đại học Stanford, Polo Alto.

Định nghiệp như những dấu chấm…

Câu chuyện đầu tiên mà Steve Jobs giới thiệu trong diễn văn của mình đó là việc bỏ học nửa chừng của ông ta. Nghe rất cảm động. Ông ta bỏ học không phải vì lười biếng mà vì cảm thấy buồn và xấu hổ khi phải tiêu quá nhiều tiền để dành cả đời của bố mẹ nuôi trong khi bản thân ông lại không thực sự cảm nhận được những điều mà ông cho là có giá trị thật sự. Ông đã quyết định từ giã ngôi trường chỉ sau sáu tháng theo học. Tuy nhiên, môn học viết chữ đẹp (calligraphy) đã lôi kéo sự quan tâm của ông. Ông đã theo học những lớp thư pháp mà ông không hề nghĩ rằng sau này ông đã áp dụng chúng vào trong các mẫu thiết kế của Apple.

Trong thời điểm của những quyết định khó khăn ở tuổi học sinh, Steve Jobs đã chọn lòng hiếu kính với cha mẹ và yêu thích cái đẹp làm động lực dắt dẫn cuộc sống của mình. Nhìn lại những kinh nghiệm thời thơ ấu, Steve Jobs đã khuyên các bạn trẻ trong lễ tốt nghiệp của họ rằng, “… Bạn không thể nối kết những dấu chấm khi nhìn về phía trước; bạn chỉ có thể nối kết chúng khi nhìn lại đằng sau. Cho nên bạn phải tin tưởng rằng những dấu chấm đó thế nào rồi cũng sẽ nối kết với tương lai của bạn bằng cách này hay cách khác. Bạn hãy tin tưởng vào điều gì đó ở chính mình: bản năng, định mệnh, cuộc sống, nghiệp lực, vân vân. Lối tiếp cận này chưa bao giờ làm cho tôi thất vọng, và nó đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của tôi”. (… You can’t connect the dots looking forward; you can only connect them looking backwards. So you have to trust that the dots will somehow connect in your future. You have to trust in something – your gut, destiny, life, karma, whatever. This approach has never let me down, and it has made all the difference in my life).

Mười năm sau, khi hồi tưởng lại, Steve Jobs đã nhận ra rằng sự thành công của ông được quyết định bởi những yếu tố quan trọng đó là: ông đã nhìn đời bằng chính đôi mắt của mình; ông đã nói với đời bằng chính tiếng nói từ nội tâm của mình, và ông đã sống giữa đời bằng tình yêu cái đẹp sâu thẳm đến từ trái tim của chính mình. Bạn thử nghĩ đến một chàng thanh niên vừa từ bỏ một con đường đại học danh giá và tham dự vào những lớp học viết chữ đẹp nghe có vẻ viển vông và rõ ràng chẳng thực tế chút nào! Nhưng Chính Steve Jobs, khi nhìn lại, đã khẳng định, “Nó thật là đẹp, thật kỳ vĩ, và tinh tế một cách điệu nghệ trong một cách thức mà khoa học không làm sao nắm bắt được, và tôi đã thấy nó quả thực là quyến rũ. 

Tuy nhiên, những điều này thậm chí không hề có chút hy vọng nào đến những ứng dụng thực tế trong đời sống của tôi. Nhưng mười năm sau, khi chúng tôi thiết kế chiếc máy tính Macintosh đầu tiên, tất cả đã trở lại với tôi”. (It was beautiful, historical, artistically subtle in a way that science can’t capture, and I found it fascinating. None of this had even a hope of any practical application in my life. But ten years later, when we were designing the first Macintosh computer, it all came back to me.)

Thật vậy, tâm sự của ông là những kinh nghiệm sống quý giá vô bờ. Câu chuyện đầu tiên mà Steve Jobs đã chia sẻ với chúng ta đó chính là những lời khuyên chân tình cho những ai đang bước vào ngưỡng của của cuộc đời: Hãy để tâm chiêm ngưỡng cái đẹp, dù rất bình thường, ngay cả trong tình huống tồi tệ nhất, vì chính nó sẽ đem lại sự tươi mát để nuôi dưỡng cuộc sống. Và hãy để lòng hiếu kính với cha mẹ, sự quan tâm đến nỗi khó nhọc của những người chung quanh, và lòng yêu thích cái đẹp dắt dẫn bạn trước những quyết định khó khăn nhất. Rõ ràng, đây là một quan điểm, một thái độ sống rất vị tha bên cạnh tình yêu tha thiết đối với cái đẹp.

 

Steve Jobs thực tập thiền từ thuở thanh niên, ở độ tuổi thường
chẳng mấy ai quan tâm tới vấn đề sinh, lão, bệnh, tử…

Nhẹ nhàng trong sự thành, bại…

Câu chuyện thứ hai cũng thật là cảm động. Nó nói rõ về ý nghĩa của tình yêu và sự mất mát. Trong căn nhà đậu xe của bố mẹ nuôi, Steve Jobs và người bạn đã lần đầu tiên thành lập Hãng Apple. Lúc ấy ông chỉ vừa 20 tuổi. Đến 10 năm sau, Công ty Apple trong căn nhà để xe của ông đã phát triển thành một đại công ty với tổng trị giá hai tỷ đô la và hơn 4.000 nhân viên làm việc. Nhưng rồi, trong lúc đang ở đỉnh cao của sự thành đạt, lúc ông vừa 30 tuổi, ông đã bị buộc thôi việc vì bất đồng quan điểm về tầm nhìn tương lai với người mà ông đã thuê làm điều hành. Ông phải ra đi vì toàn ban điều hành đứng về phía người ấy. 

Ông đã thực sự đau khổ vì thất bại này. Nhưng từ trong đáy thẳm của con tim, ông ta đã nhận ra một phép lạ, đấy là, ông vẫn chưa mất tình yêu đối với công việc của mình. Thế là ông đã khởi sự thành lập một công ty mới là NeXT và tiếp sau đó là Công ty Pixar gắn liền với người phụ nữ, mà sau này trở thành vợ của ông. Điều kỳ thú là chẳng bao lâu sau sự thành đạt của NeXT, chính Apple đã mua lại Công ty NeXT, một công ty đã tạo ra những sản phẩm then chốt cho sự phục hưng của Apple như hiện nay. Thế là Steve Jobs đã trở lại với Apple.

Về sau ông đã phát biểu rằng, “Bị thôi việc ở một công ty do chính mình sáng lập quả là điều tốt đẹp nhất đã đến với tôi. Cái nặng nhọc của thành công được thay thế bằng cái nhẹ nhàng trong trạng thái của người mới khởi sự, ít có bám chắc vào bất cứ cái gì. Nó đã cởi trói cho tôi đi vào một giai đoạn sáng tạo nhất của cuộc đời”. (… Getting fired from Apple was the best thing that could have ever happened to me. The heaviness of being successful was replaced by the lightness of being a beginner again, less sure about everything. It freed me to enter one of the most creative periods of my life).

Những gì Steve Jobs nói quả thật là chẳng khác gì giọng điệu của một thiền sư chính thống. Vâng, ông đã nói với chúng ta bằng sự kiện, chứ không phải bằng ngôn ngữ rằng: thất bại không phải là điều đáng sợ mà đánh mất tình yêu vào cuộc sống mới là điều đáng sợ! Trong những lúc thất bại và não nề như thế, ông đã bám lấy tình yêu vào công việc thay vì sống với phiền muộn khổ đau hay tự đồng hóa mình với những cảm giác buồn vui, thương ghét… Là một người Phật tử, Steve Jobs đã rất tinh tế khi sống lời Đức Phật dạy bằng cách cố vượt ra khỏi sự bức bách của tám nhân duyên ám ảnh trần thế – được, mất vui, buồn, khen chê, danh vọng và không danh vọng – để khơi dậy tình yêu và lý tưởng của mình. (Xem Kinh Anguttara Nikaya AN 8.6). 

Nếu bạn cứ tiếp tục chạy theo tám nhân duyên này, cho dù bạn được phép sống thêm một trăm năm nữa thì bạn vẫn mải miết trong phập phồng, đau khổ. Vì chân lý của cuộc sống là sự thay đổi không ngừng. Chỉ có cách, hãy tự mình vượt lên trên các nhân duyên đối đãi này và an trú sâu xa trong tĩnh lặng, bạn mới có thể sáng tạo và làm mới cuộc sống của chính mình. Sống như Steve Jobs, tĩnh tâm trước thành hay bại, chắc chắn bạn sẽ được an bình, hạnh phúc.

 

Những thông điệp trong bài nói chuyện của Steve Jobs tại ĐH Standford
đã thực sự chạm vào trái tim của nhiều người, những triết lý sống “rất Phật”

Quán niệm về vô thường (sự chết) để sống tốt đẹp hơn…

Câu chuyện thứ ba đã khép lại cuộc đời trần thế của Steve Jobs. Và lạ lùng thay, đây lại là một bài giảng về vô thường, về cái chết cho hàng ngàn sinh viên trong ngày lễ ra trường tại Đại học Stanford. Tất nhiên bài thuyết trình trong một bối cảnh quan trọng như thế được phô diễn trên văn bản với một quan điểm sống rõ ràng chứ không phải là một cảm hứng ngẫu nhiên. Steve Jobs đã giảng về vô thường như thế nào?

Ông bắt đầu câu chuyện: “Mỗi buổi sáng khi soi gương tôi đều hỏi chính tôi rằng “Nếu như hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, thì tôi có muốn làm những gì mà tôi sắp sửa làm hay không?”. Nếu như câu trả lời là ‘Không’ suốt nhiều ngày như vậy, thì tôi biết rằng tôi phải thay đổi một điều gì đó”. (I have looked in the mirror every morning and asked myself: “If today were the last day of my life, would I want to do what I am about to do today?”. And whenever the answer has been “No” for too many days in a row, I know I need to change something). 

Một lối sống cẩn thận và có ý thức từng ngày, từng giờ như thế xuất phát từ căn bệnh ung thư tụy tạng (lá lách) mà ông đang cưu mang. Chính căn bệnh của ông cũng đã giúp ông phần nào tỏ ngộ chân lý vô thường. Nhưng căn bệnh đó không giúp ông tìm đến Phật giáo. Vì Steve Jobs đã đến với Phật giáo ở ngay vào độ tuổi thanh xuân, ở một lứa tuổi mà hầu như chẳng ai bận tâm đến chuyện sinh lão bệnh tử.

Mặc dù phải đối diện với bệnh tật nhưng tâm ông đã không hề chùng xuống mà trái lại nó lại sáng suốt và mạnh mẽ hơn bao giờ. Ông nhấn mạnh: “Quán niệm rằng nay mai tôi sẽ chết là một công cụ quan trọng nhất mà tôi đã đương đầu để có thể giúp tôi quyết định những lựa chọn lớn lao. Bởi vì hầu như tất cả mọi thứ – lòng mong đợi từ bên ngoài, niềm kiêu hãnh, nỗi sợ hãi về sự thất bại hay bẽ bàng – những điều này sẽ bị rơi rụng trước cái chết, chỉ còn lại những gì thật sự quan trọng. 

Ghi nhớ rằng bạn sẽ phải chết là cách tốt nhất mà tôi biết để có thể tránh được cạm bẫy của ý tưởng rằng bạn có cái gì đó để mất!” (Remembering that I’ll be dead soon is the most important tool I’ve ever encountered to help me make the big choices in life. Because almost everything – all external expectations, all pride, all fear of embarrassment or failure – these things just fall away in the face of death, leaving only what is truly important. Remembering that you are going to die is the best way I know to avoid the trap of thinking you have something to lose).

Dường như Steve Jobs đã rất tâm đắc pháp môn quán niệm về sự chết. Một trong những pháp môn quán niệm mà Đức Phật đã giảng dạy trong mười pháp tùy niệm đó chính là niệm Chết (niệm diệt). Câu chuyện của Steve Jobs dường như vô tình cũng đã mang theo bóng dáng của cô bé quay tơ 16 tuổi, cư dân làng Alavi, được ghi lại trong chuyện tích Kinh Pháp Cú. Cô bé làm nghề quay tơ cũng đã thành tựu về mặt tâm linh nhờ vào pháp niệm này; và cũng đã từ giã thế giới rất sớm…

 

Quán niệm về cái chết để sống tốt đẹp hơn…

Thế nhưng có lẽ Steve Jobs đã cảm nhận về một dự báo rất gần khi ông ta phát biểu bằng một ngôn ngữ bộc trực và mãnh liệt rằng, “Không ai muốn chết cả. Thậm chí người muốn lên thiên đàng cũng không muốn chết để đến đó. Tuy nhiên, chết là điểm đến chung cho tất cả chúng ta. Chưa bao giờ có ai trốn thoát nó được. Và rằng, rất có thể Chết là một tạo phẩm tốt đẹp của đời sống. Nó là điểm thay đổi cuộc sống. Nó dọn sạch cái cũ và mở đường cho cái mới. Ngay bây giờ, cái mới là bạn, nhưng rồi ngày nào đó, không mấy lâu đâu, bạn sẽ từ từ trở thành cái cũ, và sẽ bị dọn sạch. Xin lỗi, vấn đề trở nên quá bi thương, nhưng nó là sự thật”. (No one wants to die. Even people who want to go to heaven don’t want to die to get there. And yet death is the destination we all share. No one has ever escaped it. And that is as it should be, because Death is very likely the single best invention of Life. It is Life’s change agent. It clears out the old to make way for the new. Right now the new is you, but someday not too long from now, you will gradually become the old and be cleared away. Sorry to be so dramatic, but it is quite true).

Lối chỉ thẳng vào sự thật của cuộc sống biến chuyển vô thường rõ ràng nghe có vẻ ảm đạm và u buồn thật đấy! Nhưng đó không phải là một quan điểm bi quan mà là sự thật cho dù bạn muốn nói ra hay là không. Nên nhớ rằng, quán niệm về chết không phải để chết; quán niệm về chết là để sống tốt đẹp hơn và làm cho chính cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn trong mọi lĩnh vực và giá trị của nó. 

Điều này được khẳng định khi Steve Jobs đánh giá về kẻ đồng hành của mình: “Vấn đề duy nhất của Hãng Microsoft là họ không có cái cảm thức thẩm mỹ. Họ tuyệt nhiên không có cảm thức thẩm mỹ. Tôi không nói điều đó theo lối hẹp, mà tôi nói điều đó trong một phương diện lớn lao, trong ý thức rằng họ không nghĩ đến những ý niệm ban sơ, và họ không đem nhiều yếu tố văn hóa vào trong những sản phẩm của họ”. (“The only problem with Microsoft is they just have no taste. They have absolutely no taste. And I don’t mean that in a small way, I mean that in a big way, in the sense that they don’t think of original ideas, and they don’t bring much culture into their products.”-PBS Documentary, Triumph of the Nerds, 1996). Lời bình phẩm này cho thấy Steve Jobs quan tâm đến đời sống thẩm mỹ như thế nào và dĩ nhiên nó cũng lôi kéo chúng ta về với triết lý của những dấu chấm và nét chữ đẹp mà ông đã kể với chúng ta trong câu chuyện ban đầu.

Quán niệm về Chết theo tinh thần Phật giáo mà Steve ứng dụng vào đời sống của mình hẳn không hề mang dấu ấn bi quan nào hết. Trái lại, nó mở ra một con đường thênh thang với biết bao cơ hội chuyển hóa và thăng tiến theo giấc mơ lý tưởng của mình, bỏ lại đằng sau tất cả những vướng bận vào được mất, hơn thua cho cuộc sống nhị nguyên. Vâng, đấy chính là sức công phá vĩ đại của một tâm thức đã vượt lên trên thế giới vô thường vì đã “tỏ ngộ” về vô thường. Hẳn bạn không cần phải chờ cho tới khi già chết rồi mới hiểu được những giá trị chân thật của cuộc đời! 

