Cư Sĩ Phật Giáo

Buddhists for a better world

Giáo Hoàng Có Ý Định Ban Hành “Tự Sắc”

Giáo Hoàng Có Ý Định Ban Hành “Tự Sắc”
ScreenHunter_04 Feb. 23 09.14
Tin RFI – Huê Đăng / Đức Tâm
http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/TinRFI01.php
22-Feb-2013

Vào lúc Tòa Thánh Vatican đang bận bịu với việc bầu chọn người lên thay Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI thì có những tin đồn liên quan đến hai vụ việc : Đức Giáo Hoàng có ý định ban hành “Tự Sắc” và tiết lộ các hồ sơ mật của Tòa Thánh, còn được gọi là “VatiLeaks”.
Từ Roma, thông tín viên Huê Đăng cho biết một số thông tin về hai sự vụ này.
” Đức Giáo Hoàng từ nhiệm một cách “bất ngờ” và Giáo hội đang đánh giá xem xét các điều kiện cụ thể để có thể chuẩn bị tổ chức một cách “đúng thời đúng lúc” Mật nghị Hồng y (conclave) để bầu ra Đức Giáo Hoàng mới.
Trong những thời khắc “nhậy cảm” như thế này … thì mấy hôm nay các mạng truyền thông đăng tải hai tin quan trọng, bề ngoài thì hình như hai tin nói trên không có dính líu với nhau … nhưng cùng một thời điểm mà hai tin cùng được loan đi đồng lúc cũng chưa hẳn là một sự ngẫu nhiên.
Tin thứ nhất, do chính Tòa thánh Vatican tuyên bố : Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, trước khi chính thức từ nhiệm, tức là trước 20 giờ ngày 28/02, có thể sẽ ban hành “Tự Sắc” (ngôn từ của giáo hội bằng tiếng latin là “Motu Proprio”) để xác định một số điểm trong quy luật bầu cử Đức Giáo Hoàng lần này, lý do là bởi vì đây là lần đầu tiên Giáo hội sẽ tiến hành Mật nghị hồng y mà các Hồng y cử tri sẽ không phải chịu tang ai cả, và vì do không phải chịu tang (thường là 9 ngày trước khi khai mạc Mật nghị), do đó có thể Mật nghị sẽ được khai mạc sớm hơn.
Tin thứ hai, do các mạng truyền thông đăng tải: ngày 17/12/2012 vừa qua, Benedicto XVI đã nhận được một hồ sơ mật, gọi là “Relationem”, kết quả của cuộc điều tra về vụ việc “Vatileaks” trong đó tư liệu mật của Vatican bị tẩu tán ra ngoài, vụ việc mà hồi tháng 5 trước đó chính người quản gia hầu cận của Benedicto XVI bị bắt và kết án “nội gián”. Hồ sơ là kết quả điều tra của nhóm của Hồng y Julian Herranz, người được chính Benedicto XVI đề cử điều tra những tình tiết trong vụ Vatileaks.

Hồng Y Julian Herranz. Ảnh: Marco Longari/AFP/Getty Images
Theo tin các báo thì hồ sơ mật nói trên có nói đến những đấu đá giữa các phe phái trong nội bộ Giáo triều. Để bảo vệ quyền lực, nhất là quyền lực kinh tế tài chánh, các phe phái nói trên đã gây áp lực lên một số nhân vật cao cấp trong hàng giáo phẩm hay trong giới lãnh đạo các cơ quan quyền lực kinh tế của Tòa thánh. Vẫn theo báo chí thì thậm chí các áp lực này cũng dựa lên những tin mật về đời sống riêng tư hay những quan hệ tính dục không chuẩn của một số “chức sắc trong hàng giáo phẩm”.
Theo tin báo chí thì Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI đã cất kín hồ sơ mật nói trên trong két sắt của văn phòng làm việc của Giáo chủ với chủ tâm là sẽ giao toàn bộ hồ sơ nói trên cho người kế nhiệm để giải quyết những bất cập ghi trong hồ sơ.
Một số người am tường về thế giới Vatican đánh giá rằng ý định ban hành “Tự Sắc” của Benedicto XVI là để nhanh chóng tiến hành khai mạc Mật nghị Hồng y, đốt cháy tất cả các giai đoạn chuẩn bị để tranh giành quyền lực giữa các phe phái mà chính Đức Giáo Hoàng đã đọc trong “Relationem” đã nói trên. ”

nguồn http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20130222-bao-chi-y-dua-tin-ve-vu-benedicto-xvi-co-y-dinh-ban-hanh-%E2%80%9Ctu-sac%E2%80%9D-va-ho-so-mat-ve-v

Advertisements

Lời đồn chấn động về nguyên nhân Giáo hoàng thoái vị

Lời đồn chấn động về nguyên nhân Giáo hoàng thoái vị
23/02/2013 3:55
ScreenHunter_05 Feb. 23 09.16

Báo giới Ý tung ra đồn đoán gây rúng động dư luận về “nguyên nhân thật sự” dẫn đến lý do thoái vị của Giáo hoàng Benedict XVI.
Sau khi Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố rời cương vị “vì lý do sức khỏe” vào ngày 11.2, nhiều giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến quyết định này nhanh chóng được đưa ra.
Hôm qua, nhật báo lớn nhất Ý là La Repubblica tung ra “một quả bom” khi cho rằng bê bối liên quan đến một nhóm giáo chức đồng tính là “giọt nước tràn ly” khiến Giáo hoàng quyết dứt áo ra đi.
Hồi năm ngoái, thế giới xôn xao vì vụ rò rỉ hàng ngàn trang tài liệu mật của tòa thánh cáo buộc sự quản lý yếu kém khiến xảy ra nhiều vụ tham nhũng, trốn thuế và rửa tiền. Đến tháng 6.2012, tòa thánh chính thức công bố phụ tá thân cận nhất của Giáo hoàng là Paolo Gabriele bị bắt giữ vì tàng trữ trái phép tài liệu mật. Theo La Repubblica, Giáo hoàng Benedict XVI đã giao cho 3 vị Hồng y uy tín thực hiện cuộc điều tra quy mô về những thông tin và cáo buộc trong vụ rò rỉ nói trên. Sau đó, vào tháng 12 năm ngoái, 3 Hồng y Julian Herranz, Josef Tomko và Salvatore De Giorgi trình lên Giáo hoàng một báo cáo dày 300 trang về đấu đá nội bộ, tham nhũng và đồng tính.

Giáo hoàng Benedict XVI trong một buổi lễ tại Vatican hồi tháng 1 – Ảnh: AFP
Theo báo chí Ý, bản báo cáo nói trên cáo buộc nhiều giáo chức cấp cao tại Vatican là người đồng tính, thường xuyên “tụ họp trác táng” trong và ngoài thủ đô Rome của Ý. Các địa điểm này gồm một biệt thự bên ngoài Rome, một cửa hàng làm đẹp ở trung tâm thành phố, một ký túc xá đại học… Cần nhớ rằng đến nay, Giáo hội Công giáo La Mã vẫn không chấp nhận đồng tính và xem đây là hành động vi phạm điều răn thứ 6, tức không dâm dục. Nghiêm trọng hơn, báo cáo còn cho rằng nhiều nhân vật cấp cao “bị khống chế bởi những người tình đồng tính của mình”, dẫn đến biển thủ, tham nhũng và rửa tiền, vi phạm điều răn thứ 7 (không trộm cắp). Đặc biệt, báo cáo đào sâu về những giao dịch đáng ngờ tại Ngân hàng Vatican. Đến ngày 22.2 Giáo hoàng Benedict XVI bất ngờ ra lệnh thuyên chuyển cha Ettore Balestrero làm đại sứ tại Colombia. Cha Balestrero, giữ vai trò Thứ trưởng Ngoại giao của Tòa thánh, là một nhân vật cấp cao chuyên xử lý quan hệ của Ngân hàng Vatican với các đối tác. Do đó, quyết định trên được xem là một sự giáng chức nặng nề và theo tờ La Stampa, tên của ông này cũng xuất hiện trong báo cáo.
Theo nguồn tin của La Repubblica, dù tuổi cao sức yếu, Giáo hoàng Benedict XVI vẫn phải căng sức giải quyết nhiều vụ bê bối lớn của giáo hội như các cáo buộc tu sĩ lạm dụng tình dục, rò rỉ tài liệu, đấu đá nội bộ… để giữ vững niềm tin của giáo dân và thế giới. Do đó, những gì viết trong báo cáo của 3 vị Hồng y đã thực sự “hạ gục ông” và Giáo hoàng không còn đủ sức chèo lái con thuyền Vatican với nhiều sóng gió như vậy. “Ngày hôm đó, với tập hồ sơ nằm trên bàn, Giáo hoàng Benedict XVI đưa ra quyết định mà ông nghiền ngẫm từ lâu”, tờ La Repubblica viết, ý chỉ việc thoái vị. Giáo hoàng đã nghiên cứu kỹ báo cáo, ra lệnh niêm phong kỹ lưỡng để chuyển cho người kế nhiệm. Ông hy vọng giáo hoàng mới đủ bản lĩnh mang lại sự trong sạch cho Vatican. Chưa hết, theo tuần báo Panorama, các tác giả báo cáo sẽ không tham gia mật nghị Hồng y vào tháng tới để bầu tân Giáo hoàng do đã quá tuổi nhưng có thể sẽ thông báo với các Hồng y khác về những phát hiện của mình.
Tờ Guardian dẫn lời phát ngôn viên của Vatican Federico Lombardi không phủ nhận cũng không khẳng định các thông tin trên. Tuy nhiên, ông cho rằng cách diễn giải của báo chí Ý “khiến tình hình thêm căng thẳng, đi ngược lại mong muốn của Giáo hoàng và giáo hội”.
Trùng Quang
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130223/loi-don-chan-dong-ve-nguyen-nhan-giao-hoang-thoai-vi.aspx

Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố từ chức

Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố từ chức
11/02/2013 19:30
ScreenHunter_02 Feb. 23 09.09

Đức Giáo hoàng Benedict XVI – Ảnh: Reuters
(TNO) Ngày 11.2, Đức Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố ông sẽ từ chức vào ngày 28.2 bởi vì không đủ sức khỏe để đảm đương chức vụ.
Đức Giáo hoàng tuyên bố quyết định từ nhiệm bằng tiếng Latin trong một cuộc họp tại Vatican, theo tin tức từ AFP.
“Sau nhiều lần xem xét lương tâm chính mình trước Chúa, tôi chắc chắn rằng sức khỏe tôi đã yếu đi do tuổi tác nên không còn phù hợp để đảm nhiệm chức vụ được ủy thác”, Giáo hoàng Benedict XVI phát biểu trong cuộc họp .
Giáo hoàng Benedict XVI cho biết quyết định từ chức của ông là một quyết định rất quan trọng cho tòa thánh Vatican. Tòa thánh Vatican khẳng định quyết định từ chức của giáo hoàng là tự nguyện do sức khỏe.
Vị Hồng y người Đức Joseph Ratzinger chuyên về thần học trở thành Giáo hoàng Benedict XVI hồi tháng 4.2005, sau khi Giáo hoàng John Paul II qua đời.
Giáo hoàng Benedict XVI từng hé lộ trong một quyển sách hồi xuất bản 2010 rằng ông sẽ từ chức vì không thể đảm đương chức vụ này nữa.
Tòa thánh Vatican cho biết quyết định từ chức sẽ khiến vị trí Giáo hoàng bị bỏ trống cho tới khi một vị tân giáo hoàng được bầu chọn, dự kiến vào tháng 3.2013 tới.
Trong lịch sử Công giáo, chỉ có Giáo hoàng Celestine V từ chức vào năm 1296 vài tháng trước khi nhậm chức vì lý do sức khỏe và muốn có một sống đơn giản hơn.
Theo tờ Telegraph, sức khỏe của Giáo hoàng Benedict XVI có phần giảm sút đi nhiều kể từ khi bị đột quỵ hồi năm 1991. Kể từ 8.2006, ông thường xuyên đi khám bệnh tim, và từng nhập viện cấp cứu do té ngã và gãy cổ tay.
Hồi lễ Phục sinh năm 2012, báo chí thế giới nhận định rằng Giáo hoàng Benedict XVI trông rất mệt mỏi do chuyến công du kéo dài đến Mexico và Cuba.
Anh trai của Giáo hoàng Benedict XVI, ông Georg Ratzinger (89 tuổi), cho biết em trai ông được bác sĩ khuyên không nên công du nước ngoài và cân nhắc việc từ chức từ nhiều tháng trước.
Ông Georg Ratzinger cho biết thêm Giáo hoàng Benedict XVI đã gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại và việc từ chức của ông cũng chỉ là một phần của tự nhiên, “ở tuổi này em trai tôi cần được nghỉ ngơi”.
Hồi tối qua 10.2, theo AFP, bác sĩ cho biết Giáo hoàng Benedict XVI không còn đủ sức khỏe để công du nước ngoài, và đây cũng chính là thời điểm ông bắt đầu nghĩ đến việc từ chức.

