Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Archive for the category “Uncategorized”

Scratch – Bài 43 : Trò chơi ráp hinh 3 – Bài 44 : Trò chơi ráp hình 4

Bài 43 : Trò chơi ráp hinh 3
Download tài liệu liên hệ của Bài 42
Echip 222
http://www.mediafire.com/view/?yjbsbbo9z44e7v2

Bài 44 : Trò chơi ráp hình 4
Download tài liệu liên hệ của Bài 42
Echip 223
http://www.mediafire.com/view/?7ujhb63ns8boq73

Tưởng Nhớ Một Người Thầy Trong Đạo: Tì Kheo Thích Minh Châu – Giáo Sư Trần Ngọc Ninh

Tưởng Nhớ Một Người Thầy Trong Đạo:
Tì Kheo Thích Minh Châu
Giáo Sư Trần Ngọc Ninh
http://sachhiem.net/VANHOC/TranNgocNinh.php

12-Sep-2012
LGT (VB): Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Thạc-sĩ Y khoa* Ðại-học Pháp, nguyên Giáo-sư môn Văn-minh Ðại-cương và Văn-hoá Việt-Nam tại Ðại-học Vạn-Hạnh (Sài Gòn), nguyên Tổng-trưởng Văn-hoá Xã-hội và Ðặc-trách Giáo-dục trong Chính-phủ VNCH; nguyên Viện Trưởng Viện Việt-Học (California), 3/2003-2/2008..
________________________________________
Tôi được biết tin Tỳ Kheo Thích Minh Châu đã viên tịch ở Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 2012, thọ 95 tuổi.
Tin báo đến không trực tiếp hay qua dây nói, mà từ hai người báo tin mà tôi coi như em trong lòng, đã không muốn làm rộn tôi những tháng năm mai danh ẩn tích cuối đời. Nhưng trong thực tế, cái nghiệp dạy học của tôi không dứt được. Tôi ngưng sự giảng dạy y khoa và bỏ nước, bỏ tất cả cái sự nghiệp nghiên cứu và truyền thụ y học vô tận khi được lệnh phải hạ thấp cái học và cái biết của các y sĩ tương lai xuống mức độ bệnh kiết-lị, bệnh sán lãi (mà người ta gọi là y tế nhân dân). Tôi rũ bỏ hết, chỉ đội một cái nón lá trên đầu mà xuống thuyền vì tôi nghĩ rằng nếu tôi đi tu thì phải tới được Chánh Đẳng Chánh Giác dầu có phải qua vạn kiếp khổ, nhưng bảo rằng ngừng thì không, không và không. Sự biết lỏng là đầu mối của rất nhiều khổ đau. Lúc ấy, tôi chỉ mới tu được có mười năm.
Mười năm trước là cái duyên gặp gỡ của tôi với Thượng Tọa Minh Châu.
Trước đó nữa, tôi chỉ được nghe nói rằng Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam ở chùa Ấn Quang, đường Sư Vạn Hạnh, Sài Gòn nơi mà anh tôi Trần Ngọc Lập, bút danh Trần Việt Sơn, có được mời tới giảng dạy, về pháp gì trong Đạo Phật tôi cũng không biết; rằng ở trường có hai vị Thượng Tọa đã đậu Tiến Sĩ Phật Học ở tu viện Nalanda Ấn Độ, lúc ấy đang là giáo sư. Một trong hai vị này và là người đầu tiên trong thời nay đã đi chiêm bái, tu học và thỉnh kinh từ Thiên-Trúc về Việt Nam, là Thượng Tọa Minh Châu.
Đạo Phật đã sinh ra ở Ấn Độ, chính thức là do Đức Cồ Đàm (Gotama) mà ta tôn thờ là Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni) nhưng ngài chỉ xưng danh là Tathagatha Đức Như Lai, là “Đã Đến”. Ngài là Đã Đến, là Như Lai, trước hết là vì trước Ngài, đã có hằng ha sa số Phật, mỗi Phật đã chỉ xuất hiện trong một chớp mắt ở một hạt bụi của vũ trụ (như trái đất), ở đó sự sống đã làm thành những sinh vật gọi chung là “Con Người” đã đạt được những khả năng đi vào đường Đạo mà thoát khỏi cái khổ phải bám vào những cơ cấu của vật chất để tưởng rằng mình có một cái “Tôi”, một bản thể, một Être, một Sein, một Being, một không-tưởng vô thường.
Đức Phật gọi “Cõi người ta” là cõi Ta-Bà (Saha) nó chỉ chứa sự sống cho tới khi nào mặt trời hết nguyên liệu để cho nổ liên tục những trái bom nhiệt hạch (Thermo-nuclear bombs). Ở những Thế-giới khác, những Lokadhatu mà Ni I.B.Horner dịch là hệ thiên hà (galactic system) chứ không phải là hệ định tinh như hệ mặt trời (solar system), có thể trong một kiếp (kappa), một a tăng kì kiếp (asankheyya) một đại kiếp (Mahakaffa), tính bằng triệu, tỉ hay nghìn tỉ năm mặt trời của cõi Ta-bà, may mắn lắm thì có một Đấng Toàn Giác xuất hiện thành Phật và dạy người đời để bước vào Chánh-Đạo. Kinh Buddavamsa (Phật-Phả) nói rằng trong khoảng bảy vô lượng kiếp này đã có Đức Difankara (Nhiên Đăng) là Đức Phật thứ bốn; ngài đã thụ kí cho một thầy tu kín tên đời là Sumedha (Thiên Huệ) đã rời lều cỏ bay đến xỏa tóc và nằm phục dưới chân Phật để cầu có thể đốt cháy được hết các chấp kiến không cho mình ngộ được Bồ đề Toàn-giác.
Qua đi một trăm ngàn kiếp và vô lượng kiếp với hai mươi ba đời Phật, Đức Sumedha đã thành một Bồ-Tát (Bodhisatta) có tên đời là Narada và đã từ cõi trời Đâu-Xuất Tusita xuống cõi trần đầu thai làm người với cái tên là Gotama, thành đạo, đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyaksambodhi, A-nậu-đa-la Tam-miệu (muội) Tam bồ đề). Nhưng Bồ Tát vẫn giữ nguyên cái thân phận con người, bố thí tất cả cuộc đời còn lại của mình để dạy những ai muốn theo; hằng năm đi chân không từ Bắc Ấn xuống Nam Ấn rồi lại ngược lên trước mùa mưa gió, vào sâu trong các làng để khuyến giáo và khất thực trước khi ngồi thiền và giảng giáo lí cho các Tì Kheo và Tì Kheo Ni (nữ đệ tử) của Sangha (Tăng-già, Giáo Hội) mà ngài đã cho phép lập nên.
Đức Phật còn tự xưng là Như Lai, đã đến với các môn đồ vì một lí do nữa: là vì có những người đưa ra những nghi vấn về gốc nguồn, về thập thế, về sự tử sinh của Ngài, Phật là người hay là Pháp và có còn hay là mất khi thân hình đã tịch diệt? Như Lai đã đến thực và ngồi đó, nói đó, không phải hỏi đến cái đã qua và cái chưa tới trong cái Thời vô thủy vô chung không bao giờ hết Giáo Pháp. Thời của Phật Giáo là cái vô hình tướng do các sát-na (Ksama) nối tiếp nhau, có từ trước vụ Nổ Bùng lớn “Big Bang”, nên không gọi được là “thời gian” vì không có giới hạn như “không gian” (space) của vũ trụ hay “thế gian” (world) của người đời.
Tôi được gặp Thượng Tọa Thích Minh Châu lần đầu là trong một buổi lễ rất ngắn tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đường Lê Thánh Tôn vào năm 1967. Tôi ghi lại theo cái trí nhớ đã đứt khúc trong tuổi già của tôi. Thượng Toạ, mặt tròn như trăng rằm, mình mặc một tấm áo cà sa vải vàng, đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Tôi đại diện cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa trong tư cách Tổng-Ủy-Viên Văn Hóa Xã Hội kiêm Ủy Viên Giáo Dục, cùng với Ông Ngô Trọng Anh, Ủy Viên Công Chánh của Chính Phủ. Chúng tôi kí cái hợp đồng cho Giáo Hội thuê cái cơ sở mới xây bởi Bộ Công Chánh trong một thời hạn là 99 năm có thể tiếp diễn, với cái giá tượng trưng là một đồng bạc. Cái Hợp đồng hôm ấy là bản khai sinh của Viện và trường Đại Học Vạn Hạnh.

Hòa Thợng Thích Minh Châu
Ảnh http://hoangphap.info/MainPage.aspx?SubID=1&ID=1
Thượng Tọa cho tôi biết là trường Vạn Hạnh đầu tiên sẽ chỉ có hai phân khoa, là Phật Học mà Khoa-Trưởng là do chính Thượng Tọa giữ trọng trách, và khoa kinh tế xã hội hay khoa học nhân văn, sẽ nhờ Giáo-sư Tôn Thất Thiện làm khoa trưởng. Những bước đầu sẽ rất là khó khăn, tôi đồng ý nhưng không dám có một lời đóng góp, tuy tôi đã có học về lịch sử các Đại Học Âu-Châu từ thời Phục Hưng qua cách mệnh Pháp về những biến động của thời nay, lại đã trải qua công cuộc canh cải nền Giáo Dục Đại Học Y Khoa VN từ 1954 đến 1965. Về tinh thần, triết lí, giáo pháp của Phật-giáo thì thực sự là khi ấy tôi mù tịt. Vả lại, lúc đó, tôi cũng còn đang điên đầu về sự xây dựng lại cái hạ tầng cơ sở của nền Giáo dục Quốc Gia và việc nâng cao sự học trong nước để có thể cộng tác và cạnh tranh (hai mặt song song) với Quốc tế. Công việc ở bệnh viện và ở trường Y Khoa Sài Gòn tôi cũng không thể rời bỏ được nhưng nhờ có sự giúp đỡ của các Bác sĩ cộng tác viên lại có thêm GS. P. Petit, một thầy cũ của tôi, từ Paris sang dạy đỡ, nên tôi chỉ về bệnh viện những ngày chủ nhật khi Bộ Giáo Dục đóng cửa.
Nhưng ba tháng sau khi rút ra khỏi được Bộ Giáo Dục và Tổng Bộ Văn Hóa Xã Hội, thì một buổi sáng nọ có người cầm một bức thư của Thượng Tọa Viện Trưởng Đại Học Vạn Hạnh đến, mời tôi lại viện, có việc muốn tham khảo. Ông muốn tôi làm một giáo sư của viện. Môn gì, ông bảo để tùy tôi chọn. Nhưng tôi chưa từng đọc một câu kinh, nghe một câu kệ và cũng không bao giờ tự mình vào trong cái chùa nào để lạy (lễ) Phật. Mà từ chối mãi không tiện, tôi đành phải nhận một giờ mỗi tuần với một đề tài mà tôi nghĩ rằng sẽ nói tự tâm vì không có sách, là “Khoa học với tôn giáo”, nhưng tôi sẽ chỉ nói về “Tôn giáo trước khoa học”. Nói cách khác, đây là vấn đề “Đạo Lí của khoa học”.
Chuyện dạy học của tôi ở Đại Học Vạn Hạnh là một Đại Học Phật Giáo còn có lắm chuyện éo le hay là oái ăm nữa. Tôi không sợ sự tùy tâm và không có sách, là vì từ tuổi nhỏ cho đến khi lớn, cha mẹ và các thầy không dạy mình cái gì thất đức; lúc đã thành người học y-khoa, lại thấy tận mắt sự tàn ác của những con người học lầm hay hiểu lầm những học thuyết và những khoa học văn minh, thì đã biết, tự biết. Mà “biết” là /bodh/ diễn thuật từ Sanskrit (Phạn Ngữ), căn của danh từ Buddha. Sự biết này không ở trong sách, không ở ngoài tâm. Khoa học của loài người đã lên cao lắm nhưng khoa học mà không có tâm là sự tàn phá của tinh thần.
Sau một năm dạy về khoa học và tôn giáo, tôi dạy về tôn giáo sơ khai và tôn giáo tiền sử, tức là một chương lớn của khoa học tôn giáo. Rồi tôi bị bệnh nặng, liệt giường gần hai tháng. Lúc hồi phục, phải dùng sách và viết bài, tôi dạy Lịch sử Văn Minh (của loài người) rồi dạy Lịch Sử Văn Hóa Việt Nam khi tôi đọc về Ngữ-lí Việt-Ngữ (Linguistique Vietnamienne). Chẳng có một mảy may gì là Đạo Phật. Vì khi ấy tôi đã bước vào Đường mà Đức Phật đã chỉ để tới Mặt Trăng. Và vượt Mặt Trăng
Tì Kheo Thích Minh Châu là người đã đẩy tôi lên con đường mà từ đó tôi không ra khỏi.
Hai tháng trước ngày Phật Đản, Thượng tọa Viện Trưởng tìm tôi và thỉnh tôi diễn giảng về cốt tủy của Đạo Phật tại Đại Giảng Đường của Viện. Tôi được giải thích rằng đây là lễ Vesak (Tam hợp), không chỉ là ngày Phật Đản sinh, mà là gồm ba ngày là ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Bát-Niết-Bàn ngày quan trọng nhất của Đạo.
Càng quan trọng thì lại càng không đến cái thứ tôi. Bao nhiêu người giỏi trong viện cũng như ngoài viện, tại sao không thỉnh lại gọi đến một anh mù kinh. Tôi không biết gì cả, cái vỏ không có, biết gì đến cái lõi mà nói. Thượng tọa bảo tôi vào thư viện của trường, có khi Phật độ, thấy được chăng?
Nói đến thư viện thì tôi động lòng hiếu kì, muốn thấy tận mắt xem thư viện có được bao nhiêu quyển, so với Tứ thư, Ngũ kinh của Khổng mạnh và Nho-gia thì được mấy phần, còn đọ với thư viện Vatican thì chẳng cần nói cũng biết rằng chỉ là lửa đom đóm bên cạnh mặt trời. Tôi tìm đường vào thư viện, cửa mở không khóa. Ở trong, là một cái phòng lớn, đèn thắp sáng ngày đêm ở góc có một cái bàn nhỏ, có một cô dáng người mảnh mai, mình bận áo ni cô xám, đang ngồi đọc hay dịch kinh. Tôi bước lại, tự giới thiệu, và cô nói “Dạ, thưa tôi biết. Giáo sư cần gì, tôi là Trí Hải, thủ thư của thư viện.”
Tôi học ở Pháp và đã đến những thư viện lớn nhất của nhiều nước, ở nhiều tỉnh và biết rằng thủ thư của một thư viện thường là một học giả am tường rất nhiều điều trong các sách của thư viện. Tôi hỏi cô Trí Hải ở đâu tôi có thể tìm được những lời dạy quan trọng nhất trong Giáo pháp của Đức Phật mà không bị người đời sau trích dẫn hay dịch thuật sai đi. Cô Trí Hải cho tôi biết rằng Thượng Tọa Viện Trưởng đang dịch Kinh-tạng Pali, đã xong hai quyển đầu là Trường bộ kinh (Majjihima-Nikaya), và thư viện còn có những bản dịch Anh-văn, Đức-văn, Pháp-văn và nhiều ngôn ngữ khác (Hoa, Nhật, Hàn, Nga…) tôi là giáo sư thì có thể mượn sách về nhà để nghiên cứu, cô nói là “tụng niệm”. Đột nhiên tôi nghĩ rằng trong một Giáo-lí thì không có một điểm nhỏ nào không hệ trọng, nhưng có một điểm nhỏ trọng đại nhất là điều cuối cùng mà Đức Phật nói ra với các môn đồ trước lúc Người rời cõi trần. Tôi hỏi cô Trí Hải có biết Kinh hay Sách nào nói về những ngày tận cùng của Đức Phật không, thì cô nói ngay “Kinh Đại Bát-Niết-Bàn viết rất rõ”, và cô lấy ra cho tôi cuốnTrường Bộ Kinh đầu với bản dịch Anh-văn và bản dịch Pháp-văn, để tôi đem về và đối chiếu.
Tôi tìm thấy rằng Đức Phật đã bảo các học trò
“Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.” Và Ngài còn nói thêm “Trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhứt cũng đã chứng minh được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến Chánh giác (Sambodhi)”.
Thực là những lời khuyến khích và an ủi mạnh mẽ và tươi mát nhất của Đấng Đại Từ Đại Bi cho tất cả các môn đồ đang buồn rầu và lo lắng vì bậc Đạo-sư tối cao sắp vĩnh viễn lìa trần mà bản thân mỗi người thì còn đang ngụp lặn trong bể khổ không bờ. Tôi lúc đó, nhìn khắp nước Việt Nam, chỉ thấy những người quê mùa vô tội đang bị lột trần để quay trên lửa đỏ, nhìn ra ngoài thế giới cũng chỉ thấy những người lo lắng và bất lực trước sự đe dọa của một cuộc chiến tận thế. Còn chính mình thì mới chỉ được một giọt nước rớt xuống từ một cành dương liễu mảnh mai. Những câu nói trên mà tôi thấy trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường Bộ Kinh, tôi mới chỉ hiểu một cách mập mờ và dịch ra tiếng ta đời nay, đại khái là “Tâm Trí của mỗi người, một khi đã được mở ra với Chánh Pháp, thì đã là một với Chánh Pháp, và là ngọn đèn chỉ con đường sáng, cứ vững lòng, tất cả mọi người đều sẽ tới nơi.”
Thượng Tọa Viện Trưởng ngồi nghe tôi nói không thốt một câu. Nhưng rồi năm sau đến ngày Phật Đản, tôi lại có một lời yêu cầu nữa. Tôi đăng đàn và nói về Bát Chánh Đạo, con đường tu tám lằn song song mà tôi ví với cỗ xe tám ngựa, nhưng cả tám con ngựa ấy đều chỉ là ta: Nhìn thế nào, phóng thế nào, chạy thế nào, cân bằng thế nào, thở thế nào, tu thân thế nào, chú tâm thế nào, quyết chí thế nào, phải theo đúng lời dạy. Thượng Tọa tiễn chân tôi chỉ nói rằng ít ai dám giảng Bát Chánh Đạo. Tôi nói rằng tôi chỉ mới học mà thôi.
Nhưng năm sau, cái đầu đề còn khó hơn nữa. Thượng Tọa muốn tôi nói về triết lí Cổ Ấn trong thời Đức Phật.
Buổi đầu tôi nói chuyện ở Viện Đại Học Vạn Hạnh, có chừng ba bốn chục người đến nghe, tất cả đều lễ phép, không ai bỏ ngang về. Buổi thứ nhì, được năm sáu mươi, với vài vị sư áo vàng. Buổi thứ ba, nói về triết học Cố Ấn tôi rợn tóc gáy vì Đại Giảng Đường chật ních vào khoảng bảy trăm người, với một đề tài rất khô khan khắc khổ mà tôi làm thành một giáo trình cẩn trọng để cho chính tôi.
Thượng Tọa Viện Trưởng kiên nhẫn ngồi nghe với các thính giả và phê bình rằng bải giảng của tôi giống như một bài giảng của một vị thầy của Đại Học Nalanda, nơi Thượng Tọa học. Điều này không có gì lạ cả, là vì tuy các sách triết Ấn của GS. Dan Guita và của triết gia Radhakrishnan (link: http://en.wikipedia.org/wiki/Sarvepalli_Radhakrishnan) chỉ nói rất sơ sài về tư tưởng Ấn thời Đức Phật, nhưng kinh Brahmajala, dịch là Phạm Võng, là cái lưới trời mà chính Đức Phật nói cho Tăng già, đã nói hết cả. Triết học trói buộc con người vào sự khổ đau vĩnh cữu.
Bài diễn giảng cuối cùng cho ngày Vesak của tôi tại Đại Học Vạn Hạnh là về “Tư Tưởng Xã Hội của Đức Phật”. Khi nhận đề tài này, tôi ngơ ngẩn vì chưa hề nghe thấy một người nào hay đọc được trong một cuốn sách nào của Anh, Pháp, Đức, Ý, Nga về Đức Phật xã hội. Nhưng tôi được biết rằng sau khi đã bị tất các Đạo lớn từ chối, Tiến Sĩ người Ấn độ Ambedkar đã được Phật-giáo, khi mới trở lại quê hương Ấn-độ, cho phép làm một buổi lễ lớn nhận một triệu người cùng đinh bị ruồng bỏ được quy y Phật, và chính ông cũng bỏ đạo cũ để thờ Đức Phật. Rằng Phó-thủ-tướng Anh và Chủ tịch Đảng Xã hội là Atla, sau khi đi dự Đại Hội của Đảng Xã Hội Miến (Myanmar, tức Burma), đã tuyên bố rằng có một đảng xã hội Á Châu đặt chủ thuyết trên lòng từ bi của Đức Phật và bỏ thuyết tranh đấu giai cấp, rằng chính sách kinh tế của Canada nói rằng chủ trương trung-đạo theo Giáo-pháp (Dharma) của Đức Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng để diễn giảng về tư tưởng Xã Hội của Đức Phật thì là một chuyện khác. Tôi lại về nhà và mỗi tối đọc cho hết năm bộ của Kinh-tạng để nhặt ra những lời dạy của Phật Tổ về những chế độ và tập quán trong xã hội Bà La Môn Giáo. Và tôi sáng mắt lên những ý tưởng tân tiến của Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác hơn hai ngàn sáu trăm năm trước.
Bài giảng của tôi năm ấy đã được GS. Trần Văn Từ dịch ra Anh văn, rồi lại được Bà Celia Barclay, một nữ sĩ Anh dịch lại rồi lưu truyền trong Đạo Quaker là một Giáo phái Thiên Chúa Giáo rất uy tín ở Anh Quốc. Tôi cũng dùng bài này làm nền móng cho một cuốn sách nhỏ của tôi, tựa đề là “Đức Phật Giữa Chúng Ta.” Tôi nghĩ rằng thế giới hiện đại có thể được sáng hơn (enlightened) nếu được nghe lại những lời Phật dạy.
Trong những năm này, ngày đêm tôi học Phật và Đức Như Lai vẫn đến với tôi ngoài những lúc tôi phải hành cái nghiệp trong y học và y khoa của tôi. Tôi không được học với Thầy Minh Châu một giờ một khắc nào, nhưng Thầy đã là người tiếp dẫn tôi đến chân Đức Phật, chỉ có năm bước đường và theo đúng lời dạy tối hậu của Người, “Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa.”

GS. Trần Ngọc Ninh
Nhưng những ước mong của tôi chỉ là vọng ảo. Hiệp định Paris là kế hoạch chót để làm vỡ Thế giới Đỏ và gây một chiến cuộc mới giữa răng và môi, đồng thời lại thoát thân ra khỏi một vũng lầy chưa bao giờ bị.
Tôi còn gặp lại vị Thầy cũ trong Đạo khi phải ở lại vì những xiềng xích của định mệnh. Năm 1977, Đại Học Vạn Hạnh đã bị giải thể, một buổi sáng chủ nhật tôi đang ngồi đọc truyện giải buồn thì Thầy Minh Châu được chở đến nhà tôi trên một chiếc Honda. Thầy kể rằng Thầy đã về ở Thiền Viện Vạn Hạnh tại Phú Nhuận, mỗi ngày thức giấc từ 5 giờ sáng, xuống vườn đi vòng quanh chừng một tiếng đồng hồ rồi trở về tắm gội, ngồi thiền, xong thì ngồi dịch Kinh cho đến tối. Việc dịch Kinh đã thuần thục lắm, chữ nghĩa đã thông thuộc, nhiều khi đọc một câu tiếng Nam Phạn (Pali-ngữ) thì tay đã viết ngay câu tiếng Việt.
Thầy đã dịch xong thêm một quyển Tiểu-Bộ-Kinh (Samyutta Nikaya) và muốn tôi đến giới thiệu tập kinh mới với các Phật Tử. Lúc ấy, hằng ngày tôi phải đối đầu với những người của chế độ mới để bảo vệ sự học của các sinh viên y khoa và giữ gìn sự an ninh của các bệnh nhân của Bệnh Viện nên từ chối và nhắc Thầy rằng Viện Đại Học còn có những giáo sư lớn như Cụ Nguyễn Đăng Thục và GS Vũ Văn Mẫu, xin Thầy thỉnh các vị. Tuần sau, Thầy Minh Châu lại đến cùng với Thầy Hộ-Giác, cho tôi biết rằng Ủy ban Nhân-dân Thành-phố sẽ đến dự buổi ra mắt Bộ Kinh, và hai giáo sư Nguyễn và Vũ đều không đến, nên nhất định tôi phải có mặt. Tôi đã đến và giảng về Trung Đạo, cái Đạo Giữa của Đức Phật, từ chối những Đường cực đoan. Sau bài giảng, tôi về thẳng nhà và hai tháng sau, bỏ lại hết mọi phiền trọc, cắt đứt mọi kiết sử, vượt biển tới Cù Lao (Pulau) Besar để chờ ngày đầu thai ở một cõi sống khác.
Thầy Minh Châu vẫn gửi các Kinh sách của Thầy viết và Kinh-Tạng dịch từ Pali, bản luận án Tiến Sĩ vể Trung Bộ-Kinh, cuốn tóm lược A-Tì-Đạt Ma (Abhidhamma), cuốn Tiểu sử Huyền Trang, cuốn Đốt Đuốc Lên Mà Đi… sách nào tôi cũng đọc hết, nhập tâm và quên đi.
Tôi tiếp tục đi trên con Đường đã dài hơn hai ngàn sáu trăm năm của Phật Pháp. Không còn Thầy, tôi vào Trung-Luận với Long Thọ (Nagarjuna), vào Duy Thức với Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu), vào Thiền Hoa-Nhật và Mật Tông, không quên các vị ngoại đạo là Lão tử, Trang Tử, Patanjali, Sankara như Thượng Tọa Minh Châu đã muốn tôi làm, và luôn luôn thắp sáng ngọn đuốc tâm mà Đức Phật đã nhóm lên cho mỗi môn đồ khi ngài nhập Đại Bát Niết Bàn

Trần Ngọc Ninh
9/2012
(Trích từ VB Online)

Ghi chú (*):
Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, học vị “Thạc sĩ” là một học vị chuyên môn trên Tiến sĩ, dành cho những Tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học (tiếng Pháp: professeurs agrégés des universités).

http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5389
Kỷ niệm nghe Hòa thượng Thích Minh Châu thuyết pháp
Minh Thạnh
Trước tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch, tôi xin thành kính có bài ghi lại kỷ niệm phước duyên được nghe ngài thuyết pháp.
Đó là thời điểm những năm 1978, 1979… Vào lúc ấy, Tổng vụ Hoằng Pháp của Giáo hội Phật giáo lúc bấy giờ tại miền Nam tổ chức thuyết pháp hàng tuần vào lúc 15h chiều chủ nhật tại trụ sở của Giáo hội là chùa Ấn Quang. Chương trình thuyết pháp được tính toán rất cân đối, có Phật học cơ bản (lúc bấy giờ gọi là Phật học tinh yếu, Phật học phổ thông), Phật học nâng cao (đi sâu vào các bộ kinh), Phật học ứng dụng (tìm hiểu các tác phẩm văn học chịu ảnh hưởng Phật giáo)… Trong đó, có việc cân đối giữa giáo lý, kinh tạng Bắc Tông và Nam Tông. Riêng giáo lý, kinh tạng Nam tông thì do hai vị phụ trách (xin phép được gọi theo giáo phẩm lúc bấy giờ) là Thượng tọa Thích Hộ Giác và Thượng tọa Thích Minh Châu.
Thượng tọa Thích Minh Châu phụ trách giảng Trung Bộ kinh, một trong các bộ kinh tạng Pali do chính thượng tọa phiên dịch.
Đến lúc đó, số lượng ấn bản kinh tạng Pali do Thượng tọa Thích Minh Châu phiên dịch được phát hành chưa nhiều, nên việc Thượng tọa giảng Trung Bộ Kinh đã giúp ích rất nhiều Tăng Ni Phật tử trong bước đầu tiếp xúc với kinh tạng Pali của Phật giáo Nguyên thủy.
Trong giảng khóa thời ấy, mỗi vị thượng tọa có một phong cách giảng riêng. Ngoài số Tăng Ni Phật tử đi nghe thuyết pháp đều đặn mỗi chiều chủ nhật, còn có một số lượng Phật tử là thính chúng riêng của từng vị thượng tọa. Đó là do Phật tử quan tâm theo đề tài, nhưng còn do việc nghe pháp phù hợp với phong cách giảng của từng vị thượng tọa.
Thượng tọa Thích Minh Châu có phong cách giảng hết sức đặc biệt, khác hẳn với tất cả các vị thượng tọa khác.
Điều đầu tiên đáng lưu ý là Thượng tọa Thích Minh Châu rất trang nghiêm trong việc thuyết pháp. Ngài không bao giờ ngồi trên pháp tòa, mà đứng cố định tại một vị trí trên bục giảng. Tay cầm micro của ngài cũng gần như cố định. Từ sự cố định của ngài toát ra một vẻ thành kính triệt để khi giảng về kinh Phật.
Thượng tọa Thích Minh Châu cũng không bao giờ pha trò trong khi thuyết pháp. Do đó, nếu không quen nghe, thì sẽ thấy không sinh động, có phần buồn ngủ. Nhưng khi đã quen nghe thì hiểu đó là sự nghiêm túc của ngài khi thuyết pháp.
Ngài cũng rất ít khi giảng rộng ra ngoài ý kinh và giải thích là e có khi sai với ý Phật. Việc bám sát kinh điển trong thuyết pháp của Thượng tọa Thích Minh Châu lúc bấy giờ là đến từng câu, từng chữ. Ngài thuộc lòng Trung bộ kinh khi dẫn lời kinh có đoạn lặp lại thì ngài dẫn luôn cả đoạn lặp lại, không tự ý lược bớt đi cho đỡ dài dòng, rườm rà. Như thế, ngài tôn trọng văn kinh đến từng chút một.
Lúc đó, số người nghe Thượng tọa Thích Minh Châu thuyết pháp có phần nào đó không đông như đối với các vị thượng tọa khác. Vì nghe thuyết kinh tạng nguyên thủy với đặc điểm lời văn lặp lại như vậy thì tất nhiên là rất khó khăn trong việc nghe, dễ thấy rối và nhàm chán. Tuy vậy, cử tọa nghe Thượng tọa Thích Minh Châu lúc bấy giờ thuyết pháp rất chọn lọc, có nhiều nam giới, nhiều người ghi chép.
Trong bối cảnh như vậy, những thời thuyết pháp của Thượng tọa Thích Minh Châu thường ngắn hơn một chút so với các thời gian thuyết pháp của các vị thượng tọa khác.
Thượng tọa rất hiểu tâm lý người nghe khi nghe thuyết giảng kinh tạng Pali nguyên thủy trong tinh thần bám sát lời kinh như vậy.
Đã hơn 30 năm, tôi vẫn còn nhớ buổi Thượng tọa Thích Minh Châu giảng về Sư tư hống đại kinh. Thượng tọa đứng nghiêm trang, cố định, một tay cầm micro. Và cứ đứng trong một tư thế như vậy mà thuyết giảng cho hết bài pháp. Lời kinh như thấm sâu vào thượng tọa, cứ vậy mà dẫn lại chính xác, không cần văn bản cầm tay. Lúc đó, tôi thấy thật hạnh phúc, vì được nghe giảng kinh từ chính người dịch kinh, với sự am hiểu có một không hai đối với kinh văn.
MT
http://hoangphap.info/Page.aspx?ArticleID=4358&SubID=1&ID=1

Tôi sẽ nói gì với Osama Bin Laden- What I would say to Osama Bin laden-Zen monk Thich Nhat Hanh

What I would say to Osama Bin laden
Zen monk Thich Nhat Hanh talks about how listening is the first step towards peace.
Interview by Ann A. Simpkinson website beliefnet.com [ Sept. 24,2001]
Thich Nhat Hanh is a Vietnamese monk in the Zen tradition, who worked tirelessly for peace during the Vietnam War, rebuilding villages destroyed by the hostilities. Following an anti-war lecture tour in the United States, he was not allowed back in his country and settled in France. In 1967, he was nominated by the Reverend Martin Luther King, Jr., for the Nobel Peace Prize. He is now internationally known for his teaching and writing on mindfulness, and for his work related to “socially engaged Buddhism,” a call to social action based on Buddhist principles. Thay, as he is affectionately called by his followers, shared his thoughts on how America should respond to the terrorist attacks. This interview will appear in a forthcoming book entitled “Out of the Ashes: A Spiritual Response to America’s Tragedy,” to be published jointly by Beliefnet and Rodale Press.