Chỉ một phút tĩnh tâm với một trang kinh, Steve Jobs đã hiểu được những giá trị thực thụ khi quán niệm về chết. Từ đó, ông đã ra sức sống hết mình với những gì tốt đẹp nhất và đeo đuổi mục tiêu của mình cho tới cùng. Động lực của của sự đeo đuổi này, dĩ nhiên, không phải vì hơn thua mà chính vì tấm lòng trân trọng cuộc sống, trân trọng những giá trị chân thật, và trân trọng cái “Mỹ” bên cạnh cái Chân và cái Thiện.

Có lẽ, bạn sẽ thấm thía hơn khi nghe Steve Jobs nói về cội nguồn hạnh phúc thật sự của đời mình trong mối tơ duyên nhọc nhằn của sống và chết: “Làm người giàu có nhất nằm trong nghĩa địa đối với tôi không thành vấn đề… Mỗi đêm khi đi ngủ và nói với mình rằng chúng ta đã làm điều gì đó thật là tuyệt vời… đó mới là vấn đề quan trọng với tôi. (Being the richest man in the cemetery doesn’t matter to me… Going to bed at night saying we’ve done something wonderful… that’s what matters to me) – The Wall Street Journal, 1993.

Xin tạm biệt một tâm hồn tràn ngập yêu thương!

Khải Thiên (Mùa Thu 2011)

(*) Bài cảm niệm được viết bởi cảm xúc của tác giả nhân đọc bài phát biểu của Steve Jobs được đăng trên trang web của ABC News, tháng 10, ngày 08, 2011.

Link: http://abcnews.go.com/blogs/technology/2011/10/steve-jobs-talked-about-death-in-2005-stanford-commencement-speech-2/

 

(Nguồn: http://www.giacngo.vn/vanhoa/phatgiao/2011/10/17/7F6642/
Bài liên quan đến chủ đề:
SỐNG NHƯ THẾ NÀO TRƯỚC KHI BẠN CHẾT – Steve Jobs
THIÊN TÀI KỸ THUẬT STEVE JOBS TỪ TRẦN – Jobs khai sinh Apple I & II, iPod, iPhone, iPad… Tu pháp Thiền Tào Động, giữ tâm vắng lặng…

http://news.stanford.edu/news/2005/june15/jobs-061505.html English version
http://www.youtube.com/watch?v=UF8uR6Z6KLc Youtube Video

Advertisements

Tự truyện Steve Jobs chính thức phát hành

Thứ Ba, 25/10/2011 – 00:36

Tự truyện Steve Jobs chính thức phát hành

(Dân trí) – Cuốn tự truyện chính thức của Steve Jobs cuối cùng cũng đã được xuất hiện vào ngày hôm nay (giờ Việt Nam), bao gồm cả phiên bản sách giấy và sách điện tử. Sách được xuất bản đồng thời tại nhiều quốc gia với nhiều ngôn ngữ khác nhau.

Cuốn sách với tiêu đề đơn giản chỉ “Steve Jobs”, dày 656 trang, được viết bởi nhà văn bổi tiếng Walter Isaacson, người đã mất 2 năm để phỏng vấn Steve Jobs, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… của nhà đồng sáng lập Apple này. Trong 2 năm, Isaacson đã thực hiện hơn 40 cuộc phỏng vấn Steve Jobs để phục vụ cho cuốn sách và hàng trăm cuộc phỏng vấn với những người khác xung quanh cuộc đời và công việc của Jobs.

 

 

Bìa cuốn tự truyện của Steve Jobs

 

Dự kiến ban đầu, cuốn sách sẽ được xuất bản vào năm sau, tuy nhiên sau sự ra đi đột ngột của Steve Jobs vào ngày 5/10 vừa qua, cuốn sách đã phải gấp rút thời gian hoàn thiện. 

 

 

Một gian hàng riêng dùng để bán tự truyện của Steve Jobs

 

Hình ảnh Steve Jobs còn nhỏ và người cha nuôi của mình được đăng trong cuốn tự truyện

 

Phiên bản điện tử của cuốn tự truyện được bán tại các hiệu sách với giá 16,99 USD, trong khi phiên bản âm thanh của cuốn sách có giá 29,95USD trên iTunes và giá 17,99USD trên Amazon.com. 

 

Độc giả xếp hàng chờ mua tự truyện Steve Jobs

 

Cuốn sách cũng đồng thời phân phối tại nhiều nước trên thế giới với nhiều ngôn ngữ khác nhau. 

 

Tại Trung Quốc, phiên bản tiếng Trung của cuốn tự truyện này được bày bán rộng rãi tại 20 tỉnh thành khác nhau. 

Sự kiện ra mắt cuốn sách tự truyện tại Trung Quốc đồng thời với nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thu hút rất đông người hâm mộ xếp hàng tại các cửa hàng sách. Các gian hàng đặc biệt đã được dựng lên chỉ để bày bán cuốn tự truyện này.

 

Liu Jianle, một người đã đứng xếp hàng suốt 40 phút để chờ mua cuốn sách cho biết anh muốn mua cuốn tự truyện này vì anh tôn thờ người doanh nhân nổi tiếng: “Tôi nghĩ ông ấy là một thiên tài. Ông đã làm thay đổi sâu sắc thế giới cũng như đóng góp to lớn cho ngành công nghiệp điện tử”

 

Trong khi đó, Wang Xiaochuan, một lập trình viên cho biết đã đặt mua đến 500 cuốn sách về Steve Jobs để gửi tặng những người bạn đồng nghiệp tại công ty tin học của mình và hy vọng họ sẽ học được từ đó.

 

Phần lớn độc giả Trung Quốc muốn biết cách thức mà Jobs đẫ điều hành Apple cũng như những ngày cuối cùng của Steve Jobs. 

 

 

Bảng quảng cáo cuốn tự truyện của Steve Jobs

 

Wei Qun, một trong 3 dịch giả đã trải qua 1 tháng liên tục để dịch cuốn tự truyện cho biết: “Tôi chọn để dịch cuốn tự truyện của Steve Jobs thay vì những nhân vật nổi tiếng khác là vì ông ấy là một thiên tài được yêu quý, người đã tạo nên những sản phẩm chạm đến tâm hồn của nhiều người”.

 

Tại nhiều quốc gia khác, phần lớn người dùng đặt mua cuốn tự truyện của Steve Jobs bằng phiên bản điện tử qua phân phối của iTunes (phiên bản dành cho iPhone, iPod và iPad) hoặc thông qua Amazon (dành cho Kindle).

 

Ngân Hà

Tổng hợp

http://dantri.com.vn/c119/s119-530924/tu-truyen-steve-obs-chinh-thuc-phat-hanh.htm

THIÊN TÀI KỸ THUẬT STEVE JOBS TỪ TRẦN

THIÊN TÀI KỸ THUẬT STEVE JOBS TỪ TRẦN – Jobs khai sinh Apple I & II, iPod, iPhone, iPad… Tu pháp Thiền Tào Động, giữ tâm vắng lặng…

(10/05/2011 05:54 PM) (Xem: 895)

Tác giả : Nguyên Giác

 

THIÊN TÀI KỸ THUẬT STEVE JOBS TỪ TRẦN
Jobs khai sinh Apple I & II, iPod, iPhone, iPad… Tu pháp Thiền Tào Động, giữ tâm vắng lặng…


CUPERTINO, Calif.(VB) — Steve Jobs, thiên tài trong ngành kỹ thuật cao và là một trong những người thúc đẩy cuộc cách mạng tin học, đã từ trần hôm Thứ Tư 5-10-2011. Ông mới 56 tuổi.

Steve Jobs là đồng sáng lập công ty Apple từ một nhà để xe ở Thung Lũng Điện Tử Bắc Calif., xây dựng thành công ty kỹ thuật cao nổi tiếng hàng đầu, đã chết sau nhiều năm bị ung thư tuyến tụy tạng.
Tên của Steve Jobs đã gắn liền với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, trong đó nổi bật là máy điện toán Apple I (năm 1976), Apple II (năm 1977), máy nghe nhạc iPod (năm 2001), dịch vụ nhạc iTunes (2003), điện thoại iPhone (2007), cửa tiệm nhu liệu ứng dụng App Store (2008) và máy tính bảng iPad (2010).

Đã có nhiều nhà bình luận ca ngợi Steve Jobs là người biến đổi kỹ nghệ điện toán bằng các phát minh có thể gọi là một nghệ sĩ  thiên tài Leonardo Da Vinci thời hiện đại.

Joe Nocera, nhà bình luận của báo New York Times, viết hồi tháng 8-2011, “Steve Jobs là một trong những nhà phát minh vĩ đaị trong lịch sử chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trực giác của ông đã hiển lộ nét vĩ đại qua nhiều năm.”
Sinh ngày 24-2-1955, vì ba mẹ ông chưa cưới nhau và vì mối tình của ba mẹ không được bên gia đình mẹ chấp nhận — ba ông là người Syria, sinh viên du học tại Hoa Kỳ — nên Steve Jobs được cho làm con nuôi. Ông trưởng thành ở Cupertino, Bắc Calif., nơi trở thành bản doanh của hãng Apple, và có năng khiếu điện tử từ thời trẻ.

Steve Jobs học đại học Reed College ở Oregon và bỏ ngang, rồi theo học thư pháp, một ngành nghệ thuật mà ông sau này nói là ảnh hưởng tới nét thẩm mỹ trên các fonts chữ của máy Apple.
 Vào cuối thập niên 2000s, Steve Jobs đã lèo lái công ty Apple tới đỉnh cao nhất của thành công về kỹ thuật điện tử: có 300 tiệm bán lẻ ở 11 quốc gia, đã bán hơn 275 triệu máy nghe nhạc iPods, 100 triệu điện thoại iPhones, và 25 triệu máy tính bảng iPads toàn cầu.
Steve Jobs có tài sản 8.3 tỉ đôla, vợ là Laurene Powell và các con là Reed Paul, Erin Sienna và Eve, cùng một con gái là Lisa Brennan-Jobs từ một bạn tình đời trước.

Steve Jobs nổi tiếng là người đam mê, từng nói trong bài diễn văn 2005 trước các sinh viên tốt nghiệp ở đạị học Stanford, “Việc làm của các bạn sẽ làm đầy một phần lớn đời các bạn, và cách duy nhất để hài lòng chân thật là hãy làm những gì các bạn tin là việc làm lớn lao.”

Steve Jobs cũng là một trong những Phật Tử nổi tiếng nhất của thế giới, tuy rằng ông không nói nhiều về việc lựa chọn tôn giáo: bản thân là Phật Tử thuộc phái Thiền Tào Động Nhật Bản (Soto Zen) và là người ăn chay.

Tạp chí Forbes buổi chiều Thứ Tư 5-10-2011 đã đăng 4 trang truyện bằng tranh của họa sĩ JESS3, trích từ truyện bằng tranh có tên là “The Zen of Steve Jobs” (Thiền của Steve Jobs).

Phần 4 trang này là nói về năm 1986, sau khi Jobs bị hội đồng quản trị đẩy ra khỏi công ty Apple và bắt đầu khởi sự lập công ty điện toán NeXT.

Bốn trang trên Forbes mô tả hình ảnh Steve Jobes nói chuyện, học đạo với Thiền sư Nhật Bản Kobun Chino Otogawa, người ông xem là bạn và là thầy hướng dẫn.

Bốn trang này kể chuyện Steve Jobs lên thiền viện Tassajara Zen Mountain Center ở California để hỏi đạo. Lúc đó, nhà sư Kobun dạy Steve Jobs về cách “kinh hành,” phương pháp tập thiền bằng đi bộ, và giải thích cho Steve Jobs hiểu về phương pháp “ma” (tiếng Việt  là: ‘mặc’, nghĩa là giữ tâm vắng lặng). Sau này, Steve Jobs nói rằng ông tin rằng giữ tâm vắng lặng là chìa khóa của mọi sáng tạo.

Bốn trang truyện bằng tranh này ở http://www.forbes.com/sites/calebmelby/2011/09/21/exclusive-four-pages-from-the-zen-of-steve-jobs/.
Toàn bộ truyện tranh này sẽ dài 60 trang, cuối mùa thu này sẽ hoàn tất.

_________________________________________________________

Bài liên quan đến chủ đề:
SỐNG NHƯ THẾ NÀO TRƯỚC KHI BẠN CHẾT – Steve Jobs

_________________________________________________________

 

Từ trần đầu tháng 10/2011,

Steve Jobs, người sáng lập Apple Computer, là một Phật tử.

 

Thành phố Madison, bang Wisconsin, 6-10-2011 / Tin Cơ đốc giáo – Bản tin sau đây do ông Steve McConkey, Chủ tịch cơ sở ChristianInvestigator cung cấp.

Theo mọi chỉ dấu cho biết thì Steve Jobs là một Phật tử. Cậu sinh viên bỏ đại học dang dỡ nầy đã cùng với người bạn Steve Wozniak sáng lập ra công ty Apple Computer vào cuối thập niên 1970’. Và vào năm 1980, ông trở thành nhà triệu phú.

Steve Jobs ra đời tại thành phố San Francisco, bang California. Những nhạc sĩ mà ông thích nhất là ban nhạc The Beatles và Bob Dylan. Phong trào văn hóa cấp tiến nỗi loạn của San Francisco đã ảnh hưởng nhiều trên tâm hồn của ông. Ông đã từng thử qua những loại ma túy siêu thực.

Tên “Apple” được gợi hứng từ công ty “Apple Corps” của ban nhạc Beatles. Và cũng như những nhạc sĩ nầy, ông Steve Jobs đã từng đi Ấn Độ để tìm chân lý tâm linh. Cuối cùng, ông đã cải đạo theo Phật giáo. Vị sư Phật giáo Kobun Chino đã làm chủ lễ đám cưới [cô Laurene Powell] cho ông vào năm 1991.

Tạp chí Forbes Magazine cũng đã xuất bản một sách hình về ông Steve Jobs. Nội dung sách tập trung vào những chuyến du hành của ông tại Nhật Bản. Cuốn sách tái dựng quan hệ của ông với người đở đầu tinh thần là đại sư Kobun Chino Otogawa, một tăng sĩ Phật giáo.

Cuốn sách được xây dựng chung quanh những năm 1980’, và sẽ đươc phát hành bằng phiên bản điện tử vào mùa Thu năm nay. Nhiệm vụ của ông Steve Jobs trong những chuyến đi đó là để học hỏi thêm về Phật giáo.

                                          Steve Jobs, 2011                     Kobun Chino, 1991

Ông Steve McConky của cơ sở ChristianInvestigator cho rằng “Ông Steve Jobs là Einstein của thời đại chúng ta với những tiến bộ công nghệ xây đắp nên những gì chúng ta làm. Vì những niềm tin Phật pháp của ông ta, nên chúng ta sẽ quan tâm đến quan điểm của ông về thế giới

Đức Phật là một vị hoàng tử tại Ấn Độ và Ngài đã sang lập nên Phật giáo. Phật tử không tin vào một đấng Thượng đế Siêu việt. Bảy phần trăm dân số thế giới là Phật tử.