Giáo hoàng Benedict XVI xuất hiện trước công chúng tại ban công Tòa thánh Vatican ngày 19.5.2005 sau khi nhậm chức – Ảnh: Reuters

Bản thông cáo của Vatican bằng tiếng Latin về việc Giáo hoàng Benedict XVI sẽ từ chức, công bố ngày 11.2.2013 – Ảnh: Reuters
Các lãnh đạo thế giới đã gửi công điện đến Tòa thánh Vatican bày tỏ lòng tôn kính đối với Giáo hoàng Benedict XVI khi đưa ra một quyết định từ chức khó khăn.
Tổng thống Pháp Francois Hollande, Thủ tướng Đức Angela Merkel đều cho rằng quyết định của Giáo hoàng Benedict XVI là “đáng kính trọng”, và bày tỏ lòng kính trọng ông trong 8 năm lãnh đạo Vatican.
Thủ tướng Ý Mario Monti cho biết ông hoàn toàn sốc khi nghe tin Giáo hoàng Benedict XVI từ chức.
Roma ngỡ ngàng vì lời tuyên bố từ chức của Giáo hoàng Benedict XVI
Theo Đài Vatican, trong công nghị lúc 11 giờ sáng hôm nay, 11.2, trước sự hiện diện của các Hồng y và giám mục, Giáo hoàng Benedict XVI tuyên bố:
”Sau khi nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi tới sự chắc chắn rằng sức lực của tôi, vì tuổi cao, không còn thích hợp nữa để thi hành sứ vụ Phêrô một cách thích đáng nữa. Tôi ý thức rõ sứ vụ này, do yếu tính thiêng liêng, phải được chu toàn không những bằng hoạt động và bằng lời nói, những còn bằng đau khổ và cầu nguyện. Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, đang chịu những biến chuyển mau lẹ và bị dao động vì những vấn đề có tầm quan trọng lớn đối với đời sống đức tin, để cai quản con thuyền của Thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, cần có nghị lực cả thể xác lẫn tâm hồn, nghị lực mà trong những tháng gần đây bị suy giảm nơi tôi đến độ tôi phải nhìn nhận mình không có khả năng thi hành tốt sứ mạng đã được trao phó cho tôi. Vì thế, với ý thức rõ ràng về hành vi hệ trọng này, với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô, được ủy thác cho tôi do tay các Hồng y ngày 19.4.2005, để từ ngày 28.2.2013 sắp tới, Tòa Roma, Tòa Thánh Phêrô sẽ trống tòa từ lúc 20 giờ và những ai có thẩm quyền cần phải triệu tập Mật nghị Hồng y để bầu vị Giáo hoàng mới”.
Cũng theo Đài Vatican, Giáo triều Roma ngỡ ngàng vì lời tuyên bố từ chức của Đức Giáo hoàng Benedict XVI. Trong cuộc họp báo trưa ngày 11.2, cha Lombardi cho biết sau khi Tòa Thánh bắt đầu trống tòa, tức là từ 20 giờ ngày 28.2.2013, Giáo hoàng Benedict XVI sẽ di chuyển ra dinh thự Castel Gandolfo, trong khi chờ đợi Nữ Đan viện chiêm niệm ở Nội thành Vatican được sửa chữa xong và ngài sẽ cư ngụ tại đó.
Về việc cai quản Tòa Thánh sau khi trống tòa, đã có Tông hiến được Giáo hoàng John Paul II công bố về vấn đề này. Các Hồng y sẽ được triệu tập về Roma để tiến hành việc bầu cử Giáo hoàng mới. Lần này sẽ mau lẹ hơn vì không có chương trình 9 ngày lễ an táng Đức Cố Giáo hoàng. Việc bầu cử có thể tiến hành trong tháng 3.2013 và trước lễ Phục sinh có thể Giáo hội sẽ có vị Giáo hoàng mới.
Duy Phúc
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130211/truc-tuyen-duc-giao-hoang-benedict-xvi-tuyen-bo-tu-chuc.aspx

Rượu độc, thịt bẩn tung hoành

ScreenHunter_07 Jan. 23 08.56

Rượu độc, thịt bẩn tung hoành
> Tràn lan thực phẩm có hóa chất độc hại
TP – Cồn, nước lã, phẩm màu được biến thành rượu “xịn” khiến dân nhậu nhập viện vì ngộ độc. Cùng với đó, thịt thối cộng với huyết heo, phẩm màu và hóa chất độc hại được “biến” thành đặc sản thịt đà điểu.
ScreenHunter_09 Jan. 23 09.16<
Số thịt bẩn này nếu được hóa phép sẽ thành đặc sản ở các quán nhậu. Ảnh: Lê Nguyễn.
Hầu hết rượu chứa độc chất
TS Nguyễn Đình Phú – Phó Giám đốc BV Nhân dân 115 cho biết, vừa cứu sống ô ng Trần Văn H., 46 tuổi, ở Long An, nhập viện trong tình trạng ngộ độc rượu rất nặng. Cách đây 10 ngày, ông H. lai rai với một bạn nhậu gần nhà, sau cơn say ông H. mất trí nhớ, nôn ói, khó thở và được người nhà đưa cấp cứu tại bệnh viện địa phương, sau đó chuyển lên BV Nhân dân 115.
Tại đây, các bác sĩ khẳng định ông H. bị ngộ độc rượu. Loại rượu mà ông H. uống có nguồn gốc từ lò nấu rượu thủ công gần nhà. Kết quả xét nghiệm cho thấy, nồng độ aldehyde vượt mức quy định hàng trăm lần.
“Với nồng độ cồn cao như vậy, người uống không ngộ độc mới lạ”- TS Phú nói. Cận Tết, tình trạng ngộ độc rượu phải vào cấp cứu ở các bệnh viện không còn xa lạ nữa. Tại bệnh viện cấp cứu Trưng Vương TPHCM, mới đây, các bác sĩ cấp cứu liên tiếp hai bệnh nhân ngộ độc rượu rất nặng. Khi xét nghiệm thấy nồng độ aldehyde trong máu bệnh nhân quá cao. Mang mẫu rượu bệnh nhân uống đi xét nghiệm phát hiện chất methanol và aldehyde vượt trên 60 lần.
Kết quả xét nghiệm 54 mẫu rượu không nhãn mác ở TPHCM và các tỉnh lân cận mới đây do Viện Vệ sinh Y tế Công cộng TPHCM công bố khiến nhiều người giật mình: 47 mẫu rượu chứa aldehyde vượt mức cho phép. Rượu trắng, rượu ngâm có chất aldehyde, furfurol vượt cao nhưng không thể so sánh với rượu mùi với hàm lượng aldehyde hơn mức cho phép hàng trăm lần.
Khi kiểm tra hai cơ sở rượu ngâm và rượu mùi ở quận Bình Thạnh, huyện Hóc Môn, Chi cục Quản lý thị trường TPHCM thu giữ hơn 3.000 chai rượu các loại không có giấy phép sản xuất. Số rượu này, chế bằng cách dùng rượu trắng pha cồn công nghiệp, phẩm màu để ra rượu thuốc, rượu mùi. Không chỉ rượu thủ công, kết quả kiểm nghiệm của Viện Vệ sinh y tế Công cộng TPHCM cũng cho thấy rượu xịn, mác ngoại cũng chứa hàm lượng aldehyde rất cao.
Khi xét nghiệm rượu mùi brandy extra XO Leopold 39%vol, phát hiện hàm lượng aldehyde lên mức 230,15mg/l. Kết quả kiểm nghiệm nước cốt rượu brandy Solera Reserva 38% cũng cho thấy lượng aldehyde lên tới 286,81mg/l. Cả hai loại rượu này đều vượt so với quy định hàng chục lần.
ScreenHunter_08 Jan. 23 09.06
Tràn lan rượu tự chế đầy độc chất. Ảnh L.N.
Thịt đà điểu đểu, chim giả
Khi ập vào Cơ sở sản xuất thực phẩm Tấn Phát ở 460/6/9 hương lộ 2, Bình Trị Đông, Bình Tân, TPHCM mới đây, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm và môi trường (PC49) Công an TPHCM phát hiện công nghệ lên đời các loại thịt bẩn thành đặc sản rất tinh vi và mất vệ sinh.
Tại cơ sở này, nhiều công nhân thu gom thịt heo nái, thịt thối và thịt trăn giá bèo về để chế biến thịt đặc sản. Một công nhân cho biết, thịt heo nái trộn với thịt trăn và phẩm màu hòa cùng huyết heo sẽ cho ra đời… thịt đà điểu. Số thịt này sau đó được đưa đi cung cấp cho các nhà hàng có tiếng ở TPHCM.
Chủ cơ sở Tấn Phát khai nhận, sau khi mua thịt trăn về, nhân viên của cơ sở trộn thịt trăn với oxy già làm cho thịt trắng tinh. Riêng thịt heo nái, cơ sở này lọc hết mỡ rồi trộn phẩm màu công nghiệp màu đỏ, sau đó ướp với huyết heo. Khi thịt ráo nước chúng được đưa vào bịch hút chân không và khi chế biến sẽ có vị dai như thịt đà điểu.
Bà Đặng Thị Tuyết – Trưởng trạm kiểm dịch động vật Thủ Đức cho biết, vừa phát hiện một lượng lớn thịt heo nái xề làm giả thịt heo rừng vận chuyển từ một tỉnh miền Bắc vào TPHCM tiêu thụ. Theo bà Tuyết, do quan niệm đầu năm ăn thịt heo rừng gặp may, lợi dụng cơ hội này các đầu nậu bắt đầu dùng công nghệ biến thịt heo nái thành thịt rừng.
“Bằng cách mua thịt heo nái sau đó dùng khò đốt da rồi dùng súng bắn lông 3 chấu vào miếng thịt vừa khò biến thịt lợn nái thành thịt rừng” – bà Tuyết cho biết.
Không chỉ thịt rừng ở các nhà hàng hiện nay hầu hết là thịt đểu, ngay cả thịt cá sấu cũng bị làm giả từ thịt heo thối. Mới đây, Trạm thú y huyện Bình Chánh phát hiện một cơ sở giết mổ ở huyện này đã mua thịt heo bệnh, heo không nguồn gốc về, ngâm tẩm bằng sunfua dioxit để làm cho thịt đã tái nhợt thành đỏ tươi. Sau khi biến thịt thối thành thịt sậm đỏ, cơ sở này đóng vào gói với tên gọi thịt đà điểu.
Ngày 9-1, khi chạy ra đường dẫn lên cầu Phú Mỹ ở quận 2 mua thịt chim về làm mồi nhậu, anh M. ở quận 8 cho biết đã gặp phải thịt chim giả. “Mua 10 con chim chàng nghịch với giá 650.000 đồng về làm thịt, khi mổ bụng thì tôi mới phát hiện toàn là chim cút đã ươn thối” – anh M. nói.
Theo khảo sát của Chi cục kiểm lâm TPHCM, các điểm bán chim hiện nay hầu hết là chim giả. Đa số là chim cút sau khi được vặt lông, khò cho cháy, bôi phẩm màu vàng để giả các loại chim quý.
Lê Nguyễn
http://www.tienphong.vn/xa-hoi/564596/Ruou-doc-thit-ban-tung-hoanh-tpp.html