Nếu có thể nói với Osama bin Laden, thầy sẽ nói gì với ông ta ? Tương tự, nếu nói với phía người Mỹ, cá nhân cũng như cả nước, thầy sẽ khuyên nhủ những gì ?
Nếu được có cơ hội tiếp xúc mặt đối mặt với Osam bin laden, việc đầu tiên tôi làm là lắng nghe. Tôi sẽ tìm hiểu tại sao ông ta đã hành động bằng cách tàn bạo như vậy. Tôi sẽ tìm cách thấu hiểu những đau khổ đã dẫn dắt ông ta tới bạo động. Không phải là chuyện dễ dàng để tìm hiểu qua cách đó, vì vậy mà tôi sẽ giữ cho tâm tĩnh lặng. Tôi cần có một số bạn đồng hành với mình, những người đã từng thực hành biết lắng nghe sâu thẳm, nghe không phản ứng, không phán xét, không lên án. Bằng cách đó, một bầu khí trợ lực sẽ tạo cho ông ta cùng với các cộng sự có thể chia xẻ hoàn toàn, cho họ tin tưởng rằng họ đã được lắng nghe.
Sau khi lắng nghe trong khoảnh khắc nào đó, chúng ta cần một chút nghỉ ngơi để cho những gì đã được nghe đi vào trong ý thức. Chúng ta chỉ có thể đáp ứng bằng tâm tĩnh lặng; từng điểm một những gì họ nói. Bằng một đáp ứng dịu dàng nhưng vững chãi như vậy, chúng ta sẽ giúp họ tự khám phá sự “ngộ nhận” của họ để rồi họ tự ngưng ngay những hành động bạo động từ trong ý chí.
Đối với người Mỹ, tôi khuyên chúng ta nên làm những gì để họ tái lập sự tĩnh lặng, sáng suốt trước trạng huống như vậy. Đáp ứng một cách vội vã, thiếu sự hiểu biết là một việc rất nguy hiểm. Điều đầu tiên chúng ta có thể làm là nên dịu lại ngọn lửa sân hận và thù ghét trong mỗi chúng ta. Như tôi đã đề cập trước đó, thật là tàn bạo nếu ta nuôi dưỡng dự thù ghét và bạo động, hãy tức thời dẹp bỏ sự nuôi dưỡng tinh thần thù ghét và bạo động.
Khi chúng ta phản ứng trong sự sợ hãi và thù hận, tức là chúng ta chưa hiểu được một cách sâu xa trạng huống. Hành động trả đũa chóng vánh và thiển cận chẳng thật sự mang lại ơn ích gì. Nhưng nếu chúng ta biết đè nén sự giận dữ, nhìn sâu vào sự cố , và lắng nghe với thiện ý để tìm hiểu nguồn gốc khổ đau nào đã tạo nên những bạo hành , thế rồi những người can dự trong cuộc sẽ có đủ sự sáng suốt để nhận ra con đường hàn gắn và hòa giải.
Ở Nam Phi , có Uỷ Ban Hòa giải và Chân lý đã thực hành nguyên lý này. tất cả các phía can dự vào những việc bạo động và bất công đã đồng ý lắng nghe nhau trong không khí trầm tĩnh và hiểu biết, cùng nhìn sâu vào vào nguồn gốc đã tạo nên bạo động và bất công để cùng thỏa thuận giải quyết sự cố. Sự hiện hữu của những vị lãnh đạo có tinh thần vững mạnh thật là hữu ích để hổ trợ và điều khiển trong trạng huống như vậy. Chúng ta có thể coi nó như một mô thức để giải quyết những tranh chấp đang gặp phải trong giây phút này; và không cần phải chờ đợi nhiều năm mới nhận ra được điều đó.
Tôi sẽ nói gì với Osama Bin Laden – Phỏng vấn Thiền sư Nhất Hạnh
Nguyễn Hạnh Hoài Vy & Đỗ Thuận Khiêm dịch
Thích Nhất Hạnh là một tu sĩ Phật giáo Thiền tông Việt Nam, người đã hoạt động không biết mệt mỏi cho hòa bình trong suốt chiến tranh Việt Nam, tái dựng xây làng mạc từng bị huỷ hoại vì chiến tranh thù hận. Tiếp sau bài diễn văn chống chiến tranh nhân một chuyến đi thuyết giảng tại Hoa Kỳ, người bị cấm trở về nước và lưu vong ở Pháp. Năm 1967, mục sư Martin Luther King, Jr. đã đề cử người cho giải Nobel Hòa Bình. Hiện nay, người là một nhân vật nổi tiếng quốc tế về công trình giảng dạy và sáng tác về “sự tỉnh thức”, và hoạt động Phật sự cho tinh thần “Phật giáo dấn thân”. Thầy, một cách xưng hô nồng ấm của các đệ tử, đã chia xẻ những ý tưởng với chúng tôi, làm thế nào để Mỹ có thể “đối trị” với vụ tấn công khủng bố vừa qua. Bài phỏng vấn này sẽ xuất hiện trong cuốn sách sắp ra mắt “Ngoài đống tro tàn: một đáp ứng tâm linh cho thảm kịch của nước Mỹ” được in chung với website Beliefnet và nhà xuất bản Rodale

If you could speak to Osama bin Laden, what would you say to him? Likewise, if you were to speak to the American people, what would you suggest we do at this point, individually and as a nation?
If I were given the opportunity to be face to face with Osama bin Laden, the first thing I would do is listen. I would try to understand why he had acted in that cruel way. I would try to understand all of the suffering that had led him to violence. It might not be easy to listen in that way, so I would have to remain calm and lucid. I would need several friends with me, who are strong in the practice of deep listening, listening without reacting, without judging and blaming. In this way, an atmosphere of support would be created for this person and those connected so that they could share completely, trust that they are really being heard.
After listening for some time, we might need to take a break to allow what has been said to enter into our consciousness. Only when we felt calm and lucid would we respond. We would respond point by point to what had been said. We would respond gently but firmly in such a way to help them to discover their own misunderstandings so that they will stop violent acts from their own will.
For the American people, I would suggest that we do everything we can to restore our calm and our lucidity before responding to the situation. To respond too quickly before we have much understanding of the situation may be very dangerous. The first thing we can do is to cool the flames of anger and hatred that are so strong in us. As mentioned before, it is crucial to look at the way we feed the hatred and violence within us and to take immediate steps to cut off the nourishment for our hatred and violence.
When we react out of fear and hatred, we do not yet have a deep understanding of the situation. Our action will only be a very quick and superficial way of responding to the situation and not much true benefit and healing will occur. Yet if we wait and follow the process of calming our anger, looking deeply into the situation, and listening with great will to understand the roots of suffering that are the cause of the violent actions, only then will we have sufficient insight to respond in such a way that healing and reconciliation can be realized for everyone involved.
In South Africa, the Truth and Reconciliation Commission has made attempts to realize this. All the parties involved in violence and injustice agreed to listen to each other in a calm and supportive environment, to look together deeply at the roots of violent acts and to find agreeable arrangements to respond to the situations. The presence of strong spiritual leaders is very helpful to support and maintain such an environment. We can look at this model for resolving conflicts that are arising right in the present moment; we do not have to wait many years to realize this.

Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton tập thiền Phật giáo

Lắng lòng – Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton tập thiền Phật giáo
Cư sĩ Nguyên Giác Việt dịch
Nguồn: Theo bản tin từ báo Daily Mail ngày 3/8/2012
Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã chọn cách thể dục cho ông để đạt tới những đỉnh cao tinh thần — bằng cách học Thiền Phật Giáo để giúp ông thư giãn.
Mới gần đây, chính khách 65 tuổi này đã chọn một nếp sống lành mạnh hơn, trong đó có việc ăn chay sau một loạt cơn đau tim trong nhiều năm.
Và trong nỗ lực mới để cải thiện sức khỏe, vị chính khách Đảng Dân Chủ này đã thuê (hired) một vị sư Phật Giáo riêng để giúp ông học cách Thiền cho đúng cách.
(ND ghi chú: phóng viên không hiểu rằng, Phật Pháp phải dạy miễn phí, và theo luật, không ai có thể thuê được một vị sư nào. Lẽ ra nên nói là “cung thỉnh” thay vì “thuê”.)

Đi tìm Giác ngộ: Cựu Tổng thống Bill Clinton đã tập Thiền để được thư giãn

Thông tấn Radaronline dẫn một nguồn tin nói rằng: “Từ khi bệnh tim gây ra nỗi kinh hoàng cho ông ta, cựu Tổng thống Bill Clinton đã tìm nhiều cách để giúp ông thư giãn.
Ông ta có đời sống bận rộn, đi lại nhiều trong cương vị làm đặc sứ cho Hoa Kỳ, và cần phải giữ đầu óc cho minh mẫn.
Thiền tập đã cung ứng cho ông điều đó, ông ta có một câu thần thú (mantra) mà ông thích tụng lên, và sau mỗi thời Thiền tập, ông cảm thấy được chuyển hóa và đầy năng lực tích cực.
Thiền hiển nhiên đã cho ông ta một thế giới tốt lành — ông cảm thấy thích hợp hơn và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.”
(ND ghi chú: Phóng viên Daily Mail ghi là thần chú, nhưng có lẽ không phải thần chú. Có lẽ là một câu quy y tam bảo, hay lời nguyện khi ngồi Thiền, hay là lời rải Tâm Từ… Chúng ta không biết rõ chỗ này.)

Trở về với truyền thống:
Những vị sư Phật giáo đã kiện toàn nghệ thuật Thiền tập từ hàng ngàn năm nay

Hồi tháng 2/2004, Ông Bill Clinton được chở gấp vào bệnh viện Columbia Presbyterian Hospital ở New York City sau khi nói là bị đau ngực.
Ông cần gắn thêm hai ống thông van tim, và vài tháng sau, trong tháng 9/2004 Bill Clinton trải qua giải phẫu thông tim bốn ống.
Năm 2010, lại có một van tim bị nghẹt phải mở lại — lần thứ nhì giải phẫu tim trong chỉ năm năm — và ông đã loan báo rằng ông từ bỏ thức ăn nhanh kiểu Mỹ, như bánh mì thịt burger, khoai tây chiên và gà chiên … để rồi ăn chay.
Ông Bill Clinton ăn chay nghiêm ngặt, gồm nhiều rau tươi và trái cây tươi, nhưng cũng thú nhận rằng ông đôi khi ăn cá.
Bản Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Giác
Nguồn: http://www.dailymail.co.uk/news/article-2183101/Bill-Clinton-turns-art-Buddhist-meditation-relax.html?ito=feeds-newsxml

________________________________________

Chill Bill:
Clinton turns to the art of Buddhist meditation to relax
Published: 05:17 EST, 3 August 2012 | Updated: 08:33 EST, 3 August 2012
Former American president Bill Clinton has taken his exercise regime to spiritual heights – by learning the art of Buddhist meditation to help him relax.
The politician, 65, has recently taken up a healthier life-style including becoming vegan after a string of heart problems over the years.
And in his latest bid to improve his well-being, the Democrat has hired his own personal Buddhist monk to help him learn how to meditate properly.

Looking for enlightenment: Former President Bill Clinton has taken up meditation to help him relax
Radaronline quoted a source as saying: ‘Ever since his heart scare, Bill has looked for ways to help him relax.
‘He has a hectic life, he travels a lot on business as an ambassador for the U.S. and needs something to keep him sane.
‘Meditation offers him that, he has a mantra that he likes to chant and after every session he feels transformed and full of positive energy.
‘It’s definitely doing him the world of good – he feels fitter and stronger than ever.’

Old practice: Buddhist monks have been perfecting the art of meditation for thousands of years
In February 2004, Clinton was rushed to Columbia Presbyterian Hospital in New York City after complaining of chest pains.
He needed to have two coronary stents implanted in his heart and a few months later in September underwent quadruple bypass surgery.
In 2010 he then had a clogged artery reopened – his second heart op in just five years – and announced he was giving up his diet of American fast food such as burgers, fries and deep-fried chicken to go vegan.
His strict diet consists of lots of fresh vegetables and fruit but he admits he still occasionally eats fish.
http://www.quangduc.com/file_chinh/view_detail.php?ID=5212&bk_id=7&p_id=96&kind=thien_tong

Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời!

21:12 29/03/2012

Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời!

 
 
 
Như nội dung bài viết “Cái kim bọc trong giỏ lâu ngày cũng lòi ra”, thì con đường ông Duy Tuệ đang theo là “lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn”. Thực vậy, Đại Gia đình Minh Triết là một kiểu giáo hội trá hình, một tổ chức tập họp tín đồ tôn giáo mới. Ông Duy Tuệ đã đi được một phần trên con đường mượn đạo lập đời.
Vấn đề Duy Tuệ đã trở nên quá rõ ràng, sau một loạt bài viết của nhiều tác giả, đặc biệt là bài viết có tính chất tổng kết và đề xuất của tác giả Thái Nam Thắng đăng trên báo Giác Ngộ ấn bản giấy số 632, nhan đề “Cái kim bọc trong giỏ lâu ngày cũng lòi ra”.

 
Tuy nhiên, sách của Duy Tuệ có nội dung phỉ báng Phật giáo, lăng mạ Tam Bảo vẫn được trưng bày hàng hàng lớp lớp trên các kệ sách ở các nhà sách lớn TPHCM. Nghe đâu, công ty Minh Triết còn dự tính mở một đợt quảng bá cho loại sách vừa “thiền”, vừa động loạn đạp đổ truyền thống này tại Hội sách, sự kiện quảng bá văn hóa quan trọng ở TPHCM, dịp để các công ty văn hóa giáo dục, các nhà xuất bản tiếp cận với bạn đọc.

 
Trong bối cảnh đó, chúng tôi thấy rằng người Phật tử vẫn cần thiết tiếp tục đánh động, thu hút quan tâm của dư luận đối với hiện tượng “ma ma Phật Phật, Phật Phật ma ma” này, cho đến khi, những quyển sách có nội dung công kích Phật giáo một cách manh động, cuồng điên được rút ra khỏi kệ của các nhà sách, chấm dứt cuộc đánh lừa và đầu độc bạn đọc Phật tử, những người yêu đạo Phật Việt Nam và tất cả bạn đọc.

 
Qua các bài viết ý kiến trên các phương tiện truyền thông Phật giáo khác nhau, chúng ta cũng thấy còn có nhiều nhận định đánh giá khác nhau về Duy Tuệ qua những tác phẩm của ông. Đầu mút của một phía vẫn coi Duy Tuệ là người có tu, có ngộ, nhưng tu sai, nên lạc lối, tương tự Osho, Thanh Hải.

 
Đầu mút phía ngược lại coi Duy Tuệ không khác gì một kẻ lưu manh, một tác giả mang tính côn đồ, vung tán tàn chửi Phật, phá đạo. Còn ở giữa là một số nhận định khác, thí dụ, coi đó là một kiểu cải đạo tinh vi từ một tôn giáo độc thần nào đó…

 
Trên tinh thần là người Phật tử, chúng tôi tán thành với việc trước hết, khi chưa đi đến một kết luận thống nhất, thì hãy nghĩ tốt cho người. Vì vậy, nhận định tác giả Duy Tuệ là một người tu sai cũng là điều đáng quan tâm.

 
Nhưng là Phật tử, theo cách tư duy của Phật giáo, chúng ta cần nhìn vấn đề một cách “thắng tri”, “tuệ tri”, mà trước hết là cần quán sát toàn diện sự việc, thấy được tất cả các khả năng từ tất cả những nguyên nhân có thể.

 
Vì vậy, dưới đây, chúng tôi xin tiếp tục tìm hiểu Duy Tuệ theo nhận định đây là một người mượn đạo lập đời, thu hút, tập họp, lôi kéo quần chúng bằng cách “đốt đền”, tạo phản, động loạn, “nã pháo” vào truyền thống, kiểu Hồng Vệ binh (1).

 
Nếu Duy Tuệ chỉ là một kẻ lưu manh tín ngưỡng, một kiểu chửi thần báng thánh để lập bàn thờ cho mình, hỗn xược, xuẩn động, liều lĩnh, kích thích thần kinh, thì suy cho cùng cũng chưa là nguy hiểm. Vì một tác giả như vậy sẽ sớm bị công chúng nhận mặt, xa lánh, khinh miệt, vì bản chất của nó.

 
Nhưng nếu tác giả Duy Tuệ là người đóng một màn kịch theo đạo Phật, bằng hình tướng tăng sĩ Phật giáo, bằng đoạn đường đầu tạm nói chuyện tu hành, rồi sau đó, tự “khai mở”, “tỉnh ngộ”, tạo phản, động loạn để thu hút quần chúng cực đoan về với tổ chức của mình. Để sau đó, làm cái kiểu xưng là hậu duệ của nhà Đường (“Tân Đường triều”) như giáo chủ của Pháp luân công, mơ tưởng tới ngôi hoàng đế mới, hay trở thành nhà lãnh đạo tâm linh thế giới can thiệp vào chính sự từ Trung Đông đến Nam Mỹ, kéo cờ logo Supreme Master Ching Hai như một kiểu quốc kỳ của một vương quốc được “cõi trên” gầy dựng, thì điều này mới thực đáng ngại.

 
Như nội dung bài viết “Cái kim bọc trong giỏ lâu ngày cũng lòi ra”, thì con đường ông Duy Tuệ đang theo là “lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn”. Thực vậy, Đại Gia đình Minh Triết là một kiểu giáo hội trá hình, một tổ chức tập họp tín đồ tôn giáo mới. Ông Duy Tuệ đã đi được một phần trên con đường mượn đạo lập đời.

 
Ông cần phải mặc áo Phật giáo để đến gần Tăng Ni Phật tử, áo vàng, áo nâu, rồi áo đỏ theo kiểu thầy Tàu. Đây không chỉ là một kiểu “lập lờ đánh lận”, mà còn là một bước cần thiết cho việc tạo phản, một cách tập họp quần chúng theo kiểu Đại Cách mạng Văn hóa, kích thích thần kinh đặc biệt giới trẻ. Vì có là một “đạo sư” Phật giáo, một nhà tu Phật, một học giả tu Phật, thì sao đó mới diễn tiến mà phản tỉnh tạo phản, động loạn được. Người chính từ trong đạo Phật ra mà đả kích đạo Phật thì mới tác dụng.

 
Để sớm chói sáng, sớm trở thành sao, thì cần scandal. Đó là lẽ bình thường. Vì vậy, người làm theo cách này cần một đối tượng để tạo phản, để đả kích một cách cuồng nộ, kích thích. Đối tượng đó là Đức Phật, là Tam Bảo, là Phật giáo. Thế là “scandal”, có đại nhảy vọt, có động loạn thu hút một số người hiếu kỳ bu lại: Lạ quá! Mới quá! Độc đáo quá! Xì tin quá! (tức có phong cách riêng). Nói như một bạn đọc, nó cùng làm như ca sĩ khoe hàng, tự tử vì tình, hay tung những lời phát biểu giựt gân.

 
Chói sáng, thu hút, leo lên ngôi giáo chủ, có giáo hội rồi, thì sau đó sẽ là gì? Lý Hồng Chí (Pháp Luân công) hay Thanh Hải. Ông Duy Tuệ đang tính đến một kênh TV riêng, nhưng hiện giờ chỉ mới đủ khả năng phát qua mạng. Nếu dưới trướng có được một số tín đồ đông đảo trong và ngoài nước, quyên góp được một ngân quỹ dồi dào, thì khắc sẽ có Tân Đường triều điện thị (Đài Truyền hình của giáo phái Pháp Luân công) hay Supreme Master TV mới. Một người lập ngôn theo cách “thuyết pháp” “nã pháo” (từ Hồng Vệ binh trong Đại Cách mạng Văn hóa thường dùng), chắc chắn không thể tĩnh lặng để thiền. Thiền Minh Triết chẳng qua là một thứ “Sì cọt” mà những thanh niên bốc đồng nốc vào phê quên mình đi, mà bước vào cuộc đua xe kích thích bán mạng.

 
Vì vậy, bên cạnh việc hình dung Duy Tuệ như là một ông đạo tu sai đường, chúng ta cũng không thể bỏ qua việc hình dung như là một người có mưu tính đường dài, mà tu hành chỉ là màn mở đầu cho thắt nút tạo phản của màn kịch dựng lên từ giấc mơ siêu quyền lực, của một người bước lên vũ đài bằng lãnh vực tâm linh.

 
Nghe các bài nói của Duy Tuệ trên trang web của ông ta mà chúng tôi đã nhắc đến trong bài viết trước, chúng ta sẽ thấy cái phong cách Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên (những người lãnh đạo Đại Cách mạng Văn hóa Trung Quốc) rất rõ. Nói gì, thì rồi ông Duy Tuệ cũng quay về công kích Đạo Phật, Đức Phật, Tam Bảo. Vì cũng như Trương Xuân Kiều hay Diêu Văn Nguyên, Duy Tuệ cần phải có đối tượng để “phê đấu”, để “nã pháo”, để “đạp đổ”, để “đập tan” có như thế ngôi mới được lập, mới tập họp về được người mang não trạng “tạo phản”, nắm lấy họ, để ném vào những bước phiêu lưu “lập đời” tiếp theo.

(1) Từ “nã pháo” là từ thường được dùng trong Đại Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, là đả kích cực điểm, mãnh liệt vào một đối tượng nào đó, trong mọi hoàn cảnh có thể, và thường là để mở đầu cho những hành vi bạo động tiếp theo. Cái cách đả kích của Duy Tuệ vào Phật giáo cùng một dạng như “nã pháo” của Hồng Vệ binh, chỉ có khác là ông ta chưa kích động được việc đập tương Phật, mà ông ta gọi là những cục xi măng dùng để tu tiền, như trong một bài nói.

Phương pháp Hoằng hóa trong thời đại mới – Hồng Quang

16:13 31/07/2011

Tham luận: Phương pháp Hoằng hóa trong thời đại mới (Hồng Quang)

 (TG&DT) – Lúc con người có được niềm vui, có được sự an lạc, có được nụ cười; chính đó là Thiền, là Tịnh là Mật. Trong trạng thái nầy, não bộ sẽ tái tạo, bạch huyết cầu gia tăng, hệ thống miễn nhiễm mạnh hơn, nên có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe, cũng như làn da sẽ đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn.

Image

Thich Nhat Hanh thuyet phap

                     PHƯƠNG PHÁP HOẰNG HÓA TRONG THỜI ĐẠI MỚI
                 (Tham luận đọc tại buổi hội thảo ngày 29/07/2011 tại chùa Từ Đàm Huế)

Kính bạch chư Tôn Đức Tăng Ni
Kinh thưa quý vị khách quý
Quý Đại biểu và Phật Tử

Để giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc, để góp phần vào việc hộ quốc an dân mà trong quá trình lịch sử hơn 2000 năm qua Phật Giáo Việt Nam đã thể hiện, chúng tôi thiết nghĩ cần phải đem đạo vào đời càng nhanh càng tốt; nếu để đồng trống lâu ngày thì cỏ dại sẽ mọc. Chúng ta hầu như có tất cả, chỉ thiếu phương pháp và tập huấn nhân sự mà thôi.

Quần chúng thời nào cũng vậy, nhất là hiện nay, cần phải đối diện với sự thiếu ăn thiếu mặc và bệnh tật. Do vậy, chương trình hoằng pháp nên mang tính thiết thực hơn mới thu phục được nhân tâm.

 Phật giáo không có khả năng dồi dào để giúp gạo, giúp tiền và y dược để thể hiện chương trình ban vui cứu khổ, độ sinh mà Đức Như Lai đã từng tuyên thuyết. Giả thiết Giáo hội có thể cung ứng cho dân chúng được phần nào các nhu yếu vừa nêu trên, nhưng đó cũng mới biếu con cá chứ chưa phải giúp cái cần câu.

Sức khỏe là vàng. Không có sức khỏe, con người không thể làm bất cứ một điều gì, kể cả việc có nhiều vàng hoặc kim cương cũng không thể sử dụng được. Không có sức khỏe, tiền rừng bạc bể rồi cũng sẽ dần dà ra đi không hẹn ngày về.

Để hoằng pháp nhanh và hiệu quả tốt chúng tôi nghĩ Thiền-Tịnh-Mật là phương tiện hữu hiệu nhất vì cả ba pháp môn nầy “Có thể làm cho con người đẹp, thông minh, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa”.

Dưới đây là một số dẫn chứng cho thấy công dụng của Thiền như vừa nói:

50 năm qua y giới và khoa học gia của các nước tân tiến đã áp dùng Thiền của Phật Giáo để cải tiến sắc đẹp, làm gia tăng chất xám, hồi phục sức khỏe, ngừa bệnh và chống lão hóa (xin xem “Thiền, Sức khỏe và những lợi ích thiết thực, Hồng Quang).

Thật vậy, bà Sugandha Indulkar, một thiền gia lão luyện nhận định:

 “Thiền mang đến một sức mạnh tiềm ẩn vô biên. Ngoại hình, làm tăng sắc đẹp, nội tạng thì khỏe mạnh hơn. Thân thể trẻ trung và tinh thần an lạc có thể đạt được bằng cách hành thiền mỗi ngày” (*) (mỗi lần từ 10 đến 20 phút, ngày hai lần).

Đó cũng là một trong những lý do mà các hoa hậu thế giới ngồi thiền để duy trì sắc đẹp.

Nhiều thí nghiệm cũng cho thấy, thiền làm cho chất xám gia tăng. Khoa học gia đã dùng máy chụp hình cọng hưởng từ (MRI) để ghi lại sự khám phá của mình.

           
Bác sĩ Herbert Benson sau nhiều năm nghiên cứu, ông cho thấy có trên 60% bệnh tật do tình trạng căng thẳng (stress), và Thiền có khả năng làm giảm căng thẳng nên chữa được bệnh.

Một khám phá khác của Giáo sư Sonja Lyubomirsky cho thấy, con người có thể hoàn thiện do tính di truyền của cha mẹ đến 50%, tự tạo 40%, và hoàn cảnh chỉ chi phối có 10%.

 

Do đó, nếu cuộc sống của một cặp vợ chồng an lạc vui vẻ, có ăn chay, niệm Phật, quán (nhìn chăm chú) hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, ngồi thiền (ngày 2 lần, mỗi lần tối thiểu 10 phút) thì đứa con sinh ra có thể sẽ đẹp và thông minh; vì do tính di truyền từ cha mẹ.

Lúc biết được tính di truyền như vậy, các bạn trẻ hôm nay có thể cung ứng cho dân tộc một thế hệ kế thừa đẹp và thông thái hơn. Nói rõ, Thiền có thể làm cho con người của thế hệ nầy đẹp, thông minh, khỏe mạnh hơn. Và tính di truyền 50% và luyện tập thêm 40% nữa sẽ làm cho thế hệ kế tiếp được tăng gia tốt đẹp hơn nữa; có thể đến cả 90% theo mô hình trên. Có tôn giáo nào mang tính khoa học và hữu dụng đến như thế chăng? E rằng chỉ có Phật Giáo.
Thiền sẽ giúp cho nhiễm sắc thể (chromosomes) trong tế bào dài hơn và vì thế mà tuổi thọ con người được gia tăng.

Đức Phật đã để lại một hành trang vô giá. Chúng ta làm thế nào để sử dụng chúng trong việc hoằng hóa độ sinh trong thời đại mới, không những chỉ có vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa mà toàn diện từ thành thị đến thôn quê?

Một Tăng Ni được đào luyện từ năm đến mười năm chưa chắc đã đi thuyết pháp được, vì ngoài kiến thức Phật học, cần phải có tài biện thuyết, nghệ thuật diễn giảng và đề tài phải đáp ứng nhu cầu của thính chúng.

Nếu một vị giảng sư cứ đem Bát chánh đạo, Nhân quả luân hồi, Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên và Giải thoát Giác ngộ ra thuyết giảng theo lối “cổ điển”, quần chúng có thể chưa muốn nghe vì họ đang băn khoăn về thiếu ăn thiếu mặc và làm thế nào để đối trị bệnh tật.

Nhưng nếu cũng các đề tài đó mà trình bày dưới cái khung của Thiền Sức Khỏe thì tuyệt hảo; không cần phải có nhiều tài biện thuyết và nghệ thuật diễn giảng cũng có thể làm cho thính chúng rất hoan hỷ.

Thật vậy, cá nhân tôi, nói năng vụng về, lại thêm dọng Quảng trị chay, khó nghe và khó hiểu, khuôn mặt ít lúc có được một nụ cười duyên dáng. Thật là tệ, biết vậy mà không thay đổi được. Nhưng qua trên 30 lần thuyết trình Thiền Sức Khỏe từ Bắc chí Nam, thính chúng rất hoan hỷ. Có người được nghe, muốn nghe thêm và thực tập. Người chưa nghe thì khao khát. Sở dĩ có được sự mến mộ ấy vì đề tài mà tôi trình bày là thiết dụng, bổ ích cho cuộc đời. Nói rõ hơn, tôi đã sử dụng những khám phá mới của khoa học về lợi ích của Thiền vào việc diễn giảng, nên hấp dẫn được quần chúng.

Nhìn vào hình của “Chiếc bánh hạnh phúc” nêu trên, chẳng hạn, lúc dự một đám cưới, chúng ta có thể chúc hoặc khuyên cô dâu chú rễ nên tạo cho mình có những đứa con khôi ngô tuấn tú.

Cũng với hình chiếc bánh hạnh phúc ấy, chúng ta khuyên tuổi trẻ xây dựng cuộc đời và hạnh phúc gia đình như thế nào, và góp phần xây dựng tổ quốc ra sao, vì hạnh phúc của mỗi cá nhân do di truyền 50%, tự tạo 40%. Mà thiền lại có khả năng làm cho con người đẹp, thông minh và mạnh khỏe hơn. Do đó, nếu bậc cha mẹ biết thực hành Thiền Tịnh Mật thì đứa con sinh ra có thể được như ý muốn. Một xã hội, một tầng lớp dân chúng sử dụng Thiền-Tịnh-Mật thì lớp kế thừa của dân tộc sẽ tốt đẹp hơn, thông minh và manh khỏe hơn.

Muốn biết cách áp dụng Thiền-Tịnh-Mật vào việc hoằng pháp thì chỉ cần tham dự một khóa tập huấn khoảng 3 tiếng đồng hồ là có thể thực hiện được.
Để Giáo hội tỉnh nhà (và các tỉnh khác) có một đội ngũ giảng sư hùng hậu hoằng pháp hữu hiệu thích ứng với thời đại hội nhập, chúng tôi mạo muội đề nghị Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Thừa Thiên và thanh phố Huế, nơi đã từng được tiếng là cái nôi của Phật Giáo, tiên phong thí nghiệm một chương trình giản dị. Xin được đề nghị như sau:

1.     Ban Tổ chức:

 Ban Tri sự tỉnh TTH cùng với Ban Tri sự tỉnh Giáo Hội Quảng Nam Đà Nẵng và Quảng Trị, nếu được, tổ chức một khóa huấn luyện nhân sự hoằng pháp theo phương pháp mới bằng cách sử dụng Thiền-Tịnh-Mật như là phương tiện.