Phật tử tin rằng đau khổ là do dục vọng gây ra. Để hết khổ, Phật tử tin rằng họ phải suy nghĩ đúng (chánh tư duy) và làm đúng (chánh mạng). Họ tin theo “Tứ Diệu Đế” và “Bát Chánh đạo”. Nhiều Phật tử tin vào hiện tượng tái sinh. Và khi một người đạt được giác ngộ thì người đó sẽ thoát được chu kỳ tái sinh.   

…..

Trí Tánh ĐHT dịch

[Nguồn: http://www.christiannewswire.com/news/9576917961.html  ]

 

Steve Jobs was a Buddhist

Contact: ChristianInvestigator.com, 608-469-7956

http://www.christiannewswire.com/news/9576917961.html

 

MADISON, Wis., Oct. 6, 2011 /Christian Newswire/ — The following is submitted by Steve McConkey, President of ChristianInvestigator.com:

From all indications, Steve Jobs was a Buddhist. The college dropout started Apple Computer with friend Steve Wozniak in the late 1970s. By 1980, he was a millionaire.

Jobs was born in San Francisco. His favorite musicians were the Beatles and Bob Dylan. The San Francisco counterculture had an influence on Jobs. He experimented with psychedelic drugs.

The name Apple was inspired by the Beatles’ Apple Corps. Like the Beatles, Jobs went to India to seek spiritual truth. He eventually converted to Buddhism. Buddhist monk Kobun Chino presided over his wedding.

Also, Forbes Magazine is publishing a comic book about Steve Jobs. The book focuses on Steve’s travels to Japan. The book re-creates the relationship with his mentor, Kobun Chino Otogawa, a Buddhist priest.

The novel takes place in the mid-1980s and will be released digitally this fall. Steve Jobs’ mission was to understand Buddhism better.

Steve McConkey of ChristianInvestigator.com states, “Steve Jobs was the Einstein of our time with advances in technology that shape everything we do. Because of his Buddhist beliefs, our concern is about this worldview.”

Buddha was a prince in India and founded Buddhism. Buddhists do not believe in a Supreme Being. Seven percent of the world’s population are Buddhists.

Buddhists believe suffering comes from desire. In order to remedy the situation, they believe a person should have right thoughts and do good things.

They follow the “Eightfold Path” and “The Four Noble Truths.” Many Buddhists believe in reincarnation. When a person becomes enlightened, reincarnation ceases.

4 WINDS provides ChristianInvestigator.com and TrackandFieldReport.com. Steve McConkey is the President. 4 WINDS started in 1988. Steve is a graduate of Western Kentucky University (Masters of Public Health) and Minnesota State University-Mankato.

 

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-64_4-14093_15-2/

GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

Giới toán học thế giới coi ông là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”, người mở đường cho một chuyên ngành toán học mới.
 >> GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Nhân sự kiện tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục vừa trao tặng Giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” cho GS Hoàng Tụy, xin trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Hàm Châu trên báo Khoa học và Đời sống Online về “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.

Nổi tiếng trên thế giới, rồi mới được trong nước chú ý tới

Một ngày đầu năm, tôi đến thăm GS Hoàng Tuỵ tại nhà riêng ở phố Đội Cấn, Hà Nội. Ông đã “ngoại bát tuần” nhưng vẫn khoẻ, sáng suốt, dồi dào sức sáng tạo. Tờ Journal of Optimization Theory and Applications (Tạp chí Tối ưu hoá lý thuyết và ứng dụng) trong những số gần đây vẫn đăng các công trình mới của ông. Ông vẫn được mời sang Pháp, Mỹ cộng tác nghiên cứu…

Cứ mỗi lần gặp GS Tuỵ, tôi lại nhớ đến câu nói của anh bạn tôi, một tiến sĩ khoa học toán học: “Ông Tuỵ nổi tiếng ở nước ngoài có phần còn hơn ở trong nước; nổi tiếng trên thế giới, rồi mới được trong nước chú ý tới!”

Năm 1990, Tiến sĩ Neal Koblitz, cựu sinh viên Đại học Harvard, giáo sư Đại học Washington, sang thăm Việt Nam. Trở về Mỹ, ông viết một bài báo tiếng Anh dài tới 30 nghìn từ, chiếm 19 trang tạp chí, kèm theo 10 bức ảnh, 1 tấm bản đồ và 3 bức biểu đồ, đăng trên tờ The Mathematical Intelligencer (Người đưa tin toán học). Đây là tờ tạp chí của nhà xuất bản lớn bậc nhất thế giới về khoa học và kỹ thuật Springer – Verlag (mà bạn đọc chủ yếu là các nhà toán học chuyên nghiệp ở tất cả các nước). N. Koblitz đặt tên cho bài báo: Hồi ức về toán học ở một đất nước bị phong tỏa.

Tác giả dành phần lớn bài báo để kể tỉ mỉ về quê hương, dòng họ, thời niên thiếu, thanh niên cũng như quá trình học tập, sáng tạo của nhà toán học Hoàng Tuỵ mà nhiều kết quả trong lĩnh vực lý thuyết tối ưu toàn cục được coi là kinh điển, được thừa nhận rộng rãi ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…

Bài báo lớn của một giáo sư toán học Mỹ làm cho tên tuổi Hoàng Tuỵ càng trở nên nổi tiếng trong giới toán học quốc tế. Cho đến lúc đó, ở nước ta, chưa hề có một bài báo nào bằng tiếng Việt viết về GS Tuỵ dài và sâu như thế!

Đó là một “luận cứ” khiến anh bạn tôi cho rằng “ông Tuỵ nổi tiếng ở nước ngoài có khi còn hơn ở trong nước!…”. Và còn nhiều “luận cứ” khác nữa.

 

GS Hoàng Tụy làm việc tại nhà riêng.


Hội thảo quốc tế mừng thọ “cha đẻ của tối ưu toàn cục”

Hoàng Tuỵ sinh ngày 27/12/1927, vậy mà, ngay từ mấy tháng đầu năm 1997, giới toán học quốc tế trong chuyên ngành của ông đã sốt sắng chuẩn bị một hình thức đầy ý nghĩa mừng ông thọ 70 tuổi: tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế ở Thụy Điển.

Đầu năm 1997, tôi được anh bạn tiến sĩ khoa học kia đưa cho xem bản thông báo sau đây mà anh nhận được qua Internet:

Nhân dịp mừng sinh nhật lần thứ 70 của GS Hoàng Tuỵ, người đã có công trình tiên phong trong lĩnh vực tối ưu toàn cục và quy hoạch toán học tổng quát, một cuộc hội thảo ba ngày sẽ được tổ chức tai Viện Công nghệ Linkoping, Thuỵ Điển với chủ đề: Tìm tối ưu từ địa phương đến toàn cục.”

Bản thông báo cho biết đây là cuộc hội thảo nhằm vinh danh GS Hoàng Tuỵ (Workshop in Honor of Prof. Hoang Tuy) diễn ra tại Thuỵ Điển từ ngày 20 đến 22/8/1997. Các nhà toán học muốn dự cần gửi bản tóm tắt công trình của mình chậm nhất vào ngày 1/6/1997 để kịp tập hợp in thành một cuốn sách đề tặng GS Hoàng Tuỵ (dedicated to Prof. Hoang Tuy).

Sau khi hội thảo kết thúc, cuốn sách được Kluwer Academic Publishers, cũng là một nhà xuất bản lớn về khoa học và kỹ thuật trên thế giới, ấn hành ở Boston (Mỹ), London (Anh), Dordrecht (Hà Lan) và nhiều nơi khác.

Năm 2007, mừng GS Hoàng Tuỵ 80 tuổi, giới toán học quốc tế lại tổ chức tại Pháp một cuộc hội thảo về tối ưu toàn cục để vinh danh ông một lần nữa.

Hoàng Tuỵ được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục” (the father of Global Optimization). Ngày nay, bất cứ ai trên thế giới muốn đi vào chuyên ngành này, đều phải học những điều đã trở thành kinh điển như Tuy’s cut (lát cắt Tuỵ), Tuy-type algorithm (thuật toán kiểu Tuỵ), Tuy’s inconsistency condition (điều kiện không tương thích Tuỵ…

Cuốn sách toán tiếng Anh do GS Hoàng Tuỵ viết chung với GS Reiner Horst (CHLB Đức) nhan đề Global Optimization – Deterministic Approches (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) dày 694 trang, được nhà xuất bản Springer – Verlag in lần đầu năm 1990, lần thứ hai năm 1993, lần thứ ba (có sửa chữa) năm 1996.

Đây là cuốn sách chuyên khảo đầu tiên có hệ thống về chuyên ngành này. Do vậy, GS Hiroshi Konno, người Nhật Bản, mới nhận xét: Cuốn sách ấy “được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là cuốn Kinh thánh của chuyên ngành tối ưu toàn cục” (was appreciated by many researchers as the Bible of global optimization), và, trên thực tế, nhiều người bắt đầu các công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về tối ưu toàn cục là nhờ “được cuốn sách mở đường ấy cổ vũ” (motivated by this path-breaking book).

Cách đây mấy năm, tờ báo điện tử Operation-Research Bulletin (Bản tin Vận trù học), diễn đàn của các nhà vận trù học châu Á – Thái Bình Dương, số tháng 9/2002, đã ra một chuyên đề về GS Hoàng Tụy, gồm nhiều bài và ảnh: bài của TS Takahito Kuno phỏng vấn GS Hoàng Tuỵ; bài hồi ức của TS Taketomo Mitsui nhan đề Prof. Hoang Tuy – A Prominent Applied Mathematician (GS Hoàng Tuỵ – Nhà toán học ứng dụng lỗi lạc); bài hồi ức của GS Hiroshi Konno nhan đề A Tribute to Prof. Hoang Tuy (Để tỏ lòng tôn kính GS Hoàng Tuỵ); cùng một số bức ảnh GS Tuỵ chụp chung với các nhà toán học Nhật Bản, do TS Takahito Kuno chọn và giới thiệu dưới tiêu đề Santa Claus Coming from a Southern Country (Ông già Noel đến từ một đất nước phương nam). Chẳng là vì GS Tuỵ có mái tóc trắng như tuyết và cứ mỗi lần đến Nhật Bản lại mang tới cho các nhà toán học xứ sở hoa anh đào nhiều ý tưởng mới hấp dẫn như những món quà mà Ông già Noel mang lại. Qua số báo, các nhà toán học Nhật Bản muốn tỏ bày lòng ngưỡng mộ đối với nhà toán học Việt Nam lão thành.

Vượt Trường Sơn tầm sư học đạo

Đối với thế hệ trẻ trước đây và hôm nay, cuộc đời GS Hoàng Tụy luôn là một tấm gương sáng chói về lòng say mê khoa học, về ý chí kiên cường vượt qua mọi trở lực, khắc phục khó khăn để thực hiện cho kỳ được ước mơ tha thiết từ thuở thiếu thời.

Xuất thân từ dòng họ vị Phó bảng yêu nước Hoàng Diệu, ngay khi còn học trường làng ở Xuân Đài (Quảng Nam), cậu bé Tuỵ đã tỏ ra rất thông minh, học rất giỏi cả văn và toán. Ra Huế, vào Trường Quốc học, anh Tuỵ vẫn giỏi cả văn và toán. Nhưng, về sau, anh dành nhiều thời gian hơn cho môn toán vì bắt đầu mơ ước trở thành nhà toán học.

15 tuổi, anh mắc phải chứng tức ngực, khó thở, liệt một phần cơ thể, phải bỏ học hơn một năm ở Trường Quốc học Huế. Khi khỏi bệnh, không muốn lưu ban, anh đành ra học trường tư. Nhưng rồi anh “nhảy” hai lớp, “liều” thi tú tài toán. Nào ngờ chàng thư sinh “nhảy cóc” kia lại đỗ và, hơn nữa, đỗ… thủ khoa Trung Bộ!

Tháng 9/1946, anh ra Hà Nội học Đại học Khoa học lúc bấy giờ do GS Nguyễn Thúc Hào làm Quyền Giám đốc và trực tiếp giảng dạy môn toán. Nhưng rồi lính mũ đỏ gây hấn ở phố Hàng Bún; xe Jeep nhà binh Pháp lồng lộn trong đêm. Trước ngày tự vệ sao vuông thành Hoàng Diệu nổ súng đánh trả quân xâm lược, anh Tuỵ dạo khắp phố hè Hà Nội, tìm mua những cuốn sách toán bằng tiếng Pháp mang về quê ở Quảng Nam để tự học dần.

Năm 1951, đang dạy tại Trường trung học Lê Khiết trong vùng tự do liên khu 5, được tin GS Lê Văn Thiêm đã rời Thuỵ Sĩ trở về bưng biền Nam Bộ, và rồi ông đã đi bộ ra Việt Bắc, anh Tuỵ liền khẩn khoản đề nghị Sở Giáo dục cho phép anh ra Tuyên Quang thụ giáo thầy Thiêm.

Tuyến đường dọc Trường Sơn ngày ấy còn là một lối mòn nhỏ hẹp len lỏi giữa rừng sâu, xe cơ giới chưa thể qua lại như đường Hồ Chí Minh sau này. Thế nhưng đã được tổ chức rất tốt. Cứ mỗi chặng 30 kilômét lại có một trạm nghỉ đêm và hôm sau có giao liên dẫn đường cho cán bộ, bộ đội đi tiếp.

Trong balô, anh Tụy chỉ mang theo gạo, muối, sách toán, và thuốc. Quý nhất là quinakrine chữa sốt rét và vitamin B chống phù nề. Ăn cơm với muối, rau rừng. Ba mối nguy hiểm chết người lúc đó là: bị quân Pháp phục kích, bị hổ vồ, và bị sốt rét ác tính. Ở miệt U Bò, Ba Rền có “ông ba mươi” đã ăn thịt mấy chục anh cán bộ, bộ đội! Thế nhưng, ta không dám nổ súng bắn hổ vì sợ lộ, máy bay địch tới ném bom. Một anh đi cuối đoàn, tụt quai hậu dép lốp, dừng chân rút lại quai, thế là bị hổ vồ, tha vào rừng!…

Ròng rã nửa năm trời cuốc bộ, anh mới ra đến Tuyên Quang. Tới nơi thì GS Thiêm đã sang Trung Quốc! Thế là anh vượt biên giới Việt – Trung đi tiếp tới Khu Học xá trung ương lúc bấy giờ đóng nhờ trên đất Trung Quốc, tại ngoại thành Nam Ninh.

Hà Nội giải phóng. Anh trở về nước, giảng bài tại Trường Đại học Khoa học. Tháng 7/1957, anh được cử sang Liên Xô thực tập.

Chỉ sau hơn một năm đến Moskva, anh viết xong luận án tiến sĩ – quãng thời gian ngắn đáng ngạc nhiên đối với một người tự học chương trình đại học.

Nhưng anh đã không mãn nguyện với tấm bằng tiến sĩ cùng lèo tèo vài ba công trình đầu tay! Chính vì vậy mà ngày nay chúng ta mới có một nhà toán học lớn với hơn 130 công trình sâu sắc, bề thế, hầu hết được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín cao.

Có thể nói, bên cạnh tư chất bẩm sinh thông minh vượt trội, thì ý chí sắt đá bất chấp mọi hiểm nguy, quyết vượt Trường Sơn tầm sư học đạo, coi học tập và nghiên cứu là lẽ sống đã giúp nhà toán học ấy đạt tới đỉnh cao vinh dự: Giải thưởng Hồ Chí Minh.

GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, nhận xét: “Hoàng Tuỵ và Ngô Bảo Châu là hai ngôi sao của toán học Việt Nam”.