Thần chết mang tên men rượu độc

Thần chết mang tên men rượu độc
> Rượu độc, thịt bẩn tung hoành
TP – Một ngày có hàng chục nghìn lít rượu được dân nhậu tiêu thụ. Ít ai biết được trong số rượu ấy được nấu từ những loại men độc hại. Trong vai người đi học nấu rượu, chúng tôi mục sở thị công nghệ chế “đặc sản” rượu đế độc hại.
ScreenHunter_05 Jan. 23 08.56
Men Trung Quốc bán tràn lan ở chợ, giúp rượu tăng độ nặng và nấu được nhiều rượu hơn. Ảnh: L.N .
Ma trận men rượu
Nhờ một người bạn ở Long An giới thiệu, chúng tôi được các lò rượu nổi tiếng ở đây nhận vào học nấu rượu đặc sản Gò Đen. Khi ghé đến lò nấu rượu Ngọc Hiếu (ấp 2, xã Mỹ Yên, huyện Bến Lức, Long An), ông chủ Nguyễn Thanh Hiếu 41 tuổi, niềm nở đưa ra 3 loại rượu nhà nấu, rượu gạo trắng, nếp than và chuối hột mời chúng tôi uống thử.
“Nói là rượu Gò Đen nhưng thực ra giờ chỉ còn cái thương hiệu thôi, chứ cách nấu và chất lượng rượu đã công nghiệp hết rồi chú ạ”- chủ lò rượu này không giấu diếm. Gia đình anh Hiếu nấu rượu đã hơn 30 năm nay.
“Trước kia nấu rượu phải qua mấy công đoạn gồm nấu gạo thành cơm, phơi cho cơm nguội rồi ủ bằng men. 3 – 4 ngày sau khi cơm đã lên men thì cho vào thùng đổ nước và 7 ngày sau cho vào lò chưng cất, mỗi ngày chỉ có thể nấu được 2 nồi. Nhưng giờ nhờ men Trung Quốc nên giảm nhiều công đoạn. Chỉ cần 3 ngày là đã có rượu”- ông chủ này cho biết.
ScreenHunter_06 Jan. 23 08.56
Khu nấu rượu của Đức tại Bình Dương hết sức mất vệ sinh. Ảnh: G.H.
Để tạo ra hàng nghìn lít rượu Gò Đen nổi danh một thời, giờ đây hầu hết các chủ lò rượu ở Bến Lức đều dùng các loại men hoặc hương liệu từ Trung Quốc để rượu “nặng đô”.
Khi đến chợ Bình Tây quận 6, TPHCM hỏi mua men Trung Quốc chủ các sạp bán men ở cổng số 3 của khu chợ cho biết có nhiều loại với giá khác nhau. Men Trung Quốc màu trắng được vo nhỏ như những quả trứng chim cút, giá 10.000 đồng/bịch 100 viên, còn men bột được đóng trong bao nilon, ngoài ghi chi chít chữ Trung Quốc bán sĩ 50 gói 500gr có giá 120.000 đồng. Chủ cửa hàng bán men 152, cho biết: “Hồi trước có bán men nước của Trung Quốc nhưng mới đây nghe tin có ngộ độc chết người nên tui tạm ngưng bán”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, men mà dân nấu rượu Bến Lức hiện nay đang dùng chủ yếu lấy từ 3 mối chính, những mối này mang tận các lò để bỏ gồm men cục truyền thống cho rượu cơm và men bột của Trung Quốc.
Biết được tay bỏ mối men có thị phần lớn nhất ở đây tên Nhất, chúng tôi tìm đến cửa hàng của Nhất tại chợ Bình Chánh, huyện Bình Chánh -TPHCM.
Nhà phân phối này đưa ra 3 loại men khác nhau với lời giới thiệu men cục truyền thống, men bột Trung Quốc và loại men nước cũng của Trung Quốc kèm theo thông tin 80% dân nấu rượu đã dùng men Trung Quốc này vì “rượu rất ngon”.
Tỉnh Bình Dương, thị trường tiêu thụ rượu gạo lớn hơn TPHCM mà đối tượng chủ yếu là công nhân. Cơ sở nấu rượu của anh Trần Văn Đức thuộc xóm Nghèo, thị xã Dĩ An, Bình Dương chuyên cung cấp 100 lít rượu mỗi ngày cho các quán cóc, tại Dĩ An, Thủ Đức.
Cầm trên tay gói men nước của Trung Quốc, ông chủ 31 tuổi quê Nam Định cho biết: “Loại men này mới, chỉ cần hòa 100gr với 20 lít nước rồi cho 10kg gạo vào 2 ngày sau mang ra nấu. Rượu đạt độ cồn cao. Đức thừa nhận men Trung Quốc rất độc nên không thể pha trộn quá tay. Nếu nấu men Bắc thì 10kg chỉ được 10 lít rượu nhưng loại này được tới 15 lít”.
Men truyền thống luôn có dạng cục, nhưng men Trung Quốc chỉ có thể là bột và nước. Men truyền thống thơm vị riềng nhưng men Trung Quốc rất hắc và khó ngửi. “Men Trung Quốc dùng ủ sắn sẽ chuyển màu vàng, ủ cho ngô sẽ chuyển màu xanh”, Đức nói.
Vào nhà kéo nguyên bao tải loại 50kg ra với một nửa là men bột, một nửa là men nước, chủ cơ sở rượu này lấy mỗi loại 10 gói cho 100kg gạo. Đức đeo bao tay “vì nếu dùng tay không sẽ ngứa” sau đó trộn đều 100kg gạo với 10 gói men bột rồi cho vào thùng ủ và 10 gói men nước pha với 200 lít nước rồi cho 100kg gạo vào thùng ủ.
Chưa chết mới lạ
Chỉ cần 3 tiếng nấu rượu, chủ lò rượu Đức đã nấu được 150 lít rượu loại dùng men nước. Sau khi rượu nguội, Đức dùng túi siêu lọc lọc rượu đục ra từng can 30lít trong vắt như nước lọc.
Khi hỏi Đức đã thấy ai bị ngộ độc khi uống rượu được nấu từ loại men nước này chưa? Đức vừa cười vừa nói: “Đã uống là ngộ độc chứ sao, đau đầu, ói mửa… là ngộ độc nhẹ, chết là nặng. Quan trọng là hàm lượng men”.
ScreenHunter_07 Jan. 23 08.56
Lọc rượu trước khi chế. Ảnh: G.H.
Khu nấu rượu của gia đình ông Hiển ở Long An chỉ rộng 15m2 nhưng có tới 3 nồi nấu rượu. Bên cạnh đó là khu nuôi lợn bốc mùi hôi thối, chất thải được cơ sở này đổ hết xuống ao, nước ao lại lấy để làm nước ủ rượu.
Cầm xô nước ra ao múc thứ nước đen ngòm và hôi mùi chất thải của lợn, ông Hiển đổ vào thùng rượu đang ủ bằng men bột Trung Quốc trước sự chứng kiến của chúng tôi.
“Loại rượu này chủ yếu tiêu thụ cho giới công nhân, hay những điểm bán lẻ, những quán nhậu ven đường ở Sài Gòn và quanh đây. Còn những nhà hàng thì họ đặt rượu gạo nấu và dùng men truyền thống nhưng giá cao hơn”.
Theo tìm hiểu, giá chung của các lò rượu tại đây bán ra, gạo trắng là 15.000đ/lít, nếp than 22.000đ/lít và chuối hột là 18.000đ/lít. Còn rượu nấu cho nhà hàng thì giá cao hơn 5.000-7.000 đồng/lít.
Lò rượu của anh Thân cách lò rượu Ngọc Hiển 3 căn nhà. Lò rượu này có lương tâm hơn khi gạo được nấu thành cơm, phơi ra bạt ngoài sân cho nguội cũng như “chiêu đãi” ruồi và gà chơi đùa rồi mới trộn men để ủ.
“Rượu nấu xong một phần bán ở ngoài quốc lộ 1, còn lại thì cho người đi bỏ mối Sài Gòn. Nhà tôi nhỏ chỉ nấu có 2 nồi, mỗi ngày sản xuất hơn 100 lít thôi”. Người đàn ông 32 tuổi, chân tay đầy bùn đất vì mới ra ruộng phun thuốc sâu về không cần rửa chân tay cứ thế ủ rượu nói.
Anh Phạm Văn Thái chủ lò rượu khá nổi tiếng ở chợ đầu mối Hóc Môn, TPHCM, nói: Ngộ độc rượu gây tử vong hàng loạt vừa qua là do người nấu rượu cho quá chất men.
“Nếu cho men vừa phải uống cũng bị ngộ độc nhẹ rồi, chứ đằng này đã dùng men Trung Quốc nhưng lại cho vào “quá tay” không ngộ độc gây chết mới lạ”- anh Thái khẳng định.
(Còn nữa)
Lê Nguyễn – Gia Huy
http://www.tienphong.vn/xa-hoi/599724/Than-chet-mang-ten-men-ruou-doc-tpp.html

Scratch – Bài 43 : Trò chơi ráp hinh 3 – Bài 44 : Trò chơi ráp hình 4

Bài 43 : Trò chơi ráp hinh 3
Download tài liệu liên hệ của Bài 42
Echip 222
http://www.mediafire.com/view/?yjbsbbo9z44e7v2

Bài 44 : Trò chơi ráp hình 4
Download tài liệu liên hệ của Bài 42
Echip 223
http://www.mediafire.com/view/?7ujhb63ns8boq73

Bài 40 – Bài 41 – Bài 42 : Hướng dẩn lập trình Scratch

Bài 40 : Trò Chơi cây Giáng Sinh 3
Echip 219
Download tài liệu liên hệ của Bài 40
http://www.mediafire.com/view/?8aup9n6fdm1ut1k
http://www.mediafire.com/?8d24794tj493obp
http://www.mediafire.com/?tv2zau32yjt5b5a
Bài 41 : Trò chơi ráp hình 1
Echip 220
Download tài liệu liên hệ của Bài 41
http://www.mediafire.com/?bc49wb7ab76b675
Bài 42 : Trò chơi ráp hình 2
Download tài liệu liên hệ của Bài 42
Echip 221
http://www.mediafire.com/?ct2e93wl92reg96

Thich Phuoc Hue (1912-2012): Leader advocated social harmony

Thich Phuoc Hue (1912-2012): Leader advocated social harmony
Tuong Quang Luu
February 18, 2012
When Tran Van Canh was accepted into a monastery as a teenage novice, he could not have anticipated that one day he would become one of the most influential Buddhist leaders in both his country of birth and his country of resettlement.
He became the Most Venerable Thich Phuoc Hue (Thich is an honorary family name used by Vietnamese monks and nuns) and completed a full life-cycle accentuated by both challenges and achievements in wartime Vietnam and peace-time multicultural Australia.
Tran was born in 1921, although his birth wasn’t registered until the following year so often appears as 1922, in the farming village of My Thuy, near Saigon. He learnt about Buddhism at the local temple and, at 13, renounced life. At 16, he became a novice priest and by 20 was ordained. He enjoyed teaching novices and lay people but his talents were spotted and, in the early 1960s, he was taken to Saigon to join the leadership group of the national Buddhist clergy.
He became a commissioner on the executive committee of the Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV), which was threatened, and later banned, by the new communist authorities after the fall of Saigon. In 1979, he decided to leave his home for religious freedom and ended up as a refugee in a Hong Kong camp.
Thich Phuoc Hue, 1921-2012