2.       Chương trình gồm có:

a.) Đào luyện hướng dẫn viên Tu sĩ: Ban tổ chức mời quý vị Giảng sư và Trú Trì các chùa trong tỉnh dự khóa tập huấn Thiền Sức khỏe. Sau khi tập huấn vừa lý thuyết và thực hành khoảng 3 giờ. Học viên tham dự hai buổi giao lưu Thiền và hướng dẫn một buổi thuyết trình cho bổn đạo của một ngôi chùa. Nếu nhận thấy học viên nào hội đủ khả năng, đề nghị ban Tổ chức cấp chứng chỉ (certificate) có Giáo Hội Trung Ương chứng minh, để quý vị đó có pháp lý và uy tín để hoằng pháp bằng phương tiện Thiền-Tịnh-Mật cũng như điều hành các trung tâm Thiền sức khỏe cho quần chúng.

Thừa thiên Huế và Đà Nẵng thuận lợi hơn vì có thể tập huấn cho các Tăng Ni sinh tại học viện. Sau khi tập huấn 3 giờ, ban Tổ chức hoặc quý vị giáo thọ hướng dẫn học chúng đến một số chùa trong thành phố thực tập. Một số TN sinh có thể về thăm quê và tổ chức những buổi thuyết trình và hướng dân làng về Thiền sức khỏe. Quay phim, chụp hình, viết phúc trình. Học Viện nên xem đây như là một luận văn quan trọng góp phần vào điểm ra trường cuê TN sinh.

b.) Đào luyện hướng dẫn viên cư sĩ: Chọn lọc khoảng 100 cư sĩ cho mỗi tỉnh. Thành phần gồm các cư sĩ có hạnh kiểm tốt (không can án), có trình độ Phật học khá, các huynh trưởng Gia Đình Phật tử và một số sinh viên, dự khóa huấn luyện Thiền Sức Khỏe 3 giờ, tham dự hai buổi thuyết trình và một buổi thực tập. Sau các buổi tập huấn, nếu thấy đương sự có khả năng, am hiểu và trả lời các câu hỏi của thính chúng thông suốt, đề nghị ban tổ chức cấp chứng chỉ có Giáo hội tỉnh chứng minh. Chứng chỉ xác nhận cư sĩ nầy có khả năng hướng dẫn các khóa Thiền Sức Khỏe cho quần chúng nhất là các vùng chưa có chùa hoặc chùa chưa có trú trì.

Đây là Thiền Sức Khỏe (Meditation for health). Do đó rất giản dị, không bị tẩu hỏa nhập ma. Nếu ngồi Thiền, tụng Chú hoặc niệm Phật mà không định được tâm thì không có kết quả, chỉ có thế thôi. Không giống như Thiền Giác Ngộ, nếu không có minh sư hướng dẫn thì có thể sẽ bị trở ngại.

c.) Giao lưu Thiền: Xen kẽ với các khóa tập huấn trên, nên có những buổi giao lưu Thiền với quý vị trong y giới, trong học đường và quần chúng tùy theo ban Tổ chức sắp xếp. Đây cũng là dịp để các học viên thực tập và học hỏi thêm kinh nghiệm.

d.) Ban giảng huấn: Do Ban Tổ chức tuyển mời những vị Tăng Ni và Cư sĩ có khả năng chuyên môn về Thiền Sức Khỏe.        

   3. Tài liệu: Sách về Thiền, Tịnh, Mật, dưỡng sinh cho các buổi tập huấn và thuyết trình khoảng 2 cuốn. Mỗi cuốn khoảng dưới 100 trang. Các cuốn sách nầy có tên tác giả, ban Hoằng pháp tỉnh viết lời giới thiệu, chứng minh và xin giấy phép xuất bản.

   4. Ban chụp hình, quay phim, máy chiếu, âm thanh: Để ghi lại các buổi tập huấn, giao lưu để có thể gởi đến các chùa các nhóm Phật tử và đạo tràng chưa có cơ hội tham dự các khóa huấn luyện và giao lưu Thiền Sức Khỏe.

Sau các buổi tập huấn và thuyết trình nầy, Giáo hội sẽ có thêm rất nhiều Tăng Ni và cư sĩ có khả năng để hướng dẫn chương trình Thiền Sức Khỏe khắp nông thôn và vùng sâu vùng xa, mở các lớp Thiền Sức Khỏe tại các chùa từ thành thị đến thôn quê. Đưa Thiền vào bệnh xá, trường học, trại tù v.v.. như nhiều quốc gia đang áp dụng.

Chùa sẽ trở thành những trung tâm hướng dẫn Thiền, Tịnh và Mật không những để trị bệnh mà còn làm cho con người “Đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa”. Đây là một đóng góp vô giá của Phật giáo đối với dân tộc, và góp phần làm giảm ngân sách chi tiêu y tế trong phương hướng Thiền Thuốc song hành.

Thực tế nhất là nếu các thành viên trong gia đình được khỏe mạnh thì lợi tức kinh tế của gia đình ấy gia tăng. Đó là chúng ta biếu họ cái cần câu. Siêng “câu” thì sống khỏe, lười biếng thì khổ thân.

     5. Phương Pháp hoằng hóa vào nông thôn

Lúc Giáo hội tỉnh, thí dụ, chỉ có 50 “nhân viên” đã được tập huấn có kinh nghiệm, thì chia thành 25 nhóm, mỗi nhóm hai người. Mỗi ngày, một nhóm có khả năng đến được 2 làng, một làng buổi sáng, một làng buổi chiều. 25 nhóm, mỗi ngày đi được 50 làng. 10 ngày sẽ đi được 500 làng. Có nghĩa là đi gần hết một tỉnh. Nhân viên tỉnh nào phụ trách tỉnh đó.

Dĩ nhiên phải có các phương tiện di chuyển cho hoằng pháp viên và nên biếu thính chúng (hoặc phát hành với giá rất tượng trưng. Tâm lý con người là lúc có bỏ tiền ra mua thì mới quý trọng) một tập sách mỏng Thiền Sức Khỏe và một tập Dưỡng sinh và Chế độ ăn uống để như là những bằng chứng cụ thể để tu tập và có thêm niềm tin.

Trước lúc đến một làng, chúng ta phải theo thủ tục hành chánh:“Nước có vua chùa có chủ”. Nếu trong thông báo mời dân làng đến nghe thuyết pháp thì chắc chắn họ sẽ không đến, vì có nhiều dân làng chưa là Phật tử. Nếu là Phật tử, nhưng lúc đến, chúng ta giảng Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Nhân quả, Luân hồi, Thập nhị nhân duyên…thì chưa chắc họ đã muốn nghe. Bởi trước mắt, họ cần phải đối phó với cái ăn cái mặc và bệnh tật…Do vậy, công việc của các vị tiền trạm, hay nếu trong văn bản thông báo, thư mời dân làng, chúng ta nêu rõ là “Đoàn Thiền Tịnh (TT-Huế), ngày… sẽ đến để hướng dẫn dân làng Thiền Sức Khỏe theo phương pháp Khoa học hiện đại mà không tốn tiền”

.
Thiết nghĩ, trong 100 gia đình, cũng có ít nhất vài chục gia đình đến dự. Lúc họ đến, chúng ta trình bày những bằng chứng cụ thể mà khoa học gia và y giới Tây phương đã chữa bệnh bằng Thiền. Và Thiền-Tịnh-Mật có khả năng làm cho con người đẹp, thông minh, mạnh khỏe, sống lâu, chống bệnh tật và lão hóa. Sau đó hướng dẫn ba phương pháp định tâm là Thiền thở (quán sổ tức), Thiền chú (tụng Án ma ni bát mê hồng, Mật tông), Thiền niệm (Niệm danh hiệu Phật: Tịnh độ). Hành giả chỉ sử dụng một trong ba phương pháp trên cũng tốt.

Chúng ta có thể gởi lại danh tánh, địa chỉ và số phone, để nếu cần thì vị đại diện trong làng liên lạc. Chúng ta cũng xin tên, địa chỉ và phone của vài vị đại diện dân làng. Vài tháng sau, có dịp đến thăm, lúc đó tha hồ mà đàm đạo, thuyết giảng.

Nói là mỗi nhóm hai người, nhưng tâm lý Phật tử, qua các lần đi cứu trợ, chúng ta thấy có nhiều người tình nguyện đi theo vì vui, lạ và có dịp đi xa. Nếu trong đoàn có vài người biết hát biết đàn hoặc sử dụng loại văn nghệ “bỏ túi” thì chuyến hoằng pháp “Thiền sức khỏe” sẽ rất thành công. GĐPT có thể cung cấp loại văn nghệ bỏ túi nầy. Lúc con người có được niềm vui, có được sự an lạc, có được nụ cười; chính đó là Thiền, là Tịnh là Mật. Trong trạng thái nầy, não bộ sẽ tái tạo, bạch huyết cầu gia tăng, hệ thống miễn nhiễm mạnh hơn, nên có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe, cũng như làn da sẽ đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn.

Nếu số giảng sư hoằng pháp chỉ có 25 người thì thời gian hoằng hóa mỗi tỉnh sẽ gấp đôi. Nếu là 10 giảng sư thì thời gian gấp lên nữa. Với phương pháp mới nầy, ít mang tính tôn giáo nhưng mang tính khoa học và trị liệu rất cao, đạo Phật sẽ đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa chỉ cần một thời gian rất ngắn, nhiều lắm là vài tháng thay vì đã hai ngàn năm qua mà đạo Phật chưa đến khắp các vùng ruộng lúa và núi đồi. Nhưng do vì hoàn cảnh đất nước chiến tranh liên miên. Lý do nội tại và ngoại lai v.v.. không những làm cản trở bước thăng tiến của dân tộc mà còn làm cho Phật giáo trì trệ nữa.

Thường thường các buổi Hội thảo hay Đại hội, hình thức tổ chức rất hoành tráng và tốn kém. Nhưng chưa họp mà bản văn đúc kết đã có sẵn cụm từ “Thành công mỹ mãn”. Nhiều buổi Hội không có các nghị quyết, các đề án ngắn hạn dài hạn, nhân sự phụ trách và thời gian thực hiện, nên xong Hội thảo hoặc Đại hội, mạnh ai lo việc “nhà” ấy. Do vậy mà các chương trình, các đề án, nếu có, đâu vẫn y nguyên bất động.

Nếu tất cả Giáo hội Phật Giáo các tỉnh trong toàn quốc nghiên cứu và thực hiện chương trình mà tôi mạo muội đề nghị như trên, thì chỉ cần một thời gian ngắn, Phật Giáo Việt Nam không những chỉ có đóng góp cho dân tộc mặt văn hóa đạo đức tâm linh.., mà còn một đóng góp thiết thực và vô cùng ích dụng khác là góp phần làm cho dân tộc đẹp, thông minh, mạnh khỏe, sống lâu, phòng chống bệnh tật và lão hóa.

Kính mong chư Tôn Đức Tăng Ni, quý Đại biểu và Phật tử tha thứ cho những ý kiến bất cập và chủ quan trong bải tham luận nầy, nếu có. Bằng không, xin tất cả cho một tràng pháo tay thật lớn và cùng nhau thực hiện một chương trình hoằng pháp trong thời đại mới.

Kính cẩn,
Hồng Quang
California 7.7.2011

(*) Meditation and Beauty  (Thiền và sắc đẹp)
by Sugandha Indulkar
(Inputs from Manjiree Surve, yoga and meditation expert)
Meditation releases the unlimited power of the subconscious. It enhances inner as well as outer beauty. Ageless body and timeless mind can be achieved by daily practice of meditation.

http://tongiaovadantoc.com/c1048/20110731161945048/tham-luan-phuong-phap-hoang-hoa-trong-thoi-dai-moi-hong-quang.htm

 

Ba giờ huấn luyện, 10 ngày khai thị, đưa Phật pháp về làng, bản thôn quê – Hồng Quang

11:13 02/04/2011

Ba giờ huấn luyện, 10 ngày khai thị, đưa Phật pháp về làng, bản thôn quê

 (TG&DT) – Đức Phật lúc chứng quả, Ngài chỉ khoảng 35 tuổi. Trong hội trường của chúng ta hôm nay nhiều vị có số tuổi bằng Đức Phật lúc bấy giờ, có vị thì tuổi ngang hàng với Phụ vương và Mẫu hậu của Ngài lúc ấy.

Tham luận, khóa Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc 2011 tổ chức tại Bình Dương

  Kính bạch chư Tôn Đức Tăng Ni,

Kính thưa quý Đại Biểu, Thiện Hữu Tri thức, Khách quý và Phật Tử.

 Image

Được tin trễ, hội thảo Hoằng pháp toàn quốc 2011, tổ chức tại Bình Dương, nên chúng tôi không chuẩn bị kịp để tham dự. Rất tiếc cho việc thiếu cơ duyên của mình. Qua bài tham luận mang tính chủ quan nhưng có đủ bằng chứng cụ thể và đã được thí nghiệm nhiều lần ở nhiều nơi, nên chúng tôi có thể khẳng định “Ba giờ huấn luyện, 10 ngày hoằng hóa, đưa Phật pháp đến nông thôn”. Trước lúc trình bày phương cách, chúng tôi xin có vài nhận xét nhỏ nhưng cần thiết:   Đức Phật lúc chứng quả, Ngài chỉ khoảng 35 tuổi. Trong hội trường của chúng ta hôm nay nhiều vị có số tuổi bằng Đức Phật lúc bấy giờ, có vị thì tuổi ngang hàng với Phụ vương và Mẫu hậu của Ngài lúc ấy.

Một “thanh niên” với tuổi đời như thế, sống trong một xã hội đầy thần quyền, mê tín và bất công của Bà La Môn và Ấn giáo, nhưng tùy cơ và theo hoàn cảnh, từ khi Thành đạo đến lúc nhập Niết bàn, Ngài không bao giờ ngừng nghỉ việc giáo hóa độ sinh. Vì vậy mà giáo pháp của Ngài không những được lưu truyền đến ngày nay mà còn phát triển ngoạn mục nhờ tính nhân bản, thực dụng và khoa học. Phật giáo đang từng bước là tôn giáo của hòa bình,giúptrị liệu và giải đáp những bế tắc của khoa học hiện nay*.

Nếu kể luôn số lượng Tăng Ni và cư sĩ trong cả nước, ít nhất, chúng ta cũng có vài chục triệu vị Phật sẽ thành. Một mình, mà Đức Phật có thể giáo hóa độ sanh được, tại sao “những vị Phật Việt Nam” không làm được hoặc chưa làm được? Để Phật tử bị cải đạo, để số lượng tín đồ của độc thần giáo gia tăng. Chúng ta có thể thờ ơ chăng trước sự nguy nan có thể đến với dân tộc, khi Phật giáo chỉ còn là tôn giáo thiểu số?

      Nhiều tôn giáo có mặt trên đất nước Việt Nam đã đóng góp cho quốc gia về mặt văn hóa, tín ngưỡng, đạo đức v.v.. Riêng Phật giáo, đặc biệt hơn, được lịch sử dân tộc công nhận là: “Luôn luôn đồng hành với dân tộc qua tất cả các thời đại” trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2000 năm. Nhưng ngày nay, chính sách của Nhà nước là Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vậy các tôn giáo, trong đó có Phật giáo, liệu có được vài tỉ Mỹ kim, hay có vài tấn kim cương hột xoàn hoặc những vật hữu ích để đóng góp? Và nếu như các tôn giáo không có tiền bạc hoặc vật chất giá trị, để đóng góp cho chương trình dân giàu nước mạnh, thì các tôn giáo ấy sẽ trở thành vô dụng đối với dân tộc?

Ông Bill Gates, người giàu nhất thế giới, đã cho dân nghèo các nước khoảng 4 tỉ Mỹ kim để chữa bệnh và thăng tiến cuộc sống, vì một số quốc gia ở châu Mỹ La Tinh và Phi Châu có đến 30% bị bệnh Si-đa mà nguyên nhân chính là do luật tôn giáo cấm tín đồ sử dụng phương tiện ngừa thai. Việc làm của ông Bill Gates rất đáng trân trọng, nhưng đó cũng mới cho con cá chứ chưa phải cho cái cần câu.

Trong đời thường khi gặp nhau, đông cũng như tây, nam cũng như bắc, ai ai cũng hỏi thăm nhau ‘Thầy, cô, anh, chị, chú, bác…’ có khỏe mạnh không? Chứ không ai hỏi có bao nhiêu hột xoàn, giàu hay nghèo. Điều đó cho thấy sức khỏe là tối ưu cần thiết. Nếu sức khỏe không có thì có hằng đống kim cương hột xoàn cũng chẳng ích gì.

Phật Giáo không có tỉ tỉ đô la, không có kim cương hột xoàn để giúp vào việc làm cho dân giàu nước mạnh. Nhưng Phật Giáo có một “kho châu báu vô tận” mà nhân loại có thể tự do sử dụng, không cần xin phép, chẳng phải tranh giành, bởi không bao giờ khô cạn.

Thật vậy, trong 50 năm qua, các khoa học gia và y giới Tây phương đã sử dụng Thiền của Phật giáo để chữa đủ thứ bệnh, từ tim gan tỳ phế thận, tiểu đường, ung thư, Si-đa… Thậm chí, có nhiều trường hợp, Thiền còn công hiệu hơn thuốc. Nhiều kết quả trong chữa trị, đưa đến kết luận rằng: “Thiền có thể làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa.”

Thật ra không phải chỉ có Thiền mà Tịnh và Mật cũng đem lại kết quả tương tự. Nhưng người Tây phương thích Thiền hơn. Kèm theo bài tham luận nầy là một ngàn tập sách mỏng “Thiền là phương thuốc trị bệnh”**, xin được cung kính cúng dường đại biểu khóa Hội thảo Hoằng pháp, như là một minh chứng cho những điều đề cập.

Tiếp theo, xin trình bày phương pháp“Ba giờ huấn luyện, 10 ngày hoằng hóa, đưa Phật pháp đến nông thôn”.

 Năm rồi, liên tiếp 24 địa điểm, từ Hà Nội đến TP. Hồ Chí Minh, tôi đi thuyết trình “Thiền và Sức Khỏe” như là một thí nghiệm. Mỗi nơi có khoảng từ 40 đến 300 thính giả.  Có  nơi chư Tăng Ni đến dự khá đông. Lý do, có lẽ Quý vị có ít nhiều cảm tình với tôi qua một số chương trình từ thiện, tạp chí và nhiều tác phẩm văn hóa của Hội Từ Thiện Giao Điểm. Nhưng dường như, lý do chính là vìđề tài thiết dụng: Thiền và sức khỏe. Sau nữa giờ thuyết trình là thời gian giao lưu hào hứng. Kết quả rất phấn khởi; thính giả rất hoan hĩ. Qua những kinh nghiệm nầy tôi thấy rõ hơn nếu sử dụng Thiền, hoặc Tịnh hay Mật để hoằng dương Phật pháp thì chắc chắn có nhiều kết quả mà tốn ít thời gian và phương tiện.

 Nhiều thế kỷ trước, một số Tổ sư các nước đến truyền đạo tại Việt Nam, đa số không biết tiếng Việt. Quí Ngài làm cốc hoặc am để ở tu hành. Nhờ hiền lành đạo đức nên dần dần quần chúng tiếp cận. Quý Ngài cũng giúp dân chữa bệnh bằng thuốc Nam, thuốc Bắc, tập võ v.v.. Thời gian từ 5 đến 10 năm, mỗi quý Ngài cũng chỉ có vài ngàn tín đồ.

Một Tăng Ni được đào luyện từ năm đến mười năm chưa chắc đã đi thuyết pháp được, vì ngoài kiến thức Phật học, cần phải có tài biện thuyết và nghệ thuật diễn giảng. Nhưng nếu dùng phương pháp Thiền, Tịnh hay Mật thì chỉ cần 3 tiếng đồng hồ huấn luyện cho một người, có vốn liếng trung bình về Phật học, thì vị đó có thể hướng dẫn quần chúng một cách dễ dàng.

 Thiền, theo tôi hiểu, một cách tổng quát, là có hai loại: Thiền Trị bệnh và Thiền Giác ngộ. Thiền Giác ngộ bao gồm Thiền Tánh không, Như Lai thiền, Thiền Tứ niệm xứ, Thiền Minh sát tuệ v.v…Lại còn chia ra Thiền Đại Thừa và Thiền Nguyên Thỉ.  Còn Thiền Trị bệnh chỉ cần áp dụng Thiền Chú, Thiền Quán hoặc Thiền Thở(quánsổ tức). Phương pháp nào cũng được, miễn sao định được tâm trong vòng tối thiểu 10 phút, ngày 2 lần là có kết quả nhanh chóng.

Từ kinh nghiệm qua 24 buổi giao lưu về Thiền và Sức khỏe và vài nhận định nêu trên, chúng tôi thấy nếu ban Hoằng pháp mỗi tỉnh huấn luyện khoảng 50 Tăng Ni và cư sĩ về Thiền trị bệnh. Sau đó, chia thành 25 nhóm, mỗi nhóm hai người. Mỗi ngày, một nhóm có khả năng đến được 2 làng, một làng buổi sáng, một làng buổi chiều. 25 nhóm, mỗi ngày đi được 50 làng. 10 ngày sẽ đi được 500 làng. Có nghĩa là đi gần hết một tỉnh trung bình. Ban Hoằng pháp tỉnh nào phụ trách tỉnh đó. Cố nhiên phải có các phương tiện di chuyển cho hoằng pháp viên và nên biếu mỗi thính giả một tập sách mỏng “Thiền là phương thuốc trịbệnh” như là những bằng chứng cụ thể. Tiền in mỗi tập khoảng 5000 đồng.

Trước lúc đến một làng, chúng ta phải theo thủ tục hành chánh:“Nước có vua chùa có chủ”. Nếu trong thông báo mời dân làng đến nghe thuyết pháp thì chắc chắn họ sẽ không đến, vì có nhiều dân làng chưa là Phật tử. Nếu là Phật tử, nhưng lúc đến, chúng ta giảng Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Nhân quả, Luân hồi, Thập nhị nhân duyên…thì chưa chắc họ đã muốn nghe. Bởi trước mắt, họ cần phải đối phó với cái ăn cái mặc và bệnh tật…Chúng ta phải hiểu được thực tế như thế. Do vậy, công việc của các vị tiền trạm hay nếu trong văn bản thông báo, thư mời dân làng, chúng ta nêu rõ là “Chúng tôi đến để hướng dẫn dân làng trị bệnh theo phương pháp Khoa học hiện đại mà không tốn tiền”. Hoặc ngắn gọn là mời đến để nghe“Thiền và Sức khỏe”. Thiết nghĩ, trong 100 gia đình, cũng có ít nhất vài chục gia đình đến dự. Lúc họ đến, chúng ta trình bày những bằng chứng cụ thể mà khoa học gia và y giới Tây phương đã chữa bệnh bằng Thiền. Chúng ta hướng dẫn họ rõ ràng, cặn kẻ để trị bệnh hoặc ngăn ngừa bệnh tật. Những người chưa có bệnh, chúng ta cũng giải thích cho biết Thiền có khả năng làm cho con người “Đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa”Đánh số mà trong tập sách mỏng tôi đã trình bày và đưa ra bằng chứng cụ thể.

Chúng ta có thể gởi lại danh tánh, địa chỉ và số phone, để nếu cần thì vị đại diện trong làng liên lạc. Chúng ta cũng xin tên, địa chỉ và phone của vài vị đại diện dân làng. Vài tháng sau, có dịp đến thăm, lúc đó tha hồ mà đàm đạo, thuyết giảng.

          Nói là mỗi nhóm hai người, nhưng tâm lý Phật tử, qua các lần đi cứu trợ, chúng ta thấy có nhiều người tình nguyện đi theo vì vui, lạ và có dịp đi xa. Nếu trong đoàn có vài người biết hát biết đàn hoặc loại văn nghệ “bỏ túi” thì chuyến hoằng pháp “Thiền trị bệnh” sẽ rất thành công. Lúc con người có được niềm vui, có được sự an lạc, có được nụ cười; chính đó là Thiền, là Tịnh. Trong trạng thái nầy, não bộ sẽ tái tạo, bạch huyết cầu gia tăng, hệ thống miễn nhiễm mạnh lên, nên có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe.

Chúng ta không biết là tinh thần Từ bi Hỷ xả của Phật đi vào lòng dân tộc Việt từ lúc nào trong câu nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Cũng thế, chư Tăng Ni thường dạy Phật tử tham sân si là ba độc tố (threepoisons) chúng sẽ làm hại cuộc đời mình. Ngày nay, khoa học và y giới đã chứng minh, sống vui vẻ (hỷ xả), yêu đời (từ bi) đó là thuốc bổ. Nhưng nếu quá tham sân si thì bạch huyết cầu bị giảm, gan yếu, hệ thống miễn nhiễm suy dần nên dễ bị bệnh tim, cao huyết áp và tiểu đường…

 Thiền không xa lạ với chư Tăng Ni và Phật tử, nhưng cái mới là không ngờ Thiền lại có thể làm cho Con người đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa. Và đó là một sự đóng góp rất lớn để có thể làm giảm ngân sách chi tiêu y tế đến tiền tỉ Mỹ kim.

Tại Mỹ, bộ quốc phòng, các hội thể thao và một số trường học đã dạy và thực hành thiền để cải tiến cuộc sống. Nhiều danh nhân thế giới và cả Tổng Thống Mỹ Barack Obama cũng ngồi thiền. Trái lại chúng ta, có của báu trong nhà nhưng vẫn chưa sử dụng.

Một số vị tu theo Tịnh độ lại chỉ trích người tu Thiền, và ngược lại. Có lần chúng tôi được nghe HT. Thích Quang Nhuận ở Huế nhắc lại lời Chư Tổ rằng: “Thiền hay Tịnh cũng đều là pháp môn của Phật cả, tùy theo căn cơ của chúng sanh mà áp dụng”. Hòa Thượng cũng cho biết thêm, một số nữ tu của tôn giáo bạn đến xin học Thiền.

Tháng 11.2010, tôi gặp một Đại Đức tại phi trường Liên Khương Đà Lạt, sau khi kính tặng tập sách mỏng “Thiền là Phương thuốc trị bệnh” Thầy nói: Chùa tôi ở Đại Ninh, có hai Phật tử qua tu thiền bên nhà thờ. Tôi mời đến hỏi lý do. Hai bà trả lời: “Chùa mình không dạy Thiền để chữa bệnh, nên con qua học bên đó chứ không phải theo đạo.”

 Anh, chị và gia đình em tôi mấy năm qua bệnh nhiều quá, chữa trị nhiều nơi nhưng không khỏi. Sau đó đến trung tâm Thiền trị bệnh tại Bình Dương. Sau ba tháng thực hành nay đã lành bệnh. Người hướng dân tại Trung tâm nầy không phải là một vị Sư, mà cũng chưa hẳn là một Phật tử, em tôi nói thế.

Ở nước ngoài, người ta quýnh lên vì sợ mất nhiều tín đồ, nên họ đã đẻ ra cụm từ “Christian Meditation” (Thiền Cơ Đốc giáo) mà trong lịch sử họ chỉ có môn Tĩnh Tâm chứ không có Thiền. Còn y giới và khoa học gia luôn luôn đề cập đến Thiền Phật Giáo trong khoa học và trong trị liệu, từ bệnh Tâm thần đến cơ thể như Erich Fromm, Carl Jung, Dean Ornish, Herbert Benson, Jon Kabat-Zinn…

 

Ngày 2.5.2011 sắp đến, UCLA, một đại học nỗi tiếng của Mỹ, mời ngài Đa Lai La Ma đến chủ trì buổi thảo luận của các khoa học gia về Khoa học Thần kinh não bộ (neuroscience) và Phật Giáo (Tây Tạng).

Nhưng tại Việt Nam, hầu như Phật Giáo chưa có một trung tâm nào dạy Thiền trị bệnh. Trái lại có nhiều tổ chức tư nhân, dạy Yoga để trị bệnh, nhưng Yoga đâu bằng Thiền và mất rất nhiều thì giờ và không phải miễn phí. Còn Thiền, bất quá là tốn một cái gối, hoặc ngồi trên ghế hay trên bậc cấp xi măng cũng được.

Để tránh việc lạc dẫn tín đồ, Giáo Hội, hoặc Ban Hoằng Pháp Trung Ương nên mở các khóa huấn luyện Thiền Trị bệnh phối hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục. Rồi cấp chứng chỉ, để tránh tình trạng nay thì chưa có nhưng mai thì “lạm phát Thiền Sư” gây tác hại và mất uy tín.

Kết luận: Muốn quần chúng“Đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa”, phải chăng các chùa tại thành thị nên có các lớp Thiền hoặc Tịnh độ trị bệnh? Tạo thành một phong trào ngừa và chữa bệnh bằng Thiền rồi dần dần sẽ lây lan đến các trường học và các cơ sở y tế. Thiền, phối hợp với thuốc để cùng trị bệnh, kết quả sẽ gấp bội.

Tại nông thôn cũng thế, làng nào có chùa thì nên có các lớp hướng dẫn Thiền và Tịnh để giúp dân. Làng chưa có chùa thì có thể mượn, nhờ căn nhà của một vị hảo tâm.

Trong lúc nếu chưa có phương pháp nào hiệu quả thiết thực hơn, cúi xin Chư Tôn Đức lãnh đạo Giáo Hội quan tâm, có nên chăng áp dụng Thiền, Tịnh và Mật như là phương tiện cho chương trình hoằng pháp và cải thiện đời sống con người vốn dĩ có nhiều bệnh tật, khổ đau. Phải chăng đó cũng là một phương cách hữu hiệu, ứng dụng để góp phần vào chính sách của nhà nước là:“Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Giáo Pháp của Phật có thể ví như một món hàng vô giá (hàng xịn) nhưng ban tiếp thị Phật tử chúng ta chưa làm đúng chức năng? Để mỗi ngày bị hao mòn, mất dần tín đồ! Trong lúc kẻ khác sử dụng hàng nhái, hàng tồi hoặc hàng cóp, nhưng họ lại làm được việc, lấn sân. Điều đó không đáng để chúng ta suy gẫm sao?

Luật Tôn giáo thiếu rõ ràng hoặc không áp dụng, nên một số người ngang ngược dám múa gậy vườn hoang núp dưới chiêu bài tự do tôn giáo.

Cánh đồng trống, nếu không trồng cây hữu dụng vào đó thì cỏ dại sẽ mọc. Đó là lỗi của chúng ta, có lẽ không nên trách cứ một ai?

Trân trọng kính chào Chư Tôn Đức cùng quý liệt vị.


Cư sĩ Hồng Quang
     3.3.2011

(Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Gia Lai)

Cư Sĩ Hồng Quang chấp bút. Xin xem bài “Chỉ niệm một chữ Úm”, Tuần báo Time, cuốn 5, bộ sách nhỏ “Phật học ứng dụng”, Hồng Quang biên soạn, đang in.**Đây chỉ là một chương lấy từ bộ sách nhỏ 10 cuốn nói trên.

http://tongiaovadantoc.com/c1048/20110317165045459/ba-gio-huan-luyen-10-ngay-khai-thi-dua-phat-phap-ve-lang-ban-thon-que.htm

 

“Thiền Ki-Tô Giáo” Là Cái Chi Chi ? – Trần Chung Ngọc

“Thin Ki-Tô Giáo” Là Cái Chi Chi ?

Nhân Đọc Bài “Thiền Là Sản Phẩm Của Chúa !”
Trên giaodiemonline.com

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem. net/TCN/TCNtg/TCN127.php

 

01-Jun-2012

Ki Tô Giáo không có cái gì là của mình cả. Ki Tô Giáo chỉ có thể sao chép và mô phỏng các tôn giáo khác [nôm na là đi ăn cắp]. Điều này có đáng xấu hổ không? Tại sao Ki Tô Giáo lại phải xấu hổ?..
Chưa bao giờ có được một cái gì thực sự là của chính mình, đó là điều duy nhất mà Ki Tô Giáo có thể phô trương. Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, hân hoan chấp nhận là triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức của chúng ta ngày nay đều là sao chép và mô phỏng từ ngôn ngữ và văn hóa của những miền đất mà Ki Tô Giáo nảy nở trong đó. Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, là những chuyên gia về mánh khóe xảo trá…”

Linh Mục Kirati Boonchua

 Image

Jose Bergamin: Một niềm tin mà không để chỗ nào cho sự nghi ngờ thì không phải là một niềm tin; đó là một sự mê tín (A belief which leaves no place for doubt is not a belief; it is a superstition.)