Theo Hàm Châu

Khoa học và Đời sống Online

http://dantri.com.vn/c25/s25-520751/GS-Hoang-Tuy-va-bo-Kinh-thanh-cua-toi-uu-toan-cuc.htm

Thế giới vinh danh GS Hoàng Tụy

Thế giới vinh danh GS Hoàng Tụy

GS Hoàng Tụy được coi là nhà toán học khai sơn phá thạch mở đường cho một chuyên ngành toán học mới, là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.
 >> GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Cho nên, thật là công bằng và hợp lý khi ông là người đầu tiên trên thế giới nhận Giải thưởng Constantin Caratheodory do Đại hội Quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011

 

Giáo sư Hoàng Tụy sinh ra trong một dòng họ trí thức nho gia danh vọng lớn ở Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam.

 

Thuộc dòng họ cụ Phó bảng Hoàng Diệu

 

Ông bác (anh ruột ông nội) của giáo sư là nhà nho Hoàng Diệu (1832-1882) thông minh xuất chúng, đỗ Phó bảng năm 20 tuổi, về sau, được triều đình Huế bổ nhiệm làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Bắc Ninh) vào năm 1880. Chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ Hà thành, không đủ sức chống lại quân Pháp có súng ống tối tân, nhưng quyết không chịu để cho kẻ thù bắt sống, cụ đã tuẫn tiết bên cổng thành Cửa Bắc sáng 25-4-1882. Cụ được các văn thân yêu nước thời sau ca ngợi là “cựu lục thiên thu truyền tiết liệt” (sử sách ngàn thu còn truyền tiếng thơm tiết liệt).

 

Truyền thống yêu nước thể hiện rõ qua cuộc đời nhiều người họ Hoàng ở Xuân Đài. Hai ông anh ruột của GS Hoàng Tụy là họa sĩ Hoàng Kiệt và GS Hoàng Phê đều tham gia kháng chiến chống Pháp. Họa sĩ Hoàng Kiệt sớm qua đời. Còn GS Hoàng Phê thì từng giữ chức viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, chủ biên nhiều bộ từ điển tiếng Việt. Em ruột của GS Hoàng Tụy là GS Hoàng Chúng từng giữ chức hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM.

 

 

GS Hoàng Tụy (bìa phải) tiếp chuyện nhà báo Hàm Châu. (Ảnh tư liệu)

 

Lát cắt Tụy

 

Những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết tối ưu trở thành một hướng toán học mới có nhiều ứng dụng. Nhưng khi ấy, các nhà toán học chỉ mới chú ý tới tối ưu địa phương, còn những bài toán tối ưu toàn cục thì được coi là quá khó! D. Dantzig, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ, coi đó là những bài toán “khó về bản chất” (intrinsically difficult). Bởi thế, trước năm 1964, chưa ai trên thế giới thu được một kết quả nào đáng kể.

 

Thế rồi, Hoàng Tụy đến Phân viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô ở Novosibirsk, trình bày tại hội thảo của L. V. Kontorovitch cách giải một trong những bài toán cơ bản nhất của tối ưu toàn cục: Bài toán tìm cực tiểu một hàm lõm trên một tập đa diện lồi giới nội. L. V. Kontorovitch là nhà toán học Liên Xô được tặng giải thưởng Nobel Kinh tế.

 

Kết quả ấy của Hoàng Tụy được công bố trên tạp chí Báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Công trình đưa ra một lát cắt độc đáo. Lát cắt thật giản dị nhưng lại có khả năng ứng dụng rộng, không chỉ đối với nhiều bài toán tối ưu toàn cục mà còn đối với những bài toán quy hoạch tổ hợp. Phát minh ấy, về sau, được giới toán học thế giới gọi là “lát cắt Tụy” (Tuy’s cut), trở thành một kết quả kinh điển.

 

Hoàng Tụy được coi là nhà toán học khai sơn phá thạch mở đường cho một chuyên ngành toán học mới, là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.     

 

Định lý Hoàng Tụy, thuật toán kiểu Tụy và cuốn Kinh Thánh trong chuyên ngành

 

Năm 1972, Hoàng Tụy công bố công trình Tính không tương thích của bất đẳng thức tuyến tính trên tạp chí Toán học của Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan. Định lý mới do Hoàng Tụy đưa ra được coi là ngang hàng với những định lý nổi tiếng của Farkas, Helley, Brouwer… và được giới toán học quốc tế nhắc tới nhiều và thường nêu lên những ứng dụng mới.

 

Những năm 80 của thế kỷ trước, lý thuyết tối ưu toàn cục phát triển mạnh. Trường phái Hà Nội (Hanoi School) do Hoàng Tụy đứng đầu, đóng vai trò nổi bật. Một nhà toán học nước ngoài có uy tín cho biết ông rất vinh dự và sung sướng khi được đặt chân đến “địa danh nổi tiếng thế giới về tối ưu hóa” (world famous place in optimization). Nhiều người nước ngoài khi nhắc đến Viện Toán học ở Hà Nội cũng coi đó là “một viện nổi tiếng”.

 

Nhiều lớp bài toán quan trọng nhất được Trường phái Hà Nội tập trung nghiên cứu và giải quyết thành công. Các lớp bài toán khác nhau được tiếp cận một cách hệ thống thông qua một bài toán chuẩn do Hoàng Tụy đề xuất. Thuật toán giải bài toán chuẩn được xây dựng thích hợp với từng bài toán gốc sinh ra nó. Các thuật toán khác nhau đó đều tuân theo một lược đồ tổng quát dựa trên phương pháp phân hoạch không gian theo kiểu “chia nón”, kết hợp với phương pháp “xấp xỉ ngoài” để nâng cao hiệu quả. Thuật toán chia nón (conical algorithm) rất nổi tiếng trong giới chuyên môn quốc tế hồi đó, về sau, được gọi là “thuật toán kiểu Tụy” (Tuy-type algorithm).

 

Cuốn sách toán tiếng Anh do Hoàng Tụy viết chung với­ Reiner Horst (CHLB Đức) Global Optimization-Deterministic Approches (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) dày 694 trang, đ­ược Nhà Xuất bản Springer – Verlag in lần đầu năm 1990, lần thứ hai năm 1993, lần thứ ba (có sửa chữa) năm 1996. GS­ Hiroshi Konno, ng­ười Nhật Bản, nhận xét: Cuốn sách ấy “được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là cuốn Kinh Thánh của chuyên ngành tối ­ưu toàn cục” (was appreciated by many researchers as the Bible of global optimization) và trên thực tế, nhiều người bắt đầu các công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về tối ưu toàn cục là nhờ “đ­ược cuốn sách mở đường ấy cổ vũ” (motivated by this path-breaking book).

 

Nổi tiếng trong giới toán học toàn cầu

 

Năm 1990, TS Neal Koblitz, cựu sinh viên Đại học Harvard, giáo s­ư Đại học Washington, sang thăm Việt Nam. Trở về Mỹ, ông viết một bài báo dài 30.000 từ tiếng Anh, chiếm 19 trang tạp chí, kèm theo 10 bức ảnh, 1 tấm bản đồ và 3 biểu đồ, đăng trên tờ The Mathematical Intelligencer (Người đ­ưa tin toán học). Đây là tờ tạp chí do nhà xuất bản lớn nhất thế giới về khoa học và kỹ thuật Springer – Verlag ấn hành. N. Koblitz đặt tên cho bài báo là Hồi ức về toán học ở một đất n­ước bị bao vây.

Tác giả dành phần lớn bài báo để kể tỉ mỉ về cuộc đời và sự nghiệp của nhà toán học Hoàng Tụy mà nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết tối ­ưu toàn cục đ­ược coi là kinh điển, đ­ược thừa nhận rộng rãi ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Bài báo lớn của một cựu sinh viên Harvard làm cho Hoàng Tụy càng nổi tiếng hơn trong giới toán học toàn cầu hơn 2 thập niên qua. Cho nên, thật là công bằng và hợp lý khi ông là người đầu tiên trên thế giới nhận Giải thưởng Constantin Caratheodory do Đại hội Quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011.

 

Theo Hàm Châu

Người Lao Động

http://dantri.com.vn/c25/s25-521032/the-gioi-vinh-danh-gs-hoang-tuy.htm

GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Thứ Sáu, 23/09/2011 – 07:07

GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

(Dân trí) – Tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục vừa trao tặng Giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” cho GS Hoàng Tụy. Ông là người đầu tiên trên thế giới được nhận giải thưởng do Tổ chức quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011.
 >>  GS Hoàng Tụy: Viện Toán là viện khoa học thành công nhất ở Việt Nam
 >> GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

Giải thưởng mang tên nhà toán học lừng danh Constantin Caratheodory người Hy Lạp (1873-1950) đặc biệt vinh danh những cống hiến đã qua được thử thách của thời gian.

Tiêu chuẩn người nhận giải thưởng này bao gồm tính xuất sắc, độc đáo, ý nghĩa, chiều sâu và ảnh hưởng của cống hiến khoa học.

 

 

GS Hoàng Tụy.

 

Giải thưởng được trao tặng hai năm một lần dành cho cá nhân hay tập thể xuất sắt có cống hiến căn bản cho lý thuyết, lập trình và ứng dụng trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.

 

Trao đổi với Dân trí, GS Hoàng Tụy cho biết: “Khi được nhận giải thưởng này tôi cảm thấy là chuyện rất bình thường vì lâu nay mọi người vẫn coi tôi là người lập ra “Tối ưu toàn cục”. Những đóng góp của tôi về lĩnh vực này không ai phủ nhận. Giải thưởng này chính thức một lần nữa khẳng định thành quả nghiên cứu của tôi và xác định vị trí của Việt Nam trong nghiên cứu lĩnh vực “Tối ưu toàn cục” trên thế giới”.

GS. Hoàng Tụy là tác giả của gần 150 công trình khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín về nhiều lĩnh vực khác nhau của Toán học như: Hàm thực, Quy hoạch toán học, Tối ưu toàn cục, Lý thuyết điểm bất động, Định lý Minimax… Cuốn chuyên khảo gồm phần lớn những thành tựu nghiên cứu của GS. Hoàng Tụy và học trò của ông mang tên “Global Optimization – Deterministic Approaches” (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) được Springer (nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới) in lại ba lần từ năm 1990 đến năm 1996, được coi là kinh điển trong lĩnh vực Tối ưu toàn cục.

Từ giữa thập niên 80 thế kỷ XX, GS. Hoàng Tụy đề xuất và xây dựng Lý thuyết tối ưu DC (hiệu hai hàm lồi) và mới gần đây, từ năm 2000, ông lại đề xuất và xây dựng Lý thuyết tối ưu đơn điệu. Năm 1997, ông cùng với H. Konno (Nhật Bản) và Phan Thiên Thạch, là đồng tác giả cuốn chuyên khảo “Optimization on Low Rank Nonconvex Structures” (Tối ưu hóa trên những cấu trúc không lồi thấp hạng), do nhà xuất bản Kluwer (sau này đã sát nhập với Springer) in. Năm 1998, ông lại cho ra cuốn chuyên khảo “Convex Analysis and Global Optimization” (Giải tích lồi và Tối ưu toàn cục), cũng do Nhà xuất bản Kluwer in, nay được Springer in lại. Trong nước, ông đã chỉnh lý và in lại lần thứ 5 cuốn giáo trình “Hàm thực và Giải tích hàm” (Giải tích hiện đại) đã được sử dụng rộng rãi để giảng dạy cho sinh viên ngành Toán từ 1959 đến nay.

GS Hoàng Tụy là Tiến sĩ danh dự trường Đại học Linköping, Thụy Điển (1995). Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996, giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2010.

Hồng Hạnh

http://dantri.com.vn/c25/s25-520638/GS-Hoang-Tuy-duoc-trao-giai-thuong-toan-hoc-Constantin-Caratheodory.htm

CON NGƯỜI THẬT CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ QUANG-Đào Văn Bình

CON NGƯỜI THẬT CỦA
THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ QUANG
Đào Văn Bình


Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm – mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.

Đại Học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa một thời gian cho nên một số sinh viên rảnh rỗi, kéo nhau đi tham dự những cuộc biểu tình. Dĩ nhiên trong bối cảnh đó, tôi cũng như hầu hết số sinh viên cùng trang lứa hiểu biết khá nhiều về tình hình của đất nước lúc bấy giờ. Cái kỳ lạ của dân Sài Gòn là dù tiếng súng nổ ầm ầm, xe tăng, quân đội ào ào tấn công vào Dinh Độc Lập, Thành Cộng Hòa (căn cứ của Liên Minh Phòng Vệ Phủ Tống Thống) như thế, nhưng hễ lơi tiếng súng một chút là kéo nhau ra xem, chẳng sợ tên bay đạn lạc gì cả!

Tôi cũng nằm ở trong số dân Sài Gòn, đám thanh niên, sinh viên “điếc không sợ súng” này. Chính vì thế mà tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào, bà con buôn bán ở Chợ Bến Thành đã đem cơm nước, trái cây ra tặng binh sĩ Nhảy Dù khi đài phát thanh loan báo anh em Ô. Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ. Đã chứng kiến cảnh, đồng bào, thanh niên Sài Gòn dùng giây kéo xập tượng Hai Bà Trưng dựng ở Bến Bạch Đằng. Chiếc tượng đổ gục, cổ tượng đứt lìa và được đám đông đưa lên chiếc xích-lô, đẩy quanh đường phố, reo hò như một đám rước. Sở dĩ có chuyện này là vì trước đó lâu lắm, người dân đã bàn tán, đây là tượng của hai chị em bà Ngô Đình Nhu chứ không phải tượng Hai Bà Trưng với tóc con trai (demi-garcon) chải tém và áo hở cổ (decolleté) – kiểu áo quen thuộc của bà Ngô Đình Nhu.

 

tượng “hai bà Trưng” trước và sau Cách Mạng. Ảnh nguồn http://community.vietfun.com/showthread.php?t=691197&page=3

Qúy vị, qúy bạn có thể nhìn lại tấm hình lịch sử này ở nơi trang 34 của cuốn The Eyewittness History of the Vietnam War của George Esper and The Associated Press xuất bản Tháng 11,1983 tại Hoa Kỳ, và nơi trang 36&37: Hình ảnh một rừng thanh niên, sinh viên Sài Gòn bu quanh hàng rào Dinh Độc Lập, reo hò hoặc thò qua bắt tay binh sĩ VNCH là những đơn vị đầu tiên đã tấn công vào dinh và lật đổ chế độ.

Sau những cuộc đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng liên miên của các ông tướng và biến cố Miền Trung, năm 1967 Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa ra đời, và sau khi liên danh hai Ô. Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống, cùng với sự rạn nứt giữa TT. Thích Tâm Châu và TT. Thích Trí Quang khiến Phật Giáo phải chia đôi… thì chuyện đấu tranh của Phật Giáo năm 1963, chuyện gia đình Ô. Diệm cũng đã trở thành dĩ vãng của lịch sử. Hơn thế nữa áp lực quân sự lúc này rất nặng, đời sống của dân chúng quá khó khăn, với sự hiện diện của hơn 500,000 quân đội Mỹ tại Miền Nam, không ai còn rảnh rỗi “hưởn” để đào sới lại lịch sử năm 1963 và hai anh em Ô. Ngô Đình Diệm cũng đã yên nghỉ ở Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi.

Cho tới ngày 30-4-1975, thật tình tôi chưa hề đọc hoặc xem qua một tài liệu, một bài báo nào nói rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ hoặc đảng viên đảng CSVN. Rồi khi khối 1 triệu người Việt di tản rồi vượt biển tìm Tự Do tôi cứ nghĩ mọi người sẽ bỏ qua những đau thương của quá khứ, thành lập một mặt trận thống nhất để giành lại cơ đồ. Nhưng không! Sự yên bình, đòan kết và cảm thông ở hải ngọai chỉ có được một hai thập niên. Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ “cha già của dân tộc”. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN.