Peace and understanding … the Most Venerable Thich Phuoc Hue at Wetherill Park.
In Australia, tens of thousands of Vietnamese asylum seekers were being resettled from camps in south-east Asia. In 1976, there were only 2427 Vietnamese residents in Australia but by 1981, there were more than 41,000 – the majority buddhists in Thich’s Mahayana tradition.
Thich’s migration was sponsored by a group of Vietnamese-Australian Buddhists and in 1980 he became the first resident monk of Vietnamese background in Australia. On November 1, 1980, he opened a Vietnamese Buddhist hall of prayer in Fairfield.
With the support of the Vietnamese-Australian community and the state government, the hall of prayer grew into the Phuoc Hue Temple, now in Wetherill Park.
The temple was the original seat of the United Vietnamese Buddhist Congregation in Australia-New Zealand (UVBC). Thich, with the Most Venerable Thich Huyen Ton and the Most Venerable Thich Bao Lac, set up the first national structure, the Vietnamese Buddhist Federation (Tong Hoi), in 1981. It was renamed the Congregation (Giao Hoi) in 1987. Thich was the UVBC’s longest-serving president and in recognition of his contributions, was awarded a Medal of the Order of Australia in 1995.
Thich was a strong advocate for community harmony and social cohesiveness. Prince Charles went to the temple during his 1994 visit to meet Christian, Muslim, Jewish, Hindu and Buddhist leaders.
On a broader basis, and in his capacity as a senior executive of the World Buddhist Sangha Council, in 2001 Thich and the UVBC organised, in Sydney, the first executive conference of the Seventh World Buddhist Sangha Council Congress and the third world general conference of the World Buddhist Sangha Council Youth Committee, for people of all backgrounds to learn about buddhism.
Thich also advocated harmony among nations, which he expressed as president of the Buddhist Federation of Australia at the first International Dialogue on Interfaith Co-operation, in Yogyakarta in 2004.
A few years ago, ill health forced Thich to step down from his presidency of the UVBC and BFA. He was succeeded, respectively, by Senior Venerable Thich Phuoc Tan, who came to Australia as a Vietnamese refugee minor in the early 1980s and is abbot of the Quang Minh temple in Melbourne, and by the Most Venerable Sudhammo, who came from Thailand and is president of the Dhammakaya International Society of Australia Inc.
Thich achieved a lot in his efforts to rebuild Vietnamese buddhism as part of the fabric of, and a contributor to, multicultural Australia. There remained, however, one piece of unfinished business. His aspiration to set up a Vietnamese Buddhist Studies Institute in Australia was unfulfilled at the time of his death.
Tuong Quang Luu
This story was found at: http://www.smh.com.au/national/obituaries/leader-advocated-social-harmony-20120217-1teeh.html