Benjamin Franklin: “Nhìn sự vật bằng đức tin là nhắm con mắt của lý trí” (The way to see by faith is to shut the eye of reason.)

 

– Thiền là sản phẩm của Chúa?

– Con Cóc là em ruột của Mẹ Chúa Trời!

– Giáo Hoàng Công Nhận Big Bang, Nhưng Linh Mục Cứ Giảng Sáng Thế.

– Tại Sao GH Chủ Trương Lấy Của Người Đem Làm Của Mình?

– Ca-tô Giáo trước sự phát triển mạnh mẽ của Phật Giáo

– Về sự hoảng sợ của Ki Tô Giáo

– Phật Giáo phát triển ở Tây phương ra sao?

– “Thiền Ki-tô Giáo” là cái chi chi?

– Về “Christian Meditation

– Vài Lời Kết:

– Vài lời cuối với những tín đồ Ki-tô Giáo Việt Nam

Thiền là sản phẩm của Chúa?

Thiền là sản phẩm của Chúa? Chúa nào? Nếu là Chúa của CaTô Giáo thì có thể là như vậy, vì CaTô giáo có truyền thống đi “lấy mà không hỏi” sản phẩm của người khác về làm của mình, và về Thiền thì rõ ràng là CaTô Giáo Việt Nam đã “lấy” của Phật Giáo, vì CaTô Giáo không làm gì có Thiền như chúng ta thường hiểu về Thiền. Cái mà Ca-tô Giáo Việt Nam gọi là “Thiền Ki Tô Giáo”, dịch từ “Christian meditation”, chẳng qua chỉ là khoác cho sự những hành động mê tín của Ca-tô Giáo danh từ “Thiền” cho có vẻ tiến bộ. Chi tiết về “Christian meditation” trong một phần sau sẽ chứng minh điều này.

Nhưng thực ra, chuyện này đâu có gì là lạ. Bản Tin mật số 10 (Bulletin No 10, p. 27) trước đây của Vatican, huấn thị cho các giám mục địa phương ở Á Châu phải đi “lấy mà không hỏi”, nôm na là đi “ăn cắp”, những điều hay trong Phật Giáo với thủ đoạn sau đây:

“Trong những xứ Phật Giáo, để khoác bộ áo văn hóa bản địa, giáo hội có thể và phải lấy những điều hay trong truyền thống Phật giáo và biến đổi chúng, cho chúng một ý nghĩa của Ki Tô Giáo để có thể áp dụng chúng vào đời sống của những tín đồ của Ki-Tô.”
(In the Buddhist countries, in order to make its own cultural garnment, the Church can and must take on the good elements of the Buddhist tradition and transform them giving them a Christian meaning so as to adapt them to the life of the followers of Christ.)

Linh Mục Kirati Boonchua, giáo sư triết tại đại học Chulalongkorn, Thái Lan, đã nhận định:

Ki Tô Giáo không có cái gì là của mình cả. Ki Tô Giáo chỉ có thể sao chép và mô phỏng các tôn giáo khác [nôm na là đi ăn cắp]. Điều này có đáng xấu hổ không? Tại sao Ki Tô Giáo lại phải xấu hổ?..
Chưa bao giờ có được một cái gì thực sự là của chính mình, đó là điều duy nhất mà Ki Tô Giáo có thể phô trương. Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, hân hoan chấp nhận là triết lý, nghệ thuật và ngôn ngữ chính thức của chúng ta ngày nay đều là sao chép và mô phỏng từ ngôn ngữ và văn hóa của những miền đất mà Ki Tô Giáo nảy nở trong đó. Chúng ta, những tín đồ Ca Tô, là những chuyên gia về mánh khóe xảo trá...”
The Proud of Christianity: Borrowing and Imitation
[Christianity possesses nothing of its own. Christianity can only borrow and imitate others. Is it shameful? Why Christianity have to shame?..
Never having any authentic thing of its own is the only thing Catholics can show off.. We, Catholics, delightfully accept that our present philosophy, art and official language are borrowed and imitated from the language and culture of the lands where Christianity has grown. We, Catholics, are experts in manipulation..]
(Source: The Catholic Plot Against Buddhism, Printed by Siva Phorn Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1986
from: Lecture of Father Kirati Boonchua, Professor of philosophy at the Faculty of Arts, Chulalongkorn University) in “Life Review” a Catholic program in Bangkok, broadcasting on 8 December 1985)

Bởi vậy trước đây Cụ Phan Bội Châu đã gọi Ca-tô giáo là “đạo chích” (Xin đọc: Thiên Hồ, Đế Hồ). Nhưng biến đổi những điều hay của Phật Giáo để dùng cho Ca-tô Giáo thì nó không còn hay nữa, mà trở thành dở. Dở vì Ca-tô giáo dùng nó để nhốt tín đồ vào trong vòng sai lầm, mê tín, mà những điều hay trong Phật Giáo thì đúng và bất khả tương hợp với những điều mê tín trong Ca-tô giáo. Tại sao, vì những điều hay trong Phật Giáo là sản phẩm của trí tuệ, của lý trí, đồng nghĩa với hiểu biết đúng, còn những điều dở trong Ca-tô Giáo là sản phẩm của “đức tin”, đồng nghĩa với mê tín. [Joseph L. Daleiden, The Final Superstition, p. 238: Reason versus Faith: A Path to Knowledge, a Path to Superstition]

Nhưng vấn đề chính ở đây là khi người Ca-tô giáo nói bất cứ điều gì về Thiên Chúa mà không cho chúng ta biết rõ ràng Thiên Chúa là cái gì, đực hay cái, già hay trẻ, người hay ngợm, ở đâu, bao giờ, từ đâu đến, đi về đâu v…v.. thì tất cả chỉ là những đoán mò hoang tưởng. Nếu không thể nói rõ và đó chỉ là một cái gì đó mà người Ca-tô tin thì bản chất Thiên Chúa của họ cũng không khác gì lông rùa, sừng thỏ, chú Cuội trên cung Hằng, thần cây đa, thần bình vôi v…v… Có khác chăng chỉ là mức độ về những quyền năng và thuộc tính mà con người tưởng tượng ra cho vị thần mà họ tin mà thôi.

Con Cóc là em ruột của Mẹ Chúa Trời!

Triệt để tuân theo “đức vâng lời”, thi hành sách lược “mượn mà không hỏi” của Vatican đề ra, người Ca-tô cũng còn lấy quan niệm về ông Trời của Việt Nam để gán cho Chúa Trời của họ. Nhưng óc tưởng tượng và thủ đoạn “lấy mà không hỏi” của họ quá nghèo nàn và kém hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Tôi có thể tưởng tượng hay hơn thế và đúng với sự hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Tôi có thể tưởng tượng là bất cứ Chúa Trời của Ca-tô Giáo có quyền năng như thế nào thì Con Cóc của Việt Nam còn có nhiều quyền năng hơn thế, vì Con Cóc, “nghiến răng chuyển động bốn phương trời”, đối với người Việt Nam thì có chức vị là “Cậu Chúa Trời”, nghĩa là em ruột của Mẹ Chúa Trời, nếu người Ca-tô nhất quyết khẳng định Ông Trời của Việt Nam chính là Chúa Trời. Tôi không có ý định phỉ báng Ca-tô Giáo, đây chỉ là lý luận để bác bỏ một thủ đoạn “lấy mà không hỏi” của Ca-tô Giáo Việt Nam và khuyên họ đừng nên dùng thủ đoạn chẳng hay ho gì này trong những lãnh vực khác, và nếu có tiếp tục dùng thủ đoạn này thì dùng cho thông minh hơn một chút.

Giáo Hoàng Công Nhận Big Bang, Nhưng Linh Mục Cứ Giảng Sáng Thế.

Như vậy khi nói về “Thiền là sản phẩm của Chúa”, Chúa đây nên hiểu là “Gót” trong Cựu Ước, thì thực ra là nói về một cái gì không hiện hữu, hay ít ra cũng là một cái gì vô hình, không ai biết, không ai hiểu, vậy thì làm gì có cái gọi là Thiền của Chúa. Người Ca-tô là những chuyên gia về đoán mò, nói mò, nghĩa là nói về những gì mà họ không biết rõ, và thường nói trong cơn mê sảng. Thí dụ, tôi đọc được đoạn mê sảng sau đây của LM Tạ Ân Phúc:

Từ thuở tạo dựng, “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (x St 2,7), sự sống con người có được là do ân ban của Thiên Chúa. Hơi thở con người là một điều hiển nhiên không thể chối cãi, thế nên đôi khi người ta không còn chú ý đến nữa và quan tâm đến nhiều điều được cho là đáng lo toan hơn trong cuộc sống. Nhưng điều chỉnh hơi thở và rèn luyện đúng cách sẽ làm cho người ta khỏe mạnh hơn và tâm hồn thư thả, thoải mái hơn qua việc tập thể dục, tập yoga, thiền”.

Lạ thật, Giáo hoàng Ca-tô đã tỉnh, công nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, chấp nhận con người không phải là do Gót tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, không làm gì có thiên đường ở trên trời, hỏa ngục dưới lòng đất. Do đó trên thực tế, toàn bộ nền thần học Thiên Chúa Giáo mà giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa đưa ra, khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực, đã sụp đổ. Chuyện “sáng thế” đã trở thành “tối thế”, làm cho một phần thế giới tối tăm vì những chuyện hoang đường, nhưng ngày nay, bất kể liêm sỉ, người ta vẫn tiếp tục đưa ra để nhốt tín đồ vào ngục tù tăm tối của sự hiểu biết.

Điều rõ ràng là Linh mục Mít Tạ Ân Phúc nhà ta vẫn còn mê sảng, mang những chuyện hoang đường trong sách Sáng Thế Ký ra, coi như là những “chân lý mạc khải” mà con người phải tin. Cái chuyện Thiên Chúa “lấy bụi từ đất nặn ra con người” là một chuyện có tính cách mạ lỵ đầu óc con người ngày nay, bản chất đó chỉ là một trong những chuyện trẻ con như bao nhiêu chuyện thuộc loại hư cấu khác để kể cho đám trẻ con nghe cho vui và để đầu độc đầu óc bọn trẻ ở trong các lớp học sáng chủ nhật ở nhà thờ. Đối với những người đã có đôi chút hiểu biết và có thể từ khi bắt đầu đi học lớp mẫu giáo thì những chuyện như vậy cần phải dẹp bỏ.

 

Nữ Giáo sư thần học Ca-tô Uta Ranke-Heinemann đã viết cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things, HarperCollins, 1995). Tác giả trích dẫn câu 1 Corinthians 13:11 ở ngay đầu cuốn sách: “Khi tôi còn là một đứa trẻ, Tôi nói như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ như một đứa trẻ; Nhưng khi tôi trở thành một người trưởng thành, tôi dẹp bỏ những chuyện của trẻ con” [When I was a child, I spoke as a child, I understood as a child, I thought as a child; But when I became an adult, I put away childish things.]

Những chuyện trẻ con nào? Đó là những tín lý căn bản của Ca-Tô Giáo: “Tư cách thần thánh của Chúa Ki Tô”; “Sinh ra từ một nữ trinh”; “ngôi mộ trống”; “Ngày Thứ Sáu tốt đẹp”; “Phục sinh”; “Thăng Thiên”; “Bị hành quyết để chuộc tội”; “Hỏa ngục” [The divinity of Christ, The Virgin mother, Good Friday, Easter, Resurrection, Ascension, Redemption by execution, Hell]. Chuyện Thiên Chúa “lấy bụi từ đất nặn ra con người” rồi hà hơi vào cho nó có hơi thở là chuyện mà ngày nay chỉ có linh mục Mít và con chiên Mít tin mà thôi, vì thân xác họ sống trong thời đại này, nhưng đầu óc thuộc thời bán khai ở Do Thái. [Jorge Luis Borges: Ki Tô Giáo thuộc về lịch sử của sự mê tín Do Thái (Christianity belongs to the history of Jewish superstition)]

Tại Sao GH Chủ Trương Lấy Của Người Đem Làm Của Mình?

Tại sao Giáo hội Ca-tô hoàn vũ lại chủ trương đi lấy những cái hay của đạo khác rồi xào xáo biến đổi làm của mình? Điều này rất dễ hiểu, vì trong Ca-tô Giáo chẳng có gì là hay ho cả, toàn là những chuyện lừa bịp, gian dối, mê tín mà Giáo hội nhét vào đầu các tín đồ vốn không có mấy đầu óc, như
– chuyện Thiên Chúa “lấy bụi từ đất nặn ra con người”, lấy cái xương sườn của người Nam Adam hóa phép biến thành người nữ Eve,
– chuyện cô bé Mary bị một con ma thánh (Holy ghost) phủ nên sinh ra đấng cứu thế,
– chuyện Giê-su chết đi, xuống ngục tổ tông, sống lại, và bay tuốt lên trời, dù với vận tốc của ánh sáng, tới nay cũng chưa ra khỏi giải Ngân Hà, một Thiên Hà rộng khoảng 100000 (một trăm ngàn) năm ánh sáng, trong số cả triệu, cả tỷ Thiên Hà khác rải rác trong một vũ trụ rộng khoảng 13.7 tỷ năm ánh sáng.

Những điều hoang đường mê tín như trên trong Ki Tô Giáo có tính cách mạ lỵ đầu óc con người nay đã không còn mấy giá trị trong thế giới Tây phương, nơi đây sự phát triển của khoa học và sự tiến bộ tư duy của con người không cho phép con người có đầu óc còn tin vào nhưng điều hoang đường của nền thần học Ki Tô Giáo. Còn những người có loại đầu óc đặc biệt của Ca-tô, hay có gene của bụi đất, muốn tin thì cứ việc tin, chẳng có ai ngăn cản, chẳng có ai phản đối, trừ khi muốn mê hoặc đầu óc đọc giả trên các diễn đàn công cộng bằng những điều hoang đường phản khoa học, phi lý trí thì sẽ phải gánh chịu sự phản biện.

Ca-tô Giáo trước sự phát triển mạnh mẽ của Phật Giáo.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của Phật Giáo trong thế giới Tây phương, sự thua kém về đạo đức, về giáo lý mê tín qui thần, về lịch sử hiếu chiến, tàn bạo, đẫm máu của Ca-tô Giáo trước những giáo lý nhân bản, lịch sử truyền đạo trong hòa bình của Phật Giáo, Giáo hội Ca-tô cần vớt vát lại phần nào uy tín đã không còn, chỉnh trang lại bộ mặt của mình, nên đi lấy những cái hay của các tôn giáo khác biến đổi chúng đi làm của mình, nhét Thiên Chúa vào trong đó, hi vọng có thể duy trì những niềm tin Ca-tô trong đám tín đồ thấp kém. Và các giám mục địa phương, đầu óc cũng không hơn gì các con chiên mấy, nên tuân theo chính sách của đạo chích, nhưng vì căn bản kiến thức không có mấy ngoài những điều mê tín trong nền thần học Ki Tô Giáo, nên sự diễn giải những thứ lấy của người ta làm của mình có rất nhiều sơ hở, không thể thuyết phục được giới hiểu biết trí thức. Điển hình là ngày nay mà LM Tạ Ân Phúc vẫn viết ra những điều mê sảng như trên. Lấy Thiền của Phật Giáo, diễn giải méo mó thành “Thiền” (sic) của Thiên Chúa là một trong những thủ đoạn không lấy gì làm khôn ngoan. Vì truy cứu ra, trong Ca-tô Giáo không làm gì có cái gọi là “Thiền” theo nghĩa chúng ta thường hiểu và biết về Thiền, và cái mà người Ca-tô gọi là “Thiền Ki-tô Giáo” thì thực ra không phải là Thiền mà là cầu nguyện, nghĩa là xin-cho, hoặc suy niệm về Lời của Gót mà họ tin là Gót nói, vì Thánh Kinh viết vậy. Tin tất cả vào một cuốn sách thì thà đừng đọc sách, cổ nhân đã dạy (Tận tín thư bất như vô thư).

Về sự hoảng sợ của Ki Tô Giáo trước sự phát triển của Phật Giáo, tôi không có nói bịa.

Khi còn là Hồng Y, Ratzinger, nay là Giáo hoàng Benedict XVI, đã khẳng định (assert) “Tới năm 2000 Phật Giáo sẽ thay thế chủ nghĩa Marx như là thế lực đối nghịch lớn nhất của Giáo hội” (Buddhism would replace Marxism as the church’s biggest foe by 2000.)

Ratzinger cũng còn nói: “Thích Nhất Hạnh là người chống Chúa” (Thich Nhat Hanh is the antichrist. The accusation can be found here http://samsarashmamsara.blogspot.com/2005/04/chronique-dune-mort-annonce-suite-et.html).

Hồng Y Ratzinger hoảng sợ nên nói vậy, hi vọng tín đồ chuyển sự chống Cộng sản sang chống Phật Giáo. Nhưng ông ta lầm to, chỉ dựng lên một người rơm, vì bản chất Phật Giáo là không đối nghịch với bất cứ tôn giáo nào khác, Phật Giáo chỉ đối nghịch với vô minh. Nếu Giáo hoàng cho rằng Phật Giáo đối nghịch với Giáo hội thì điều này có nghĩa là ông ta thừa nhận là Giáo hội Ca-tô vô minh.

Sự phát triển của Phật Giáo đã làm ông ta lo sợ. Nhưng tại sao ông ta lại phải lo sợ khi mà ông ta vẫn cho rằng Ca-tô Giáo là tôn giáo do Chúa của ông ta thiết lập, là tôn giáo thánh thiện, là một “hội thánh”, là con đường duy nhất để con người đi đến Chúa của ông ta, là tôn giáo mà các bậc chăn chiên có quyền kiểm soát đường lên thiên đường và xuống hỏa ngục, và vẫn là tôn giáo có nhiều tín đồ nhất trên thế giới. Ngoài ra ông còn quảng cáo Thiên Chúa của ông ta là tình yêu, và dạy các tín đồ phải tuân theo “đức vâng lời” nói khác đi là không cần dùng đến lý trí, nếu có. Vậy thì tại sao ông ta lại phải lo sợ trước một tôn giáo nghèo về tiền bạc, nhưng giầu về đạo đức và tâm linh, như Phật Giáo. Lý do rất đơn giản, vì Phật giáo là ánh sáng của trí tuệ soi sáng sự thật, mà Ca-tô Giáo thì rất sợ sự thật, nghĩa là sợ ánh sáng, vì ánh sáng có tác dụng phơi bầy cho chúng ta thấy sự thật. Samuel Butler đã từng nhận định: “Người Ki-tô Giáo không sợ tội lỗi mà chỉ sợ có sự thật”.

Phật Giáo phát triển ở Tây phương ra sao?

Hiện nay có rất nhiều tài liệu về sự phát triển này. Nay tạm kể 2 tài liệu điển hình. Ngay từ năm 1969, John H. Garabedian & Orde Coombs đã xuất bản cuốn Những Tôn Giáo Đông Phương Trong Thời Đại Điện Tử (Eastern Religions In The Electric Age), hình bìa ngoài là hàng chữ lớn viết lên tường: Chúa Ki-Tô Đã Chết – Phật Đang Sống (Christ Is Dead – Buddha Lives), nội dung nói về cuộc nổi giậy đạo đức ở Mỹ (moral revolt in America), phân tích tại sao hàng triệu giới trẻ đang vứt bỏ những truyền thống của họ và tìm kiếm những giải đáp mới trong những tư tưởng và tôn giáo Đông phương (Why millions of young people are rejecting their own traditions and seeking new answers in the ideas and religions of the East)

Năm 1994, Stephen Batchelor xuất bản cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West), nội dung viết về lịch sử tiếp xúc của Phật Giáo với Tây phương. Tác giả nhận định:

Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tâm linh có ảnh hưởng nhiều nhất ở Tây phương.”
(Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movements in the West.)

       

Phật Giáo phát triển nhanh và có nhiều ảnh hưởng”, và, “Hàng triệu giới trẻ đang vứt bỏ những truyền thống tôn giáo của họ và tìm kiếm những giải đáp mới trong những tư tưởng và tôn giáo Đông phương”, đây chính là lý do mà Giáo hoàng Benedict XVI cũng như Hội Đồng Giám Mục Âu Châu đã phải than phiền là: Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới ở thời điểm mà không còn bằng chứng để con người còn cần đến Thiên Chúa nữa, và còn ít cần hơn đến Chúa Ki-tô. Những Giáo Hội gọi là ‘truyền thống’ xem ra như đang chết dần.”
(It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ,” he told a meeting of clergy in the Italian Alps. “The so-called traditional churches look like they are dying,” he said, according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.)

Đi lấy những cái hay của các đạo khác có cứu vãn được tình trạng này không? Khó có hi vọng vì những cái hay của tôn giáo của trí tuệ đã được biến đổi để dùng cho tôn giáo của “đức tin” và “sợ Gót” (God fearing) thì đâu có còn hay nữa. Nhưng rất có thể nó có tác dụng đối với giáo dân Ca-tô Việt Nam, một tập đoàn nổi tiếng là rất ngoan đạo, bề trên dạy sao thì nghe vậy, có biết gì đâu, cho nên ngày nay mà có nơi ngày đi lễ ba buổi, và cầu nguyện đủ mọi thứ, “cầu ngày không đủ, tranh thủ cầu đêm, cầu thêm ngày “chúa nhật””, cầu cả tên tướng cướp David, sau lên làm vua thì hoang dâm vô độ [Xin đọc Charlie Nguyễn]..

 

Thiền Ki-tô Giáo” là cái chi chi?

Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu xem “Thiền Ki-tô Giáo” là cái chi chi. Trước hết, chúng ta cần phải hiểu qua thế nào là Thiền trong Phật Giáo. Có lẽ không ai có thể biết hết được về Thiền trong Phật Giáo. Quý đọc giả muốn biết chi tiết về Thiền, nhưng không thể nào đầy đủ, có thể tìm đọc trên Internet.

Nói rất ngắn gọn, Thiền chủ yếu là một hoạt động kinh nghiệm, chỉ những người Thiền mới biết Thiền là như thế nào. Lợi ích của Thiền thì rất nhiều nhưng đại khái là để dứt bỏ những tạp niệm, vọng niệm, giữ tâm thanh tịnh, thoải mái, điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của thân thể, thân thể khỏe mạnh thì sẽ ít bệnh tật, trí tuệ phát triển. Ngày nay khoa học đã có thể chứng minh là trong một số trường hợp Thiền có tác dụng chữa bệnh. Trong khi đó thì “Thiền Ki-tô giáo”, có nghĩa là cầu nguyện, và cầu nguyện là đắm mình vào những tạp niệm những vọng tưởng, là xin cho, mà 99.99% các trường hợp thì có xin mà không có cho, như tôi sẽ chứng minh trong phần sau đây.

Trong http://www.daminhvn.net/tai-lieu/490-thien-kito-giao%29%E2%80%9D Đỗ Trân Duy có viết bài “Thiền Ki Tô Giáo”, mục đích là để vinh danh Chúa, vơ Thiền vào làm sản phẩm sáng tạo của Thiên Chúa, nhưng không được thông minh cho lắm. Trước hết ông ta cũng mê sảng như LM Tạ Ân Phúc và viết:

Khi Thiên Chúa sinh ra con người, Thiên Chúa thở hơi vào xác phàm của con người. Xác phàm trở thành mạng sống vì hơi thở của Thiên Chúa là Thần Khí ban sự sống. Vậy trong thiền, ta chỉ nên ngồi im lặng mà hít thở. Ta hòa tan hữu thể với Thần Khí ban sự sống.

Tôi không nhắc lại những điều tôi phê bình LM Tạ Ân Phúc ở trên về cái chuyện hoang đường có tính cách mạ ly đầu óc con người: “Thiên Chúa sinh ra con người và hà hơi vào cục đất sét”. Mấy người Ca-tô Mít đều giống nhau, càng viết càng để lộ cái kiến thức kém cỏi của mình, chỉ biết nhắc lại những điều mà thế giới Tây phương đã loại bỏ từ lâu và chính Giáo hội hoàn vũ cũng đã loại bỏ qua những lời thú nhận của các Giáo hoàng gần đây như John Paul II và Benedict XVI. Chỉ một điều này cũng đủ chứng tỏ là những người nói về “Thiền Ki Tô Giáo” hay “Thiền là sản phẩm của Chúa” là nói chuyện bá láp, vì như trên đã nói: chuyện “sáng thế” đã trở thành “tối thế”.

Chúng ta hãy đọc thêm một đoạn của Đỗ Trân Duy:

Hiện thời, thiền được phổ biến rộng rãi nhờ công của các linh mục dòng Bênêđíc. Hai tổ thiền nổi tiếng là Thomas Merton (1915-1968) và John Main (1926-1982). Cha Merton, nhà thần học lớn của Công Giáo, có công đào sâu ý niệm về thiền. Cha Main có công dậy về luyện thiền. Trước khi đi tu, John Main đã học thiền với một đạo sư Ấn Độ. Sau khi thụ phong linh mục, Main lập ra 2 đại thiền viện một ở Luân Đôn và một ở Gia Nã Đại. Hiện tại vị kế nghiệp cha Main là cha Laurence Freeman (1951-?). Gần đây Kitô hữu Việt hải ngoại cũng biết tới thiền qua sự giới thiệu của cha Chu Công (1918-2004), Tu Viện Trưởng dòng Tra-pít. Cha Chu Công thụ huấn thiền với thiền sư Nhật Bản Joshu Sasaki Roshi.

Qua đoạn văn trên chúng ta thấy trong Ki Tô Giáo không có Thiền. Linh mục Thomas Mertonđào sâu ý niệm về thiền” nhưng đây là Thiền mà ông ta biết được qua những cuộc tiếp xúc với Đức Dalai Lạt Ma, Suzuki và Thích Nhất Hạnh. Đọc về Thomas Merton, chúng ta thấy ông ta không phải là nhà thần học lớn của Ca-tô Giáo, bởi vì ông ta viết rất nhiều nhưng ý tưởng không nhất quán, pha trộn nhiều tư tưởng của các tôn giáo khác. Trong những tác phẩm của ông chúng ta thấy ông chịu ảnh hưởng tư tưởng của Phật Giáo, Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo, nhưng đức tin của ông ta là đức tin Ca-tô Giáo của thời Trung Cổ, mà chúng ta đã biết “đức tin” là con đường đi tới mê tín (Joseph L. Daleiden, The Final Superstion: Faith: the path to superstition).

Theo định nghĩa của H. L. Mencken thì Faith hay Đức Tin là “một kiểu tin phi-lôgic vào sự xảy ra của những gì không chắc có thực” (an illogical belief in the occurrence of the improbable). Theo định nghĩa trong tự điển thì Faith hay Đức Tin là “sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực” (Firm belief in something for which there is no proof.)

Vài điều sau đây về Thomas Merton chứng tỏ định nghĩa về đức tin ở trên là đúng:

– Ông ta rất sùng tín đức mẹ và tin rằng bà ta là “mẹ của Gót” [Merton was a great venerator of Mary.. believed she is the mother of God]
– Ông ta cầu nguyện nhiều thánh (He prayed to several saints), và tin Thánh Kinh chính là lời mạc khải của Gót (revelations of God).
– Trong 70 tác phẩm của ông, ông không hề phân tích Thánh Kinh, có chăng chỉ kể những cái trúng bỏ qua những cái trật (counting only the hits, ignoring the misses) và cũng không nhắc đến lịch sử của Ca-tô Giáo.
– Ông lập lại chủ thuyết “Cầu nguyện trầm tư” (contemplative prayer) cổ xưa của Ki Tô Giáo và cho rằng đó là con đường đi tới Gót.

Nói tóm lại, Merton sống trong sự tin tưởng vào nền thần học Ki Tô Giáo, không hề biết đến những tài liệu đã có trước thời của ông, những tài liệu nghiên cứu kỹ về nền thần học Ki Tô Giáo. Ông rất chịu khó đi lang bang vào các tôn giáo khác nhưng tôi không nghĩ là ông đã hiểu về Phật Giáo mà ý định của ông là tìm cách hòa hợp (reconcile) các tôn giáo mà không hiểu rằng cốt tủy của mỗi tôn giáo một khác, khác về giáo lý về mục đích. Cho nên, cũng như một số người Ki Tô khác đã làm, sự hòa hợp chỉ ở trên vài nét tương tự trên mặt văn tự. Vì thế giới Tây phương không thể cất bỏ trong đầu óc quan niệm về Gót của Ki Tô Giáo, nên chủ thuyết “Cầu nguyện trầm tư” gần đây lại trở nên hấp dẫn trong thế giới Tây phương đối với những người vẫn mê mẩn về một Gót ở trên thiên đường.

Theo www.understandthetimes.org thì:

Thomas Merton được coi là một trong những tổ lập thuyết “cầu nguyện trầm tư”. Những tác phẩm và ý kiến của ông ta ngày nay tác động mạnh trên nhiều người, những người chủ trương Ki–tô giáo hãy theo những kỹ thuật cầu nguyện mượn của tôn giáo Đông phương.
“Cầu nguyện trầm tư” là cầu nguyện trong sự tĩnh lặng tư tưởng. Điều này khiến cho ta ở trong một trạng thái tốt hơn để nhận thức được sự hiện diện của Gót, và làm cho ta nghe được tiếng nói của Gót sửa sai, chỉ đạo cho ta.
[Merton is considered to be one of the founding fathers of contemplative prayer. His writings and ideas have impacted many today who are advocating that Christianity embrace prayer techniques borrowed from Eastern religion.
Contemplative prayer is prayer in which you still your thoughts… This puts you in a better state to be aware of God’s presence, and it makes you better able to hear God’s voice correcting, guiding and directing you.]

Có nhiều nhà truyền đạo trên TV tự nhận là có thể nói chuyện với Gót hoặc được Gót “mạc khải” cho điều này điều nọ, và từ đó hốt được nhiều tiền của đám tín đồ ở dưới. Lại có cả đường giây điện thoại để tiếp xúc với Gót. Có một nhận định rất hay của Thomas Szasz về các vụ này:

Thomas Szasz:Nếu anh nói chuyện với Gót, anh đang cầu nguyện”; nếu Gót nói với anh, anh bị bệnh tâm thần phân liệt” (If you talk to God, you are praying; if God talks to you, you have schizophrenia.) [Hoặc đó là một trò bịp]

Chúng ta hãy đọc tiếp Đỗ Trân Duy đưa ra quan niệm Thiền của Merton như sau:

Merton đưa ra khái niệm về thiền như sau. Vì Thiên Chúa là ánh sáng quá chói chang khiến trí óc và mắt con người chỉ thấy tối tăm. Vì vậy để gặp Người ta phải đi vào bóng tối. Vì Thiên Chúa không thể hiểu qua âm thanh, nên để gặp Người ta phải đi vào cõi im lặng. Vì Thiên Chúa không thể mường tượng trong trí óc, nên muốn gặp Người chúng ta phải đi vào cõi trống không. Tuy nhiên ta vẫn thức tỉnh để trực giác “biết” rằng ta đang hòa vào Thiên Chúa trong hiện tại vĩnh hằng. Đó là bí quyết thiền.

Thực ra đây chẳng phải là bí quyết Thiền gì. Đây chẳng qua là Merton dựa theo cái gọi là “Thần học phủ định” (Apophatic Theology or Negative Theology) của Ca-tô Giáo đã có từ xưa, mà Meister Eckhart cũng đã lập lại gần đây, và diễn đạt theo ý của mình. Trong nền thần học này những phủ định về Gót như sau dựa trên Thánh Kinh và trên một số những lời “Thánh phán”:

Những mô tả phủ định về Gót:

● Không ai đã nhìn thấy hay có thể nhìn thấy Gót (John 1:18)

● Gót sống trong ánh sáng mà không ai có thể tiếp cận được (1 Tim. 6:16)

● Hành động của Gót không thể tìm kiếm được và không thể hiểu được (Job 11:7-8; Romans 11:33-36)

● Sự hiểu biết chân thực và viễn tượng về Gót là như thế này – thấy rằng ông ta vô hình, vì cái mà chúng ta tìm kiếm nằm ngoài mọi sự hiểu biết, hoàn toàn tách biệt bởi bóng tối của sự “bất khả tri” (The Life of Moses, Gregory of Nyssa).