Nếu quả thực TT. Thích Trí Quang là “cộng sản nằm vùng” thì điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật Giáo hoàn toàn bịa đặt và do cộng sản giựt giây, lèo lái, hoặc chỉ đạo chứ thực ra dưới thời Ô. Ngô Đình Diệm không chuyện có kỳ thị tôn giáo. Vậy thì chính nghĩa của cuộc đấu tranh năm 1963 nằm ở chỗ tìm hiểu lý lịch của TT. Thích Trí Quang. Bản thân tôi, từ trước đến giờ chưa bao giờ nghĩ rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ cộng sản, nhưng nay thì thấy mình cần phải tìm hiểu lại xem con người thực của TT. Thích Trí Quang như thế nào.

Với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ điện tử, với Google – bộ nhớ của nhân lọai – chúng ta dễ dàng tìm kiếm những dữ kiện liên quan đến TT. Thích Trí Quang. Trong tinh thần tìm hiểu sự thực, không thêm thắt ý kiến cá nhân, tôi xin dịch ra Việt Ngữ bốn tài liệu gửi kèm theo đây để quý vị, quý bạn suy nghĩ:

1) Declassified CIA Documents on the Vietnam War/ Thích Tri Quang

(Tài liệu giải mật của CIA về Chiến Tranh Việt Nam/Thích Trí Quang)

Tài liệu này do Viện Đại Học Saskatchewan (Canada) sưu tầm và phổ biến. Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (Abstract) trong báo cáo của CIA như sau:

“Một cuộc phân tích để xem – liệu Thích Trí Quang có liên hệ/hoặc là cán bộ cộng sản, Con Người và Mục Tiêu Đấu Tranh: Báo cáo tình hình cho tới ngày 27-8-1964 đánh giá rằng Trí Quang không phải là cộng sản, ông ta chỉ muốn thiết lập một chính quyền do thần quyền/tôn giáo lãnh đạo ở Miền Nam. Tin tình báo gửi bằng cable, TDCS 314/02342-64. August 28, 1964. 8 trang. Mật/Không phổ biến. Bản sao đã được tẩy sạch. Giải tỏa ngày 24 Tháng 5, 1976. “

2) “Only Religions Count in Vietnam”: Thich Tri Quang and the Vietnam War

(Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Ở Việt Nam: Thích Trí Quang và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam) biên khảo của James McAllister- Phân Khoa Chính Trị Học, Đại Học Williams, Williamstown, MA 01267, điện thư: jmcallis@williams.edu . Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (abstract) như sau:

“Đã từ lâu, Thích Trí Quang là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Các học giả cánh hữu cho rằng Trí Quang có thể/có nhiều khả năng là cán bộ cộng sản họat động dưới sự chỉ đạo của Hà Nội. Còn các học giả cánh tả lại cho rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo đấu tranh bất bạo động/hòa bình cho dân chủ và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Tài liệu biên khảo này cho thấy cả hai lập luận trên đều không có tính thuyết phục. Như các giới chức Hoa Kỳ đã công bằng/đứng đắn kết luận rằng không có bằng chứng khả tín nào cho thấy Trí Quang là một cán bộ cộng sản hoặc có thiện cảm với cuộc chiến của Hà Nội hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Rút ra từ những tài liệu rộng rãi còn lưu trữ qua những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, hiển nhiên Trí Quang thật sự chống cộng mạnh mẽ và hoàn tòan hiểu được/cảm nhận được việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Bắc Việt và Trung Hoa. Yếu tố chính gây mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh của Phật Giáo và bộ tham mưu của Johnson là Trí Quang cương quyết cho rằng những chế độ quân nhân sau Ngô Đình Diệm thù nghịch với Phật Giáo và không có khả năng đưa cuộc đấu tranh chống cộng sản tới thành công.”

3) World: A Talk With Thich Tri Quang (Friday Apr.22,1966) TIME MAGAZINE

Đây là cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề như cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến thiết lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa và việc ứng cử của hai Ô. Thiệu-Kỳ. Vì bài phỏng vấn dài cho nên tôi chỉ phiên dịch phần quan điểm của TT. Trí Quang liên quan tới cộng sản và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam mà thôi.

“ Trong một cuộc phỏng vấn riêng tư bất thường, tương đối hiếm hoi bởi vì Thượng Tọa ít khi dành cho báo giới Tây Phương những cuộc phỏng vấn như vậy, với các phóng viên của TIME như Frank McCullock và James Wilde tại nơi cư trú của Thượng Tọa tại Sài Gòn, trong căn phòng của một bệnh viện điều dưỡng. Thông dịch viên là Thân Trọng Huề, một cộng tác viên người Việt của báo TIME, người đã gọi Thượng Tọa là Venerable cho đúng với địa vị của Thượng Tọa trong Giáo Hội. Trí Quang mặc áo của bệnh viện, quần bà ba trắng và đi dép da.”

Hỏi: Nếu tình hình ổn định trở lại với Việt Nam và cuộc chiến đấu chống cộng thành công, Thượng Tọa có nghĩ rằng cuối cùng ở một chừng mực nào đó sẽ có những cuộc thương thảo với Việt Cộng?

Đáp: Dĩ nhiên, khi đưa ra câu hỏi như vậy là quý vị đã tự có câu trả lời – hiển nhiên bất cứ cuộc chiến nào rồi cũng kết thúc bằng thương lượng. Nhưng những cuộc thương lượng chỉ xứng đáng khi có lợi cho cả hai phe. Nếu qúy vị thương thảo mà không lợi ích gì cho lý tưởng và cuộc đấu tranh thì đó là sự đầu hàng ngụy trang bằng thương thảo. Chắc chắn tôi không đồng ý về bất cứ một cuộc đầu hàng nào như vậy.

Hỏi: Thượng Tọa có tin rằng có những thành phần phi-cộng-sản ở trong hàng ngũ Việt Cộng không?

Đáp: Nếu có những thành phần này thì họ bị lợi dụng và chỉ đạo bởi những người cộng sản, cho nên chúng ta chẳng hy vọng gì vào họ. Còn họ chỉ là những người chạy theo, thì họ cũng chẳng ích lợi gì cho chúng ta. Bị cộng sản lợi dụng hay bị cộng sản sai khiến thì cũng giống như cộng sản.

Hỏi: Thượng Tọa nghĩ gì về bộ phận Việt Cộng?

Đáp: Theo tôi, đây chỉ là cách chơi chữ. Người ta cố tách biệt Cộng Sản Bắc Việt và Cộng Sản Miền Nam. Thật ra không có sự phân biệt như vậy. Cả hai đều là cộng sản. Là một tu sĩ, điều tôi lo lắng là chủ thuyết trong đầu họ còn nguy hiểm hơn súng mà họ cầm trên tay.

Hỏi: Thượng Tọa có ý kiến gì về những lời đồn đãi là việc đầu tiên mà quốc hội lập hiến làm là đòi người Mỹ rút khỏi Việt Nam?

Đáp: Những lời đồn đãi như vậy hòan tòan có tính cách bôi lọ. Hoàn toàn không có cơ sở. Người ta không nên hỏi tại sao người Mỹ phải ở lại Việt Nam. Ai ai cũng đồng ý rằng cuộc chiến đấu chống cộng ở đây phải có sự trợ giúp của người Mỹ. Vậy thì trở ngại chính là làm thế nào để nâng cao giá trị của sự giúp đỡ đó. Cuộc trợ giúp của người Mỹ tại Việt Nam ngày hôm nay đã không được hỗ trợ đầy đủ bởi vì không có những vị đại diện của người dân làm công việc đó. Khi quốc hội được bầu ra, chính quốc hội sẽ làm công cuộc hỗ trợ tinh thần, nâng cao gía trị và chấp nhận sự trợ giúp của người Mỹ.

4) From Wikipedia, the free encyclopedia

“Thích Trí Quang (sinh năm 1924) là một tăng sĩ Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam đã được biết tới qua vài trò lãnh đạo cuộc khủng hỏang Phật Giáo năm 1963 vốn chiếm đa số tại Nam Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh, ông hô hào tín đồ noi gương cuộc đấu tranh bất bạo động của Gandhi, nhìn thấy cuộc chống đối lan rộng chống lại chính quyền Thiên Chúa Giáo của TT. Ngô Đình Diệm và chính sách thân Thiên Chúa Giáo, chống Phật Giáo của ông ta, do ảnh hưởng của người anh cả là Giám Mục Ngô Đình Thục ở Huế. Những cuộc đàn áp biểu tình liên tục của Diệm đã đưa tới sự bất mãn lan rộng trong dân chúng, và đưa tới cuộc đảo chính vào Tháng 11, 1963 lật đổ ông và gia đình ông.

Trong những năm khởi đầu, Thích Trí Quang đi Tích Lan để để nghiên cứu thêm về Phật Giáo. Khi trở về ông tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp để giành độc lập cho Việt Nam (*). Vào ngày 8 Tháng 5, 1963 nhân lễ Vesak, ngày đản sanh của Đức Phật Gotama, Phật tử tại Huế đã chuẩn bị, kể cả việc treo cờ Phật Giáo. Nhà cầm quyền đã dựa vào một nghị định ít khi thi hành để ngăn cấm việc treo cờ. Việc ngăn cấm này đã xảy ra cho dù trước đó một tháng nhân lễ ngân khánh thứ năm của Giám Mục Ngô Đình Thục cờ Thiên Chúa Giáo được treo mà không hề bị ngăn cản. Phật tử Huế không tuân theo chỉ thị và tổ chức một cuộc biểu tình, tụ họp tại đài phát thanh để hy vọng nghe tiếng nói của Thích Trí Quang trong chương trình phát thanh thường lệ. Chính quyền cho ngưng buổi phát thanh và nổ súng vào đám đông khiến 9 người thiệt mạng. Vào ngày 10 Tháng 5, Phật tử bắt đầu chiến dịch tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo, bồi thường cho nạn nhân và trừng phạt những người có trách nhiệm và quyền treo cờ Phật Giáo. Thích Trí Quang nhắc nhở khối người biểu tình không để cộng sản lợi dụng tình trạng bất ổn và chủ trương đấu tranh bất bạo động. Khi cuộc khủng hỏang trở nên sâu rộng, Thích Trí Quang vào Thủ Đô Sài Gòn để thương thuyết và chuẩn bị cho những cuộc xuống đường sau cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức vào ngày 11 Tháng 6. Trước cuộc tấn công của mật vụ và lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Nhu vào Chùa Xá Lợi ngày 21 Tháng 8, ông đã trốn vào Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Ông được Đại Sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge nhận và từ chối không giao ông cho mật vụ của Nhu sau khi lục sóat chùa, nổ súng và đánh đập tăng ni. Tại Huế, 30 người chết vì đã làm hàng rào ngăn cản người của Nhu tấn công vào các chùa.

Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 lật đổ Diệm và Nhu, người ta đồn rằng nhóm quân nhân muốn Thích Trí Quang là một thành viên của nội các nhưng Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ bày tỏ chống đối.

Sau cuộc chỉnh lý năm 1964 của Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh, Khánh ra lệnh giết Đại Úy Nguyễn Văn Nhung là cận vệ của Minh và cũng là người đã giết hai anh em Diệm, Nhu. Điều này gây ra lời đồn đại là những chính trị gia thân Diệm sẽ phục hồi quyền lực khiến Trí Quang ngưng cuộc hành hương Ấn Độ để tố chức những cuộc phản đối (Khánh). Vào cuối năm 1964, Khánh thu hồi quyết định quản thúc các tướng ở Đà Lạt mà đứng đầu là Trần Văn Đôn.

Vào năm 1965 những cuộc biểu tình lại tái xuất hiện khi người chống Diệm là tướng Nguyễn Chánh Thi – Tư Lệnh Quân Đòan I bị Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cất chức. Vào thời điểm này, Nguyễn Cao Kỳ bắt giữ Thích Trí Quang và ra lệnh quản thúc tại gia (chùa). Khi Sài Gòn xụp đổ và cộng sản tràn vào Nam Việt Nam thì Thích Trí Quang một lần nữa lại bị nhà cầm quyền cộng sản quản thúc tại gia (chùa).”

Nhận Định:

Tại các quốc gia văn minh Tây Phương, việc duyệt xét lại lịch sử, tìm hiểu sự thực của lịch sử diễn ra hằng ngày, hằng tháng và hằng năm bởi các nhà nghiên cứu sử học khi có thêm những dữ kiện mới. Thậm chí trong các lớp học về lịch sử của Hoa Kỳ, người ta còn cho học sinh tổ chức những tòa án giả để xét tội Tổng Thống Jackson, người đã giết hại dân Da Đỏ. Duyệt xét, tìm hiểu sự thực của lịch sử, thậm chí lập tòa án như đã nói ở trên không có nghĩa là các nhà giáo dục Hoa Kỳ dạy cho học sinh căm thù TT. Jackson mà chỉ muốn thế hệ sau tránh vết xe đổ của các thế hệ đi trước. Giả dụ việc làm của TT. Jackson không được các sử gia mổ xẻ, phân tích thì điều đó có nghĩa là TT. Jackson làm đúng và các thế hệ sau “cứ thế mà làm”, như thế tác hại cứ triền miên, không dứt. Do đó, trong tinh thần học hỏi, xây dựng đất nước và nhất là cho thế hệ mai sau, tôi hoan nghênh mọi nỗ lực khoa học, khách quan, đứng đắn để tìm hiểu về con người thực của TT. Thích Trí Quang. Tuy nhiên việc nghiên cứu lịch sử không phải chuyện dễ dàng. Các sử gia đã chỉ cho chúng ta có hai nguồn sử liệu để nghiện cứu:

1) Tài liệu chính yếu (Primary Source) bao gồm các chỉ dụ, đạo luật, sắc lệnh, nghị định hành chánh, mệnh lệnh, biên bản các phiên họp nội các, các báo cáo, tờ trình, các tấm hình, băng ghi âm, các thước phim tài liệu, phỏng vấn có ghi âm/thu hình, công báo là những tài liệu chính xác của lịch sử.

2) Tài liệu thứ yếu (Secondary Source) như thơ, kịch, tiểu thuyết, bài viết, những tâm tình, trao đổi giữa cá nhân, hồi ký liên quan đến một giai đọan lịch sử nào đó. Các tài liệu này mức độ khả tín rất thấp và có khi không đáng tin cậy vì nó có rất nhiều ý kiến cá nhân (yêu ghét, chủ quan) đưa vào đó. Những sử gia đứng đắn không bao giờ bằng cứ vào Secondary Source để viết lịch sử. Ngay cả những cuôc trao đổi riêng tư giữa các nhân vật lịch sử, hoặc những nhân vật có liên quan cũng cần được kiểm chứng qua báo chí, tài liệu lưu trữ, băng ghi âm, nhật ký, văn khố v.v…

Do đó, nếu có vị nào không đồng ý với tài liệu đã giải mật của CIA và coi đó như tài liệu giả hoặc do nhóm thân cộng bịa đặt ra hoặc sự đánh giá của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ hòan tòan sai lạc, có thể viết thư đặt vấn đề với cơ quan CIA. Hoặc tài liệu nghiên cứu của James McAllister, Wikipedia và cuộc phỏng vấn của báo TIME là thiếu vô tư hoặc thân cộng, chúng ta có thể viết thư phản đối hoặc cung cấp cho họ những tài liệu chính xác hơn không ngòai mục đích làm sáng tỏ lịch sử, một nhu cầu cần thiết của một dân tộc muốn tiến lên.