TÁC HẠI CỦA TÂY DU KÝ – Cư sĩ Tuệ Đăng

TÁC HẠI CỦA TÂY DU KÝ
Cư sĩ Tuệ Đăng

Có câu hỏi như sau:
“Trong lễ Hồng Danh Sám Hối, chúng tôi niệm danh hiệu “Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật”. Theo truyện Tây Du, sau khi cùng với Sư Phụ là thày Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh, ngài Tôn Ngộ Không được phong là Đấu Chiên Thắng Phật. Vậy Đấu Chiến Thắng Phật Tôn Ngộ Không này có phải chính là vị Phật trong kinh Hồng Danh Sám Hối không?”
Đây là một câu hỏi rất đặc biệt. Nhân câu hỏi này, chúng ta sẽ có dịp thảo luận về một đề tài gây nhiều hiểu lầm trải dài nhiều thế kỷ và lan rộng tại nhiều vùng địa danh trên thế giới.
Thật vậy, tác phẩm Tây Du K‎ý đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Việt ngữ, Nhật ngữ, Thái ngữ, Anh ngữ, Pháp ngữ vân vân … và đã được nhiều đạo diễn dựng thành kịch bản, thành phim điện ảnh, do đó, nội dung Tây Du K‎‎ý đã tạo dấu ấn vào tâm tư của nhiều thế hệ và nhiều tầng lớp người thưởng ngoạn. Vì thế, chúng ta rất nên tìm hiểu coi dấu ấn và ảnh hưởng của cuốn sách này tác động vào tâm tư độc giả là tốt hay xấu và có lợi hay có hại cho người đọc.
Vậy Tây Du K‎ý‎ là gì?
Đó là tên cuốn truyện do tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác, chỉ dựa vào một chi tiết có thật độc nhất là «Tam Tạng pháp sư Huyền Trang được vua nhà Đường nước Trung Hoa cử sang Tây Trúc (tức là Ấn Độ) thỉnh kinh ». Từ chi tiết có thật đó, tác giả đã viết ra một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, xúc phạm sự tôn nghiêm của đức Phật, hạ thấp phẩm cách chư đại đệ tử Phật và nhất là bôi nhọ pháp sư Huyền Trang, khiến cho độc giả mất thiện cảm với giới tu hành nhà Phật, cản trở con đường tìm hiểu và tu tập theo Phật pháp một cách nghiêm túc.
Nếu tác giả dùng thể tiểu thuyết để hư cấu một câu chuyện thì không có gì đáng nói vì độc giả sẽ coi như đó chỉ là cuốn tiểu thuyết giả tưởng để giải trí. Nhưng vì ông dùng thể k‎ý sự và lạm dụng tên nhân vật chính cùng với câu chuyện có thật là “Đường Tam Tạng thỉnh kinh tại Tây Trúc” trong sáng tác của ông, nên đã tạo ấn tượng vào tâm trí độc giả rằng đây là chuyện đã thật sự xảy ra, khiến cho có những người đã dùng cuốn Tây Du K‎‎ý như tài liệu để học tập, thảo luận, thậm chí có người đã viết thành những cuốn sách bình luận, ca ngợi vai trò của những con khỉ Tôn, con heo Trư trong truyện Tây Du, cố tình gán ghép triết l‎‎ý kiểu «gọt chân cho vừa giầy», gán cho cuốn sách những tư tưởng cao siêu một cách hoang đường đề cao hành động của mấy con vật hư cấu trong khi xóa tan công đức cao cả vĩ đại của ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang.
Cũng vì sự xuyên tạc này của cuốn Tây Du K‎ý‎ và sự suy tôn cuốn sách một cách vô trách nhiệm của một số người khiến đã nảy sinh những hiểu lầm, đưa tới giảm thiểu sự tôn kính Phật tổ Như Lai và chư Đại Đệ Tử, đồng thời cũng hiểu lầm luôn cả giáo l‎ý‎ nhà Phật cùng với lịch sử Phật giáo.
Cũng xin thưa rằng từ ngữ “pháp sư” trong nhà Phật có nghĩa là thày dạy Phật pháp, Tam Tạng Pháp Sư là vị thày thông suốt ba kho sách nhà Phật là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng, không phải là ông thầy có pháp thuật, bày đàn bát quái cúng kiếng quỷ thần, hô gió gọi mưa.
Trước hết, xin tóm tắt nội dung cuộc thỉnh kinh trong thực tế, đã được Tam Tạng pháp sư Huyền Trang ghi lại thành bộ sách “Đại Đường Tây Vực Ký”. Bộ sách này được hòa thượng Thích Như Điển dịch ra Việt ngữ, với lời đề tựa như sau:
“Bộ Đại Đường Tây Vực Ký này sở dĩ chúng tôi dịch trước vì nghĩ rằng chính đây là tấm bản đồ đầy đủ nhất, chi ly nhất mà đương thời từ năm 628 đến năm 645 tại Ấn Độ và Trung Hoa chưa có một người nào viết được một bộ Sử Phật Giáo như thế. Đây là kết quả của 17 năm trường mà Ngài Huyền Trang đã ở tại Ấn Độ. Đi đến đâu Ngài cũng ghi lại từ khí hậu, phong thổ cho đến tập quán và nhất là những câu chuyện liên quan đến cuộc đời đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát, A La Hán.
Số nước mà Ngài đã đi qua là 110, ngày nay chúng ta có thể gọi là những tiểu bang, vì ngày xưa mỗi một vùng có một ông Vua nhỏ, hoặc tù trưởng đứng đầu. Còn ngày nay, Ấn Độ chỉ còn một nước mà thôi. Chung quanh đó có một số nước, ngoài Ấn Độ như Ba Tư, Kasmir, Tân Cương v.v… là những nước lớn ta có thể kể riêng. Nhưng tựu chung chỉ đi bộ và dùng voi ngựa mà vượt qua được những chặng đường dài gần 50 ngàn dặm ấy thì quả thật thế gian nầy chỉ có một không hai.
Nhờ bản đồ hành hương của Ngài qua truyện Đại Đường Tây Vực Ký này mà những học giả, những nhà Khảo Cổ người Âu Châu mới tìm đến Ấn Độ để xác nhận, tìm kiếm những di tích ấy vào cuối thế kỷ thứ 18 và cho đến nay thì bốn Thánh Địa căn bản của đức Phật từ khi Đản Sinh cho đến khi Thành Đạo, Thuyết Pháp lần đầu tiên và thị tịch Đại Bát Niết Bàn đã rõ ràng. Bây giờ các nhà Khảo Cổ người Nhật Bản vẫn còn đang tiếp tục tìm kiếm các di tích cũ ngày xưa cách đây trên 2500 năm về trước. Tất cả đều nhờ vào công đức của Ngài Huyền Trang đã vẽ cho chúng ta một tấm bản đồ cách đây 1375 năm. Đây là tấm bản đồ cũ nhất trong tất cả những tấm bản đồ của thế giới hiện nay”.
Trên đây là lời xác nhận của hòa thượng Thích Như Điển về công trình thỉnh kinh của ngài Đường Tam Tạng.
Ngoài ra, trong cuốn “Con Ngựa Già của Đường Tam Tạng”, nhà khảo cổ Vương Hồng Sển cũng viết như sau:
“Thực sự, Tây Du diễn nghĩa là một bộ truyện thần thoại, hầu hết sự kiện, tình tiết đều là bịa đặt. Nhưng chuyện thầy Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đi từ Ðông Ðộ qua thỉnh kinh tại Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau TL) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm bề tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.
Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Ðộ. Ði từ năm 629 mãi đến năm 645 (thế kỷ thứ 7 sau Tây Lịch) mới về đến thành Trường An (Trung Quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Ðại Ðường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ. Khi về, ông đã mang về:
– 150 viên xá lợi (tinh cốt của Như Lai).
– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước
– 3 tượng Phật bằng đàn hương : cao 3 thước rưỡi, 2thước 9 và 2 thước 3.
– 657 bộ kinh
– cùng một số bảo vật khác nữa, phải dùng voi, lạc đà và 24 ngựa mới chở hết.
Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Ðại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.
Sau sáu năm học tập, thày Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền.
Chẳng những là một nhà sư đạo đức, thày Huyền Trang còn là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhất là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Trúc, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường An, thầy viết lại thành bộ Ðại Ðường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán v.v. của những nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ. Ngày nay, những tài liệu của thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của thầy Huyền Trang rất là đích xác.
Từ ngày về Trường An, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã, từ năm 645 đến năm 664, thầy dịch được tất cả 75 bộ kinh, khoảng 1335 quyển từ tiếng Phạn dịch qua Hán tự, bộ Ðạo Đức Kinh và một bản dịch “Ðại Thừa Khởi Tín Luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Ðại Ðường Tây Vực ký” .
Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, thầy Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, thọ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 thi hài thầy Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận đến để tiễn đưa thầy. Ðám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này”.
Trên đây là lời xác nhận của học giả Vương Hồng Sển, nhà khảo cổ danh tiếng của miền Nam Việt Nam.
Như thế, câu chuyện ngài Tam Tạng pháp sư Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh đã thật sự xảy ra vào thời đại nhà Đường. Duy chi tiết về công cuộc thỉnh kinh gian khổ thì hoàn toàn khác hẳn với những sự mô tả trong cuốn Tây Du K‎‎ý do Ngô Thừa Ân viết.
Vì vậy, để mọi sự được minh bạch, chúng ta cùng lần giở lại trang sử Phật giáo để tìm ra nội dung chính xác về người thật việc thật, về nhân vật lịch sử Đường Tam Tạng, vị cao tăng đã một mình một ngựa từ kinh đô Tràng An nước Trung Hoa lặn lội vượt qua 50 ngàn dặm đường tới Ấn Độ thỉnh kinh. Sự việc được ghi lại rõ ràng trong cuốn Đại Đường Tây Vực K‎‎ý. Khi đó là vào thế kỷ thứ 7.
Gần một ngàn năm sau, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 16, tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác cuốn Tây Du K‎ý dựa vào một sự thật độc nhất là pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh, ngoài ra, tất cả các chi tiết thí dụ 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng cùng các hành vi huyền bí bất thường của họ đều là do tác giả hư cấu.
Chúng tôi xin lược trích ‎‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay như sau:
“… Theo Tây Du K‎ý‎‎ thì chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm đã bắt giam Tôn dưới chân núi Ngũ Hành ngót 500 năm dài và cũng chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm một lần nữa tạo ra 81 nạn cho 4 thầy trò Ðường Tăng, để rồi dẫn đến kết thúc của tác phẩm chẳng có nghĩa lý gì: ‘’Như Lai là người chủ mưu cuộc hối lộ cái “bát vàng” trước khi giao chân kinh có chữ về Ðông Thổ’’.
Trong truyện Tây Du K‎‎ý, Phật Tổ Như Lai chủ mưu cuộc hối lộ bằng cách “ném đá dấu tay,” ra lệnh cho hai tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà, những vị thánh tăng hàng đầu trong hàng đệ tử Phật, đòi “quà thông cảm” với bốn thầy trò Ðường Tăng. Ðiều đó đã làm cho ba vị đồ đệ cương trực của Ðường Tăng bất bình. Nhưng vì thấy tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà “xuống nước nhỏ” (nhưng thật chất là đánh lừa), cả ba vị đã hỷ xả mà không làm lớn chuyện! Bốn thầy trò tưởng mọi việc êm xuôi, hớn hở đem kinh về. Gần về đến Ðại Ðường thì bổng đâu chim Ðại Bàng của Phật Di-lặc cướp bay lên không, rồi sau đó bỏ xuống đất. Lúc đó, thầy trò Ðường Tăng mới vỡ lẽ ra là kinh mà họ khổ công mang về là “kinh vô tự.”
Cái gút “kinh vô tự và kinh hữu tự” mà tác giả dựng lên không mang dụng ý thiền học như nhiều người đã cố tình lý giải. Thật ra, nó nhằm tạo ra thái độ căm phẫn của độc giả đối với đức Phật và Bồ-tát, thông qua đó, bôi bác, xuyên tạc Phật giáo. Tôi cho rằng Ngô Thừa Ân đã xúc phạm một cách trịch thượng đến đức Phật, các vị Bồ-tát và các vị thánh tăng. Những điều gì mà đức Phật khuyên người ta nên từ bỏ, xa lìa thì Ngô Thừa Ân lại đem những cái đó gán lên đức Phật”.
Trên đây là ‎ ‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay.
Như chúng ta đã biết, đạo Phật xuất hiện trên đời khởi nguồn từ sự giác ngộ thực tại của đức Phật. Ngay sau khi bừng tỉnh, Ngài trực nhận ra rằng : ‘’Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có khả năng giác ngộ như Ngài’’. Từ đó cho tới suốt gần 50 năm, đến tận ngày cuối cùng trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã tận tụy đi khắp nơi để truyền dạy giáo pháp, với nguyện vọng là ‘’Mọi chúng sinh đều được giác ngộ giải thoát, đều thành Phật như Ngài.’’
Tuy nhiên, kinh nghiệm chứng đắc của Ngài là do thực tập, không phải là l‎ý‎ thuyết suông mà đạt được, cho nên nếu ai chưa từng hành trì các pháp môn tu thì sẽ thấy rất khó hiểu.
Vì thế, nhà Phật tạm thời phân sự tu tập thành 2 giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là ‘’Không làm điều xấu ác’’ và ‘’Siêng làm đều tốt lành’’. Giai đoạn tu này để chuyển hóa nghiệp xấu thành nghiệp tốt, cùng với các tôn giáo và các nền giáo dục tạo dựng một xã hội lành mạnh, bớt khổ đau, tạo cơ duyên lành cho sự tu giải thoát sau này.
Sau đó, qua giai đoạn thứ nhì là ‘’Tự thanh tịnh tâm ‎‎ý’’. Đây là lúc hành giả buông xả hết tất cả mọi bám víu vào thế gian để tiến tới giác ngộ giải thoát như đức Phật.
Hai giai đoạn tu này thuộc về hai chân l‎‎ý, là đối với chân l‎ý‎ quy ước, có phải trái, hay dở, tốt xấu tương đối với nhau thì ‘’chuyển hóa từ xấu thành tốt’’. Nhưng qua giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ‎ý‎” là giai đoạn vượt lên trên cả sự phân biệt tốt xấu, thánh phàm, hay dở, tiêu dung Tham Sân Si, gọi là cảnh giới Bất Nhị, tạm gọi là Chân L‎‎ý Tuyệt Đối, là giai đoạn tu xuất thế gian, mới chính là bản hoài của đức Phật mong mỏi cho chúng sinh đạt tới.
Như thế, hai giai đoạn tu hành rất rõ ràng. Tuy nhiên, nếu không đi sâu vào giáo l‎‎ý và hành trì của nhà Phật thì người ta có thể hiểu lầm, thí dụ cho rằng đạo Phật là “thế lưỡng phân”, hoặc cho là “đạo Phật thì phải phá chấp”. Truyền bá sự hiểu lầm như vậy sẽ gây hoang mang cho quần chúng độc giả, khiến cho có những người luôn luôn chép miệng phê phán “chấp quá, chấp quá”, cho là phải vứt bỏ những quy luật sống của xã hội thì mới là “sống Thiền”. Đó là một sự lầm lẫn rất đáng tiếc.
Thực tế, hai giai đoạn tu này có những mục tiêu khác nhau và đường lối tu cũng khác nhau, tạm ví như người họa sĩ khi mới tập vẽ cũng phải dùng thước đo để tạo ra những hình ảnh đầu tiên. Nhưng khi đã qua giai đoạn sơ đẳng, họ phải buông thước, hoàn toàn phóng bút theo cảm quan, hai giai đoạn đó không thể lẫn lộn. Hoặc em bé chưa biết đi thì phải theo quy luật, dùng xe tập đi giúp em đứng vững, khi biết đi rồi thì bỏ xe. Chưa biết đi mà bỏ xe thì em bé sẽ té ngã.
Người tu hành trong giai đoạn chuyển xấu thành tốt thì phải nghiêm chỉnh tuân theo giới luật.
Khi đã qua giai đoạn buông xả được mọi chấp trước Tham Sân Si thì mới có thể phá chấp, tự tại trong cảnh giới Bất Nhị. Đó là lúc vượt lên trên mọi quan điểm về Thánh Phàm, là lúc ‘’Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt’’ (chấm dứt nói năng, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt).
Ở trên, chúng ta đã đọc những lời minh xác của các bậc tôn túc về con người và hành trạng của vị cao tăng là Đường Tam Tạng, ai cũng đã thấy rõ con người ấy hoàn toàn không giống chút nào với Đường Tam Tạng trong Tây Du K‎ý. Và trên thực tế, không hề có 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng đi cùng, mà là ngài đi thỉnh kinh một mình‎.
Thế nhưng trong Tây Du K‎‎ý, Ngô Thừa Ân đã bôi nhọ hình ảnh vị cao tăng, thí dụ để cho tên đồ đệ hư cấu là con khỉ mắng vị Tam Tạng pháp sư (người thông suốt 3 kho Kinh, Luật và Luận) rằng ‘’ngay đến bài kinh Bát Nhã có 270 chữ nói rằng vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ‎ý‎ mà thầy cũng không nhớ’’, hoặc đưa ra hình ảnh Đường Tam Tạng rất tàn ác, đã dối trá để đánh lừa Tôn hành giả đội chiếc mũ có vòng kim cô rồi sau đó thường nghe lời gièm pha của Trư Bát Giới mà đọc “khẩn cô nhi chú” siết vòng kim cô vào đầu tên đệ tử tận tụy là Tôn hành giả khiến cho hắn đau đớn rên siết lăn lộn kinh hoàng… vân.. vân…
Đến đây, chúng ta đã thấy tất cả câu chuyện Tây Du K‎ý và các nhân vật như Tôn hành giả, Bát Giới, Sa Tăng là hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, không có trong thực tế.
Cũng xin thưa rằng câu “Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật” trong Hồng Danh Sám Hối là trích từ kinh Đại Bảo Tích, tôn xưng đức tu hành chân chính, chiến thắng được Tham Sân Si của bản thân, phá trừ được Ngã Chấp, thoát được mọi khổ não trong biển sinh tử, không liên hệ gì tới con khỉ trong câu chuyện bịa đặt Tây Du K‎ý do Ngô Thừa Ân sáng tác.
Nhà Phật không kêu gọi hành giả tu Phật chiến đấu với mọi người hoặc mọi thế lực bên ngoài mà phải luôn luôn thức tỉnh, tự thanh lọc tam độc Tham Sân Si, tự chiến đấu với bản thân để tiêu dung Bản Ngã, hóa giải lòng vị kỷ, sự thù hận và si mê.
Hoàn tất quá trình tu chứng đó là trở thành Đấu Chiến Thắng Phật.
Tuệ Đăng

Bài viết liên quan đến chủ đề:
● ĐẠI ĐƯỜNG TÂY VỨC KÝ – Pháp sư Huyền Trang – Thích Như Điển dịch
● KẾT THÚC CỦA “TÂY DU KÝ” SỰ CHỐNG LẠI ĐẠO ĐỨC – Thích Nhật Từ
● PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ HƯ VÂN – Tỳ kheo Thích Hằng Đạt dịch PHẦN V

10 vấn đề cấp thiết của Phật giáo dân tộc – Cư sĩ Hồng Quang

12:42 02/04/2011
10 vấn đề cấp thiết của Phật giáo dân tộc
(TG&DT) – Thật là một hân hạnh lớn lao cho chúng tôi hôm nay được về tham dự Đại hội kỳ V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Từ ngàn dặm xa xôi mà được về thăm quê hương đã là một điều hạnh phúc
VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO TÂY PHƯƠNG ĐỂ SUY NGHĨ VỀ

MƯỜI VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni,

Kính thưa quí vị Đại biểu và Quí khách

Thật là một hân hạnh lớn lao cho chúng tôi hôm nay được về tham dự Đại hội kỳ V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Thật vậy, từ ngàn dặm xa xôi mà được về thăm quê hương đã là một điều hạnh phúc, lại được phép trình bày một số thao thức của một người con Phật trước những người đồng đạo mà cũng là đồng bào cùng chung một ước mơ, thì thật là một cơ duyên hiếm có.