● Gót thì vô tận và không thể hiểu được và tất cả những gì ta hiểu về Gót là sự vô tận của ông ta và sự bất khả tri về ông ta (On the Orthodox Faith, John of Damascus)

 [http://orthodoxwiki.org/Apophatic_theology: Apophatic descriptions of God:

● From Scripture

  • No one has seen or can see God (John 1:18).
  • He lives in unapproachable light (1 Tim. 6:16).
  • His ways are unsearchable and unfathomable (Job 11:7-8; Romans 11:33-36).

● By saints

  • The true knowledge and vision of God consists in this—in seeing that He is invisible, because what we seek lies beyond all knowledge, being wholly separated by the darkness of incomprehensibility (The Life of Moses, Gregory of Nyssa).
  • God is infinite and incomprehensible and all that is comprehensible about Him is His infinity and incomprehensibility (On the Orthodox Faith, John of Damascus).

Chúng ta thấy rõ là tư tưởng của Thomas Merton không có gì lạ, vẫn chỉ là nền thần học Ki Tô Giáo đưa ra để giải thích những cái không giải thích được. Chúng ta thường nghe một câu thông thường của Ki Tô Giáo “Gót có những kế hoạch mà đầu óc con người không thể hiểu được” để biện minh cho những tai họa đến với con người, cho thiên tai và những tội ác xẩy ra trên thế gian. Chúng ta còn nhớ Giáo hoàng John Paul II đã an ủi các con chiên đau đớn vì bệnh tật ờ Nam Mỹ đó là kế hoạch kỳ diệu của Gót (Wondrous plan of God). Nhưng Thiền “đi vào bóng tối”, “đi vào cõi im lặng”, “đi vào cõi trống không” của Merton có đến được với Gót hay không một khi con người không biết Gót là cái gì.

Có lẽ Mẹ Teresa đã rất thành thực khi cho chúng ta biết:

“Đối với tôi, sự im lặng và trống không thật là quá lớn đến độ tôi nhìn mà không thấy, lắng nghe mà không nghe thấy gì.” [As for me, the silence and the emptiness is so great that I look and do not see, listen and do not hear.]

Mẹ Teresa được Ca-tô Giáo coi như là Thánh Ca-tô. Nhưng Thánh Ca-tô mà nhìn cũng chẳng thấy Chúa, lắng tai nghe mà cũng chẳng nghe được tiếng Chúa, vậy những linh mục như Thomas Merton và các con chiên làm sao mà thấy được hay nghe được Chúa. Nếu có người nào nói rằng họ nghe được Chúa nói thì người đó chắc chắn là những tên bịp như những tên truyền bá Phúc Âm trên TV (TV evangelists).

Tiến sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người không tin Gót ở Mỹ, cũng đưa ra một nhận định:

“Thật ra, đây là những gì mà người Ki-tô Giáo làm: chẳng thờ phụng cái gì cả. Một vật không ai nhìn thấy, không ai biết, không ai nghe thấy, không đáp ứng được gì (những lời cầu nguyện) mà các người gọi là Gót và cầu khẩn hàng ngày mà không hề có một đáp ứng nào. Chẳng có cái gì cả – nhưng các người thờ phụng cái đó. Chẳng có gì nghe được các người – nhưng các người vẫn nói lên những tiếng nói để liên lạc với cái đó. Chẳng có gì đáp ứng – nhưng các người vẫn nghe thấy một thông điệp nào đó trong hư không. Chẳng có gì đã từng xảy ra – nhưng các người vẫn lý luận rằng có một cái gì đó xảy ra ở đâu đó, có thể ở trong trái tim của con người. Đây là một canh bạc kỳ cục mà các người chơi.”
[In fact, this is what the Christian does: worships nothing. An unseen, unknown, unhearing, unresponding entity which you call god is supplicated by you daily with no response. Nothing is there – but you worship it. Nothing hears you – but you address communication to it. Nothing responds – but you hear some message in the void. Nothing ever happens – but you rationalize that “something” occur somewhere, perhaps in one’s heart. It is an incredible game that you play.]

 Trong Ki-tô Giáo, thần học nói chung là môn học về Gót (God) của Ki Tô Giáo. Nhưng một môn học mà học về một cái gì vô hình, vô tận, không thể hiểu được, không thể biết được thì đó chỉ là môn học “đoán mò”. Bởi vậy Richard Dawkins đã đặt cho chúng ta một câu hỏi:

Cái gì làm cho bất cứ ai nghĩ rằng Thần Học thật sự là một chủ đề? [What makes anyone think that “theology” is a subject at all?] Xin đọc http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN100.php, một khảo luận về thần học Ki Tô Giáo.

Vấn đề là những người Ki-tô chỉ viết bá láp về Gót. Thí dụ, làm sao Thomas Merton, cũng như bất cứ ai, biết được rằng Gót, nếu có Gót, là ánh sáng quá chói chang, hay là bất cứ cái gì khác. Đó chỉ là những hoang tưởng hay ảo tưởng của mỗi người, tùy theo óc tưởng tượng của mỗi cá nhân. Cho nên khi Đỗ Trân Duy viết:

Tuy nhiên ta vẫn thức tỉnh để trực giác “biết” rằng ta đang hòa vào Thiên Chúa trong hiện tại vĩnh hằng” thì đó chỉ là những lời mê sảng, sáo ngữ trống rỗng, nhắc lại từ những bài học mẫu giáo trong Ki Tô Giáo.

Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Christian_meditation thì:

Thomas Merton định rõ đặc điểm mục đích của “Christian meditation” như sau: “Mục đích chân thật của “Christian meditation” trên thực tế cũng là mục đích của sự cầu nguyện trong nghi thức tế lễ và sự tiếp nhận các bí tích: một sự hiệp nhất sâu xa bởi ân sủng và nhân đức của ngôi Lời nhập thế, đấng trung gian duy nhất giữa Gót và con người, Giê-su Ki-tô. Trong khi Tin lành quan niệm sự giải thoát chỉ bằng “đức tin và ơn Chúa”, những tín đồ Ki Tô miền Đông và miền Tây quan niệm vai trò của trầm tư trên con đường đi tới sự giải thoát và chuộc tội. Tông đồ Paul nói trong thư viết cho người La Mã là sự cứu rỗi chỉ có thể đến từ lòng nhân từ của Gót. Con đường giải thoát trong “Christian meditation” không phải là xin-cho, và mục đích của meditation là để cho Gót vui lòng. Lời của Gót chỉ đạo sự trầm tư là để bày tỏ hai khía cạnh của sự yêu thương làm cho Gót vui lòng: phục tùng và tôn thờ. Sự khởi đầu trong sự giải thoát Ki-tô là thuộc về Gót, con người không trầm tư hoặc yêu Gót để chiếm được ân huệ của Gót.
[Thomas Merton characterized the goal of Christian meditation as follows: “The true end of Christian meditation is practically the same as the end of liturgical prayer and the reception of the sacraments: a deeper union by grace and charity with the Incarnate Word, who is the only Mediator between God and man, Jesus Christ.”[20] While Protestants view salvation in terms of faith and grace alone (i.e. sola fide and sola gratia) both Western and Eastern Christians see a role for meditation on the path to salvation and redemption.[21] Apostle Paul stated in Epistle to the Romans 9:16 that salvation only comes from “God that hath mercy”.[22] The path to salvation in Christian meditation is not one of give and take, and the aim of meditation is to bring joy to the heart of God. The Word of God directs meditations to show the two aspects of love that please God: obedience and adoration. The initiative in Christian salvation is with God, and one does not meditate or love God to gain his favor.]

Chúng ta nhận thấy những niềm tin ở trên như “tiếp nhận các bí tích”; “ngôi Lời nhập thế”; “Giê-su là đấng trung gian duy nhất giữa Gót và con người”; “chuộc tội”; “lòng nhân từ của Gót”; “phục tùng và tôn thờ”; “ân huệ của Gót” đều là những điều mê tín cổ xưa của nền thần học Ki Tô Giáo đã lỗi thời mà ngày nay đã không còn mấy giá trị trong thế giới Tây phương. Những niềm tin này chỉ còn sót lại trong tập thể những tín đồ như thế nào, chúng ta đã biết.

Chúng ta hãy đọc thêm một câu của Đỗ Trân Duy về “Thiền Ki-tô Giáo”:

John Main “đã học thiền với một đạo sư Ấn Độ” và Chu Công “thụ huấn thiền với thiền sư Nhật Bản Joshu Sasaki Roshi”.

Như vậy, Thiền Ki-tô giáo là Thiền Ấn Độ, Thiền Nhật chứ không phải Thiền của Thiên Chúa, và hiển nhiên là Thiền Ấn Độ, Thiền Nhật, hoàn toàn khác với “Christian meditation”. Đây là điều ông Đỗ Trân Duy nghĩ không ra trong khi ông ta muốn quảng cáo cho Thiền Ki-tô Giáo. Vì thế tôi mới nói là mấy người nhập nhằng những thứ của người khác làm của Ki Tô Giáo không có mấy thông minh.

Về “Christian Meditation”:

Nhưng vấn đề là, nếu Ki-tô Giáo đã có “Thiền” (sic) của Thiên Chúa rồi, và Thiên Chúa được dạy là bậc toàn năng toàn trí, tuy rằng không ai thấy, không ai biết, không ai hiểu Thiên Chúa là cái chi chi, thì tại sao mấy cha còn phải đi học, tìm hiểu Thiền của các nơi khác. Gần đây chúng ta thấy có nhiều tu sĩ Ki Tô Giáo và tín đồ Ki-tô đến học Thiền với các bậc tu hành Phật Giáo, thí dụ như với “Thiền sư antiChrist Thích Nhất Hạnh”. Nhưng không hề thấy một ông Sư nào đi học “Thiền Ki-tô Giáo” với một ông Linh mục, Giám Mục hay Tổng Giám Mục. Điều này chứng tỏ “Thiền Ki-tô Giáo” chẳng phải là Thiền mà cũng chẳng có ích lợi gì thiết thực, đó chẳng qua chỉ là điều mê mẩn của các tín đồ, trong khi Thiền Phật Giáo giúp cho họ giải quyết được nhiều vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Vì bản chất cái gọi là “Christian meditation” thì không phải là Thiền mà chỉ là một dạng cầu nguyện, có nghĩa là xin-cho.

Đỗ Trân Duy cũng khẳng định: Nhưng nếu ta không ý thức đó [Thiền Ki-tô] là dạng cầu nguyện, nó chẳng mang lại một tiến bộ tâm linh nào cho ta cả.

Cầu nguyện là xin-cho, mà xin không được đáp ứng thì thất vọng, vậy làm sao mà tiến bộ tâm linh cho được. Bây giờ chúng ta tìm hiểu xem “Christian meditation” là cái chi chi. Meditation không phải là Thiền.

Tiến sĩ Sunthorn Plamintr giảng:

Tu tập thiền định theo tiếng Pali là từ “bhavana”, có nghĩa là “phát triển, “tu dưỡng”, hay “trau dồi”. Bởi sự tu tập này liên quan trực tiếp đến tâm, nên từ “bhavana” đặc biệt ám chỉ quá trình mở mang tâm linh hay sự phát triển của tâm. Trên phương diện này từ tương đương trong Anh ngữ “meditation” không được chính xác và không nói hết ý nghĩa như từ “bhavana”.

Trong Ki-tô Giáo “meditation” có nghĩa là cầu nguyện, hoặc “chiêm niệm”, nghĩa là suy ngẫm về cái gì đó, thí dụ về Gót, về một câu trong Thánh Kinh v…v.. , nhưng “chiêm niệm” cũng chỉ có mục đích xin-cho hoặc mong muốn một điều gì đó. Theo định nghĩa thì cầu nguyện có nghĩa là lẩm bẩm những lời cầu xin với Gót hoặc một thần nào đó (Pray: to utter or address a petition to God or another deity; to make a fervent request; plead). Chúng ta hãy tìm hiểu thêm về “Christian meditation”. Để cho khỏi nhập nhằng với Thiền, tôi dịch “Christian meditation” là “Chiêm niệm Ki-tô Giáo.

http://www.meditation-christian.com/:

-“Chiêm niệm Ki-tô Giáo” đặt căn bản trên Lời của Gót: Cuốn Baibơn (Phiên âm Bible theo tiếng Mỹ) Christian meditation is based on God’s Word: The Bible.
– Cuốn Baibơn nói những người hoan hỉ trong luật của Chúa, và trong luật của ông ta suy ngẫm ngày và đêm thì sẽ được hạnh phúc.
The Bible says that those who delight in the law of the Lord, and in His law meditate day and night, they are blessed. (Psalm 1:1-2).
– Suy ngẫm trên Lời của Gót, lấy nó vào trong, nhai đi nhai lại. Hãy coi đó như là một phần dinh dưỡng hàng ngày, cũng như là những bữa ăn thường lệ.
Meditate on the Word of God by taking it in and chewing on it over and over. Consider it part of your daily nutrition, just as you do your regular meals.
– “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” là quá trình suy nghĩ tích cực về Thánh Kinh. Cũng là cầu nguyện trên đó và cầu xin Gót cho chúng ta sự hiểu biết qua Thánh Linh; Thánh Linh hứa hẹn dẫn dắt chúng ta đến mọi chân lý.
Christian meditation involves the process of actively thinking on scriptures. It also involves praying over it and asking God to give us understanding by His Spirit; who promised to lead us in all truth.

Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Christian_meditation:

– “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” là một dạng cầu nguyện, một quá trình tập trung vào những tư tưởng đặc biệt (như là một đoạn trong Baibơn) và suy tư về ý nghĩa trong khung cảnh tình yêu của Gót. (sic)[Xin đọc http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN119.php, bài “Thiên Chúa Là Tình Yêu?”]
– Giáo lý trong cả hai giáo hội miền Đông và miền Tây đều nhấn mạnh là dùng “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” như là một yếu tố để biết về đấng Ki-tô.
– “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” thì khác với phong cách Thiền của các tôn giáo Đông phương (như Phật Giáo) hay trong khung cảnh của Thời Đại Mới. Trong khi các kiểu Thiền khác có mục đích thoát khỏi những vọng tưởng trong đầu óc, thì “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” có mục đích chất đầy đầu óc với những tư tưởng về các đoạn trong Baibơn hay về lòng mộ đạo trong Ki Tô Giáo.
Sách Giáo Lý của Giáo hội Ca-tô cổ vũ “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” như là một dạng cầu nguyện: Chiêm niệm trước hết là sự tìm kiếm. Trí óc tìm kiếm để hiểu về tại sao và như thế nào ta phải sống đời sống Ki-tô Giáo để gắn bó với nó và đáp ứng điều mà Chúa đòi hỏi. Nhấn mạnh vào sự hiệp thông với Gót, sách Giáo lý nói rõ: “Chiêm niệm Ki-tô Giáo” chú ý vào tư tưởng, sự tưởng tượng, tình cảm, và sự ham muốn. Việc động viên những khả năng này cần thiết để tin chắc hơn về đức tin, chuyển đổi tâm, và củng cố ý chí theo đấng Ki-tô.
(Christian meditation is a form of prayer, is the process of deliberately focusing on specific thoughts (such as a bible passage) and reflecting on their meaning in the context of the love of God.[2]
Teachings in both the Eastern and Western Christian churches have emphasized the use of Christian meditation as an element in increasing one’s knowledge of Christ.[9][10][11][12]
Christian meditation is different from the style of meditations performed in Eastern religions (such as Buddhism) or in the context of the New Age.[3][4][28][29][30] While other types of meditation may suggest approaches to disengage the mind, Christian meditation aims to fill the mind with thoughts related to Biblical passages or Christian devotions.[31]
The Catechism of the Catholic Church encourages meditation as a form of prayer: “Meditation is above all a quest. The mind seeks to understand the why and how of the Christian life, in order to adhere and respond to what the Lord is asking” (Catechism section # 2705). Emphasizing union with God, it states: “Meditation engages thought, imagination, emotion, and desire. This mobilization of faculties is necessary in order to deepen our convictions of faith, prompt the conversion of our heart, and strengthen our will to follow Christ.)

Chúng ta thấy rõ, cái gọi là “Christian Meditation” không thể dịch là “Thiền Ki-tô Giáo”. Đó chỉ là một dạng cầu nguyện, nghĩa là một dạng xin-cho hay mong ước viễn vông, bắt nguồn từ một đức tin mù quáng thuộc loại mê tín. Những tài liệu của Ki Tô Giáo ở trên đã nói rõ về sự khác biệt giữa Thiền và “Christian meditation”: Trong khi các kiểu Thiền khác có mục đích thoát khỏi những vọng tưởng trong đầu óc, thì “Christian meditation” có mục đích chất đầy đầu óc với những tư tưởng về các đoạn trong Baibơn hay về lòng mộ đạo trong Ki Tô Giáo, và chất đầy đầu óc với những tư tưởng, tưởng tượng, tình cảm và ham muốn.

Tình cờ tôi đọc được vài lời giải thích về cầu nguyện của một ông Mít bỏ đạo trí tuệ để đi theo đạo của đức tin: Nguyễn Huệ Nhật. Ông mục sư tân tòng này giảng về mục đích của cầu nguyện:

1. Cầu nguyện là việc làm của Đức Tin có mục đích được gặp Thiên Chúa.

2. Được chiêm ngưỡng vinh quang, lòng thương xót, hồng ân của Thiên Chúa

3. Được trình dâng lên Chúa những nỗi niềm, tình cảm, tâm linh, hoàn cảnh và nội tâm của mình.

4. Ăn năn tội, cầu nguyện những nhu cầu của mình và của người khác. [TCN]

5. Được cởi mở tấm lòng, mời Chúa ngự vào lòng để Ngài biến hóa con người tầm thường của mình trở nên đền thờ của Ngài, mặc lại bản tính của Ngài vốn đã bị thiếu hụt do tội lỗi trong mỗi người.

[Lời bàn của TCN: Có phải đây toàn là những lời mê sảng của một kẻ ngu đạo. Huệ Nhật hay đã có ai gặp được Thiên Chúa chưa? Gặp có nghĩa là mặt đối mặt. Gặp ông ta, hay bà ta, hay cô ta, hay cậu ta, ở đâu? Mặt mũi ra sao? Chỉ có thể gặp Gót trong những cơn khủng khoảng hay bấn loạn tinh thần. Nhưng gặp để làm gì, có ích gì. Hãy kiên nhẫn chờ khi chết rồi và nếu có thể lên được thiên đường (mù), giả thử có cái gọi là thiên đường, để gặp ông ta, giả thử Thiên Chúa là một ông, thì cũng không gặp được. Tại sao? Vì lên đến nơi thì Thánh Peter đang gác cửa thiên đường sẽ đuổi đi vì Huệ Nhật không phải là người Do Thái. Huệ Nhật hãy đọc sách Khải Huyền để biết là Thiên Chúa sai Peter từ chối không cho gặp ông ta bất cứ người nào không ở trong số 144000 thuộc 12 bộ lạc Do Thái có dấu ấn của Gót trên trán, nhất là người đó lại là dân Mít đặc. Có người nhận định là: Ki Tô giáo đã lừa bịp con người để tin rằng họ sẽ được tưởng thưởng vì sự ngu dốt của mình, gọi đó là “đức tin” (Christianity has tricked people into believing that they will be rewarded for their ignorance by calling it `faith`.)
[http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5271]

Chiêm ngưỡng là ngẩng nhìn lên một cái gì đó có thực với sự ngưỡng mộ. Người ta thường nói chiêm ngưỡng dung nhan, hay chiêm ngưỡng một cái gì đặc biệt chứ không ai nói chiêm ngưỡng vinh quang, hay chiêm ngưỡng lòng thương xót, hồng ân mà không ai biết cái hồng ân này như thế nào. Thiên Chúa đã không có thì làm gì có vinh quang, lòng thương xót, và hồng ân. Ai cần đến sự vinh quang, lòng thương xót và cái gọi là hồng ân của một cái gì vô hình, không ai biết, không ai hiểu. Có ai thử mô tả rõ sự vinh quang, lòng thương xót và hồng ân của Thiên Chúa, giả thử có Thiên Chúa, là như thế nào.

Trình dâng lên Chúa nhưng làm sao biết Chúa, nếu có Chúa, có nghe hay không mà trình. Nếu Chúa, giả thử có Chúa, mà nghe được thì cả thế giới đã là tín đồ của Chúa rồi. Hi vọng được Chúa nghe nhưng thực tế cho thấy:

Arthur Koestler: Có vẻ như Gót đã nhắc ống nghe ra khỏi điện thoại (God seems to have left the receiver off the hook.) [Có nghĩa là Gót không bao giờ nghe và đáp ứng những lời cầu nguyện]

Voltairine de Cleyre: Chúng ta đã chán ngấy với những hứa hẹn, Gót thì điếc đặc, và giáo hội của ông ta là kẻ thù tệ hại nhất của chúng ta (We are tired of promises, God is deaf, and his church is our worst enemy)

Nhưng vấn đề chính ở đây là Huệ Nhật nói về Thiên Chúa và mơ tưởng được đến với Thiên Chúa, và hi vọng Thiên Chúa sẽ ban cho hồng ân v…v… trong khi Huệ Nhật không hề biết Thiên Chúa của mình là cái gì. Huệ Nhật theo Ki Tô Giáo để kiếm ăn một cách dễ dãi, vì trên thế gian này vẫn còn nhiều người dễ bị lừa bịp, chẳng phải là vì ơn kêu gọi của Thiên Chúa vì Chúa chẳng có gọi ai bao giờ. Lẽ dĩ nhiên Thiên Chúa của Huệ Nhật là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Nhưng Thiên Chúa của Ki Tô Giáo thì chúng ta đã biết là như thế nào như viết trong cuốn Baibơn. Chúng ta hãy nghe Tổng Thống Mỹ Thomas Jefferson nhận định về Thiên Chúa của Huệ Nhật:

Thomas Jefferson: Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là một con quỷ có ba đầu: độc ác, ưa trả thù và đồng bóng.. Chúng ta chỉ cần nhìn vào bản chất những người nói rằng họ phục vụ ông ta. Họ luôn luôn thuộc hai loại người: ngu xuẩn và đạo đức giả (The Christian god is a three head monster: cruel, vengeful and capricious.. One only needs to look at the caliber of people who say they serve him. They are always of two classes: fools and hypocrites)

Hay là đọc Richard Dawkins nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo trong cuốn “The God Delusion”, ấn bản 2008, trang 51, nên nhớ Ba Ngôi Thiên Chúa là một, nên những nhận định này cũng chung cho ngôi hai, Giê-su, và ngôi ba, con Ma Thánh (Holy Ghost):

Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.
[The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

Tôi đã đọc cuốn Baibơn của Ki Tô Giáo, đọc khá kỹ, và tôi tôi đã dùng ngay cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, trích dẫn ở trong đó, và chỉ ở trong đó, những câu chữ để chứng minh là những nhận định của Tổng Thống Thomas Jefferson và Richard Dawkins là hoàn toàn chính xác. Xin đọc http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/3NGOI/TCN64_Cha.php

Vậy Huệ Nhật hay bất cứ ai muốn: đến với một Thiên Chúa như vậy, cầu nguyện xin-cho lòng thương xót và tình yêu của một Thiên Chúa như vậy, được hồng ân của một Thiên Chúa như vậy, đem thân mình làm đền thờ của một Thiên Chúa như vậy v…v… thì xin cứ tùy tiện, tôi không ngăn cản mà còn chúc cho họ được toại nguyện

Vài Lời Kết:

Tôi thật rất lấy làm lạ, không hiểu tại sao trong thời đại này mà vẫn còn nhiều người mê sảng, tin vào những điều không thể tin được của Ki Tô Giáo. Mà họ không phải là những dân mù chữ hay ít học. Nhiều người có bằng cấp cao, có thể coi như là ở trong hàng ngũ trí thức, thành công trong xã hội, nhưng tại sao sự hiểu biết của họ về chính tôn giáo của họ lại nghèo nàn đến một mức độ tệ hại như vậy.

Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Không ai hiểu tín đồ của mình hơn các bậc chăn chiên. Chúng ta hãy nghe một Mục sư và một Linh mục giải thích về cái nghịch lý này. Mục sư Ernie Bringas nhận định trong cuốn “Theo Đúng Như Trong Sách (Kinh Thánh): Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Gây Nên Bởi Quyền Năng Thánh Kinh” [Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority], trang 78:

 

Điều hiển nhiên đối với nhiều học giả là cuốn Baibơn (Bible) không phải là không có những sai lầm và chắc chắn là không hoàn hảo. Một số đoạn trong cuốn Baibơn thì kém cỏi về văn phong, sự chính xác lịch sử, và cảm ứng tâm linh so với những đoạn khác, và có những đoạn có tính cách lạc dẫn và phản tác dụng đối với thông điệp về tình yêu. Còn gây sốc và gây tranh cãi hơn nữa là những khám phá mới đề nghị rằng cuốn Baibơn chứa khoa thần thoại. Những gì mà đã luôn luôn chấp nhận như là những thực tế lịch sử mà mà không bàn cãi –thiên thần, sinh ra từ một nữ trinh, tư cách thần thánh và sống lại của Giê-su – nay đã đặt thành những nghi vấn.
Không lạ gì, các tín đồ Ki Tô Giáo từ chối không cho phép ai được đặt nghi vấn trên những gì mà họ coi là những chân lý thần linh. Nếu cuốn Baibơn là Lời của Gót và giáo hội được sáng lập bởi chính con của Gót, Giê-su, thì không thể có sự sai lầm nào của giáo hội khi diễn giải cuốn Baibơn. Đặt vấn đề hay thách thức những nền tảng này là phá ngầm giá trị và uy quyền của cuốn Baibơn, của Giáo hội, và của Giê-su. Do đó, không giống như những bộ môn đã trưởng thành, đã vứt bỏ những suy tư sai lầm trong cuộc tranh đấu để tìm ra chân lý, hầu như ở khắp nơi Ki Tô Giáo đều bác bỏ những khám phá của sự tìm hiểu khoa học nào mà mâu thuẫn với những quan điểm truyền thống về cuốn Baibơn. Sự xâm nhập những quan điểm mới vào phạm vi riêng biệt của cuốn Baibơn và giáo hội được coi như là báng bổ thần thánh và do đó không thể chấp nhận được.
 Đó là khởi đầu của loại đầu óc lỗi thời – một loại đầu óc cố thủ chống sự thật đặt trên giả định là cuốn Baibơn chứa những kiến thức chung cùng; một loại đầu óc tuyên bố rằng những gì mà họ coi là thiêng liêng thì không thể thay đổi được; một loại đầu óc coi uy quyền của mình là chân lý thay vì coi chân lý là uy quyền của mình. Từ chối không coi những thông tin mới như là đồng minh để chống những quan niệm sai lầm của tôn giáo đã giữ những tín đồ Ki-tô trong khung cảnh tâm linh của thế kỷ 17.
[It became obvious to many scholars that the Bible was not flawless and certainly not perfect. Some portions of Scripture were inferior to others in style, historical accuracy, and spiritual insight, and some were misleading and counterproductive to its central message of love. Even more controversial and shocking were the findings that suggested the Bible contained mythology. What had always been taken for granted as historical realities – angels, the Virgin birth, deity and resurrection of Jesus – were now being brought into question.
Expectedly, Christians refused to allow a question mark on what they considered to be divine truth. If the Bible is the word of God and the Church was created by God’s own son, Jesus, there could be no error in how the Church interpreted the Scriptures. To question or challenge these foundations would undermine the validity and authority of the Bible, the Church, and Jesus. Thus, unlike other maturing disciplines that discarded faulty thingking in their struggle to obtain truth, Christianity almost universally rejected the findings of scientific investigation that conflicted with traditional views about Scripture. The intrusion of new perspectives into the exclusive sphere of Bible and Church was viewed as sacrilegious and therefore unacceptable.
It was the beginning of the astrolabe mind – a mind entrenched against truth on the assumption that the Bible possessed ultimate knowledge; a mind which declared that what it considered sacred was specifically unalterable; a mind made authority its truth rather than truth its authority.
The refusal to view new information as an ally against faulty religious assumptions arrested most of Christianity within the mental framework of the seventeenth century.]