Sau hết, chúng ta nên nhớ rằng một dân tộc man di mọi rợ thì không có lịch sử. Một dân tộc nô lệ thì lịch sử bị ngọai bang bóp méo, cạo sửa, hoặc viết lại. Một dân tộc độc lập và hùng mạnh thì lịch sử phải được học hỏi, nghiên cứu, kế thừa và phê phán trong tinh thần khách quan và hướng về tương lai.

Đào Văn Bình

(Tháng 12, 2009)

 

Ghi chú: Dấu (*) là trích dẫn trong Tiểu Truyện Tự Ghi của HT. Thích Trí Quang, nguyên là phần phụ lục trong cuốn Bồ Tát Giới của Hòa Thượng in sau năm 1975, do website Trang Nhà Quảng Đức phổ biến, có đọan nói về tham gia kháng chiến như sau: “Thọ Bồ tát giới rồi, không đầy một tháng sau Pháp đổ bộ Đồng Hới, tôi tham gia kháng chiến. Nhưng tháng 10 năm ấy, mẹ tôi bịnh nặng, bốn anh em tôi đều đi kháng chiến, người thứ ba tử trận một tuần sau ngày Pháp đổ bộ, hai người thứ nhất và thứ tư ở xa, tôi ở gần nhà nhất nên phải về nuôi mẹ.”

Tài Liệu Đính Kèm


1) Tài Liệu Thứ Nhất:

University of Saskatchewan

University Library

Declassified CIA Documents on the Vietnam War

We hereby acknowledge the permissions granted by the Gale Group to include in this Database the abstracts provided in the Declassified Documents Reference System CD-ROM and by the Texas Tech University’s Virtual Vietnam Archive to provide the links for fulltext documents.

Search:

Advanced search…

Title:

An analysis of Thich Tri Quang’s possible communist affiliations, personality and goals

Date of Creation:

August 28, 1964

Date of Declassification:

May 24, 1976

Type of Document:

Intelligence information cable

Level of Classification:

CONFIDENTIAL

Status of Copy:

SANITIZED

Pagination, Illustration:

8 p.

Abstract:

An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964 (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED copy. Released May 24, 1976.

Indexing Terms:

THICH TRI QUANG

THICH DUC NGHIEP

THICH GIAC DUC

THICH MINH CHAU

THICH THIEN MINH

THICH TAM CHAU

TON THAT XUNG

Declassified Documents Reference System Location:

1976-22E

________________________________________

2) Tài Liệu Thứ Hai

Modern Asian Studies (2008), 42:751-782 Cambridge University Press

Copyright © Cambridge University Press 2007

doi:10.1017/S0026749X07002855

________________________________________

Research Article

‘Only Religions Count in Vietnam’: Thich Tri Quang and the Vietnam War

________________________________________

JAMES McALLISTERa1

a1 Department of Political Science, Williams College, Williamstown, MA 01267 Email: jmcallis@williams.edu

Article author query

mcallister j

Abstract

Thich Tri Quang has long been one of the most controversial actors in the history of the Vietnam War. Scholars on the right have argued that Tri Quang was in all likelihood a communist agent operating at the behest of Hanoi. Scholars on the left have argued that Tri Quang was a peaceful religious leader devoted to democracy and a rapid end to the war. This article argues that neither of these interpretations is persuasive. As American officials rightly concluded throughout the war, there was no compelling evidence to suggest that Tri Quang was a communist agent or in any way sympathetic to the goals of Hanoi or the NLF. Drawing on the extensive archival evidence of Tri Quang’s conversations with American officials, it is apparent that Tri Quang was in fact strongly anti-communist and quite receptive to the use of American military power against North Vietnam and China. The main factor that led to conflict between the Buddhist movement and the Johnson administration was Tri Quang’s insistence that the military regimes that followed Ngo Dinh Diem were hostile to Buddhism and incapable of leading the struggle against Communism to a successful conclusion.

________________________________________

3) Tài Liệu Thứ Ba:

World: A TALK WITH THICH TRI QUANG

Friday, Apr. 22, 1966

In an unusual private interview, one of the relatively few he has granted to Western newsmen, Thich Tri Quang talked for an hour last week with TIME Correspondents Frank McCulloch and James Wilde at his Saigon residence, a room in a maternity clinic. The interpreter was Than Trong Hue, a Vietnamese member of the TIME staff, who addressed the monk with the “venerable” title reserved for the Buddhist clergy. Tri Quang was clad in a hospital gown, white pantaloons, and brown leather sandals.

Q. If stability returns to Viet Nam and the war against the Communists is waged successfully, do you believe that eventually some sort of negotiations must be held with the Viet Cong?

A. Of course, in raising such a question you have really answered it yourself—obviously any war must be finally ended by some kind of negotiations. But negotiations are worthwhile only if conditions are favorable for them. If you negotiate without benefit to your cause and struggle, that is a surrender in the guise of negotiations. And I am certainly not in favor of any such surrender.

Q. Do you believe there are non-Communist elements within the Viet Cong?

A. If so, they are completely exploited and led by the Communists, so we can have no hope for them. Even if they are only followers, they can be of no use to us. Being led or directed by Communists is the same as being a Communist.

Q. What do you think of the Viet Cong movement?

A. This is mostly a matter of semantics to me. People try to separate North Vietnamese Communists from South Vietnamese Communists. No such separation exists. They are both Communists. And as far as I am concerned, as a religious man, the ideology they possess is much more dangerous than the guns they possess.

Q. Can you comment on rumors that the first thing a legislative assembly might do would be to ask the Americans to leave Viet Nam?

A. Rumors such as these are sheer libel. No proof or substantiation for them exists. One should not ask whether Americans should remain in Viet Nam. It is agreed by all that the struggle against Communism here must be made with the assistance of the Americans. So the problem is really how to enhance the value of that assistance. American assistance is not now fully supported in Viet Nam because there is no popular representation to give it such support. When an assembly is elected, it will, by giving its moral endorsement to such assistance, enhance its value and its acceptance.

Read more:

http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,899140-3,00.html#ixzz0ZIyhmbQ5

________________________________________

4) Tài Liệu Thứ Tư:

From Wikipedia, the free encyclopedia

Jump to: navigation, search

Thích Trí Quang (born 1924) is a Vietnamese Mahayana Buddhist monk best known for his role in leading South Vietnam’s Buddhist majority during the Buddhist crisis in 1963.

His campaign, in which he exhorted followers to emulate the example of Mahatma Gandhi, saw widespread demonstrations against the Catholic government of President Ngo Dinh Diem, and its pro-Catholic and Anti-Buddhist policies, attributed to the influence of Diem’s elder brother Archibishop Ngo Dinh Thuc of Hue. Diem’s often violent suppression of the demonstrations lead to widespread dismay among the populace, and resulted in a military coup in November 1963 that removed Diem and his family from power.

In his early days, Thich Tri Quang went to Ceylon to further his Buddhist studies. When he returned, he participated in anti-French activities, calling for the independence of Vietnam.

In 1963, Vesak, the birthday of Gautama Buddha fell on May 8. The Buddhists of Hue had prepared celebrations for the occasion including the display of the Buddhist flag. The government cited a rarely enforced regulation prohibiting the display of religious flags, banning it. This occurred despite the non-enforcement of the regulation on a Catholic event celebrating the fifth anniversary of Ngo Dinh Thuc as Archbishop of Hue less than a month earlier. The Buddhists defied the ban and held a demonstration, and congregated at the radio station expecting to hear an address by Thich Tri Quang, as was routine for such a day. The authorities cancelled the speech and opened fire on the crowd, killing nine.

On May 10, Buddhist campaigns for religious equality, compensation for the victims, punishment for those responsible, and the right to fly the Buddhist flag. Thich Tri Quang urged the demonstrators to not allow Vietcong to exploit the unrest, and exhorted a strategy of passive resistance. As the crisis deepened, he travelled to the capital Saigon for negotiations and further protests after the self immolation of Thich Quang Duc on June 11. Prior to the August 21 raids on the Xa Loi Pagoda by Ngo Dinh Nhu’s secret police and special forces, he sought refuge at the US embassy. He was accepted by the US ambassador Henry Cabot Lodge, who refused to hand him to Nhu’s forces after they had ransacked the pagodas, fired on and beat monks. In Hue, thirty people died as they attempted to blockade the pagodas from Nhu’s men.

Following the coup on November 1, 1963 which removed Diem and Nhu from power, it was reported that the military junta wanted Thich Tri Quang to be a part of the new cabinet, but the US State Department recommended against this.

After the 1964 coup by General Nguyen Khanh which deposed the Duong Van Minh junta, Khanh had Captain Nguyen Van Nhung, the bodyguard of Minh and executioner of Diem and Nhu executed. This generated rumours that pro-Diem politicians would be restored to power and prompted Thich Tri Quang to cancel a planned pilgrimage to India in order to organise further demonstrations. In late 1964, Khanh revoked his decision to put the General lead by Tran Van Don from detention in Da Lat.

In 1965, demonstrations occurred again when anti-Diem General Nguyen Chanh Thi, the commander of central Vietnam, was stripped of his position by Prime Minister Nguyen Cao Ky. This time Ky had Thich Tri Quang arrested and put him under house arrest in Saigon. When the communists overran South Vietnam in the Fall of Saigon, Thich Tri Quang was again put under house arrest../.

(Hết)

Đào Văn Bình

(Nguồn: http://www.phapvan.ca/pv/default.asp?15659=5&596=2&759=2125&59615=4)

http://www.thuvienhoasen.org/

Các bài giảng audio của TT Thích Chân Quang

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

11. Nhân và Duyên
Download

12. Kiếp Người
Download

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

19. Trưởng Thành
Download

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

22. Nhân Quả
Download

23. Như Thế Vẫn Chưa Đủ
Download

24. Triết Lý Bàn Tay
Download

25. Thực Tập Hạnh Phúc
Download

26. Mùa Xuân
Download

27. Tiền Bạc
Download

28. Trung Đạo
Download

29. Xây dựng cho kiếp sau
Download

30. Hạnh nguyên người trụ trì
Download

Tác giả Trần Chung Ngọc

Tác giả Trần Chung Ngọc

Đôi hàng về tác giả

Sinh năm 1931 tại Hà-Nội.

1952: Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định với cấp bậc Thiếu Úy.

1956: Xin giải ngũ.

1957: Quy Y Tam Bảo, Chùa Văn Thánh, Thị Nghè, Thượng Tọa Tuệ Đăng chứng minh

1962: Cử Nhân Giáo Khoa Khoa Học, Khoa Học Đại Học Saigon.

1962: Bị gọi tái ngũ.

1962-1965: Trưởng Khoa Khoa Học (Vật Lý và Hóa Học), Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Đồng thời dạy thực tập Vật Lý ở Đại Học Đà Lạt, và dạy Vật Lý lớp 12 ở Collège d’Adran, Đà Lạt.

1965: Được giải ngũ

1965-1967: Giảng Nghiệm Viên, Ban Vật Lý, Khoa Học Đại Học Saigon.

1967: Được học bổng đi Mỹ học về ngành Vật Lý ở Đại Học Wisconsin – Madison.

1972: Tốt nghiệp Ph.D., Vật Lý, Đại Học Wisconsin – Madison.

1972-1975: Giảng sư, Ban Vật Lý, Khoa Học Đại Học Saigon.  Giáo sư thỉnh giàng: Đại Học Vạn Hạnh, Trường Kỷ Thuật Thủ Đức (1), Trường Kỹ Thuật Cao Thắng. Đồng thời, cùng với các Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Ích (M.I.T), Vũ Thượng Quát (Cal.Tech), Huỳnh Văn Quảng (S.I.U), được tuyển làm ChuyênViên Đại Học, trực thuộc Thứ Trưởng Giáo Dục, trước là Đỗ Bá Khê, sau là Bùi Xuân Bào, đặc trách xét văn bằng ngoại quốc tương đương với các văn bằng Việt Nam, cùng nghiên cứu cải tổ chương trình giáo dục đại học.

1975-1977: Post Doctorate Fellow, Physics Department, University of Wisconsin- Madison.

1977-1996: Manager, Surface Analysis Laboratory, Materials Center, University of Wisconsin – Madison. Direct and conduct research in the field of Surface Analysis using new techniques such as AES (Auger Electron Spectroscopy); ESCA (Electron Spectroscopy for Chemical Analysis); SEM (Scanning Electron Microscopy); SIMS (Secondary Ion MassSpectroscopy) etc…

1989: Tháng 11: Được mời sang Singapore làm Cố Vấn Kỹ Thuật ở SISIR (Singapore Institute of Standards and Industrial Research)

1996 – To date: Về hưu. Nghiên cứu Đạo Phật, Thiên Chúa Giáo, Lịch sử v..v..

(1) niên khóa 1973-1974, chỉ có vài giờ ở đây, không nhớ chính xác tên trường là Kiểu Mẫu Thủ Đức hay Đại Học Kỷ Thuật Thủ Đức.

Tác phẩm đã xuất bản:

 

Tác Phẩm Viết Chung Với Một Hay Nhiều Tác Giả Khác:

  • Bản Chất Các Phản Ứng Về Bài Giảng Của HT Nhất Hạnh (2001)
  • Dialogue With Pope John Paul II (1997)
  • Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II (1995; Tái bản lần 3: 2000)
  • Ki Tô Giáo Và Kế Hoạch Cải Đạo Á Châu (2005)
  • LM Trần Lục, Thực Chất Con Người Và Sự Nghiệp (1999)
  • Nguyễn Trường Tộ, Thực Chất Con Người Và Di Thảo (1998)
  • Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước ?? (2002)
  • Người Việt Nam & Đạo Giêsu (2007)
  • Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới; Tuyển Tập I (1996)
  • Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới; Tuyển Tập II (1997)
  • Phê Bình Những Bài Phê Bình Cuốn Đối Thoại…[Tập 1, Phê Bình Ông Dương Ngọc Dũng; Tập 2, Phê Bình Ông Đỗ Mạnh Tri] (1997)
  • Tôn Giáo Và Tổ Quốc (2003)
  • Tuyển Tập: 1963-2003: Bốn Mươi Năm Nhìn Lại (2003)
  • Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo (2000)
  • Vatican: Thú Tội Và Xin Lỗi (2000)
  • Võ Văn Ái: Con Nội Trùng Của Phật Giáo Việt Nam (2005)

 

Các Bài Viết:

  • Hơn 100 bài viết về tôn giáo, lịch sử, khoa học, thời sự v..v.. đăng trên các báo Nguồn Sống [Tu viện Kim Sơn], Phật Giáo Hải Ngoại [Phật Học Viện Quốc Tế], Sen Trắng [Chùa Giác Lâm], Giao Điểm, và trên các trang nhà Giao Điểm, Sách Hiếm v..v..