Do đó, chúng tôi xin mạo muội góp ý với Đại hội về hai chủ đề: Phần thứ nhất sẽ đề cập đếnvài nét đặc thù trong quá trình phát triển Phật giáo Tây phương, đặc biệt là tại Mỹ, để nhận diện những yếu tố nào đã làm cho Phật-Giáo nở rộ, cả phẩm lẫn lượng, trên các mảnh đất Kitô giáo và những thành trì của nền văn minh vật chất, duy lý và duy lợi nầy. Phần thứ hai, chúng tôi sẽ xin gợi ý về mười vấn đề vừa cụ thể vừa cấp thiết, vừa cho bây giờ vừa cho tương lai, mà tôi nghĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần đặc biệt quan tâm.

Dĩ nhiên ý kiến của chúng tôi thì chủ quan và còn nhiều giới hạn, nhưng chắc chắn chân thành và thiện chí, nên có điều gì sơ suất và khó nghe, xin Đại Hội niệm tình tha thứ.

PHẦN MỘT VÀI NÉT ĐẶC THÙ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO TẠI TÂY PHƯƠNG

Như chúng ta đều biết, từ quê hương của đức Phật, giáo lý của Ngài đã tỏa ra bốn hướng chính. Trong cuốn The Buddhist Handbook: The Complete Guide to Buddhist Schools, Teaching, Practice and History, 1999, USA, John Snelling, một nhà sử-học Phật-giáo Mỹ, đã dùng hai tiêu chuẩn không-thời gian và sự hình thành các tông phái để xác định quá trình phát triển Phật-Giáo trên toàn thế giới, đã mô tả bốn hướng chính đó như sau:

– Về phương Nam, Phật Pháp thấm sâu vào Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Indonesia.

– Về phương Bắc, Phật Pháp xuyên rặng Hy Mã Lạp Sơn qua Tây Tạng, Mông Cổ và Nga.

– Về phương Đông, Phật Pháp được truyền vào Việt-Nam,Trung Quốc rồi tỏa hai nhánh lên Đại Hàn, Nhật Bản và Đài Loan.

– Về phương Tây, theo con đường Tơ lụa, Phật-Pháp được truyền vào Trung Đông, các nước ven Địa Trung-Hải, và từ sau Đệ-nhất Thế-chiến, thì bắt đầu bắt rễ tại Âu-Châu.

Tuy nhiên, phải đợi đến cuối thế kỷ thứ 19, khi Phật -Giáo theo hai ngã đường tràn vào Mỹ thì quá trình phát triển của đạo Phật mới có những chuyển biến ngoạn mục và sâu sắc. Đó là khi từ lục địa châu Âu, những hiệp hội Phật-Giáo năng động như Buddhist Society of Great Britan and Ireland, Old Buddhist Community, Buddhist Publication Society, … bắt đầu phát hành những ấn phẩm diễn giảng kinh sách Phật-Giáo xuyên Đại Tây dương để xâm nhập vào miền Đông nước Mỹ. Và từ châu Á, những đợt sóng di dân từ Trung Quốc và Nhật Bản cập vào miền Tây nước Mỹ để, theo đúng truyền thống Đông Phương, lấy chính cuộc sống của mình làm chứng thực lời dạy của đức Phật, thì dân tộc Mỹ mới khám phá ra và hân hoan chào mừng Phật Pháp tuyệt vời của đấng Từ Phụ.

Tại Anh-quốc ngày nay chỉ còn 7.5 % đi lễ nhà thờ, nhưng tại Mỹ người Công-giáo và Tin-lành chiếm 56%, trong đó phần lớn bao gồm các sắc dân Châu-Á, Châu-Phi, Châu Mỹ La-tinh, giới lao-động và thợ thuyền. Tuy vậy, sau Đệ Nhị Thế Chiến và cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa các Đại-cường, thì những tác phẩm viết về tôn giáo Đông-Phương như cuốn Anh Sáng Á-châu Về Cuộc Đời Và Lời Dạy Của Đức Phật”(The Light of Asia on the Light and Teaching of Buddha) của đại thi sĩ Edwin Arnold, cuốn Khoa Học Tối Thượng Của Đức Phật (Supreme Science of the Buddha) của Egerton C. Baptist, cuốn Đạo Vật Lý (The Tao of Physics) của khoa-học gia Fritjof Capra, bộ Thiền-Luận của Suzuki, v. v. đã thấm vào tim óc của giới trí thức Tây-phương.

Phong trào nghiên cứu về tôn giáo và tín ngưỡng Á-châu nở rộ thành những đợt sóng người đến với đạo Phật, lan tràn khắp thế giới, đặc biệt là tại các nước tiên tiến như Đức, Anh, Pháp và Hoa-kỳ. Từ giới văn nghệ sĩ đến quân nhân, từ học đường đến kinh doanh. Số trí thức người Mỹ theo Phật-Giáo trong thập niên 1980 là 7 triệu, và năm 2000 là 10 triệu. Trong số những trí thức nỗi tiếng trở thành Phật-Tử có ứng cử viên tổng thống Jerry Brown, ông cũng từng là Thống-Đốc bang California, tài tử nỗi tiếng Richard Gere, Steve Seagal, danh ca Tina Turner, nhà văn Jack Kerovac, thi sĩ Allen Ginsberg. Ngay tại bộ Quốc-phòng cũng có Câu-lạc Bộ Thiền (The Pentagon Meditation Club) được thành lập từ 1976 qui tụ nhiều sĩ quan cao cấp và tướng lãnh. Theo báo Tricycle: The Buddhist Review, số mùa hè năm 1997, người sáng lập câu lạc bộ nầy là ông Ed. Winchester cho biết: câu lạc bộ có 16 vị tướng và đô-đốc hải-quân là những thiền sinh (The fact is at one point I think there were about sixteen generals and admirals who were meditators).

Tại Mỹ, năm 1966 chỉ có 3 đại-học mở phân khoa Phật Học, nhưng sau 30 năm, 1996, có đến 145 đại học, và ngày nay thì có nhiều hơn nữa. Môn sử Phật-Giáo khái quát cũng được giảng dạy trong nhiều trường Trung và Tiểu-học. Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ 20, tại Mỹ, có trên 1.500 cơ sở hoằng-pháp. Quần thể tu viện The Odiyan Monastery được xây cất trên một vùng đất rộng hơn một nghìn mẫu tây tại bang California, được xem là cơ sở vĩ đại nhất của Phật-Giáo Mỹ trong thập niên qua. Trong cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West), xuất bản năm 1994, tác giả Stephen Batchelor viết: Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tâm linh có ảnh hưởng nhiều nhất ở Tây Phương (Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movement in the West).

Tạp chí Time là một trong những tuần báo giá trị nhất của Mỹ, số ra ngày 13.10.1997, trang bìa đăng hình tài tử điện ảnh chính, Brad Pitt, đóng phim Bảy năm ở Tây Tạng”(Seven years in Tibet) với hàng tít lớn: Sự hấp dẫn của Phật-Giáo đối với Mỹ” (America’s Fascination With Buddhism). Số báo nầy có viết một bài dài 11 trang về sự phát triển Phật-Giáo tại Mỹ. Trong nhật báo Chicago Tribune, số ra ngày 16. 6. 2000, ký giả Karen Mellen tường trình về chủ đề Người Tây-phương đến với tín ngưỡng Á-châu nhiều hơn”(More Westeners are Drawn to Asian Faith), trong đó có đoạn tác giả đã mô tả: Không cần phải tìm cách thu phục hay tích cực kiếm thêm tín đồ, Phật-Giáo đang nở rộ tại tiểu bang Illinois và các tiểu bang lân cận. Trong 5 năm qua, số tín đồ Phật-Giáo tăng thêm 25 %, và mỗi năm có thêm 4 hay 5 chùa mới (Without proselytizing or actively seeking members. Buddhism is flourishing in Illinois and nearby states. Over the last five years the number of Buddhists has risen 25 percent, and four or five new temples open each year). Những buổi thuyết pháp của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma ngày nay không còn được tổ chức trong các hội trường nhỏ hẹp từ 3 đến 5 ngàn người, mà mỗi lần thuyết pháp phải được tổ chức ở các sân vận động thể thao để có thể chứa được cả trăm ngàn thính giả.

Sở dĩ người Tây-phương, nhất là người Mỹ, ngày càng theo Phật-Giáo nhiều, trước hết vì họ bị khủng khoảng niềm tin nơi những tôn giáo lâu đời của xứ sở họ. Thứ hai là với đầu óc thực nghiệm sẵn có trong nền giáo dục duy lý thực dụng và khoa học, họ khám phá thấy Phật Giáo là tôn-giáo của từ bi hỷ xả, tôn-giáo của trí-tuệ và khoa-học, một tôn giáo giải đáp được những băn khoăn thao thức của họ về con người, vũ trụ và cuộc sống trong một xã hội đầy duy lý, máy móc, bạo động và bấn loạn tâm linh mà họ phải đối diện hàng ngày. Vì thế, thiên tài khoa học Albert Einstein, người Mỹ gốc Do-thái, sinh tại Đức, được giải thưởng Nobel vật lý học năm 1921, phát biểu về Phật-Giáo như sau:

“Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Tôn giáo này phải vươn lên khỏi một Thượng Đế cá thể và tránh các giáo điều và một nền Thần Học. Tôn giáo này phải bao gồm cả thiên nhiên giới và tâm linh giới, và phải dựa vào một ý thức tín ngưỡng phát xuất từ kinh nghiệm của cả vật chất lẫn tinh thần, và dựa trên một thế hợp nhất có ý nghĩa. Phật Giáo chính là tôn giáo đáp ứng được với những mô tả vừa kể.

“Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu của nền khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật Giáo. Phật Giáo không cần phải tu chính để chối bỏ những quan điểm của mình mà theo khoa học, vì Phật Giáo vừa bao gồm khoa học vừa vượt xa quá khoa học nữa”.”

(The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a personal god and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual and a meaningful unity. Buddhism answers this description…

If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science).

Kính thưa quý vị,

Dưới con mắt của thiên tài vật lý gia Albert Einstein, Phật Giáo quả thật là một bảo vật vô giá, vượt thời gian và không gian. Nhưng theo thiển ý của chúng tôi thì Phật Giáo Việt-Nam chúng ta chưa nỗ lực đúng mức để truyền trì món bảo vật ấy. Nói một cách mộc mạc, Phật-Giáo có một món hàng vô giá nhưng các ban tiếp thị đã thiếu khả năng để bán món hàng ấy.

Nói vậy không có nghĩa là chúng tôi không thấy được bao nhiêu tâm lực, bao nhiêu hy sinh của chư tôn đức và hàng Phật Tử tại gia đã và đang kiên trì hoạt động Phật sự để cho mạng mạch Phật Giáo luôn luôn là một dòng suối tươi mát, là một đại dương cam lồ tưới tẩm dân tộc qua nhiều thế hệ thăng trầm biến đổi, nhất là trong thời gian nước nhà gặp biết bao khó khăn sau những năm dài chinh chiến. Phật tử Việt Nam và Phật tử thế giới luôn luôn ghi nhớ công đức hành thiện đó.

Lịch sử đã chứng minh thành qui luật rằng lúc nào Phật Giáo hưng thịnh thì quốc gia phú cường, lúc nào Phật Giáo trì trệ thì dân tộc cũng nguy khốn. Vì thế, học giả Phan Khôi đã rất đúng khi nhận định: “…thuở nhà Lý nhà Trần đạo Phật tràn ngập cả nước. Chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như thời Lê Trung Hưng hay Nguyễn Thống Nhất là hai thời đại Nho học thịnh hành. Trái lại nhà Lý nhà Trần mạnh lắm… mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi vịt”. (Nguyễn Lang, Phật-giáo sử luận, tập 3, Lá-bối, Paris 1985, tr.29).