Linh mục James Kavanaugh, trong cuốn “Một Linh Mục Hiện Đại Nhìn Vào Cái Giáo Hội Đã Lỗi Thời Của Mình” (A Modern Priest Looks At His Outdated Church) đã viết trong chương 3, “The man who is a Catholic), về con chiên của ông ta như sau:

Người Ca-tô giáo nhìn thế giới qua một hệ thống ngăn cấm họ là chính họ. Hắn có thể đi ngoài đường phố và coi mọi khuôn mặt, mọi trường hợp như là rơi vào đúng loại của nó. Hắn chưa từng bao giờ thực sự biết đến sự thích thú của tìm tòi, sự kỳ lạ của khám phá, sự lý thú của sự tự do trong những quyết định cá nhân. Thế giới là một kẻ lạ đối với hắn vì hắn xét đoán những công dân của thế giới trước khi biết họ hay hiểu họ. Hắn được dạy phải đọc những gì, suy tư làm sao, và coi ai là bạn.
Tôi quan sát người Ca-tô giáo đến xem lễ và thương hại cho cách đào tạo đã vặn vẹo đầu óc của hắn và làm méo mó ý thức về tôn giáo của hắn. Hắn tới vì hắn được các bậc lãnh đạo tôn giáo bảo tới, những người cũng ngoan ngoãn và vô danh như hắn. Hắn đọc những lời kinh cầu nguyện gói ghém trong những câu giả tạo và làm những cử chỉ (quỳ gối làm dấu thánh giá. TCN) hoàn toàn xa lạ với lối sống hiện đại của hắn. Hắn sống trong thời đại của máy bayphản lực và bom nguyên tử, và cầu nguyện trong thế giới ma thuật của thời Trung Cổ. Hắn cảm thấy buồn chán trong sự hiện diện của Thiên Chúa của hắn (trong nhà thờ. TCN). Tuy nhiên hắn vẫn tới, vì hắn đã được dạy từ khi còn nhỏ là “Hỏa ngục là nơi đầy những kẻ không đi xem lễ“. Hắn quá sợ hãi để thú nhận rằng hắn thật là buồn chán.
Trong hoạt động thường ngày, mắt của hắn hòa điệu với sự hữu hiệu và tiến bộ. Hắn tìm những cách có hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, đường lối mới để đến với đại chúng, dịch vụ mới để hấp dẫn đồng bào. Hắn có những quan điểm về hòa bình của thế giới, về cải tiến ngân sách, những suy tư về ngăn ngừa phạm pháp, về sự lành mạnh tâm thần, và về vấn đề giao thông trong những vùng có thị trấn lớn. Nhưng về tôn giáo hắn là một người máy chỉ biết đọc lại những câu trả lời mà người ta đã dạy hắn. Hắn chấp nhận mọi quyết định của giới linh mục mà không phản đối, có vẻ phân vân khi nghe đến một sự xào xáo, hâm lại những chân lý mà hắn đã học trong những trường đạo, và ủng hộ cái giáo hội đã tước đoạt đi đầu óc của hắn.
 Người Ca-tô, nam hay nữ, đã mất đi sự tiếp cận với đời sống. Hắn sợ phải đọc những sách mà người khác đọc, sợ coi những phim truyện phản ánh đời sống hiện đại…
 Giáo hội, giống như là những bậc cha mẹ sợ hãi và giận dữ, vơ vào phần mình mọi công trạng trong việc giúp đỡ mà giáo hội có thể cống hiến cho con người. Kết quả là những người Ca-tô bị đối xử như những đứa trẻ và chúng tiếp tục cư xử như những đứa trẻ
 Người Ca-tô chống thuyết tiến hóa và hắn đã sai lầm. Hắn tiếp tục ủng hộ chế độ quân chủ lâu sau khi chế độ dân chủ đã khiến cho con người được tự do. Hắn đẩy mạnh thành kiến chủng tộc cho đến khi những người “ngoại giáo” chứng tỏ là hắn đã lầm. Hắn chống lấy người ngoại giáo và tiếp tục chống cho đến ngày nay tuy rằng hắn đang được hưởng những sự tự do mà chế độ đa tôn giáo đã thắng. Hắn đòi hỏi phải được tự do ý thức nhưng hắn lại muốn những người Tin Lành phải nuôi con cái trong đức tin của hắn..
 Hắn không có quyền hành động theo lương tâm của chính mình, hay có quyền chọn lựa những nguyên lý sống có thể giúp hắn. Hắn là một tín đồ Ca-tô, một đứa trẻ đòi người khác chọn lựa thay cho hắn..
Do đó, người Ca-tô không thể biết ý nghĩa thực của sự đối thoại, chỉ biết đưa ra những luận cứ để chống đỡ cái lập trường mà hắn đã thừa hưởng từ khi còn nhỏ…
Người Ca-tô là một dịch vụ trả lời có tổ chức mà nhiệm vụ đầu tiên của hắn là bảo vệ giáo hội của hắn

(The Catholic man sees the world through a system which forbids him to be himself. He can walk the city streets and watch every face and every situation fall neatly into its proper category. He has never really known the joy of search, the wonder of discovery, the exciting freedom of personal decision. The world is a stranger to him since he judges its citizens before he really knows and understands. He has been taught what to read, how to think, and whom to call his friend.
I watch the Catholic come to Mass and pity the formation that warped his mind and distorted his religious sense. He comes because he has been told to come by religious leaders who are as docile and listless as he. He read the prayers wrapped in stilted phrases and make the gestures totally foreign to his modern way of life. He lives in a world of jet and atomic bombs, and prays in a world of medieval magic. He is bored in the presence of his God. And yet he comes, because he has learned from his youth that hell is the home of those who miss Mass. He is too frightened to admid he is bored.
In his business his eye is tuned to efficiency and progress. He looks for shorcuts, for new way to reach the public, for another service that will attract his fellow man. He has views on world peace, opinions on fiscal reform, thoughts on crime prevention, mental health, and transportation in megalopolis. But in religion he is a robot who can only recite the answers he has learned. He will accept the priestly decisions without protest, appear thoughful when he hears a rehash of the truths he learned in school, and support the Church which has robbed him of his mind…
The man or woman who is a Catholic has lost his touch with life. He is afraid to read the books that others read, to see the movies that reflect our modern life…
The Church, like a frightened and angry parent, takes too much credit for the help that it can offer man. Consequently Catholics are treated as children and they continue to behave as such…
The Catholic man opposed evolution and he was wrong. He supported monarchy long after democracy had made the people free. He promoted racial prejudice until “pagans” showed him he was wrong. He fought mixed marriages and fights them still, although he enjoys the freedoms that pluralism has won. He asks for freedom of conscience and expects protestants to raise their children in his faith…
He has not the right to follow his own conscience, or the power to select the principles that give him help. He is a Catholic, a child, who demands that another make for him his choice…
Thus, the Catholic man cannot truly know the meaning of dialogue, but only give arguments to defend the position he has inherited from his youth…
The Catholic man is an organized answering service whose first obligation is to protect his Church.)

Nếu chúng ta đọc những bài viết của ngay cả một số trí thức Việt Nam Ki-tô Giáo nói chung, như bác sĩ, giáo sư, luật sư, tiến sĩ, văn sĩ v…v… chúng ta thấy rõ là những điều Mục sư Ernie Bringas và linh mục James Kavanaugh viết về con người Ki-tô nói chung, Ca-tô nói riêng, không sai một mảy may. Trình độ hiểu biết của họ về chính tôn giáo của họ vẫn thuộc thế kỷ 17, và trong bài không hề có lý luận, chứng minh mà phần lớn là đưa ra những niềm tin cũ kỹ bất kể đến những tiến bộ về hiểu biết ở ngoài đời về khoa học, triết lý và về ngay cả tôn giáo của họ.

Vì đã quen dựa vào cặp nạng Thiên Chúa cho nên, sợ mất đi chỗ dựa, họ luôn luôn xuyên tạc lịch sử để bảo vệ giáo hội của họ, họ luôn luôn đưa ra những điều lạc lõng đã quá lỗi thời trong cuốn Baibơn (Bible), làm như chúng là những chân lý, là những khuôn vàng thước ngọc mà mọi người đều phải tin theo. Và để đánh lạc hướng dư luận họ thường xoay qua chuyện ngoài đề: chống Cộng, đưa ra vài hành động tiêu cực trong Phật Giáo, hoặc dùng những danh từ hạ cấp để hạ thấp, bôi nhọ cá nhân, tưởng rằng như vậy thì bộ mặt tôn giáo của họ sẽ sáng sủa hơn và đọc giả sẽ không còn để ý đến thực chất của tôn giáo họ.

Để bào chữa cho những chuyện xấu xa tràn ngập trong giáo hội, họ thường đưa ra những luận điệu rất yếu ớt, ngớ ngẩn, thí dụ như là, Giáo hoàng cũng là ngưởi, Linh mục cũng là người v..v.. nhưng quên rằng đối với họ thì Giáo hoàng là “đức thánh cha”, đại diện của Chúa trên trần, có quyền giáng lên đầu họ cái vạ tuyệt thông hoang đường, không cho họ hiệp thông với Chúa v…v…, và các Linh mục đều là “Cha” hay “Chúa thứ hai”, còn hơn cả Chúa thứ nhất, vì trong cái gọi là “bí tích” xưng tội thì là “Cha tha tội cho con” chứ không phải là “Chúa tha tội cho con”. Chẳng vậy mà đối với Giáo hoàng Benedict XVI, trong khi cả thế giới lên án là kẻ vô đạo đức, người ta còn đề nghị bắt ông ta bỏ tù vì tội bao che các linh mục loạn dâm, đưa ông ra tòa vì tội duy trì bí tích rửa tội cho con nít, người ta cũng chê trách ông ta nói bậy về bao cao su làm tăng bệnh AIDS đến độ Richard Dawkins chính thức lên tiếng bảo là ông ta hoặc dốt, hoặc ngu xuẩn, thế mà vào mấy trang nhà Ca-tô Việt Nam chúng ta thấy các trí thức Ca-tô cứ một điều “đức thánh cha” dạy thế này, dạy thế nọ, ban tông huấn này, ban tông huấn nọ. Điều này cho thấy chẳng phải là họ mê muội mà còn dưới cả sự mê muội nữa. Thật là tội nghiệp cho họ. Biết bao giờ họ mới cất bỏ được cái vòng kim cô do cha truyền con nối đã xiết chặt trên đầu họ.

Với những sự thực về con người Ki Tô Giáo nói chung như nhận định của Mục sư Ernie Bringas và Linh mục James Kavanaugh, chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy trên một số diễn đàn hải ngoại, mỗi khi người Ki Tô đọc điều gì không đúng với niềm tin mù quáng và bị nhồi sọ của họ thì họ tỏ vẻ rất bực tức, nổi giận, và thay vì dùng lý luận để phản biện thì họ thường khoác những nhãn hiệu cho những người viết ra sự thật về tôn giáo của họ, và đôi khi còn dùng những lời lẽ tục tĩu hạ cấp để miệt thị những người muốn khai sáng đầu óc của họ. Họ tưởng như vậy là có thể vinh danh tôn giáo của họ nhưng họ không hề nghĩ rằng những thủ đoạn phi trí thức như vậy chỉ làm cho đọc giả thấy rõ hơn ảnh hưởng của tôn giáo họ trên đầu óc con người. Họ không biết đến câu sau đây của William Drummond: “Người nào không chịu lý luận là người mù quáng, người nào không thể lý luận là người ngu xuẩn, người nào không dám lý luận là một nô lệ.” (He that will not reason is a bigot; he that cannot reason is a fool; he that dares not reason is a slave.)

Tại sao họ phải nổi giận nếu niềm tin của họ vững chắc, không gì lay chuyển nổi. Chẳng qua là vì trong thâm tâm họ rất thiếu tự tin, sợ sự thật, và vì họ đã bị cấy vào đầu để tin vào những điều không đáng tin, cho nên trước những bằng chứng bất khả phủ bác về tôn giáo của họ, về những giáo lý sai lầm, về đạo đức thấp kém của giới chăn chiên, thì họ cảm thấy cần có những phản ứng gay gắt để tự mình tìm sự an tâm cho chính mình, và tiếp tục sống trong bóng tối của cái ngục tù tâm linh của cái giáo hội đã tước đi đầu óc của họ, cái ngục tù có tác dụng nuôi dưỡng một niềm hi vọng về một đời sống vĩnh hằng sau khi chết trong đầu óc họ..

Vấn đề tự do tôn giáo hay tự do tín ngưỡng là vấn đề rất nhạy cảm. Trên nguyên tắc tôi tuyệt đối tôn trọng quyền của bất cứ ai tin vào một tôn giáo nào đó, hay không tin. Ngay cả một người mê tín họ cũng có một quyền nào đó không thể chuyển nhượng. Họ có quyền nuôi dưỡng và theo đuổi những sự đần độn ngu dại của họ chừng nào mà họ thích, chỉ miễn là họ không toan tính giáng lên đầu người khác những sự đần độn ngu dại (imbecilities) của họ bằng những phương tiện bất chính. Họ có quyền dạy những điều đó cho con cái theo ý họ. Nhưng họ không thể được hưởng quyền miễn nhiễm trước những sự phân tích của những người không có cùng những quan điểm như họ. Họ không có quyền đòi hỏi là mọi người phải tôn trọng phải coi những điều mê tín của họ như là thánh thiêng. Họ không có quyền rao giảng những điều họ tin ra đại chúng mà không có sự thách thức của những người không có cùng những quan điểm như họ.

Người ta thường hiểu lầm ý nghĩa của sự tự do tôn giáo, coi tự do tôn giáo như là một lãnh vực được hưởng quyền miễn nhiễm, không những từ sự kiểm soát của chính quyền mà cũng còn từ những quan niệm của đại chúng. Nếu như vậy thì, cái mà chúng ta có không phải là tự do tôn giáo mà là một hình thức độc đoán, bất khoan nhượng của tôn giáo, không cho phép ai nói gì đến phạm vi riêng của họ. Như vậy thì, bất cứ một kẻ ngu đần đến đâu, một khi đã vào trong một “hội thánh” rồi và vì cái “hội thánh” đó mà có những hành động phản quốc, phi dân tộc, thì cũng không ai có quyền nói gì đến hắn hay “hội thánh” của hắn sao?

Nếu viện vào vấn đề tự do tín ngưỡng mà không ai được quyền nói gì về tôn giáo của họ thì ngày nay trong tay của Giáo hội Ca-tô vẫn còn thanh gươm để giết người và bó củi để thiêu sống người. Tôn giáo là một phần của xã hội, có liên hệ đến mọi lãnh vực hoạt động trong xã hội, phải nằm trong luật pháp quốc gia, không thể đứng ngoài hay đứng trên xã hội. Vì vậy, sự kiểm soát của chính quyền cũng như những quan niệm phê bình của đại chúng là điều cần thiết để giữ sự hài hòa trong xã hội.

Tại sao trong thế giới Tây phương mà tôn giáo chính là Ki Tô Giáo chúng ta lại thấy tràn ngập những tác phẩm nghiên cứu, phê bình, chỉ trích Ki Tô Giáo, từ cuốn Baibơn đến những lý luận thần học của Ki Tô Giáo, từ lịch sử bạo tàn của Ki Tô Giáo cho đến các thủ đoạn lừa dối quần chúng để vơ vét tài sản, từ những giáo hoàng vô đạo đức đến những linh mục, mục sư loạn dâm v…v… và v…v… Cũng nhờ những sự kiện trên mà Tây phương thoát ra khỏi sự thống trị tư tưởng và thế quyền của Ki Tô Giáo, và cũng vì vậy mà người dân Tây phương đã tỉnh ngộ, đưa đến sự suy thoái không phương cứu vãn của Ki Tô Giáo ở Tây phương.

Trong khi đó thì các tín đồ Ki-tô, nhất là Ca-tô giáo, từ các linh mục trở xuống, vẫn cho mình là ở trong một “hội thánh” nên phải có đặc quyền đặc lợi và đứng trên xã hội. Họ không biết rằng, hội thánh là Ca-tô giáo tự phong, đặt vào Kinh Tin Kính và bắt các tín đồ phải tin, chứ trên thực tế chẳng có gì là thánh cả.. Nhưng cái gì gọi là “hội thánh”?

Giám mục John Shelby Spong đã đặt vấn đề với từ “hội thánh” trong Kinh Tin Kính của Ca Tô Giáo Rô Ma như sau:

 

Kinh Tin Kính kết bằng một đoạn hiến dâng cho Thánh Linh, cái mà người ta nói rằng đã tạo nên giáo hội trong ngày hạ trần của ông ta (được quy định vào ngày chủ nhật thứ bảy sau ngày chủ nhật Phục Sinh. TCN), và được cho là vẫn tiếp tục chứa đầy giáo hội với “sự hiện diện của Thiên chúa”. Thứ nhất, chúng ta cần ghi nhận rằng, tất cả những biểu tượng về ngày hạ trần của Thánh Linh đều bắt nguồn từ cùng một quan niệm về ba tầng trời (theo thánh kinh: thiên đường ở trên các tầng mây, mặt đất phẳng dẹt, đứng yên và là trung tâm của vũ trụ, và hỏa ngục ở dưới mặt đất. TCN) trong đó người ta nói rằng Giê-su đã bay lên trời (thiên đường). Giả định đằng sau câu chuyện gửi Thánh Linh hạ trần là cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ và Thiên chúa sống ở trên trời có thể đổ xuống những ân sủng. Thứ nhì, Kinh Kinh Tín khẳng định là thánh linh này sẽ được phân phát trong các “hội thánh”, liên tục tiếp sinh khí cho “giáo hội Ca Tô thánh thiện.” Nhưng trong lịch sử giáo hội, giáo hội cũng có những giai đoạn khủng khiếp ghi dấu bởi những cái gọi là “thánh chiến”, “chiến tranh thiêng liêng của các thập tự quân”, những tòa hình án xử dị giáo, chính sách vô nhân đạo chống Do-Thái, và sự công khai giết những người khác giống, kỳ thị phái nữ và chống những người có khuynh hướng đồng giống luyến ái. Trong những giai đoạn này, bạo lực quá mức đã được những người tự gọi mình là tín đồ Ki-Tô dùng bừa bãi vô tội vạ trên cả những dân của Thiên chúa cũng như những tạo vật của Thiên chúa. Những sự khủng khiếp như vậy đã giáng xuống đầu nhân loại nhân danh một Thiên chúa của tình yêu thương. Trong những giai đoạn này thì hội thánh ở đâu? Chúng ta tính sao với những sự kiện lịch sử này mỗi khi chúng ta đọc câu trên trong Kinh Tin Kính?
[John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, pp. 16-17: This creed concludes with a paragraph dedicated to the Holy Spirit, who was said to have created the church at Pentecost and who, it is suggested, continues to fill the church with “God presence”. First, we need to note that all of these Pentecost symbols come out of the same three-tired skies into which Jesus was said to have ascended. The assumption lying behind the story of the sending of the Holy Spirit is that the earth is the center of the universe and that onto it the heavenly gifts of the God who lives above the sky can be poured. Second, the creed asserts that this spirit will issue in the communion of saints, which will continually renew the “holy Catholic church.”.. But the church has also had in its history some rather dreadful moments marked by such things as “holy wars”, “sacred crusades”, inquisitions, inhumane anti-Semitism, and an overt, killing racism, sexism, and homophobia. In these episodes incredible violence has been unleashed upon both God’s people and God’s creation by those who counted themselves as believers. These horrors have even been inflicted in the name of the God of love. Where was the communion of saints during those episodes? What do we do with this known history when we recite these words in this creed?]

Vài lời cuối với những tín đồ Ki-tô Giáo Việt Nam, đặc biệt là các tín đồ Ca-tô Giáo.

Trong 2000 năm, Ki Tô Giáo chiếm địa vị độc tôn ở Âu Châu, dùng mọi sách lược để truyền bá thuyết Sáng Tạo, từ các cuộc Thánh Chiến, những Tòa án xử dị giáo, những cuộc săn lùng phù thủy mang về để cho các linh mục tra tấn rồi mang đi trao cho chính quyền dân sự thiêu sống trước những thánh giá của giới giáo sĩ đưa lên trước nạn nhân đề cứu vớt linh hồn họ, rồi làm tiền phong hay theo gót thực dân để đến mê hoặc người dân ở các nước kém phát triển v…v…

Nhưng kết quả tiến bộ trí thức của nhân loại qua các thời đại như cuộc Cách Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, Thời Đại Lý Trí (The Age of Reason) vào thế kỷ 18, Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment) vào thế kỷ 19, và Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis) vào thế kỷ 20 đã kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà sự thống trị của Ca-tô Giáo La-mã đã đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ (The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages), hay Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The age of barbarism and intellectual darkness).

Do đó trên thực tế, thuyết Sáng Tạo đã nằm trong quan tài từ cả thế kỷ nay rồi, và thuyết Tiến Hóa đã chính thức đậy nắp quan tài lại. Mỗi một bằng chứng về thuyết Tiến Hóa, và ngày nay chúng ta không thiếu trong nhiều bộ môn khoa học, mỗi một sinh vật hóa thạch được kiếm ra là một cái đinh đóng chặt nắp quan tài lại, và dù những nhà bảo thủ Ki tô Giáo có muốn cậy nắp quan tài ra qua những chiêu bài “Thiết Kế Thông Minh” hay chỉ trích một vài sự sai lầm trong sự diễn đạt những kết quả khám phá khoa học để chứng minh thuyết Tiến Hóa, thí dụ như về sinh vật hóa thạch Ida, cũng đều thất bại.

Một vài diễn đạt hay quy kết sai lầm về thuyết Tiến Hóa mà giới khoa học công nhận, theo đúng tinh thần của khoa học, không có nghĩa là nắp quan tài đậy thuyết Sáng Thế sẽ được mở ra. Những tín đồ Ki-tô Việt Nam dù có vùng vẫy và ngụy biện cách nào, dùng bất cứ thủ đoạn nào, xuyên tạc hạ thấp tôn giáo khác, kể cả vơ những cái hay của người khác vào làm của mình, cũng không thể tháo ra được một cái đinh đã đóng chặt trên nắp quan tài của thuyết Sáng Tạo.

Quý vị nên biết, những công nhận của Giáo Hoàng John Paul II và Benedict XVI, những đại diện của Chúa trên trần, trước thế giới, thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, chấp nhận con người không phải là do Gót tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, không làm gì có thiên đường ở trên trời, hỏa ngục dưới lòng đất.., đã đóng thêm vài cái đinh trên nắp quan tài của thuyết Sáng Tạo của Ki Tô Giáo. Tây phương và Tòa Thánh đã tỉnh cơn mê, vậy bao giờ các linh mục và các con chiên mới tỉnh đây? Lẽ dĩ nhiên, không ai có quyền ngăn cản quí vị tiếp tục tin vào những điều mà chủ chăn của quí vị trên thực tế đã bác bỏ nhưng vẫn muốn duy trì “đức tin” và “đức vâng lời” của Ca-tô Giáo trong đầu óc quí vị.

Trần Chung Ngọc
Viết xong ngày 30 tháng 5, 2012

http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5335

 

Thiền Là Sản Phẩm Của Chúa ? – Hồng Quang

Thin Là Sn Phm Ca Chúa ?

Hồng Quang

http://sachhiem.net/BUIKHA/HongQuang02.php

 

19-May-2012

 

Hôm nay, 15.5.2012, qua mạng, người bạn gởi cho tôi bài “Thiền là sản phẩm của Chúa tạo ra?” Đọc mới biết lúc Sư cô Hương Nhủ được mời thuyết trình tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận TP. Hồ Chí Minh (19.3.2011), với đề tài “Hơi thở nhiệm mầu” và sau đó Linh mục (?) Tạ Ân Phúc trong bài tường thuật có đoạn viết như sau:

Image

Từ thuở tạo dựng, “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (x St 2,7), sự sống con người có được là do ân ban của Thiên Chúa. Hơi thở con người là một điều hiển nhiên không thể chối cãi, thế nên đôi khi người ta không còn chú ý đến nữa và quan tâm đến nhiều điều được cho là đáng lo toan hơn trong cuộc sống. Nhưng điều chỉnh hơi thở và rèn luyện đúng cách sẽ làm cho người ta khỏe mạnh hơn và tâm hồn thư thả, thoải mái hơn qua việc tập thể dục, tập yoga, thiền”.

Qua email, người bạn cũng kèm theo một số ý kiến phản biện của độc giả về đoạn văn nêu trên: [tôi để trong ngoặc kép và chữ nghiêng cho dễ phân biết]:

“Người ta cố ý “giựt” thiền ra khỏi Phật giáo để làm gì? Câu trả lời rất đơn giản, vì thiền là một giá trị của Phật giáo, một bảo vật của Phật giáo.

Muốn Phật giáo không còn giá trị nữa thì phải lấy đi bảo vật đó, biến nó thành một thứ vật lý trị liệu “vào đầu thế kỷ XX”, hay do Thanh Hải Vô thượng sự khai ngộ…”

Minh Thạnh

Muốn đọc các ý kiến phản hồi của các độc giả khác, vui lòng gỏ vào đường link: http://www.phattuvietnam.net/3/13875.html

— o o 0 o o —

Phản biện của anh Minh Thạnh và các vị khác rất chính xác, khách quan và khiêm tốn vềlối lý luận mập mờ thiếu cơ sở của Lm Tạ Ân Phúc, nhưng cũng có vài phần nhỏ tôi không hoàn toàn đồng ý lắm. Sau đây là một số ý kiến của tôi về Thiền và về đoạn văn của Linh mục nêu trên.

Thiền là một bộ môn khá bao quát, đa dạng tùy theo các trường phái. Tuy nhiên một định nghĩa có thể chấp nhận được: THIỀN là tập trung chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ đến cái gì khác.

Tùy theo mục đích của người thực hành, nên tôi chia Thiền thành hai loại: Thiền Giác ngộ (Meditation for enlightenment) và Thiền Sức khỏe (Meditation for health).

Lúc nói đến Thiền là người ta liên tưởng đến Phật Giáo vì chính Thái tử tất Đạt Đa cũng nhờ thiền định liên tục 49 ngày mà Giác ngộ. Trong thời đức Phật còn tại thế, Ngài luôn luôn ngồi thiền và dạy các đệ tử tu thiền để thân tâm an lạc và cứu cánh là giải thoát giác ngộ. Hầu hết các tượng Phật Thích Ca đều trong thế ngồi Thiền Định.

Ngoài đạo Phật cũng có Thiền, được gọi là Thiền ngoại đạo. Nhưng ít người chú ý vì tác dụng của các loại Thiền nầy không thể so sánh với thiền Phật Giáo vì, Thiền Phật Giáo được giảng dạy do một vị Giác ngộ đó là Phật Thích Ca. Thiền Ấn giáo cũng góp phần vào việc trị liệu, nhưng các “Thiền ngoại đạo” khác thì nên cẩn thận tối đa để tránh hậu quả xấu có thể xẩy ra cho người thực hành.

Trên đường phát triển qua các quốc gia, tùy theo cách thực hành và tùy theo trường phái nên, có các ngành thiền với tên khác nhau như Thiền Tào Động, Thiền Tào Khê, Thiền phái Trúc Lâm, Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi … Về phương pháp thì có Như lai thiền, Tham tổ sư thiền, Thiền Tứ niệm xứ…


Hình mô tả chất xám gia tăng
nhờ ngồi thiền

Điểm nóng và hào hứng cho giới Phật tử nhưng gây “chới với” cho nhiều người của vài tôn giáo khác, đặc biệt tại Việt Nam, là hơn 50 năm qua khoa học gia và y giới đã chứng minh rằng Thiền có khả năng làm cho con người mạnh khỏe hơn, đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn, chống bệnh tật và lão hóa*.

Vì ngoài giá trị về phương diện giác ngộ và giải thoát, Thiền còn có công hiệu rất thiết thực và bổ ích cho con người như thế, nên nhiều người muốn “giành” Thiền cho tôn giáo của mình, mà Lm Tạ Ân Phúc là một.

Một tôn giáo, một học thuyết muốn đứng vững thì tôn giáo đó (hay học thuyết đó) phải có ba tiêu chí căn bản: Nhân bản, Ứng dụng và Khoa học.

– Nhân bản, trải qua hơn hai ngàn năm truyền giáo, tôn giáo ấy quả thật không gây thiệt hại nhân mạng cho một ai?

– Ứng dụng, giáo lý của tôn giáo ấy có đem lại lợi ích cho con người hay không, hay mang đến chiến tranh và đỗ máu cho nhân loại bằng những cuộc Thánh chiến, tòa án xử tử người khác tôn giáo (Tòa án Dị giáo: Inquisition), toa rập với thực dân tạo chiến tranh và chiếm thuộc địa…?

– Khoa học, giáo thuyết củatôn giáo ấy có mang tính khoa học không? Hay mê tín dị đoan, thiếu lý trí?

Do thế, lúc viết “Từ thuở tạo dựng, “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (x St 2,7), là Linh mục đã tự chà đạp giá trị tôn giáo mình, vì khoa học chứng minh thủy tổ của loài người không phải do từ đất sét. Truyện ông A Dong và bà Eva cũng là huyền thoại chứ hai ông bà tuyệt nhiên không phải là thủy tổ của loài người! Và việc Chúa hà hơi vào đất sét, nếu có, thì tuyệt nhiên không liên hệ gì đến việc “Theo dỏi hơi thở” hay “Hơi thở nhiệm mầu” là một trong những pháp tu thiền của Phật Giáo có từ hơn hai ngàn năm qua mà thuật ngữ Phật Giáo gọi là “Quán sổ tức”.

Thay vì trình bày lối tu thiền bằng cách quán hơi thở, tiếng Anh gọi là Breathing Meditation, thì Sư cô Hương Nhủ đã tế nhị khéo léo của một người chân tu và một nhà giáo dục trước một cử tọa đa phần là người khác tín ngưỡng, nên Sư cô dùng cụm từ tuyệt đẹp “Hơi thở nhiệm mầu”. Linh mục Tạ Ân Phúc đã không hiểu như thế, lại còn khập khiểng muốn ám chỉ “hơi mà Chúa hà vào đất sét” cũng là một lối Tu thiền do Chúa đã thực hiện từ thuở khai thiên lập địa, mà ngày hôm nay Sư cô Hương Nhủ trong buổi thuyết trình “Hơi thở nhiệm mầu” chẳng qua là lặp lại phương pháp của Chúa đã có từ lâu mà thôi! Thật là hết chỗ chê nhỉ?

Lm Tạ Ân Phúc dĩ nhiên là không biết trong Phật giáo có một cuốn kinh gọi là “Kinh Quán niệm hơi thở”. Phật chỉ bày phương pháp thở như thế nào trong lối tu “Quán sổ tức” mà một Sư cô đã tài tình khéo léo dùng cụm từ Hơi thở nhiệm mầu, nên cũng đã tạo cho Lm Tạ Ân Phúc dễ xào nấu thành một “món Thiền có từ lâu trong đạo Chúa” mà thực tế chưa bao giờ có!

Cũng không riêng gì Lm Tạ Ân Phúc, trên hệ thống internet, thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy, nhằm lưu giữ tín đồ khỏi tự ý chạy qua Phật Giáo, họ đẻ ra danh xưng mới “Christian Meditation (Thiền Cơ đốc giáo). Thực ra, trong kinh Cựu Ước và Tân Ước không thấy có chỗ nào nói đến Thiền. Có chăng là Tĩnh tâm, nhưng Tĩnh tâm không phải là Thiền. Các chuyên gia và y giới cũng không hề nói đến Thiền Cơ đốc giáo bao giờ? Và chưa bao giờ thấy có ai gọi nhà Thờ là “Thiền đường, Thiền phòng, Thiền thất. Trái lại, Phật giáo gọi cửa Chùa là cửa Thiền. Kinh tụng hằng ngày cũng có tên là “Thiền môn nhật tụng”.

Thiền là một pháp môn giá trị trong tám vạn bốn ngày pháp tu của Phật giáo. Thiền cũng có nhiều phái và nhiều kỷ thuật tu luyện khác nhau như phái Thiền Tào Động, Thiền Trúc Lâm…Phương pháp tu thiền cũng có nhiều như: Như Lai thiền, Tham tổ sư thiền, Thiền Tứ niệm xứ… như đã trình bày ở một đoạn trước. Người học Thiền thì gọi là Thiền sinh, người dạy Thiền thì gọi là Thiền sư. Chứ chưa thấy ai gọi Linh mục là Thiền sư… bao giờ?

Có lẻ nằm trong tâm trạng thiếu bình tỉnh, nên Linh mục Tạ Ân Phúc lại phạm thêm một sai lầm khác bằng việc trích một đoạn văn của “phe ta”, trong cái gọi là “Thiền Kitô giáo” của Đỗ Trân Duy.

Ông Đỗ Trân Duy viết “Từ lâu thiền cũng đã xâm nhập vào Kitô giáo, Thiền Kitô giáo chính là dạng thiền của Đông Phương phối hợp với lối chiêm niệm của các ẩn sĩ Kitô giáo trong thế kỷ III…”

[Theo: http://www.phattuvietnam.net/3/13875.html ]

Vì gán ép và gượng ép không có cơ sở, vì lối tu Thiền chưa bao giờ có trong Ki tô giáo, nên cả tác giả (Đỗ Trân Duy) và dẫn giả Lm Tạ Ân Phúc viết: “Từ lâu thiền cũng đã xâm nhập vào Kitô giáo”. Viết như vậy, có nghĩa là trong Kitô giáo thực sự là chưa bao giờ có Thiền, nay Thiền mới xâm nhập vào. Và ông Đỗ Trân Duy xác định thêm:”Thiền Kitô giáo chính là dạng thiền của Đông Phương…” Cũng thế, đọc không kỷ, tưởng đâu trích dẫn ý kiến của “phe ta” là có thể biện minh được sự sai lầm có hậu ý của mình, hóa ra chính dòng chữ nầy của ông Đỗ Trân Duy, một lần nữa, lại bộc lộ rõ thêm Kitô giáo vay mượn Thiền của Đông Phương vào thế kỷ III. Nhưng không cho biết tên các ẩn sĩ là những ai?

Và cũng nên để ý rằng Phật Thích Ca ra đời trước Chúa Giê-su đến 5 thế kỷ, cọng với 3 thế kỷ mà các “ẩn sĩ chiêm nhiệm…”. Tổng cọng là 8 trăm năm. Điều ấy có nghĩa là Thiền được đưa vào trong Kitô giáo cách nay khoảng 1200 năm. Trong lúc đó Thiền đã được Phật dạy cho đệ tử cách nay hơn 2500 năm. Như thế, tôn giáo nào có “môn Thiền” trước tôn giáo nào đến cả 12 thế kỷ?

Dẫu vậy, chúng ta cũng không thấy có sử gia nào nói đến hoặc có cuốn Thánh kinh nào của Kitô giáo đề cập đến Thiền? ngoại trừ ông Đỗ Trân Duy và Lm Tạ Ân Phúc mới tạo ra sau nầy. Còn trong Phật Giáo thì phương pháp tu thiền đã có trong Ba tạng kinh điển được lưu truyền hơn hai ngàn năm trăm năm qua.