 

Các bài đã đăng xếp theo mẫu tự:

Đối thoại:
“Sản Phẩm Trí Tuệ” của Nguyễn Anh Tuấn (Trần Chung Ngọc)
Ai Dám Tấn Công Đạo Chúa ? (TCN & NMQ)
Chiến Tranh … Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ (Trần Chung Ngọc)
Chu Tất Tiến: Here We Go Again (Trần Chung Ngọc)
Chuyện “Hòa Đồng Tôn Giáo” – “Cha Chung” là ai? (Trần Chung Ngọc)
Chuyện “Hòa Đồng Tôn Giáo” – Các Vấn Nạn Cần Giải Quyết (Trần Chung Ngọc)
Chuyện “Hòa Đồng Tôn Giáo” – Căn Bản Đức Tin (Trần Chung Ngọc)
Chuyện “Hòa Đồng Tôn Giáo” – Kết Luận (Trần Chung Ngọc)
Chuyện “Hòa Đồng Tôn Giáo” – Lợi Ích ? (Trần Chung Ngọc)
Comments On John Paul II’s Crossing the Threshold of Hope (Trần Chung Ngọc)
Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar
Eh! Lữ Giang, alias Tú Gàn, Here we go again! (Trần Chung Ngọc)
Giáo Dân Nguyễn Phúc Liên đả đảo Vatican!(Phúc Lâm)
Khổ Thân Củ Khoai Tôi (Trần Chung Ngọc)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Nguyễn Văn Lục
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ Về Tiến Sĩ Nguyễn Học Tập (Trần Chung Ngọc)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (1)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (2)
Lại Chuyện Ruồi Bu của Trần Trung Đạo (Trần Chung Ngọc)
Một Trí Thức Không Biết Ngượng (1) – Trần Chung Ngọc
Một Trí Thức Không Biết Ngượng (2)- Trần Chung Ngọc
NHÂN ĐỌC MẤY CÂU TRẢ LỜI VƯƠNG V
Nhân Đọc Bài “Nhà Chúa hay Nhà Chùa” của LM Thiện Cẩm (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Bài “Niềm Tin …” Của Trần Thị Hồng Sương – 2 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Bài “Niềm Tin …” Của Trần Thị Hồng Sương -1 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Mấy Câu Trả Lời của Ông Mục Sư NQM (Trần Chung Ngọc)
Phiếm Luận Về “Phê Bình Và Đối Thoại” (Trần Chung Ngọc)
Phải Chăng GS Quang Quá Lo Xa ? (Trần Chung Ngọc)
Quả Đúng Là Chu Tất Tiến (Trần Chung Ngọc)
Thiền Sư Nhất Hạnh
Thư Gửi Bạn: Những Người Tin Có Thiên Chúa (Trần Chung Ngọc)
Thầy Nhất Hạnh
Thử Phân Tích Một Đoạn Văn của André Masson (Trần Chung Ngọc)
Trả Lời Ông Lưu Á Ni (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc “Đất Việt” & “Hành Hương Đất Phật” của Phan Thiết (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc BS Ngyễn Thị Thanh Trả Lời Câu Hỏi Don Lê… (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc Bài “Nhận Thức…” của ông Nguyễn Văn Thắng (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc: “Từ Dieu et César đến Thập Giá và Lưỡi gươm” Của Nguyễn Văn Lục: (Trần Chung Ngọc)
Tại Sao Không Thể Lương Thiện Đi Một Chút ! (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn Về “Thói Đời Đối Kháng”(Trần Chung Ngọc)
Viết Mà Chơi Về Đối Thoại (Trần Chung Ngọc)
Vài Nhận Xét về bài…của Nguyễn Tường Tâm (Trần Chung Ngọc)
Vài Ý Kiến Về Bài “Giáo Hội Công Giáo Roma” của ông Nguyễn Học Tập (Trần Chung Ngọc)
Về Bức Thư Ngỏ của ông Chu Tất Tiến (Trần Chung Ngọc)
Về một bài báo…
Vụ Án Nguyễn Văn Lý
Đáp Thư của Bác Gửi Cháu TTVN (Trần Chung Ngọc)
Đôi Lời Kính Cáo Cùng Độc Giả (Trần Chung Ngọc)
Đọc bài … của Nguyễn Văn Trung
“Sản Phẩm Trí Tuệ” Mới Của Nguyễn Anh Tuấn Về “Giáo Hội Tiên Khởi…” (Trần Chung Ngọc)
“Tự Do Tín Ngưỡng” của Minh Võ (Trần Chung Ngọc)

Khoa học:
Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa (Trần Chung Ngọc)
Con Người và Vũ Trụ – Dẫn Nhập
Con Người và Vũ Trụ – Phần I (Mục 1)
Con Người và Vũ Trụ – Phần I (Mục 2)
Con Người và Vũ Trụ – Phần I (Mục 3)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (kết)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (Mục 1)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (Mục 2)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (Mục 3)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (Mục 4)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (Mục 5)
Con Người và Vũ Trụ – Phần II (Mục 6)
Nguồn Gốc Con Người – Thuyết Tiến Hóa (Trần Chung Ngọc)
Nguồn Gốc Vũ Trụ – Thuyết Big Bang (Trần Chung Ngọc)
Thiết Kế Thông Minh hay Ngu Đần (Trần Chung Ngọc)
VietCatholic & Thuyết Tiến Hóa (Trần Chung Ngọc)
Vấn Đề Đạo Đức Trong Khoa Học (Trần Chung Ngọc)

Lịch sử:
Ai Là Ác Nhân Nhất Thế Kỷ 20 ? (Trần Chung Ngọc sưu tầm)
Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” (Trần Chung Ngọc)
Nguyễn Trường Tộ – Từ Huyền Thoại Đến Thực Chất (Trần Chung Ngọc)
Nhận Định Về DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” (Trần Chung Ngọc)
Thư mục để tham khảo (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Diệm (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Hồ -1 (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Hồ -2 (Trần Chung Ngọc)
Xét Lại Huyền Thoại Nguyễn Trường Tộ – Nhân Đọc… (Trần Chung Ngọc)
ĐIỆN BIÊN PHỦ, hay Đâu Là “Sự Thật Lịch Sử” Của Lữ Giang (Trần Chung Ngọc)

Tôn giáo:
“Ngày Tận Thế” của Ki Tô Giáo  (Trần Chung Ngọc)
AMEN ! – Dẫn nhập (Trần Chung Ngọc)
AMEN ! Các cơ sở “bác ái” của Công Giáo (Trần Chung Ngọc)
AMEN ! Nội dung và phản ứng của Giáo hội CG (Trần Chung Ngọc)
Amen! (Là Như Thế Đó!) (Trần Chung Ngọc)
Anh ngữ: What is Buddhism? (Trần Chung Ngọc)
Bộ Mặt Thật Của Benedict XVI (Trần Chung Ngọc)
Chương Trình “Cứu Rỗi” của Chúa Giêsu (Trần Chung Ngọc)
Con Đường Chuyển Hóa (Trần Chung Ngọc)
Cuộc Đối Thoại giữa Phật và Chúa (Trần Chung Ngọc)
Các danh nhân Âu Mỹ nghĩ gì về GOD (Trần Chung Ngọc)
Cây Thập Giá Trong Kitô Giáo (Trần Chung Ngọc)
Có “Christian God” Hay Không? (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo & Tin Lành (2)- Đức tin và quyền lực
Công Giáo & Tin Lành (3) – Sự suy thoái
Công Giáo & Tin Lành -Sự khác biệt (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – 5 Chương Sử Đặc Biệt Của Ca-Tô Rô-Ma Giáo (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Abraham tổ phụ các đạo Chúa(Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Dẫn Nhập (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Học Thuật Gia Tô (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Nhận Định Tổng Quát(Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Quanh Vấn Đề TCG Vào Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Sách Lược Bành Trướng (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Thay Lời Kết(Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Thánh Kinh (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Tài Liệu Tham Khảo(Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử – Từ Huyền Thoại Đến Thực Chất (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Chính Sử­ – Maria (Trần Chung Ngọc)
Công Giáo Hắc Sử – Dẫn Nhập
Darwin Hay Thượng Đế? Tiến Hóa Hay Sáng Tạo? (Trần Chung Ngọc)
Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” (Trần Chung Ngọc)
GH BENEDICT XVI nói  “cực kỳ xấu hổ”
Giáo Hoàng CG và Giáo Chủ HG (Trần Chung Ngọc)
Giê Su Là Ai ? – Chương 2
Giê Su Là Ai ? – Giêsu và quốc gia
Giê Su Là Ai ? – kết chương 1
Giê Su Là Ai ? – lời nói đầu (Trần Chung Ngọc)
Giê Su Là Ai ? – tiếp chương 2
Giê Su Là Ai ? – Vài Lời “Giảng Dạy”
Giê Su Là Ai ? -Bài Giảng Trên Núi
Giê Su Là Ai ?- Ba bằng chứng ngụy tạo
Giê Su Là Ai ?- Chương 1
Giê Su Là Ai ?- dẫn nhập
Giê Su Là Ai ?- kết luận
Giê Su Là Ai ?- Phụ lục
Hiểm họa Ki-tô là có thực (Trần Chung Ngọc)
Hiểm Họa Tin Lành -1 (Trần Chung Ngọc)
Hiểm Họa Tin Lành -2 (Trần Chung Ngọc)
Hiểm Họa Tin Lành -3 (Trần Chung Ngọc)
Hiểm Họa Tin Lành -4 (Trần Chung Ngọc)
HIỆN TƯỢNG H.Y. PHẠM MINH MẪN (Trần Chung Ngọc)
Huyền Thoại Cứu Rỗi  (Trần Chung Ngọc dịch)
Huyền Thoại Lộ Đức (Trần Chung Ngọc)
Hãy Tạ Ơn Chúa ! (Trần Chung Ngọc)
Linh mục là ai (2)
Linh mục là ai (Trần Chung Ngọc)
Lịch Sử các Giáo Hoàng (Trần Chung Ngọc)
Lời Truyền Phép Thánh Thể (Trần Chung Ngọc)
Mười Điều Chính Để Nhận Biết Ai .. (Trần Chung Ngọc)
Một Bản Án Chống Công Giáo (Trần Chung Ngọc)
Một Hình Ảnh Cần Dẹp Bỏ (Trần Chung Ngọc dịch)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Giê-su Sinh Ra Đời Để Làm Gì? (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Lời Kết (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Lời Tòa Soạn (TCN & NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Người Việt Nam theo Đạo Giêsu Là Vì Cái Gì? (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Nhiệm Vụ Truyền Giáo Của Đạo Giê-su Trên Thế giới (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Thánh Kinh Ki Tô Giáo Viết Những Gì? (TCN&NMQ)
Nhân Vật Mary Trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma (Trần Chung Ngọc)
Nhân Vật Mary Trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma – 1 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Vật Mary Trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma – 2 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Vật Mary Trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma – 3 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Vật Mary Trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma – 4 (Trần Chung Ngọc)
Nhân đọc bức thư của GH .. (Trần Chung Ngọc)
Nhìn Lại Ca-Tô Giáo (Trần Chung Ngọc)
Nhìn lại cuộc tranh đấu Phật Giáo (Trần Chung Ngọc)
Những Sự Thật Xung Quanh Vụ Đức Mẹ Hiện Ra ở Fatima (Trần Chung Ngọc)
Phản Ứng của Phật Giáo … (Trần Chung Ngọc)
Phật Giáo Thiền Chứ Không Ngủ  (Trần Chung Ngọc)
Phật Giáo Việt Nam trong thời đại mới (Trần Chung Ngọc)
Phật Giáo VN trong thế giới đa văn hóa (1)
Phật Giáo VN trong thế giới đa văn hóa (2)
Quanh Chuyện Chúa Chết (Trần Chung Ngọc)
Quanh vấn đề JOSEPH RATZINGER được bầu làm GH (Trần Chung Ngọc)
SÁCH: “LỘT MẶT NẠ CA-TÔ GIÁO” (dịch phẩm)
Sự Suy Thoái Của Ki-tô Giáo
Thiên Chúa của những khoảng trống (Trần Chung Ngọc)
Thư Ngỏ gửi Cám Ơn TGM (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 1. Về Ca-tô giáo (Trần Chung Ngọc)
Tin Tức Hình Ảnh Đại Lễ VESAK Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Trai đàn chẩn tế (Trần Chung Ngọc)
Trả lời Nguyễn Hữu Thống về Hiệp định Geneva (Chính Đạo)
Tôi đọc Đường Xưa Mây Trắng
Tương Lai Giáo Hội Ca-Tô Rô Ma ở VIỆT NAM (Trần Chung Ngọc)
Tại Sao Tín Đồ Ki Tô Giáo Âu Châu Mở Chiến Dịch “Sửa Bỏ Rửa Tội”? (Trần Chung Ngọc)
Tản mạn về “NGÀY LỄ TẠ ƠN”  (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn Về Mùa Giáng Sinh (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn Về Ngày “Giêsu Sinh Ra Đời” (Trần Chung Ngọc)
Tổng Giám mục Stanislaw
Việt Nam, Vesak Liên Hiệp Quốc 2008 (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Phật Giáo và Khoa Học (Trần Chung Ngọc)
Vô Thần – Hữu Thần (Trần Chung Ngọc)
Về Ba Ngôi Thiên Chùa (Trần Chung Ngọc)
Về Cuốn “Sống Theo Mục Đích” của Mục Sư RICK WARREN -1 (Trần Chung Ngọc)
Về Cuốn “Sống Theo Mục Đích” của Mục Sư RICK WARREN -2(Trần Chung Ngọc)
Về Cuốn “Sống Theo Mục Đích” của Mục Sư RICK WARREN -3(Trần Chung Ngọc)
Về Một Cuốn Sách ()Trần Chung Ngọc
Xmas (Trần Chung Ngọc)
Ông Già Noel Dưới Mắt Kỷ Sư (Trần Chung Ngọc)
Đâu Là Sự Thực! (Trần Chung Ngọc)
Đâu Là Sự Thực? – Những “Danh Ca” của Công Giáo (Trần Chung Ngọc)
Đâu Là Sự Thực? – Thánh Mẹ Teresa (Trần Chung Ngọc)
Đâu Là Sự Thực? -“Khuôn Mặt Siêu Việt” của GH John Paul II ra sao? (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Cha – Nhập Đề (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Cha Của Những Người Theo Đạo Thiên Chúa! (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Con Giêsu Của Những Người Theo Đạo Giêsu! (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Giêsu – Lời Kết (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Giêsu – Mục Đích Giáng Trần (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Giêsu – Trí Tuệ (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Giêsu – Vào Đề (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Giêsu – Vấn Đề Đạo Đức (Trần Chung Ngọc)
Đây, Chúa Ma – Ngôi Ba Trong “Bộ Ba Thiên Chúa (Trần Chung Ngọc)
Đây, Thiên Chúa – Đặc Tính Chúa Cha (Trần Chung Ngọc)
Đây, Thánh Ma – Ngôi Ba Thiên Chúa (Trần Chung Ngọc)
Đây, Thánh Ma – Ngôi Ba Trong “Bộ Ba Thiên Chúa” (Trần Chung Ngọc)
Đây, Thánh Ma – Thủ tục và ý nghĩa của lễ rửa tội (Trần Chung Ngọc)
Đối Chiếu Phật Giáo & Kitô Giáo – Lời Nói Đầu (Trần Chung Ngọc)
Đối Chiếu Phật Giáo & Kitô Giáo – Phần I (Trần Chung Ngọc)
Đối Chiếu Phật Giáo & Kitô Giáo – Phần II (Trần Chung Ngọc)
Đức Tin Công Giáo- Bí Tích (Trần Chung Ngọc)
Đức Tin Công Giáo-Chú Thích, Tài Liệu (Trần Chung Ngọc)
Đức Tin Công Giáo-Dẫn Nhập (Trần Chung Ngọc)
Đức Tin Công Giáo-Kết (Trần Chung Ngọc)
Đức Tin Công Giáo-Nguồn Gốc Ki-Tô Giáo (Trần Chung Ngọc)