Lý Trần là thời kỳ đạo Phật thịnh, kéo theo thế hưng thịnh của quốc gia. Quân Nguyên Mông chiến thắng cả thiên hạ. Nhưng lúc sang chiếm Việt Nam, đạo quân bách chiến bách thắng nầy không những đã thua trận một lần mà thua đến ba lần. Nước nhà có được những nét vàng son ấy là nhờ tinh thần TỪ BI, TRÍ TUỆ và DŨNG MÃNH được vua quan và dân chúng áp dụng một cách nhuần nhuyễn tích cực vào trong tất cả các hành động và cuộc sống hằng ngày. Vua Trần Nhân Tông xuất gia lìa bỏ ngai vàng như bỏ đôi dép rách là một bài học sống động và vô giá cho tất cả chúng ta. Sự hi hiến phi thường nầy cũng giống như hơn 2500 năm trước, Thái Tử Tất đạt Đa bỏ ngai vàng điện ngọc cao sang để tìm phương cách giải khổ đem vui cho con người.

Chỉ hơn mười năm sau khi nhân loại thoát khỏi ác mộng Chiến Tranh Lạnh thì thế giới ngày nay đang bước vào một khúc quanh lịch sử mới với viễn ảnh của một cuộc chiến không phải giữa Ý Thức Hệ Độc Thần với Ý Thức Hệ Vô Thần như trước, nhưng là giữa Ý Thức Hệ Độc Thần Da Trắng với Ý Thức Hệ Độc Thần Da Nâu, giữa những người cùng thờ một Chúa, cùng tin một một Thánh Thư, cùng phát xuất từ một suối nguồn tín ngưỡng.

Cuộc chiến hôm nay là một cuộc chiến giữa ‘người uy hiếp và người bị uy hiếp’, chứ không hẳn là ‘giữa kẻ ăn không hết và người mần không ra’. Thực trạng hôm nay, một lần nữa, làm chứng cho chân lý đơn giản của Phật Giáo đó là đem hận thù chống hận thù thì cũng giống như đem dầu xăng mà chữa lửa. Chỉ có tình thương, chỉ có từ bi mới xóa bỏ được hận thù và nghèo đói.

Thế giới đang lên cơn sốt trầm trọng, nhất là đối với những dân tộc đau thương đói khổ dài ngày. Điều nguy hại là đôi lúc một vài tổ chức phản động, độc tôn, quá khích đã và đang lăm le lợi dụng tình trạng thiếu thốn đói khổ và lòng ưa muốn ăn no mặc ấm để gieo rắc những mầm phân hóa, bất ổn, sa đọa, phi dân tộc, phản cách mạng dưới chiêu bài Nhân Quyền, Tự Do Tôn giáo, Hiện Đại, Tiên Tiến.

Không có quyền nào cao quý bằng quyền tự chủ để độc lập và tự cường để tồn tại. Nhân quyền là quyền mà mỗi người quyết định lấy số phận của mình nhưng phải đặt nó trong mối tương quan hòa ái với dân tộc và nhân loại. Không có tự do nào bằng tự do vượt ra khỏi sức ép của ngoại nhân. Không có cái gì hiện đại bằng người Việt Nam vào thế kỷ 21 phải tự mình vững bước hai chân trên các ngành khoa học kỷ thuật để phú cường, và về mặt tâm linh thì dựa vào cái triết lý vượt lên trên khoa học để làm ngọn đuốc soi đường cho các phương châm hành động.

Không có cái gì tiên tiến bằng người Việt Nam hôm nay có thể nhìn vào đồng loại năm châu để nói rằng chúng tôi đã dứt được quá khứ nhục nhả vì bị trị. Chúng tôi tự hào một cách có thực là dân tộc chúng tôi đã thắng 3 cường quốc vĩ đại của thế giới để dành lại độc lập cho con cháu Tiên Rồng và tương lai đang ở trong tay chúng tôi. Chúng tôi đang đứng hàng thứ nhì trong việc xuất cảng gạo, hàng thứ ba xuất cảng cao-su. Vài vùng trước đây đồng khô cỏ cháy, nay lúa xanh ngắt một mầu nhờ hệ thống thủy lợi thuận tiện. Và điện thoại, tivi, fax, máy vi tính, hệ thống internet đã hiện diện tại nhiều nơi ở vùng xa, vùng sâu. Nhưng quan trọng hơn cả, Việt-nam là một quốc gia ổn định và an ninh nhất vùng Đông-Nam Á, và dân tộc chúng ta hôm nay có thể hãnh diện và tự hào về những thành quả vàng son vừa kể. Vấn đề chỉ là gìn giữ, phát triển và noi gương các bậc tiền bối nhiều hơn nữa trong quốc sách Đói cho sạch rách cho thơm. Nạn tham nhũng là một điều nhục quốc thể và làm cho thế giới khinh rẻ một dân tộc vốn đã có những nét vàng son vừa kể, cần phải được chấm dứt. Và đây chính là lúc Phật giáo Việt Nam phải nỗ lực nhiều hơn để gánh phần trách nhiệm của mình.

Đạo Phật là đạo của từ bi, đạo của tri túc tiện túc, đạo của những kẻ trượng phu Thà làm quỷ nước Nam …, những kẻ sống chết với nguyên tắc “Tiên thiên hạ chi ưu hậu thiên hạ chi lạc”, những kẻ vừa thấy được cái tốt của người để bắt chước, vừa biết rõ cái xấu của mình để sửa sai. Đạo Phật cũng là đạo “Thương người như thể thương thân”, Áo rách phải giữ lấy lề, chứ không phải là đạo của sống chết mặc bây, hoặc đói mà muốn nhận loong gạo hoặc lảnh ổ bánh mì thì phải nhận phép rữa tẩy.

Quyển Thánh Thư và cây chữ thập từng là lá cờ tiên phong cho những đạo quân thực dân xâm chiếm bóc lột và diệt chủng ở Phi Châu, Á Châu, Nam Mỹ. Bi kịch lịch sử đó đang được một số người lăm le tái diễn ở Trung Đông. Bi kịch đó đã và đang có người âm mưu tái diễn ở miền cao nguyên và sơn cước Việt Nam hiện nay.

Hơn bao giờ hết, người Phật tử, trong cũng như ngoài nước, có lẽ nên dựa vào nguyên tắc khế lý, khế cơ và khế thời như lời Phật dạy để áp dụng một cách uyển chuyển và linh động vào tình trạng bấn loạn của thế giới và vào hoàn cảnh của quốc gia đang trên đà phát triển hiện nay, để kiện toàn đường lối sinh hoạt Phật sự trong mục tiêu góp phần làm cho dân tộc an lạc, quốc gia giàu mạnh và thế giới hòa bình.

PHẦN HAI MƯỜI VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trước những chuyển đổi sâu rộng của thời đại trên thế giới cũng như đặc biệt trên quê hương, và quan sát những kinh nghiệm thành công của Phật Giáo ở các nước Tây-phương, chúng tôi ý thức được rằng Việt Nam có những vấn đề đặc thù của Việt Nam, và Giáo Hội ta có những vấn nạn của riêng chúng ta. Do đó, chúng tôi chỉ xin đề cập đến những vấn đề thật cấp bách không thể nào bỏ qua được, lại có tính phổ quát mà Giáo Hội nước nào cũng phải kinh qua, và có tính khả thi mà Giáo hội Việt Nam không đối trị bây giờ thì cũng phải đối diện trong một tương lai gần.

Mười chủ điểm mà chúng tôi đặc biệt thao thức thì có quan hệ hữu cơ và nhân quả đến:

– Hai vấn đề nhân sự của Giáo hội vì con người bao giờ cũng là trục vận hành của mọi tổ chức

– Bốn vấn đề tổ chức vì đó là công cụ vận hành và phương tiện thiện thừa của Giáo hội

– Hai vấn đề giáo dục đào tạo vì đó là đội ngũ kế thừa của mọi nỗ lực phát triển

– Hai vấn đề văn hóa vì đó là thành tố bất khả phân ly giữa đạo và đời.

Dĩ nhiên, những đề nghị của chúng tôi sẽ không giải quyết được tận gốc những khó khăn to lớn mà chúng ta đang nỗ lực vượt qua, lại càng chưa chắc đã nằm trong ưu tiên hàng đầu mà Giáo hội đang quan tâm, tuy nhiên chúng quả thật đang là những hòn đá tảng, sừng sững nằm chắn lối trên con đường hoằng dương Phật Pháp. Do đó mà chúng tôi xin trình bày với tất cả khiêm cung nhưng cũng rất triệt để, đó là:

1. Trẻ trung nhân sự:

Cơ thể con người là một vi trần của vạn hữu, biến thái theo chu kỳ thành trụ hoại không. Vì thế, ngày nay hầu như quốc gia nào trên thế giới cũng định tuổi về hưu của công tư chức là 60 đến 65 tuổi, cái tuổi mà sinh lực như một ngọn đèn dầu đang cạn, cái tuổi mà trí tuệ cũng không còn minh mẫn và nhạy bén như buổi thiếu thời. Tình trạng lão hoá nầy không miễn trừ cho bất cứ một ai, do đó, những vị cao niên cần được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng sau bao năm hi hiến cuộc đời của mình cho đại sự. Hơn nữa phục vụ Giáo Hội là một sự hy sinh chứ không phải là một công chức hoặc tư chức có lương bổng để bồi dưỡng, nên lại càng phải đòi hỏi một sự tĩnh dưỡng nhiều hơn.

Quy luật tâm sinh lý nầy mang tính phổ quát, không phải chỉ đúng cho giai tầng lãnh đạo, mà ở mọi vị trí, mọi nhiệm vụ và mọi lãnh vực, một khi đã tuổi cao trí kém thì không những sẽ làm trì trệ tổ chức mà còn là những phản động lực cản đường phát triển của định chế mình phục vụ. Vì thế, tất cả nhân sự hành chánh của Giáo Hội từ trung-ương đến địa phương nên được chọn lựa trên tiêu chuẩn đức, tài, khoẻ và không quá 70 tuổi. Những vị đạo cao đức trọng trên 70 tuổi nên được cung thỉnh vào Hội đồng Chứng minh để làm biểu tượng đạo đức và trang nghiêm cho Giáo Hội, không nên đòi hỏi quí ngài phải nhọc nhằn lận đận với những công việc nặng nhọc hằng ngày của Hội Đồng Trị Sự hay Hội Đồng Điều Hành, mà nhiều lúc và nhiều nơi còn ép quí ngài phải kiêm nhiệm đến 3 hoặc 4 chức.

Một điểm khác về nhân sự là phẩm hơi thấp nhưng lượng cao. Nhiều tỉnh xa những trung tâm thị tứ thì thiếu Tăng Ni nhất là các vùng quê và miền cao nguyên, nhưng tại thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận thì hầu như Tăng Ni bị lạm phát, phẩm hình như còn thấp nhưng lượng quá cao là một tai hại cho tiền đồ Phật-giáo.

Một minh chứng điển hình là hiện nay, tại Hoa Kỳ, hàng giáo sĩ từ 200 năm qua vốn là biểu tượng của đạo đức xã hội, nhưng từ hơn nửa năm nay, hình ảnh đó đã hoàn toàn sụp đổ và sẽ kéo theo sự suy tàn của các giáo hội Công giáo La Mã khi báo chí, đài truyền thanh truyền hình phát hiện và phổ biến rộng rãi những vụ linh mục, giám mục cưỡng dâm trẻ em, mà có kẻ lại hiếp dâm trên cả trăm trẻ em trong nhiều năm, rồi họ lại được chính các giáo hội đó bảo bọc che đậy. Hàng tỉ Mỹ-kim đã và đang chi phí để bồi thường cho các nạn nhân, nhưng quan trọng hơn, niềm kính trọng và tin tưởng vào các Giáo Hội đã hoàn toàn bị lung lay và có nguy cơ sụp đổ trong lòng các tín đồ.