Ngày nay, tại Việt Nam có nhiều người thích học Thiền, nghe Thiền, thảo luận Thiền, ngồi thiền, viết sách về Thiền… Vì Thiền không còn là một trào lưu mà là một lối sống văn minh, lành mạnh, trí thức và khoa học. Bởi thế các nước tân tiến như Mỹ, Thiền đã và đang đi vào các cơ sở giáo dục, văn phòng luật sư, các bệnh viện, các hội thể thao, bộ Quốc phòng, nhà tù và các chủ doanh nhân xí nghiệp tầm cở quốc tế…

Steve Jobs là một vừng trăng lừng lẫy chiếu khắp cả thế giới với công nghệ vi tính là một người thực hành Thiền chánh niệm” (Mindfulness Meditation). Lúc ông mất, Tổng thống Mỹ, Obama, ca tụng: “…ông (Steve Jobs) đã thay đổi đời sống của chúng ta, tái định hình ngành kỹ nghệ và đã đạt được một trong những hứng thú hiếm hoi nhất trong lịch sử loài người: Ông đã thay đổi cách mà chúng ta nhìn thế giới”. [http://www.whitehouse.gov/blog/2011/10/05/president-obama-passing-steve-jobs-he-changed-way-each-us-sees-world].

 

Apple’s Steve Jobs, bottom-right in black shirt, and Facebook’s

Mark Zuckerberg flank President Obama in Thursday photo (Feb. 18.2011)

         

Thống đốc bang California, Jerry Brown, Cựu phó Tổng thống Al Gore, Tổng thống Obama cũng ngồi thiền.

Tại Việt Nam, hệ thống tin học được phổ cập nên các thông tin của thời đại, cũng như Thiền, được các giới nhất là tuổi trẻ đón nhận một cách vui thú tích cực. Qua sách báo, băng giảng của chư Tăng Ni cũng tạo phương tiện không nhỏ cho vấn đề nầy.

Thiền Sức Khỏe là một “món hàng” quý giá, đa dụng, bổ ích và không tốn tiền, nên Thiền đang trở thành một lối sống mới, hấp dẫn và hào hứng của con người nhất là giới trẻ hiện nay.

Hơn thế nữa, ngoài chức năng làm cho con người thông minh hơn, đẹp hơn, mạnh khỏe hơn, sống lâu hơn, ngăn ngừa và chống bệnh tật, chống lão hóa, Thiền còn có thể sử dụng như một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để canh tân đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh. Thật vậy, nếu Thiền được đưa vào y tế, song hành với y dược, thì bệnh nhân có cơ hội chóng lành hơn, góp phần làm giảm ngân sách chi tiêu y tế của cá nhân và của bộ Y tế. Nếu đưa vào trường học thì học sinh, sinh viên có cơ hội mạnh khỏe hơn, thông minh hơn, đẹp hơn. Nếu truyền vào nông thôn, thì sức khỏe của dân quê sẽ tốt hơn. Và đó là một trong những phương cách làm cho kinh tế nông thôn phát triển tốt. Một gia đình hoặc một dân tộc có nhiều người bệnh tật thì trong gia đình ấy, trong quốc gia ấy, con người không thể có một đời sống kinh tế ổn định và hạnh phúc khả dĩ.

Do những tác động hữu ích và hữu dụng sáng chói ấy nên Thiền đang trở thành một điểm nóng và đang là một trào lưu, một xu thế, một lối sống văn minh và khoa học của thời đại không thể thiếu hiện nay.

Trước tình trạng nầy một số người đã mở những Trung tâm dạy thiền chữa bệnh. Có vài nơi kết quả tốt. Vài tôn giáo cũng cho tu sĩ đến nhờ Tăng Ni Phật Giáo dạy thiền. Số khác cũng “vào nghề” với những loại Thiền xuất hồn, thiền nhân điện, khai mở luân xa…làm cho một số người suýt chết, người thì bị tẩu hỏa nhập ma, bỏ thờ cúng ông bà tổ tiên và tâm hồn trở nên bất thường hoặc lững thững như người mất hồn.

Hơn một năm qua, được chư Tôn Đức Tăng Ni và thiện hữu tri thức khuyến khích, được ban Tri sự Phật Giáo, ban Giám hiệu Học viện, chùa, tịnh xá ưu ái, và ban chức năng tạo điều kiện thuận lợi nên tôi đã thuyết trình về Thiền sức khỏe trên 40 địa điểm trong nhiều tỉnh thành và học Viện. Thính chúng vô cùng hoan hỹ. Một trong những thất bại của tôi là thiếu thời gian thực tập cho thính chúng. Trái lại, một trong những điểm tốt là, tôi chỉ giới thiệu đến thính chúng bộ môn Thiền sức khỏe (Meditation for Health) với phương pháp Thiền chú (Mantra Meditation), Thiền quán (Visualization Meditation), Thiền Chánh niệm (Mindfulness Meditation), Thiền thở (Breathing Meditation) và Tịnh độ. Thiền thở (Quán sổ tức) là một phương pháp mà Phật và khoa học gia khuyến khích sử dụng vì dễ và có hiệu quả nhanh chóng, chỉ cần định tâm được 10 phút tối thiểu, ngày hai lần là sẽ cảm nhận thư thái ngay.

Những phương pháp Thiền vừa kể, nếu hành giả không định được tâm thì không có kết quả, nhưng không xẩy ra tình trạng tẩu hỏa nhập ma như Thiền giác ngộ. Loại Thiền nầy cần có minh sư hướng dẫn.

Với những ích lợi vô cùng rực rỡ của Thiền mà khoa học gia và y giới đã chứng minh, nên có người muốn lấy điểm cho Chúa bằng cách gán ép sai lầm rằng Chúa là tác giả của Thiền. Và sau bức màn tự nhận sai lầm ấy, họ lại dùng Thiền của đạo Phật Giáo để cải đạo Phật tử. Thêm vào đó, nhiều người không có trình độ nhưng vẫn mở lớp dạy thiền mà không hề biết sự nguy hiểm của Thiền nếu thực hành không đúng cách.

Nếu quả thật, Thiền cũng do Chúa tạo ra thì càng tốt vì, sẽ đóng góp thêm cho văn hóa nhân loại. Nhưng tôi viết bài nầy không nhằm mục đích tranh luận với Linh mục Tạ Ân Đức và ông Đỗ Trân Duy là: Thiền có phải do Chúa tạo ra không? Vì chỉ có những người không nghiên cứu hoặc mang mặc cảm tôn giáo mới ngụy biện và gượng ép rằng Chúa tạo ra hết thảy mọi sự kể cả Thiền. Từ sự gán ép thiếu cơ sở nầy có thể sẽ dẫn đến việc thiết lập những Trung tâm Thiền trị bệnh, nhưng hướng dẫn sai phương pháp tạo tình trạng tẩu hỏa nhập ma hoặc bệnh tâm thần cho quần chúng. Đó là điều không nên có. Dân tộc đã quá tang thương vì thực dân đế quốc. Do đó, những ai không chuyên môn, không nghiên cứu tường tận về Thiền thì không nên viết và không nên dạy vẽ cho người khác điều mà mình không sở trường. Vì Thiền là một Khoa học, trong một phương diện khác, chính nó là thuốc. Không nên cho NHẦM TOA và diễn dịch sai lạc sẽ có hại cho sức khỏe quần chúng. Ngay cả những người chuyên môn cũng còn phải học hỏi thêm: “Trong 30 năm nghiên cứu, cho thấy thiền là phương thuốc trị liệu rất tốt, thiền là một kháng tố chống lại bệnh phiền muộn”, ông Daniel Coleman tuyên bố như vậy. Ông là tác giả cuốn Destructive Emotions, ghi lại buổi hội luận giữa ngài Đạt Lai Lạt Ma và một nhóm các khoa học gia về thần kinh” (Tuần báo Time: The Science of Meditation (Khoa học Thiền Định) số ra ngày 4.8.2003**

Linh mục Tạ Ân Phúc cũng nên biết rằng, trong lãnh vực trị liệu, trước đây có hai nhân vật tiêu biểu là Carl G. Jung (1875-1961) và Erich S. Fromm (1900 – 1980) đã sử dụng Phân tâm học Phật Giáo trong việc trị các bệnh tâm thần. Ngày nay các bác sĩ như Dean Ornish, Herbert Benson, Jon Kabat-Zinn…sử dụng Thiền Chánh niệm của Phật Giáo (Mindfulness Meditation) cho các bệnh tim, bao tử, HIV (si-đa)…

“The New York Times” là một trong những tuần báo giá trị nhất của Mỹ, số ra ngày 14.8.2003 với tựa đề lớn “Is Buddhism Good for Your Health?” (Phải chăng Phật Giáo tốt cho sứ khỏe?). Trong đó có đoạn viết: “Những thí nghiệm trên vị sư tại Madison đang bắt đầu tách ra những nghiên cứu nhỏ nhưng đầy khích lệ cho thấy thiền Phật giáo không những ảnh hưởng đến những cảm xúc mà còn đặc biệt cho cơ thể nữa. Thiền cũng có thể áp dụng cho những người không phải Phật tử để giảm căng thẳng, giảm buồn chán, phát triển những điều tốt cũng như tăng cường hệ miễn nhiễm…” [Hệ miễn nhiễm yếu là nguồn gốc của bệnh tật, HQ].

 

Minh tinh màn ảnh, Heather Graham, thực hành thiền để chống lão hóa

Tóm lại, Thiền đã có trong Phật giáo ít nhất là từ lúc Ngài Cồ Đàm thiền định 49 ngày dưới gốc cây Bồ đề để thành Phật. Và Thiền cũng hiện diện trong Kinh tạng Phật Giáo từ hơn 2500 năm. Nhưng không hề thấy Thiền trong lối tu, nếu có, của Ngài Giê-su và trong Thánh kinh.

Những khám phá của khoa học gia và y giới ngày nay đã làm chứng thêm cho lời dạy của Đức Phật, và Phật được ca tụng là “Vô thượng y vương”.

Thiền là một trong những cách biết sống với hạnh Từ Bi Hỹ Xả, nhờ thế mà bạch huyết cầu gia tăng, hệ miễn nhiễm (immune system) mạnh nên cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng; là hai đạo quân chính quy tạo nên bệnh tật.

Thiền là một trong 8 vạn 4 ngàn phương cách tu hành mà Phật đã dạy. Nhưng Phật ra đời là vì lợi ích cho nhân loại chúng sanh. Do đó, Phật Giáo không bao giờ nói rằng mình là sở hữu chủ của Thiền. Bất cứ ai, kể cả tín đồ Kitô giáo, muốn có lợi ích thì thực tập, không cần xin phép ai, không cần chen lấn, không phải trả tiền mà lợi ích thì vô cùng thiết thực và nhanh chóng. Nhưng phải biết thực hành đúng cách để tránh tai họa.

Bởi thế, nếu các quốc gia trên thế giới, nhất là các tổ chức Phật Giáo, huấn luyện hằng trăm ngàn tu sĩ và cư sĩ biết sử dụng Thiền để chửa trị bệnh cho mình, và sau đó tổ chức hướng dẫn dân chúng ở các quốc gia châu Mỹ La tinh và Phi châu, bị bệnh xi-đa đến 30%, biết sử dụng Thiền để chận đứng sự phát triển của căn bệnh hiểm nghèo nầy, là một việc làm vô cùng cần thiết và hữu ích. Việc làm nầy, không những giúp nhân loại chống bệnh tật hữu hiệu và không tốn tiền, mà còn tạo cho thế giới hòa bình và thịnh vượng hơn.

Các em người Phi châu trong một khóa thiền

Thiền cũng là một trong những pháp môn thù thắng của đạo Phật. Và nhiều quốc gia tân tiến đang áp dụng Thiền vào hầu hết các ngành nghề ngay cả nhà tù như chúng ta thấy ở trên. Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, có nhiều nơi chùa chưa đến giờ mở cửa, nên một vài Phật tử đã đi tu thiền bên nhà thờ! Giáo hội chưa có chương trình cụ thể về vấn đề nầy. Mà đúng ra, Giáo hội hoặc ban Hoằng pháp nên đào luyện hằng chục ngàn Tăng Ni và cư sĩ về Thiền sức khỏe để giúp dân. Việc đào luyện chỉ cần một thời gian ngắn, từ 3 đến 6 giờ, vì đa số chư Tăng Ni đã có kiến thức sẵn, còn cư sĩ thì tuyển dụng những người có trình độ hiểu biết cao về Phật học.

Phật Giáo là một tôn giáo luôn luôn hộ quốc an dân, đồng hành với dân tộc qua các thời kỳ nỗi chìm của vận nước, nhưng nếu không biết chuyển mình kịp thời thì sẽ bị tụt hậu đằng sau. Nỗi cô đơn nầy biết tỏ cùng ai?

Hồng Quang

18.5.2012

* Hồng Quang, “Thiền và những lợi ích thiết thực”, Tủ sách Tôn giáo, nhà Xuất bản Phương đông, TPHCM, 2012. Hoặc trên: www.tongiaovadantoc.com, gỏ vào “Danh mục tác giả” nằm phía dưới trang, góc bên phải.

** Read more: http://www.time.com/time/covers/0,16641,20030804,00.html#ixzz1vEG68tpa. Bản dịch của Hồng Quang và Đỗ Hữu Minh. Cuốn thứ 5 trong bộ sách 10 cuốn “Phật học ứng dụng”.

 

Trang Khoa Học

 

 

Ngụy Tạo Và Xuyên Tạc Về Cuộc Tự Thiêu Của Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tại Sao ? – Pháp Lạc và Nguyễn Kha

Ngụy Tạo Và Xuyên Tạc Về Cuộc Tự Thiêu Của Hòa Thượng Thích Quảng Đức – Tại Sao ?

Pháp Lạc và Nguyễn Kha

NguyenKha0

1.php 18-Nov-2011

Trong cuồng vọng muốn thiết lập một chế độ giáo trị tương lai ở Việt Nam (theo Tông huấn của Vatican thúc giục qua Tông huấn Á châu Ecclesia In Asia 1999 do Giáo hoàng Gioan Phao lồ 2 phát động), những người Công giáo hoài Ngô đó lại càng phải tìm cách phá hoại Phật giáo mà họ xem là phên dậu văn hóa vững chắc của dân tộc Việt. Từ đó, và thô bạo nhất, họ tìm cách bôi nhọ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, biểu tượng bất bạo động và cao điểm tố cáo tội ác của chế độ Ngô Đình Diệm. Vì vậy, bài viết nầy cũng nhằm vạch ra một số ngụy tạo và xuyên tạc về cuộc Tự thiêu của Hòa thương Thích Quảng Đức. Đồng thời, trong phần cuối bài viết, cố gắng giải thích vì sao có những ngụy tạo và xuyên tạc đó. (SH trích đoạn từ bài viết để tóm lược)

 ________________________________________ 1- MỤC ĐÍCH BÀI VIẾT: Bài viết nầy có ba mục đích: • Trước hết, vào đầu thập niên 60’ của thế kỷ trước, Cuộc vận động đòi bình đẳng Tôn giáo và Tự do Tín ngưỡng năm 1963 của Phật giáo đồ tại miền Nam Việt Nam là một biến cố lịch sử to lớn và mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc và lâu dài không những cho Phật giáo Việt Nam mà còn cho cả dân tộc Việt Nam. Đó là lúc dân tộc đang đối diện vời sự bành trướng của chủ nghĩa nước lớn tại Việt Nam, và riêng Phật giáo tại miền Nam thì đang phải chịu đựng một sách lược Công giáo hóa miền Nam mà trong đó Phât giáo trở thành đối tượng hàng đầu phải bị khống chế và tiêu diệt. Đã có nhiều tài liệu của người Việt và người ngoại quốc viết về lần trở mình bi hùng đó của Phật giáo tại miền Nam. Tuy nhiên, một công trình quy mô và chính thức của Phật giáo Việt Nam thì cho đến nay vẫn chưa có. Song song, lại có nhiều “tài liệu” của những thế lực xem Phật giáo là kẻ thù được tung ra làm nhiễu loạn sự thật lịch sử. Do đó, trong niềm ao ước được thấy một hồ sơ như thế vào năm 2013, kỷ niệm 50 năm của biến cố 1963, chúng tôi quyết định hoàn thành bài viết nầy để góp một số thông tin vào hồ sơ đó. • Thứ đến, sau 1975, tại hải ngoại, lợi dụng tình trạng thiếu thốn tài liệu và mất dần nhân chứng, một số tàn dư của chế độ Ngô Đình Diệm, mà tuyệt đại đa số là các tín đồ Công giáo, đã tìm cách mạo hóa lịch sử để vinh danh chế độ Ngô Đình Diệm. Một trong những nỗ lực nầy là cố ngụy tạo lịch sử để chứng minh rằng ông Diệm còn thì miền Nam không “rơi vào tay Cọng sản” và bây giờ muốn lấy lại miền Nam thì phải “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm”. Luận điểm nầy đẩy Phật giáo lên thành đối tượng bị đánh phá hàng đầu vì trong biến cố 1963, họ cho rằng chính Phật giáo (chứ không phải vì chế độ thì độc tài chính trị, xã hội thì bất công thảm nhũng, còn quốc sách “chống Cọng” thì phụ thuộc rồi phản bội đồng minh) đã làm sụp đổ Ngô triều. Thêm vào đó, trong cuồng vọng muốn thiết lập một chế độ giáo trị tương lai ở Việt Nam như các Tông huấn của Vatican thúc dục (nhất là tư tưởng chủ đạo của Tông huấn Á châu Ecclesia In Asia 1999 mà Giáo hoàng Gioan Phao lồ 2 phát động), những người Công giáo hoài Ngô đó lại càng phải tìm cách phá hoại Phật giáo mà họ xem là phên dậu văn hóa vững chắc của dân tộc Việt Nam. Từ đó, và thô bạo nhất, họ tìm cách bôi nhọ cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, biểu tượng bất bạo động và cao điểm tố cáo tội ác của chế độ Ngô Đình Diệm. Vì vậy, bài viết nầy cũng nhằm vạch ra một số ngụy tạo và xuyên tạc về cuộc Tự thiêu của Hòa thương Thích Quảng Đức. Đồng thời, trong phần cuối bài viết, cố gắng giải thích vì sao có những ngụy tạo và xuyên tạc đó. • Cuối cùng, đặc biệt bài viết sẽ trả lời luận điệu vu khống cụ thể sau đây của một số người Công giáo hoài Ngô thù ghét Phật giáo: Đó là “Hoà thượng Thích Quảng Đức đã bị ông Nguyễn Công Hoan, vốn là một điệp viên của Việt Cọng, đầu độc từ trước, và với sự chỉ đạo của giới lãnh đạo Phật giáo đấu tranh năm 1963, đã thiêu sống Hoà Thượng khi Ngài đã hoàn toàn mê man”. Luận điệu vu khống nầy là nhằm triệt tiêu giá trị cao cả của cái chết của Ngài Quảng Đức, đồng thời cũng biện hộ cho lời tuyên bố “nướng sống” (“barbecued”) của bà Ngô Đình Nhu lúc đi “giải độc dư luận” tại Mỹ là đúng. Và quan trọng hơn, là nhằm thực hiện lời nguyền “tôi chết trả thù cho tôi” của người đồng đạo và cũng là lãnh tụ chính trị của họ là ông Ngô Đình Diệm để, theo lời một số giáo dân tại hải ngoại, dọn đường cho Vatican phong thánh ông trong tương lai. Đáng lẽ ra người cáo buộc phải trưng dẫn bằng cớ, nhưng cho đến nay (2011), chúng tôi chưa thấy những kẽ hoài Ngô đưa ra được bất kỳ một tài liệu hoặc nhân chứng nào khả tín cả. Tuy vậy, những cáo buộc nầy cũng có những tác động nhất định trên một số người nhẹ dạ, hoặc một số người không chịu nghiên cứu, chỉ thích nghe những gì mình muốn nghe, hoặc những người đóng chốt trong không gian Internet, cứ lập đi lập lại mãi một điều để tẩy não người đọc như Đức Quốc xã và Vatican đã từng làm. Bài viết nầy, do đó, sẽ nhằm chấm dứt các tác hại đó bằng cách khẳng định lại và chứng minh rằng (i) Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã đơn phương có ý định tự thiêu từ trước, và cho đến phút chót, Ngài vẫn tỉnh táo với hành động bật lửa tự thiêu của mình, và (ii) Người tưới xăng lên đầu và thân thể Ngài Quảng Đức là Đại đức Thích Chơn Ngữ, thế danh Hùynh Văn Hải, chứ không phải “ông Việt Cọng” Nguyễn Công Hoan.

2- QUYẾT ĐỊNH TỰ THIÊU: 2.1 Ai cũng biết rằng ngay từ đầu, phương thức đấu tranh của phong trào Phật giáo là bất bạo động. “Tự thiêu” là một khái niệm xa lạ trong phương thức đấu tranh của Phong trào Phật giáo lúc bấy giờ. Giáo sư Lê Cung ghi nhận như sau: “Tuân thủ những nội dung trên đây của lý thuyết bất bạo động, phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 ngay từ đầu đã khẳng định phương pháp đấu tranh là bất bạo động… Thật vậy, Trong cuộc hội nghị mật vào tối 7-5-1963 tại chùa Từ Đàm (Huế), giới lãnh đạo Phật giáo khẳng định phương pháp đấu tranh là bất bạo động. Tiếp theo, phương pháp đã khẳng định lại một lần nữa trong “Bản phụ đính” bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963 được công bố vào ngày 23-5-1963. Bất bạo động bằng hình thức tự thiêu vẫn chưa được đặt ra, mặc dầu trong những cuộc tuyệt thực đầu tiên của Tăng Ni trên toàn miền Nam vào cuối tháng 5, đầu tháng 6-1963, giới lãnh đạo đã dự tính rằng: “Nếu kéo dài các cuộc rước linh và tuyệt thực một cách nhàm chán thì phong trào tự nó cũng bị xẹp vì thiếu những hình thức mới mẻ, gây xúc động mạnh nuôi dưỡng” (Theo Nguyễn Khải, Sư già chùa Thắm và ông Đại tá về hưu, Báo Lao Động, số 24, ngày 25-3-1993.). Song hình thức mới mẻ là gì vẫn chưa được tìm ra, ngay cả khi giới lãnh đạo Phật giáo nhận được bức tâm thư đề ngày 27-5-1963 của Hòa thượng Thích Quảng Đức với nội dung xin tự thiêu để bảo vệ Phật pháp, họ vẫn không chấp thuận. Trên thực tế, giới lãnh dạo Phật giáo còn “thật lúng túng, cũng không biết tự thiêu như thế nào!” (Theo Thích Thông Bửu. Tư tưởng Bồ tát Quảng Đức, trong “Đại lễ kỷ niệm năm thứ 37 ngày tự thiêu của Bồ tát Quảng Đức”. Tổ đình Quán Thế Âm ấn hành, tr.15).” [Nguồn: Lê Cung – http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-135_4-13730_5-50_6-1_17-23_14-1_15-1/ ] 2.2 Nhưng trước thái độ ngoan cố của chính quyền Diệm không thật tâm muốn giải quyết “5 Nguyện Vọng” của Phật giáo, thậm chí còn gia tăng mức độ đàn áp chùa chiền và Tăng tín đồ, HT Thích Quảng Đức đã gửi cho Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc một lá thư đề ngày 27/5/1963, nói rõ tâm nguyện muốn được tự thiêu của mình, tâm nguyện vốn đã được ấp ủ từ khi chính quyền Diệm tiến hành chính sách kỳ thị Phật giáo, đặc biệt khốc liệt nhất tại 5 tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình Định trong ba năm 1960, 1961 và 1962. Rồi tâm nguyện đó lại càng thúc bách hơn khi lá cờ biểu tượng của Phật giáo bị lăng nhục và sau đó máu tử đạo của Phật tử đổ ra tại Huế. Lá thư như sau: Phật lịch 2507, Sài Gòn ngày 27-5-1963 Kính bạch Hòa Thượng Hội Chủ, Thượng Tọa Trị Sự Trưởng Chư Thượng Tọa, Ðại Ðức trong Giáo Hội Tăng Già Việt Nam Kính bạch quý Ngài, Nhìn lại quá trình lịch sử truyền thống dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã ghi đậm những nét son huy hoàng trong mọi lãnh vực: học thuật, văn hoá, chính trị, quân sự, kiến thiết, đã hòa một nếp sống của quần chúng. Qua các triều đại Ðinh, Lê, Lý, Trần, quốc gia hưng thịnh, Phật giáo đã là cương lĩnh của chính quyền, của nền pháp trị bình đẳng. Nhưng Phật giáo không vì sự đóng góp hữu dụng vào quốc sách dân sinh một cách tích cực và chân chính mà khuynh loát, đàn áp các tôn giáo khác. Ngược lại, Phật giáo đã dung hoà mầu nhiệm cùng với các tôn giáo khác để cung ứng những tinh ba thuần túy cho sự ích quốc lợi dân. Tinh thần Phật giáo đã gắn liền với tinh thần quốc gia dân tộc: Phật giáo thịnh thì quốc gia thịnh, Phật giáo suy thì quốc gia suy. Ðiều này lịch sử đã minh nhận. Nhưng hơn một thế kỷ nay, nhất là trong giai đoạn hiện tại, Phật giáo Việt nam luôn luôn nằm trong tình trạng hổn mang, bi thảm đau thương: nào bị đàn áp, nào bị đối xử bất công, ngược đãi…Phật giáo đồ bị bức bách khuynh loát một cách trắng trợn, có nơi bị chôn sống, bị tù đày, có nơi bị cản trở ngăn cấm cả về hành đạo, tu tập, tụng niệm (như vùng Tuy Hòa, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh). Quyền tự do tín ngưỡng, một quyền bất khả xâm phạm của con người, đã bị tổn thương chà đạp. Cao quý thay lòng ẩn nhẫn của Phật tử Việt Nam! Vốn được giáo thụ, un đúc tính từ bi cao thượng của Ðấng Chí Tôn, Phật giáo đồ chúng ta đã âm thầm nhẫn nhục chịu đựng một cách chân thành, nhưng kẻ manh động đã cố tình lợi dụng cử chỉ cao đẹp ấy của chúng ta, gieo mãi thương đau cho Phật giáo đồ Việt Nam. Mùa Phật Ðản 2507 – 1963 tại Cố đô Huế, một cảnh tang thương đã xảy ra cho Phật giáo Việt Nam nói riêng, Phật giáo thế giới và nhân loại nói chung là máu Phật tử đã chảy, xương thịt Phật tử đã nát tan trước họng súng bạo tàn của kẻ ác độc, vô nhân đạo. Thế là những sinh mạng đã ngã gục và những thân mạng đã mang thương tích trên mình, tất cả đều muốn phát lộ ý chí của người Phật tử: bảo vệ Chánh pháp, bảo vệ quyền sống của những con người tin đạo, bảo vệ lá cờ Phật giáo quốc tế mà một phần ba nhân loại tôn thờ. Ai có thể chối cãi được sự thật của nguyên nhân chính ấy là: lá cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi công điện số 9195 phát xuất từ Phủ Tổng thống, ngày 6-5-1963. Trước sự kiện thảm thương ấy, Phật giáo Việt Nam đã đến lúc bắt buộc phải đứng lên tranh đấu cho lý tưởng tự do tín ngưỡng của mình, được minh định rõ ràng trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa và đường lối dân chủ pháp trị, cộng đồng đồng tiến xã hội của Chánh phủ do Tổng thống Ngô Ðình Diệm chủ trương. Với tính cách ôn hòa bất bạo động, kỷ luật trong sự tranh đấu hợp tình hợp lý, người Tăng sĩ Phật giáo Việt Nam cần phải có một ý niệm sáng suốt, tiêu biểu ý niệm chân chánh, trong giai đoạn vô tiền khoán hậu của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vậy tôi tên là Nguyễn Văn Khiết, pháp danh Thị Thủy, pháp hiệu Thích Quảng Ðức, tu sĩ Giáo hội Tăng Già Việt Nam, mang thẻ căn cước số 399703, cấp tại quận Tân Bình ngày 21-12-1962. Hiện tọa chủ chùa Long Phước, xã Ninh Quang, Khánh Hòa, xác định rằng: 1.Năm nguyện vọng tối thiểu ghi trong Bản tuyên ngôn của Tăng tín đồ Phật giáo là phản ảnh tinh thần chân chính của Phật giáo Việt Nam. 2.Nguyện luôn luôn son sắc bền chí với lý tưởng tranh đấu hợp tình hợp lý, bất bạo động của Phật giáo đồ Việt Nam. 3.Triệt để tuân theo và ủng hộ các cấp lãnh đạo Phật giáo. Và để minh định lập trường của chúng tôi, chúng tôi tự nguyện thiêu đốt thân này nếu Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không làm thỏa mãn nguyện vọng ghi trong Bản tuyên ngôn là phản ảnh tha thiết mong cầu của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam. Phật giáo Việt Nam bất diệt! Lá cờ Phật giáo không thể bị triệt hạ! Và xin quý Thượng Tọa chấp thuận, chuyển tới toàn thể tín đồ lời ước nguyện cuối cùng của chúng tôi: ” Phật tử chúng ta hãy cùng nhau tự nguyện tự giác, bền chí với sứ mạng duy trì Chánh pháp và bảo vệ lá cờ Phật giáo.” Kính Tỳ khưu Thích Quảng Ðức (Nguyễn Văn Khiết- đóng dấu và ký tên)

 [Nguồn:

 http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-139_4-5380_5-50_6-1_17-46_14-1_15-1/ ] 2.3