Thời sự:
30 tháng 4: Nhìn Lại Cuộc Chiến Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Bang Giao “Bắc Kinh-Vatican” (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Chống Cộng Theo Gương David (Trần Chung Ngọc)
Chủ Nghĩa Khủng Bố và Diệt Chủng (Trần Chung Ngọc)
Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar
Dư Luận Quần Chúng
Linh tinh Thời sự, Viết mà chơi
Ma Quân Quấy Nhiễu Sư Tăng – Nhưng Thất Bại (Trần Chung Ngọc)
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM – 2
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM – 3
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM -1
Một trong ba thứ (Trần Chung Ngọc)
NED và Lê Quốc Quân
Nguyễn Cao Kỳ và Việt Weekly
NGÀY 30/4/1975 (Trần Chung Ngọc)
Ngáp Lớn Trong Tòa Mỹ Bị Tù – Còn Nguyễn Văn Lý ? (Trần Chung Ngọc)
Nhân chuyện ông Triết đi Mỹ
Nhân Quyền của Mỹ & Dự Luật H.R. 3096 (Trần Chung Ngọc)
Những Người Máy Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)
Noam Chomsky & Robert McNamara (Trần Chung Ngọc)
Phiếm Luận Về “Cộng Sản” Hải Ngoại (Trần Chung Ngọc)
Phải Chăng Chiếc Khăn Quàng Là Giải Pháp Cho Tòa Khâm Sứ? (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Chiến Tranh Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Lá Cờ Vàng (Trần Chung Ngọc)
Thử Phân Tích Vài Đoạn Trong Bài Diễn Văn Nhậm Chức (Trần Chung Ngọc)
Tâm Thư Gửi Những Ai Quan Tâm (Trần Chung Ngọc)
Tại Sao Lại Việt Nam ? (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn về Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn Xung Quanh Cuộc Chiến Ở Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
VAALA – Nghệ Thuật Lên Tiếng [Nhưng Bị Bóp Nghẹt] (Trần Chung Ngọc)
Viết Mà Chơi – Ai Chống Cộng Và Ai Không Chống ? (Trần Chung Ngọc)
Vài Nhận Định Khi Đọc Lời Phát Biểu Của Ông Ngô Quang Kiệt (Trần Chung Ngọc)
Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang Giao Với Vatican (Trần Chung Ngọc)
Vấn Đề Nhân Quyền Trước Luật Pháp Quốc Gia (Phúc Lâm sưu tầm)
ĐÒI ĐẤT ! ĐẤT NÀO ? ĐẤT CỦA AI ? (Trần Chung Ngọc)
Đôi Hàng Về Chuyện Cờ Vàng Cờ Đỏ (Trần Chung Ngọc)
Đôi Điều Chung Quanh Cuốn Le Livre Noir (Trần Chung Ngọc)
ĐĐ Thích Nhật Từ và Xóm Đạo (Trần Chung Ngọc)
“Religulous” Điểm Phim Cuối Tuần (Trần Chung Ngọc)
“Sư Chính Trị” của MARK MOYAR

Các bài viết của tác giả Nguyễn Mạnh Quang

Các bài viết của tác giả Nguyễn Mạnh Quang

Vài hàng về tác giả

6/1964: Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm Sàigòn môn Sử Địa.

1964-1966: Dạy môn Sử Địa và Công Dân tại Trường Trung Học Nguyễn Trung Trực, Kiên Giang.

1966-1969: Được cấp học bổng du học theo họ tại Đại Học Ohio, Hoa Kỳ.

9/1969: Tốt nghiệp Cao Học Giáo Dục môn Sử Địa và hồi hương.

1970-1975: Dạy môn Sử Địa và Công Dân tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức, Sàigòn.

4/1975: Rời Việt Nam sang Hoa Kỳ.

9/1975 – 9/1998: Làm việc tại Sở Học Chánh Tacoma (Tacoma Public Schools). Phụ trách dạy các môn: Lịch Sử Hoa Kỳ (American History), Những Vấn Đề Khó Khăn Trên Thế Giới (World Problems), Sử Tiểu Bang Washington, Công Dân (Civics), Địa Lý Thế Giới ( World Geography) tại các trường Trung Học Lincoln, Wilson và Stadium.

CÔNG TRÌNH BIÊN SOẠN VÀ DỊCH THUẬT

A.- BIÊN SOẠN

1.- Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh (Saigòn, Sáng Tạo, 1972).

2.- Tập Đọc và Tập Viết Tiếng Việt (Tacoma Public Schools, 1980).

3.- Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX, Văn Hóa, 1998 và 2000).

4.- A Poem For My Children – Bài Thơ Cho Con (Houston, TX, Văn Hóa, 1999).

5.- Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, Washington, 1999).

6.- Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX,  Đa Nguyên, 2004).

B.- DỊCH THUẬT

Lịch Sử Hoa Kỳ (quyển thượng và quyển hạ), dịch từ tập sách giáo khoa dành cho các em học sinh bậc trung học tại Hoa Kỳ có tựa đề là This Is Americas’ s Story. Sách dầy 808 trang của các tác giả Howard B. Wilder, Robert P. Ludlum và Harriett McCune Brown (Houghton Mifflin Company Boston, 1975).

 CÙNG MỘT TÁC GIẢ

A.- ĐÃ XUẤT BẢN:

1.- Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh (Saigòn, Sáng Tạo, 1972).

2.- Tập Đọc và Tập Viết Tiếng Việt (Tacoma Public Schools, 1980).

3.- Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX, Văn Hóa, 1998 và 2000).

4.- A Poem For My Children – Bài Thơ Cho Con (Houston, TX, Văn Hóa, 1999).

5.- Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, Washington, 1999).

6.- Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX,  Đa Nguyên, 2004).

7.- Lịch Sử Hoa Kỳ (dịch)

 B.- SẮP XUẤT BẢN

1.- Giáo Triều Vatican: Lịch Sử và Hồ Sơ (Xem các phần mục >>)

2.- NGÔ ĐÌNH DIỆM: Con Người và Tội Ác.

Các tác phẩm đăng trong Sachhiem.net

Ai Dám Tấn Công Đạo Chúa ? (TCN & NMQ)
Chuyện “Dê Cỏn Buồn Sừng” Của Con Chiên Chu (Nguyễn Mạnh Quang)
Chuyện Đảo Ngược Danh Dự Ông Hồ Chí Minh (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 02: Tính Cách Thuận Lý của Chính Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 02a: Tính Cách Thuận Lý của Chính Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 02b: Tính Cách Thuận Lý của Chính Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 02c: Tính Cách Thuận Lý của Chính Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 03: Đặc Tính Những Lá Cờ Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 03a: Đặc Tính Những Lá Cờ Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 03b: Đặc Tính Những Lá Cờ Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 03c: Đặc Tính Những Lá Cờ Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 03d: Đặc Tính Những Lá Cờ Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 04: Đi Tìm Ý Nghĩa Thực Sự Của Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 05: Đại Việt, Lập Hiến Đông Dương và Việt Nam Quang Phục (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 06: Việt Quốc và Việt Cách (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 06a: Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 07: Đặc Tính (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 07a: Đặc Tính (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 07b: Không Dám Đối Đầu Sự Thật (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 08: Chính Sách Ngu Dân Và Giáo Dục Nhồi Sọ (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 08: Chính Sách Ngu Dân Và Nhồi Sọ (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 09: Tác Dụng Của Chính Sách Ngu Dân (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 10: Di Lụy Của Chính Sách Ngu Dân (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 10: Di Lụy Của Chính Sách Ngu Dân (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 12: Trước 30 Tháng 4, 1975 (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 13: Cờ Vàng Ở Hải Ngoại (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 13: Cờ Vàng Ở Hải Ngoại (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG 14: Cờ Vàng Làm Nhục Quốc Thể (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NGQG: Lời Kết (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NVQG 00: Dẫn Nhập (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NVQG 01: Quan niệm Chính Thống và Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NVQG 01a: Quan niệm Chính Thống và Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NVQG 01b: Nhà Nguyễn Không Tròn Trách Nhiệm (Nguyễn Mạnh Quang)
Chân Dung NVQG 01c: Chính Nghĩa Thuộc Về Các Lực Lượng Kháng Chiến (Nguyễn Mạnh Quang)
Cách xưng hô trong bức Tâm Thư gửi nhà nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Câu Chuyện Bức Tranh Chuột (Nguyễn Mạnh Quang)
God’s Warriors (David Truskoff)
Gửi Quý vị Tu sĩ Ca-tô và giáo dân người Việt (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 1 – Nguyên Nhân Của Tập Sách (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 2 – Những Điểm Khác Biệt (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 3 – Nhận Xét Về Bài “Cần Thẩm Định Lại…” (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 4 – Bài Viết Của Ông Nguyễn Học Tập (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 5 – Cưới Vợ Cho Hà Bá (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 6 – Bị Thảm Bại Khi Cấu Kết Với Nhà Thờ (Nguyễn Mạnh Quang)
Khóc Bạn Hà Mai Phương (Nguyễn Mạnh Quang)
Letter To Pope John Paul II (Nguyễn Mạnh Quang)
LSHK-1- Marco Polo và những chuyện kỳ thú ở Đông phương (Nguyễn Mạnh Quang dịch)
LSHK-2- Magellan tìm ra con đường đi vòng quanh thế giới (Nguyễn Mạnh Quang dịch)
LSHK-3- Những Lá Thư Của Phillip Andrew (Nguyễn Mạnh Quang dịch)
LSHK-4- Các Thuộc Địa Thành Lập Thế Nào? (Nguyễn Mạnh Quang dịch)
LỊCH SỬ HOA KỲ
Lời Mở Đầu
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Các Chính Sách Của GHLM Đã và Đang Thi Hành (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Di Ngôn của Mạc Ngọc Liễn (NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Hậu Quả Của Việc Không Dạy Toàn Bộ Lịch Sử (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Lời Kết (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Lời Tòa Soạn (TCN & NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Nền Đạo Lý Phản Nhân Luân (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Sử Liệu Thế Nào Mới Khả Tín? (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Vatican Bám Chặt Việt Nam Lâu Nhất (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Vatican Là Kẻ Thù Thâm Độc Nhất (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: VATICAN Và Tín Đồ Người Việt Trong Quá Trình Chống Lại Tổ Quốc VN (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Vấn Đề Đặt Ra Với Tín Đồ Da Tô Người Việt (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Đặc Tính Ngược Ngạo Trong Đạo Da Tô (TCN&NMQ)
Người Việt Nam & Đạo Giêsu: Ảnh Hưởng của Chính Sách Ngu Dân và Chia Để Trị (TCN&NMQ)
NHỮNG ĐỨA CON HOANG
Những Khác Biệt Giữa Chúng Ta (Nguyễn Mạnh Quang)
Những người đòi bỏ danh dự Tổ Quốc (NMQ)
Những Sai Lầm Trầm Trọng Trong Quyển VIETNAM 1945-1995 -phần đầu (Nguyễn Mạnh Quang)
Những Sai Lầm Trầm Trọng Trong Quyển VIETNAM 1945-1995 phần sau (Nguyễn Mạnh Quang)
Những Đứa Con Hoang (Nguyễn Mạnh Quang)
Phỏng Vấn nhà giáo Nguyễn Mạnh Quang: Chính Thống và Chính Nghĩa (Sách Hiếm)
Thánh Binh (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư KMTD – Hiền tài hay Việt gian ? (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư KMTD – Kết Quả Của Thỏa Hiệp 27-1-1973 (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư Ngỏ – đoạn 2
Thư Ngỏ – đoạn chót
Thư Ngỏ Gửi Giáo Hoàng John Paul II (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư Ngỏ Gửi TGM Ngô Quang Kiệt (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư Thắc Mắc của HS KMTD (Nguyễn Mạnh Quang)
Tiễn Bạn, Nhớ Chuyện Ngày Xưa (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Các Con Số Tín Đồ Từ Thế Kỷ 16 (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Các Thánh Lệnh Phân Chia Thế Giới (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Giới thiệu (sachhiem.net)
TT: Kế Hoạch Đánh Chiếm Việt Nam của Vatican (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Những Lý Do Việt Nam Không Thể Thiết Lập Ngoại Giao Với Vatican (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Những Mâu Thuẫn Trong Đạo Thiên Chúa La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Sơ Lược Nội Dung (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Tổng Quát về Chủ Trương Của La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Vatican Trong Nỗ Lực Thuyết Phục Pháp Đánh Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
TT: Đời Sống Dâm Loạn Của Các Giáo Sĩ (Nguyễn Mạnh Quang)
Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Tính Cách Đặc Biệt Trong Kỳ Bầu Cử Tổng Thống 2008 (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH06- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Lươn Lẹo (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Nhận Vơ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Cưỡng Từ Đoạt Lý (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Diễn Biến Sự Rã Đám của Chính Quyền Miền Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Thói Quen Tiếm Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Đảo Lộn Lịch Sử (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH15.1 – Tại Sao Tu Sĩ TCG Phải Sống Độc Thân? (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH15.2 – Hậu Quả Của Chính Sách Cưỡng Bách Độc Thân (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH15.3 – Tình Trạng Loạn Luân Trong Giới Tu Sĩ Ca-Tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH16.1 – Chủ Đích Đi Tu Của Đạo Ca-Tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH16.2 – Độc Thân và Sự Trinh Bạch của Tu Sĩ Ca-Tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH16.3 – Biện Pháp Giải Quyết Nạn Khan Hiếm Tu Sĩ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH17.1 – Bao Che Tu sĩ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH17.1 – Các Biện Pháp Để Bao Che (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH17.3 – Đối Với Tín Đồ Người Mỹ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH18- Lộ Đồ Chinh Phục Thế Giới (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH19- Thiết Lập Các Đạo Quân Thứ 5 (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH20- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH21- Vận Động Pháp Lần Thứ Nhất (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH22- Lần Thứ Hai Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH23- Lần Thứ Ba Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH24- Sách Lược Nội Công Ngoại Kích (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH25- Bộ Máy Cai Trị Của Liên Minh (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH26- Đời Sống Dân Ta Trong Thời Pháp-Vatican Đô Hộ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Ch27- Tiền Bạc, Châu Báu Bị Vatican Cướp Đoạt(Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH28- Chính Sách Thuế Khóa và Sưu Dịch (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH29- Cướp Chùa, Ruộng Đất, Xây Nhà Thờ  (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH30- Hậu Quả Của Chính Sách Thuế Khóa (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH31- Hai Cảnh Đời Trái Ngược (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH6- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH60- Vatican Vận Động Hoa Kỳ Để Dy Trì Quyền Lực Tại Miền Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH60-1 Những Tính Toán của Vatican Trong Năm 1950 (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH61- Ngô Đình Diệm Dưới Mắt Các Chính Khách Hoa Kỳ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH62- Hoa Kỳ Nỗ Lực Củng Cố và Bảo vệ An Ninh cho ông Ngô Đình Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1a NGÔ ĐÌNH DIỆM: Con Người và Tội Ác (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1b Sơ Lược Cuộc Đời của NGÔ ĐÌNH DIỆM (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1c Tại Sao Gọi Là Tam Đại Việt Gian (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1d Cuồng Tín (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1e Những Đặc Tính Chung của Các Tín Đồ Ca-tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1f Tình Trạng Ngu Dốt Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm Tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH91 – Vấn Nạn Buôn Bán Ma Túy (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-1 – Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-2 – Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-3 – Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-4 – Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập tt (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Mục X- Vatican Cướp Đoạt Tài Sản Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Sơ Lược Hồ Sơ GHLM (Nguyễn Mạnh Quang)
Vài Hàng về Tác Giả
Vụ Án Nữ Anh Hùng Jeanne D’Arc (Nguyễn Mạnh Quang)
Ăn Cơm Quốc Gia? (Nguyễn Mạnh Quang)
Đặc Tính Nghịch Thường của Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ (Nguyễn Mạnh Quang)

Post Navigation