 Vài ngày sau đó, vị Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Việt Nam là Thượng Tọa Thích Tâm Giác, đã từ chối nguyện vọng “tự nguyện thiêu đốt thân nầy” của Ngài trong một lá thư nguyên văn như sau [trích từ bài viết của ông Trần Kim Cường]: “Kính gởi Đại Đức Tỳ Khưu Thích Quảng Đức (Nguyễn Văn Khiết). Kính bạch Đại Đức Tôi trân trọng tin để Đại Đức rõ, sau khi tiếp nhận văn thư của Đại Đức đề ngày 27-5-1963 xin Giáo Hội cho phép được thiêu đốt thân xác để cúng dường lên Tam Bảo nhân vụ biến động ở Huế, vì lý do lá cờ Phật Giáo bị triệt hạ trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong ngày Đại Lễ Phật Đản mà tại Huế đã có 9 người chết và nhiều người bị trọng thương. Với quyết tâm bảo vệ Phật pháp, Đại Đức nguyện hiến xác thân phẩm này bằng cách thiêu đốt để phản đối chính sách bất bình đẳng Tôn giáo với nhà cầm quyền và nêu tỏ thái độ hy sinh vì Đạo cao cả mà mình đã tôn thờ. Giáo Hội rất thông cảm trước ý chí cao đẹp ấy. Nhưng trên nguyên tắc pháp lý (Luật Phật đã định cũng như Luật Pháp thế gian) Giáo Hội không thể chấp nhận điều nguyện thiêu đốt thân xác của Đại Đức được. Vậy xin Đại Đức hoan hỉ và cầu chúc Đại Đức vô biên an lạc. Trân trọng kính chào Đại Đức. Thượng Tọa Thích Tâm Giác ký tên. Qua lá thư của chính Ngài Quảng Đức và thư trả lời của Giáo Hội Tăng Già, người ta thấy rõ ràng là Ngài Thích Quảng Đức đã có ý nguyện tự thiêu từ trước. Không ai có thể cáo buộc Ngài bị thiêu đốt, kể cả các ký giả ngoại quốc cũng không biết chuyện này. Ngoài ra, cũng theo văn thư trả lời thì Giáo Hội Tăng Già đã không chấp thuận cho Ngài Thích Quảng Đức tự thiêu, vậy thì không thể có sự việc cắt đặt người với tên tuổi đàng hoàng lãnh trách nhiệm tẩm xăng cho Ngài, còn nếu Ngài có nhờ các đệ tử giúp đỡ trong các công việc, thì những việc làm ấy không phải là các sự việc được chánh thức sắp xếp, để cho ngày nay các ông cứ phải bàn cãi, cò kè với nhau. Vậy thì rõ ràng là cuộc tự thiêu của Thượng Tọa Thích Quảng Đức không do ai tổ chức cả, khi Ngài muốn điều gì thì các đệ tử của Ngài chiều theo ý của Ngài mà thôi. Và do việc Giáo Hội không chấp thuận qua văn thư như trên, nên phải xác định rõ ràng rằng Giáo Hội không có chủ trương việc tự thiêu của Thượng Tọa, vậy thì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không có lỗi lầm gì trong biến cố này, và cũng do đó mà Chánh phủ Ngô Đình Diệm đã không có lý do gì để truy tố Giáo Hội Phật Giáo.” [Nguồn: Trần Kiên Cường – http://quocsam2009.blogspot.com/2011/07/su-that-nao-sau-vu-tu-thieu-lich-su.html#!/2011/07/su-that-nao-sau-vu-tu-thieu-lich-su.html ] 2.4 Trong lúc đó, theo vị Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống thời Ngô Đình Diệm là ông Đoàn Thêm (trong “Hai mươi năm qua” và “Những ngày chưa quên”, Đại Nam, 1969) thì ngày 29 tháng 5, lực lượng an ninh Huế vẫn siết chặt vòng vây “nội bất xuất ngoại bất nhập” ở chùa Từ Đàm , nơi mà sinh viên và Phật tử thường tụ họp đông đảo để ủng hộ cho những đòi hỏi của Phật giáo, đồng thời chính quyền cho cắt điện và nước ở ngôi chùa này. Trước hành động đàn áp đó của Chính phủ, ngày 30 tháng 5, Phật giáo tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang, các Tăng Ni và Phật tử tuyệt thực 48 giờ, đồng thời 300 Tăng Ni biểu tình trước Quốc hội với những khẩu hiệu yêu cầu Chính phủ thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo. Thấy tình hình bắt đầu căng thẳng, ngày 1 tháng 6, Chính phủ Diệm thay vị Đại biểu Trung phần Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Văn Đẳng, là những người mà Chính phủ cho là nhu nhược thân Phật giáo, bằng các ông Nguyễn Xuân Khương và Thiếu tá Nguyễn Mâu (một si quan Công giáo ở trong đảng Cần Lao) để hai nhân vật này hành động quyết liệt hơn trong việc đàn áp Phật giáo. Vì tình hình nghiêm trọng đó, chính phủ đã thành lập ủy ban Liên Bộ và Phật giáo hình thành Ủy ban Liên Phái để thương nghị với nhau. Trong khi hai ủy ban đang tiến hành những buổi họp đàm phán thì lực lượng an ninh vẫn bao vây chùa chiền và gia tăng các biện pháp cắt điện, cắt nước tại các chùa lớn ở Huế và Đà Nẵng. Riêng tại chùa Tỉnh Hội Nha Trang, cảnh sát và công an còn chăng kẽm gai chận đường các Phật tử vào chùa và cản trở việc đi lại của các Tăng Ni từ Sài Gòn về các tỉnh và ngược lại. Cho đến ngày 7 tháng 6, trước phản đối của Phật giáo, Ủy ban Liên Bộ mới công nhận hành động thiếu thiện chí đó và gởi văn thư trả lời cho Ủy ban Liên Phái là đã cho cấp lại điện nước và quân đội không chận đường vào chùa nữa. Nhưng dù có văn thư chính thức của Ủy ban Liên Bộ, những hành động chống phá Phật giáo vẫn tiếp tục xảy ra càng lúc càng thô bạo tại các địa phương và ngay giữa thủ đô Sài Gòn. Độc hại hơn nữa, chính quyền đã cho một số công an và cảnh sát cạo đầu, giả vờ mặc áo nâu hay áo lam của tăng sĩ để ra chợ chọc gái, ăn thịt, uống rượu, mua hàng không chịu trả tiền,… rồi đưa lên báo nhằm bôi lọ các nhà sư và xuyên tạc cuộc đấu tranh của Phật giáo. Ngày 8 tháng 6, trong một thông cáo gửi cho Phong trào Phụ nữ Liên Đới, bà Nhu còn công khai lên án và hăm dọa Phong trào Phật giáo khi tố cáo những người trong phong trào Phật giáo là hợp tác với Cọng sản và yêu cầu chính quyền phải có biện pháp quyết liệt với phong trào đấu tranh. Để ứng phó với thái độ phá hoại và không có thiện chí giải quyết nguyện vọng đó của chính quyền, Phật giáo đành phải lấy những hành động hy sinh quyết liệt hơn mong cảnh tỉnh và khai thông đầu óc giáo điều của cấp lãnh đạo Chính phủ. Trong một ngôi chùa vắng lặng giữa Sài Gòn sôi động, Ngài Thích Quảng Đức đã lấy một quyết định làm chuyển đổi cả một chế độ và đẩy lịch sử Việt Nam lên một chiều cao bi hùng mới. Quyết định đó được trình bày một cách thấu tình đạt lý của một ngưòi vừa là Phật tử vừa là công dân trong “Lời Nguyện Tâm Quyết”, nguyên bản được viết bằng chữ Nôm, và được dịch ra tiếng Việt Latinh để phổ biến trong giai đoạn đó. Sự hình thành của văn bản đó được kể lại như sau: “Về một bức thủ bút chữ Nôm của Hòa thượng Thích Quảng Đức” của Phạm Quý Vinh (nguồn: Tạp Chí Sông Hương số 227 – 2008) đăng lại với phiên bản điện tử năm 2009 trên http://tapchisonghuong.com.vn/ “Trước lúc tự thiêu, Thích Quảng Đức có để lại một bức thủ bút bằng chữ Nôm(2).

 Đây là một văn bản rất ít người được biết đến và chính là lời tâm nguyện của Thích Quảng Đức trước lúc đi về miền Tây phương cực lạc. Bởi vì, nó không những nêu lên được ước nguyện của một con người mộ đạo, mà nó còn đặt ra cho chúng ta một câu hỏi khó trả lời: Tại sao trong lúc chữ Quốc ngữ đang thịnh hành thì Thích Quảng Đức lại dùng chữ Nôm (loại chữ do dân tộc Việt Nam sáng tạo) để viết? Phải chăng là Thích Quảng Đức đã đề cao bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam! Với những giá trị về lịch sử của văn bản, chúng tôi xin được giới thiệu bức thủ bút của Thích Quảng Đức. Vì bản photocopy có đôi chỗ mờ nhạt nên trong quá trình chế bản vi tính sẽ không tránh được những thiếu sót nhất định, hy vọng là những ai quan tâm và hiểu biết sẽ đóng góp những ý kiến chân tình để cho bản vi tính và phiên âm được hoàn chỉnh hơn. Nội dung của bức thư cụ thể như sau: Phiên âm: Lời nguyện tâm quyết Tôi là Tỳ kheo Thích Quảng Đức, trụ trì chùa Quan Thế Âm Phú Nhuận Gia Định. Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa. Tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai, không lẽ cứ ngồi điềm nhiên toạ thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui vẻ phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dưỡng chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo. Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức, Tăng ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau: Một là mong ơn Phật Trời gia hộ cho tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên cáo. Hai là nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt. Ba là mong nhờ hồng ân Đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ ác. Bốn là cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc. Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân, đều thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để nước nhà xưng yến muôn thuở. Tôi thiết tha kêu gọi chư Đại Đức, Tăng ni, Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo. Nam Mô A Di Đà Phật Làm tại chùa Ấn Quang ngày bốn tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba. Tỳ kheo Thích Quảng Đức thủ ký. Bằng lời lẽ nhẹ nhàng, cô đúc nhưng lại giàu tính thuyết phục, Thích Quảng Đức đã gởi gắm tâm nguyện của mình vào bức thư tuyệt mệnh với mong ước bảo vệ Phật giáo ở Việt Nam. Đó quả là một tấm gương một lòng vì đạo pháp mà xưa nay hiếm vậy. P.Q.V (2) Văn bản này chúng tôi vừa sưu tầm được từ một thượng tọa ở chùa Thiền Lâm (Biết chúng tôi có hiểu biết về Hán Nôm, nên thượng tọa đã tặng chúng tôi một bản photocopy bức thủ bút này).” Như vậy, qua ba lá thư nói trên (thư xin tự thiêu ngày 27/5, thư trả lời của Giáo hội Tăng Già, thư “Lời nguyện Tâm quyết” 4/6), chúng ta thấy quyết định tự thiêu của Ngài Thích Quảng Đức là một quyết định xuất phát từ những động cơ sâu sắc, có suy nghĩ chính chắn. Quyết định lại đi theo một trình tự hợp lý, biến thiên theo mức độ trầm trọng của tình hình. Và dù bị từ chối, cá nhân Ngài vẫn quyết tâm hoàn thành cho được tâm nguyện. Quyết tâm đó, tâm nguyện đó, không chứa một mảy may hận thù và tuyệt vọng nào mà trái lại còn thấm nhuần tình thương và hy vọng thì, lúc đó cũng như bây giờ, những kẻ ngoại đạo hay giáo gian mang tâm cảnh hận thù làm sao hiểu được, lại càng làm sao chấp nhận được. Đó là về phần Hòa thượng Thích Quảng Đức. Còn diễn biến cuộc tự thiêu thì sao ?

3- NĂM NHÂN CHỨNG BẤT KHẢ PHỦ BÁC: Về cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức, chúng ta có gần cả ngàn nhân chứng nhìn chăm chú vào nhất cử nhất động của Ngài. Không những nhìn bằng mắt mà còn “nhìn” bằng máy chụp ảnh và máy quay phim nữa. Họ là hơn 500 Tăng Ni và hàng trăm Phật tử và đồng bào Sài Gòn có mặt tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt vào buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963. Cũng có mặt hôm đó, ngoài nhân viên mật vụ chìm và nổi của chế độ Diệm có nhiệm vụ theo dõi hoạt động của phong trào Phật giáo, có lẽ cũng có những nhân viên “đặc biệt” của những tổ chức cũng “đặc biệt” không kém của chính quyền nước ngoài như Mỹ và Vatican, vốn là hai nước gắn bó chặt chẻ và có nhiều quyền lợi thiết thân với chế độ Diệm ở Việt Nam. Nhưng trong số gần cả ngàn nhân chứng đó, để tái dựng lại cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức một cách trung thực, có năm vị mà chúng tôi cho là có độ khả tín cao, có thể tin vào lời chứng hoặc hình ảnh của họ. Đó là hai tu sĩ Phật giáo có trực tiếp đóng vai trò trong động thái tự thiêu (TT Thích Đức Nghiệp và ĐĐ Thích Chơn Ngữ), một nhân viên làm việc cho cơ quan Mỹ và/hoặc chính quyền Diệm được giao nhiệm vu theo dõi và báo cáo (ông Nguyễn Văn Thông), và hai ký giả nước ngoài chuyên nghiệp làm việc cho các cơ quan truyền thông uy tín quốc tế (nhiếp ảnh gia / nhà báo Malcolm Browne và nhà văn / nhà báo David Hamberstam). Họ là những người có mặt tại chỗ, chức năng của họ là ghi nhận sự kiện một cách trung thực và sau đó, bằng cách nầy hay cách khác, phổ biến một cách công khai trên toàn thế giới. 3.1 – Sau đây là trích đoạn Hồi ký của Thượng tọa Thích Đức Nghiệp, nhân chứng thứ nhất, người chịu trách nhiệm sao cho cuộc Tự thiêu được hoàn thành: “Vào 14 giờ, ngày 30-5-1963, đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở Huế đã ra chỉ thị cho các cấp Phật giáo phải tổ chức tuyệt thực đòi hỏi chính quyền thực thi năm nguyện vọng. Tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái chúng tôi tuân luyện tổ chức ngay một cuộc biểu tình tại Công trường Lam Sơn trước quốc hội, từ 12 giờ 5 phút tới 5 giờ chiều, rồi diễn hành, căng biểu ngữ, về tới chùa Xá Lợi tuyệt thực suốt 48 giờ. Dịp này có Hòa thượng Thích Quảng Đức tham dự và Ngài có gởi một bức tâm thư xin tự thiêu lên Ủy Ban Liên Phái, đề ngày 27-5-1963. Tuy nhiên, Ủy Ban Liên Phái bác bỏ nguyện vọng tự thiêu này. Sau cuộc tuyệt thực đó, Ủy Ban Liên Phái lại tổ chức rước linh hàng tuần vào mỗi buổi sáng ngày chủ nhật, để luân phiên cầu siêu tại các chùa trong Sài Gòn; Chợ Lớn, Gia Định, là trụ sở chính của mỗi giáo phái trực thuộc Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam. Thế nhưng, về phía chính quyền, ông Diệm vẫn cứ trơ trơ trước dư luận lên án gắt gao của nhân dân Việt Nam và thế giới. Độc ác và bất nhân hơn nữa là ông Diệm lại còn hạ lệnh bắt bớ thêm, phong tỏa thêm các chùa trên toàn quốc, thậm chí ông còn cho những thuộc quyền thẳng tay cắt đứt điện nước và tuyệt đường lương thực của các chùa chủ yếu. Bởi vậy, vào 8 giờ tối ngày 10-6-1963, hai Thượng tọa Tâm Châu và Thiện Hoa có cho xe vào Ấn Quang, mời tôi (Thích Đức Nghiệp) ra Xá Lợi bàn Phật sự gấp. Khi tới Xá Lợi, tôi gặp hai vị Thượng tọa đang ngồi phòng khách. Thượng tọa Thiện Hoa nói là: – Phật giáo mình đương bị lâm nguy quá, nhất là tại Huế hiện nay… Thượng tọa Tâm Châu nói theo: – Ngày mai, buổi sáng chủ nhật, tới phiên tôi rước linh và cầu siêu tại chùa Phật Bửu Tự, do Hòa thượng Thích Minh Trực tổ chức, tại đường Cao Thắng, Quận 3. Vậy Thầy về hỏi lại ý nguyện tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức, hiện đương tụng kinh Pháp Hoa tại Ấn Quang. Nếu Hòa thượng đồng ý, thì ngay sau khóa lễ ở Phật Bửu Tự, trên đường về Xá Lợi, Thầy tìm mọi cách có hiệu quả nhất, để Hòa thượng Quảng Đức được tự nguyện tự thiêu, đồng thời để cứu nguy cho Phật giáo hiện nay. Khi về, tôi gặp ngay Hòa thượng Quảng Đức ở chùa Ấn Quang Sau khi tôi hỏi : – Hòa thượng còn giữ nguyện tự thiêu như lá thơ Hòa thượng đã gởi cho Liên Phái trước đây không ? Hòa thượng mừng rỡ trả lời : Tôi sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam Bảo và để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện của Phật giáo Tôi (Thích Đức Nghiệp) nói thêm: – Vậy Hòa thượng hãy đi nghĩ và sáng mai, con sẽ tổ chức cho Hòa thượng tự thiêu cho Hòa thượng được thành tựu viên mãn. Song Hòa thượng nói thêm: – Đại đức cho tôi được lễ tạ Phật và Thượng tọa Thiện Hoa, tôi sẽ nói: Ngày mai tôi phải đi xa vì Phật sự, đồng thời cho tôi viết một lá thơ gởi cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi trả lời đều được cả, nhưng tuyệt đối Hòa thượng không nên để cho ai biết việc tự thiêu này. Sau đó, tôi đến phòng Thượng tọa Thiện Hoa mới ở Xá Lợi về để xin ít tiền mua sắm xăng để thiêu và vải để viết biểu ngữ cho sáng ngày mai. Tiếp theo tôi gọi anh lái xe ô tô Austin của Phật tử Trần Quang Thuận gởi ở Ấn Quang và nhờ anh ta đi mua xăng và vải, đồng thời tôi nhờ anh ấy chở Hòa thượng Quảng Đức đi dự lễ tại Phật Bửu Tự. Kế đó, tôi họp ngay mấy Thầy lại để phân công vào việc sáng mai : Thầy Chân Ngữ có trách nhiệm đổ hết xăng từ đầu tới chân Hòa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi trên xe Austin để đi tới ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt trước tòa Đại sứ Cao Mên. Thầy Trí Minh phải ngồi cùng hàng ghế trước để bảo anh lái xe phải dừng lại ở ngã tư đường nói trên, rồi làm bộ chữa xe để Hòa thượng bước xuống đường và ngồi tự thiêu. Thầy Hồng Huệ giữ trật tự, Tăng Ni đi thành hai hàng và xe của Hòa thượng từ từ đi ở giữa. Tôi (Thích Đức Nghiệp) đi bên cạnh xe của Hòa thượng. Khi xe ngừng lại Hòa thượng bước xuống, tôi trao tay Hòa thượng bao quẹt và bao diêm để Hòa thượng tự bật lửa thiêu. Bùng cháy ! Ngọn lửa ngất trời ! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh ! Lệ rơi ! Tiếng khóc vang lên ! Lập tức, tôi yêu cầu hai mươi vị Tăng Ni ra nằm chặn ở bốn đầu đường để xe cứu hỏa không thể vào nơi thiêu của Hòa thượng Quảng Đức. Biết rằng trong lúc tự thiêu này, có cả Simon Michaud, đại diện hãng thông tấn AFP của Pháp; Malcome Browne, đại diện AP của Mỹ và Neel Shihanm, đại diện UPI; đều chứng kiến tận mắt và xe của Đại tướng Hawkins Mỹ cũng tới chỗ hỏa thiêu này. Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Thích Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ Phật giáo. Tới cổng chùa ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự thiêu này.” [Nguồn: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-139_4-5393_5-50_6-1_17-46_14-1_15-1/ ]

(Ghi chú: Bài phỏng vấn nầy được thực hiện hơn 40 năm sau biến cố Tự thiêu nên có vài danh xưng TT Đức Nghiệp đã dùng không chính xác. Tuy nhiên, theo chúng tôi, những điểm quan trọng khác thì đều đáng tin vì ăn khớp với dữ kiện của các nhân chứng còn lại)

 

3.2 – Đại đức Thích Chơn Ngữ, người tưới xăng lên mình Ngài Quảng Đức, là nhân chứng thứ nhì: Đại đức Thích Chơn Ngữ, thế danh Huỳnh Văn Hải, vốn là đệ tử của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở chùa Tường Vân tại Huế. Đại đức người Huế, vào khoảng 30 tuổi vào năm 1963, người tương đối cao lớn nên được phân công đổ xăng lên thân thể Hoà thượng Quảng Đức. Vì tham gia vào vụ tự thiêu trong vai trò đó, ĐĐ Chơn Ngữ đã bị chính quyền Diệm bắt giam để khảo cung, và bị tra tấn tàn bạo làm hư hại bộ phận sinh dục không thể có con. Sau khi chế độ Diệm sụp đổ, ĐĐ Chơn Ngữ được một học bổng đi du học và tốt nghiệp Tiến sĩ đệ tam cấp (Docteur Troisième Cycle) tại Pháp. Cuối năm 1973 hay đầu năm 1974, ĐĐ về nước và dạy tại Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, sinh viên ghi danh theo học lớp của ĐĐ khá đông. Sau 1975, trong tình hình mới nhiều phức tạp, Đại đức cởi áo xuất tu, trở lại với thế danh Huỳnh Văn Hải. Rồi khoảng năm 1981, theo phong trào boat people, ông vượt biển đến Indonesia. Ông được nhập cư vào Mỹ, sống ở Los Angeles một thời gian và cuối cùng về định cư tại thành phố San Jose ở bang California. Hiện nay (2011), ông Huỳnh Văn Hải đã già yếu, gần 80 tuổi nên thị lực kém, và đang ở vùng Bay Area. Ông có một số bà con ở tại Orange County, miền nam California và ở Houston, tiểu bang Texas. Năm 1985, trả lời cho tạp chí Chấn Hưng do một số cư sĩ Phật giáo ở Los Angeles chủ trương, ông Huỳnh Văn Hải (nguyên là Đại đức Thích Chơn Ngữ), người vừa là nhân chứng vừa đóng vai trò quan trọng trong cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức, đã kể lại như sau: “… Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Diệm bất đắc dĩ phải tiếp phái đoàn Phật giáo gồm 5 vị: Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành Trụ, Tâm Châu và Đôn Hậu, nhưng ông Diệm đã không thực tâm giải quyết vấn đề. Do đó, ngày 16 lại có nhiều cuộc tuyệt thực khác và biểu tình rầm rộ trước Quốc Hội, nhưng chính quyền vẫn không đả động gì đến những yêu cầu của Phật giáo đồ… Bây giờ câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là việc tự thiêu, người hưởng ứng đầu tiên là Ngài Quảng Đức. … Lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, tôi dìu Ngài ra đến cổng chùa, thầy Đức Nghiệp mở cửa chiếc xe Austin đã đậu sẵn, mời Ngài lên. Xe gặp đường Phan Đình Phùng quẹo phía trái là đường Lê Văn Duyệt, tài xế dừng xe lại, xung quanh tôi các tăng ni đã đứng chật ních bao vây ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng. Tay trái tôi xách thùng xăng, tay mặt tôi dìu Ngài bước ra xe và mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay trái. Tôi cầm thùng xăng đáng lẽ tưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho tượng trong khi các tăng ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm: A Di Đà Phật. Tiếng niệm Phật rất não nùng thê thảm trong lúc ngọn lửa càng bốc cao, phủ kín cả người Ngài, nhưng Ngài vẫn ngồi vững như bàn thạch chấp hai tay trước ngực. Sau 7 phút toàn thân Ngài ngã xuống nhưng hai tay vẫn còn chắp trên ngực. Xung quanh các tăng ni vừa bái lạy vừa khóc, vừa niệm Phật, nhưng có một người vẫn đứng thẳng như một trụ đá, không khóc, nét mặt rất đau thương đến độ trông rất lạnh lùng, chấp hai tay nhìn thẳng vào thân xác cháy đen của Ngài Quảng Đức. Đó là Thượng Tọa Thích Tâm Châu mà nay là Hòa thượng tu hành tại nước Pháp. Ngài Quảng Đức đã hiến mình cho Đạo Pháp bằng cách an nhiên tọa thuyền trong biển lửa cao ngút. BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC đã tự đốt mình để bảo vệ Đạo Pháp lúc lâm nguy và để bảo vệ quyền Tự Do Tín Ngưỡng. Hành động can đảm và tuyệt vời này của Ngài đã làm cả thế giới khâm phục và đã thức tỉnh lương tri nhân loại rằng đàn áp, chém giết chỉ gieo rắc thêm hận thù. Bạo lực sẽ thất bại trước TỰ DO, CÔNG BẰNG, TÌNH THƯƠNG và lòng KHOAN DUNG. Trích từ “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” – Nguyệt san Chấn Hưng số 4, tháng 8 năm 1985, trang 2, 3 và 19. Los Angeles, Hoa Kỳ.” Lúc bấy giờ, nguyệt san Chấn Hưng chủ yếu được phổ biến trong các chùa và cộng đồng cư sĩ Phật giáo ở Mỹ. Và 24 năm trước đây, phần trích đoạn ở trên của bài viết “Cuộc Tự Thiêu Lịch Sử” đã được cụ Hoành Linh Đỗ Mậu in lại trong tác phẩm “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Phụ Lục A, số thứ tự 27, trang 1083 và 1084, ấn bản 1987, và được tiếp tục duy trì trên các ấn bản tiếp theo, kể cả ấn bản điện tử 2007.

 Ấn bản 1987 của tác phẩm “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Phụ Lục A, số thứ tự 27, trang 1083 và 1084 [Nguồn: – http://www.sachhiem.net/HOANHLINH/VNMLphlucA.php ; – http://www.giaodiemonline.com/2008/vnmlqht/phuluca.htm và – http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article &id=5036:y-kien-nhan-si-ve-hoi-ky-do-mau&catid=2:khaocuu&Itemid=4 ] 3.3 – Nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Thông, nhân chứng thứ ba, người được một cơ quan Mỹ (cũng có người nói ông làm cho mật vụ của chính quyền Diệm) “thuê” chụp ảnh các cuộc biểu tình của Phật giáo tại Sài Gòn, và đã có mặt để ghi lại bằng ảnh cuộc Tự thiêu của Ngài Quảng Đức. Có ba người đã gặp ông Nguyễn Văn Thông để nghe ông kể lại chi tiết vụ tự thiêu năm 1963 của Ngài Quảng Đức: 3.3.1 “Hôm 30/5/2010, nhà nhiếp ảnh Duy Anh, phụ trách Cate Nhiếp ảnh (GoNews), đã đến thăm đồng nghiệp lão thành Nguyễn Văn Thông tại nhà riêng của ông ở Cư xá Đô thành, Quận 10, TP.HCM. Ông là tác giả bức ảnh Tự thiêu, đã đoạt Giải Ngân hài bạc Anh quốc, và Huy chương đồng Phần Lan 1964. (Ảnh: Cẩm An) Tác giả Nguyễn Văn Thông kể với GoNews: “Chiếc xe hơi dừng giữa đường, giả như hư máy, các tăng ni chặn kín các ngả đường… Sau khi người đẫm ướt xăng, Hòa thượng bật quẹt (đá lửa) do ướt xăng nên không cháy, nên ông nhận cái hộp quẹt khác rồi bật tiếp. Lửa cháy… Tôi chụp và khóc, tay run lên… vì thấy nhà sư cao cả quá! Sau đó, tôi phóng một tấm lớn 50x60cm tặng cho nhà chùa. Năm sau (1964), tôi mới gởi ảnh ấy đi dự thi…”. [Nguồn: Trần Kiên Cường – http://quocsam2009.blogspot.com/2011/06/anh-thoi-su-vi-ai-nhat-moi-thoi-ai.html#!/2011/06/anh-thoi-su-vi-ai-nhat-moi-thoi-ai.html ] Nhiếp ảnh gia Duy Anh và ông Nguyễn Văn Thông, ngồi bên phải. – Ảnh T1 chụp Ngài Quảng Đức lần tràng hạt và bắt đầu niệm: “Nam mô A Di Đà Phật” trước khi tự tay châm lửa. Mọi nguời chung quanh bắt đầu hoảng hốt. Khi ngọn lửa rừng rực bùng lên, Bồ tát Thích Quảng Đức vẫn tự tại ngồi kiết già, gương mặt không lộ chút đau đớn – ảnh T2 và T3 của Nguyễn Văn Thông. Ảnh được Giải Ngân hài bạc Anh quốc, Huy chương đồng Phần Lan 1964, Huy chương bạc Liên hoan ảnh nghệ thuật Hội Nhiếp ảnh TP.HCM 1990. 3.3.2 Một người thứ nhì cũng gặp ông Nguyễn Văn Thông sau nầy đã kể lại như sau: “Ở bên ngoài, chính ông Nguyễn Văn Thông, mật vụ theo dõi hoạt động đấu tranh của Phật giáo và chứng kiến từ đầu đến cuối vụ tự thiêu, cũng công khai bác bỏ sự xuyên tạc Bồ tát Thích Quảng Đức bị chích thuốc mê. Gần nửa thế kỷ trôi qua, ông vẫn xúc động khi nhớ lại: “Chúng tôi đã theo sát vụ tự thiêu này ngay từ đầu ở chùa Xá Lợi. Chính mắt tôi và các cảnh sát khác đều thấy ngài Thích Quảng Đức khoan thai bước xuống xe, quay mặt xá tứ phương, rồi ngồi kiết già trước khi chính tay mình châm lửa tự thiêu. Những hành động bình thản của một nhà tu hành thượng đẳng như vậy không thể là người bị thuốc mê. Còn các nhà sư khác chỉ đứng vòng quanh tụng kinh cho ngài và ngăn chặn cảnh sát. Không có bàn tay nào tác động, xâm phạm đến hành động tự thiêu của ngài”. Đặc biệt, khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, ông Thông đã đem những bức hình mình chụp cận cảnh Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu tặng Phật giáo Sài Gòn. Một loạt ảnh đầy đủ từ lúc lửa chưa bùng lên trên thân thể Bồ tát Thích Quảng Đức đến lúc ngài ngã xuống. Đến lúc đó người ta mới chính thức biết có một người Việt nữa đã chụp hình được sự kiện thiêng liêng này ngoài nhà báo Malcolm Browne. Và những tấm hình đó như một chứng nhân quan trọng cho hậu thế biết sự thật cuộc vị pháp thiêu thân!” [Nguồn: http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/57mothuyenthoai.html ] 3.3.3 Người thứ ba, ông Quốc Việt, cũng đã gặp nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Thông tại Sài Gòn và cho biết: “Kể lại cuộc tự thiêu này, nhân chứng phía bên kia là ông Nguyễn Văn Thông, mật vụ đặc trách theo dõi hoạt động Phật giáo thời đó, nhớ lại: “Tin tình báo gửi về cho biết sẽ có biểu tình lớn từ chùa Ấn Quang đến công trường Lam Sơn và sẽ có nhà sư mổ bụng. Sau này tôi mới biết đó là tin giả để đánh lạc hướng chuẩn bị trấn áp của cảnh sát”. Ông Thông kể sáng đó nhóm cảnh sát mật của mình gồm bốn người mặc thường phục đi trên một chiếc ô tô. Ông Thông phụ trách hình ảnh, một người viết báo cáo, người khác trực điện đài. Họ chuẩn bị bám theo các tăng ni đến công trường Lam Sơn (Nhà hát lớn TP ngày nay) và không biết gì về cuộc tự thiêu sắp diễn ra. Lúc đó, ông Thông còn là cộng tác viên của hãng Ảnh xã nên ngoài chiếc máy ảnh cảnh sát trang bị, ông luôn mang thêm chiếc máy ảnh riêng. Khi chiếc xe Austin chở Bồ tát Thích Quảng Đức từ chùa Ấn Quang dừng lại ở ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, tài xế bước xuống giả vờ sửa xe và nhóm cảnh sát chìm vẫn tưởng thật. Thậm chí khi Bồ tát Thích Quảng Đức bước xuống xe, ngồi kiết già trên đường, ông Thông vẫn không nghĩ ngài tự thiêu. Chỉ đến lúc thân ngài bốc cháy như ngọn đuốc ông Thông mới sững sờ. Theo phản xạ ông đưa máy ảnh lên chụp, nhưng tấm đầu tiên bị nhòe vì ông xúc động run tay. Đến tấm thứ hai ông lấy được nét. Đó cũng là tấm phim cuối cùng của chiếc máy ảnh riêng của ông. Ông liền sử dụng chiếc máy ảnh thứ hai được cảnh sát trang bị để chụp tiếp đến cảnh lửa tắt, bồ tát ngã xuống. Theo ông Thông, có ít nhất ba người chụp được hình tự thiêu xúc động này là nhà báo Malcome Browne của Hãng thông tấn AP, một nhà sư và ông. Tuy nhiên, sau đó chỉ có hình của Malcome Browne lan truyền ra thế giới. Còn ông Thông phải nộp ảnh cho nha cảnh sát và lặng lẽ giấu đi mấy tấm khác vì lúc đó ông vẫn còn là nhân viên chính quyền nhà Ngô. Năm nay đã 86 tuổi, ông Thông hồi tưởng chi tiết cuộc tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức: “Lửa bao trùm thân ngài nóng đến mức chiếc can để gần đó phải chảy ra, nhưng bồ tát vẫn tĩnh tại ngồi thiền, thản nhiên đón nhận cái chết. Đặc biệt, khi lửa gần tàn, thân đã cháy đen nhưng ngài vẫn gật đầu về hướng tây mấy lần như lạy Phật rồi mới bật ngửa ra chứ không ngã sấp xuống. Xe cứu hỏa, cảnh sát đổ đến. Các nhà sư nằm chặn trước bánh xe, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ cuộc vị pháp thiêu thân. Nhiều nhân vật chủ chốt của ngành cảnh sát chế độ Sài Gòn bấy giờ cũng có mặt nhưng chỉ đứng nhìn, không thể phản ứng được gì trước ngọn lửa chính nghĩa…”. [Nguồn: http://www.quangduc.com/BoTatQuangDuc/57mothuyenthoai.html#Kỳ_3:_Vị_pháp_thiêu_thân_]

Post Navigation