Giáo Hội và quí vị Trú-trì dày công đào luyện cho Tăng Ni và đệ tử một mớ hành trang để lên đường hành đạo, thì cũng nên tạo dư luận và tạo một số hành trang cần thiết để cho đệ tử nào muốn hoàn tục nếu cơ duyên chưa trọn, còn hơn là chấp chứa một số sư tử trùng mà thân còn ở trong nhưng tâm thì đã rong ruổi bên ngoài từ lâu rồi.

Tình trạng phẩm thấp lượng cao trong một số ít Tăng Ni sinh trẻ hiện nay, ở một vài vùng tại Việt Nam, là một điều đáng ngại mà Giáo Hội cần có biện pháp ngay từ bây giờ. Hành động phá giới phạm trai của một vài Tăng Ni trẻ, nếu có, là những ngọn lửa đốt cháy niềm tin của hàng triệu tín đồ.

2. Cái ghế một chân:

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa thế giới, điều hành một tổ chức trở nên cực kỳ phức tạp. Hơn thế nữa, cuộc cách mạng thông tin đã nâng mọi hoạt động, mọi sự cố lên trình độ đa khoa (interdisciplinary) và đa tầng (multilayer), khiến cho không một người nào hay một nhóm nhỏ nào có thể quản lý một tổ chức mà không huy động nhiều nguồn nhân lực và tri thức khác nhau.

Giáo Hội Phật Giáo lại càng cần sự huy động tổng hợp đó vì tính chất nhập thế rốt ráo và vì khả năng tiếp cận đầy tính dung hóa của đạo Phật. Đội ngũ đông đảo các cư sĩ, với chức năng hộ Pháp, và với khả năng và cơ hội được thật sự dùi mài trong cuộc sống thật, sẽ là nhân tố quan trọng phải được huy động tham gia vào việc phát triển đạo Phật.

Tại các nước Tây-phương, vốn là thành trì của chủ nghĩa vật chất và căn cứ địa của các tôn giáo độc thần, nhưng cuối cùng cũng đã phải mở cữa trân trọng đón chào đạo Phật như một viên thuốc thần tiên vô giá. Nhưng quá trình đón chào đó không phải tự nhiên mà có, mà chủ yếu là nhờ một đội ngũ cư sĩ biết vận dụng đạo Phật vào cuộc sống và hình thành một hệ thống tổ chức đặc thù theo lối hiện đại cho người Tây-phương. Không những họ nghiên cứu Kinh, thuyết giảng Luật, phổ biến Luận, mà họ còn cụ thể tham gia vào công tác định hướng chính sách, tổ chức các khóa tu Bát Quan Trai, xây cất chùa, quản lý tài chánh, đối thoại về các chủ đề thần học với các tôn giáo khác, v.v…

Ngài Suzuki là một nhân vật Nhật Bản nỗi tiếng đã đem đạo Phật đến cho người Tây-phương trong nhiều thập niên qua là một cư-sĩ có gia đình. Ngài Tarthang Tulku, một vị sư Tây Tạng có vợ là một người Ai-Cập lai Pháp, xây dựng một cảnh chùa trị giá trên 100 triệu Mỹ-kim tại miền bắc California, Hoa-kỳ, mà nguồn tịnh tài có được, một phần nhỏ do việc phát hành sách mà ngài viết, số còn lại và nhân công xây cất là do cư sĩ Phật-tử Mỹ đóng góp.

Nhưng đối với Phật Giáo Việt-Nam qua nhiều năm gần đây, trong cũng như ngoài nước, chúng ta có một cấu trúc nhân sự Giáo Hội rất lạ, rất thiếu quân bằng. Bốn chúng đệ tử Phật là Tăng, Ni, Nam cư-sĩ và Nữ cư-sĩ, nhưng nay chỉ còn hơn một chúng trong hầu hết các tổ chức lớn nhỏ của Giáo Hội. Thật vậy, cứ nhìn vào nhân sự của Giáo-Hội thì sẽ thấy, tất cả các chức vụ hầu như do chư tăng phụ trách cả. Lác đác chỉ thấy vài vị Ni và vài cư sĩ với những phần vụ phụ thuộc hoặc trang trí mà thôi. Theo thống kê của nhà nước về phân bố giới tính, thì số lượng nữ giới của dân số nước ta tăng nhanh hơn nam giới. Nhưng nhìn vào nhân sự điều hành của Giáo Hội thì Ni giới chỉ có một vai trò rất hạn hẹp và quá thiểu số so với tăng giới. Còn thành phần cư sĩ, họ ít được Giáo-Hội quan tâm, ngoại trừ các chương trình cần đóng góp tịnh tài. Một số khác thì chỉ được dùng vào việc làm hàng rào danh dự, nghênh tiếp chư tôn đức và sai vặt. Có lẽ đây là một trong số những lý do chính mà phần lớn hàng trí thức cư-sĩ ít đến chùa và họ đã phải tổ chức những đạo tràng riêng từng nhóm để tu học.

Qua những kinh nghiệm và thực trạng nêu trên, chúng ta thấy nếu Phật Giáo Việt Nam muốn phát triển thì các tổ chức giáo-hội cần phải có 4 chúng như cái ghế có 4 chân. Đối với hai chúng Phật-tử tại gia, cần dành một chức năng và một chỗ đứng cho cư sĩ trong cả ba vai trò hoạch định chính sách, trợ lý tổ chức và điều hành nhiều Phật sự thì mới tạo thêm được những thuận lợi cho việc hoằng dương Phật-Pháp. Ngược lại, cái ghế chỉ còn một hoặc hai chân đứng còn chưa vững nói gì đến phát triển.

Ngoài ra, trong hàng Phật tử tại gia chúng ta nên đặc biệt quan tâm đến một thành phần trẻ trung khác đó là Gia Đình Phật Tử chủ yếu vì hai lý do chính:

a. Tre già măng mọc: Đây là thành phần kế thừa và tiếp nối các công trình mà thế hệ phụ huynh để lại. Họ sẽ không thể gánh vác mà thậm chí còn có thể phá hoại những di sản quí báu của tiền nhân nếu không được hướng dẫn và đào tạo ngay từ lúc còn thơ những giá trị đạo đức và những kiến thức Phật-Học. Do đó Giáo Hội nên trang bị cho thành phần con cháu chúng ta một hành trang đạo lực và trí lực để bước đi trên con đường phụng sự Giáo-Hội, phụng sự quốc gia, phụng sự nhân loại và phụng sự chúng sanh tức là phụng sự chư Phật.

b. Tránh phạm pháp và trở thành người tốt: Nếu những câu châm ngôn của Gia Đình Phật Tử như “Em tưởng nhớ Phật. Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em. Em thương người và vật” và “ Phật-tử qui-y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện, Phật tử mở rộng lòng thương và tôn trong sự sống, Phật-tử trau dồi trí tuệ và tôn trọng sự thật, Phật-tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm..” được thật sự thể hiện thành hành động cụ thể trong cuộc sống đời thường thì cá nhân các em, gia đình của các em, trường học của các em, Giáo Hội và dân tộc của chúng ta sẽ an lành biết mấy. Một đoàn thể với chủ trương đào luyện những con người trẻ như thế tại sao chúng ta lại thiếu quan tâm. Về phương diện tâm lý, những điều mà con người học được từ lúc còn nhỏ sẽ ở lại trong tâm họ lâu hơn là những điều học được lúc đã trưởng thành. Thống kê cho thấy những sa ngã của tuổi trẻ và những vụ tự tử thường xẩy ra vào ngày Chủ-nhật hơn là những ngày khác trong tuần. Do đó ngày Chủ-nhật con em chúng ta có môi trường không những để rèn luyện bản lĩnh mà còn để vui đùa và học hỏi thêm các điều thiện mà bậc phụ huynh vì sinh kế nên thiếu chu toàn.

Gia Đình Phật Tử đúng là nơi, phải là nơi, đáng tin cậy nhất để gởi con em đến. Nhưng rất tiếc, trong nhiều năm qua, vì một số hệ lụy của các vị tôn trưởng, vì thời cuộc và tâm tình chưa thông thoáng, nên đã có một số Gia Đình Phật Tử không thể sinh hoạt bình thường được. Một vài nơi họ bị đuổi ra khỏi chùa và hành lễ ngoài sân trong cảnh trời mưa lạnh như có lần tôi thấy tại một chùa ở Đà-lạt. Một số khác thì không được đến sinh hoạt tại chùa vì có người gán cho họ là có liên hệ với người nước ngoài. Tại hải ngoại, một vài Gia Đình Phật Tử không sinh hoạt dưới nhãn hiệu của Giáo-Hội nầy hay Giáo-Hội khác thì họ bị gán cho là “thân Cọng”.

Kính thưa quí vị, những đứa con ngoan, những người dân tốt, sẵn sàng phụng sự cha mẹ và noi gương các bậc tiền bối để kế thừa sự nghiệp của chúng ta và họ sẽ hy sinh tánh mạng lúc nước nhà nguy biến để đuổi ngoại xâm như đuổi vịt chính là con em của chúng ta hôm nay. Họ sẽ là thế hệ tiếp nối công trình mà chúng ta và tổ tiên đã dày công xây dựng. Xin tất cả chúng ta và mỗi một tự viện hãy mở vòng tay chào đón và giáo dưỡng Gia Đình Phật Tử để tòa nhà Phật Giáo không những có đủ 4 chân mà còn là 4 chân khoẻ mạnh, vẹn toàn và có tiềm năng tăng trưởng.

3. Phật Vô Nam Bắc:

Lục tổ Huệ Năng thì dạy “Phật Vô Nam Bắc”, nhưng trong nhiều năm qua chúng ta hình như chỉ chú trọng đến những Phật tử tại thị thành mà lãng quên những người ở thôn quê, chỉ chú trọng đến những Phật tử tại miền xuôi mà lãng quên người mạn ngược, nhất là các vùng dân tộc thiểu số. Đồng bào sống ở miền Rẻo cao là một thành phần trong đại khối dân tộc. Nhưng thực dân Pháp, sau 1884, đã chia Việt Nam thành nhiều miền: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine) và miền cao nguyên như Kông-tum, Plei-ku, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Di-linh, Đà Lạt họ đặt tên là Hoàng Triều Cương Thổ. Còn vùng giữa biên giới Việt-nam và Trung-hoa, Giám-mục Puginier và Hội Truyền-Giáo cũng thành lập một khu vực tự trị khác để giúp chính phủ thực dân dễ biến Bắc-kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ ở Viễn-đông. Chính sách thâm độc nầy là nhằm thiết lập nhiều quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn, chặt đứt tình đồng bào và dứt nghĩa tình đồng hương. Họ tạo cho dân chúng trong các vùng nầy có óc địa phương cát cứ chống đối lẫn nhau, đòi độc lập tự trị và theo ngoại bang.

Trong các cuốn sách viết về Linh-mục A. de Rhodes, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký và Linh-mục Trần Lục, không những chúng tôi đã tiên đoán và báo động tình trạng nêu trên mà còn nói rõ 6 kế hoạch mà tôn giáo Tây Phương áp dụng tại đất nước ta. Chính phủ và nhân dân toàn nước đã có phản ứng, riêng Phật Giáo cũng phải tiến hành những chương trình huấn luyện để phân phối một số Tăng Ni thông thạo tiếng Trung-Hoa và tiếng các sắc dân khác để thuyết phục anh em đồng bào chúng ta biết thờ cúng tổ tiên, đừng bỏ tôn giáo dân tộc hay tín ngưỡng vật linh truyền thống của họ, và có trí tuệ sáng suốt để thấy được âm mưu xúi dục bạo loạn. Chương trình nầy trước kia được cố Hòa Thượng Thích Thiện Châu và Hòa Thượng Thích Thiện Siêu tích cực quan tâm. Ngay từ những năm trước 1975, Hòa Thượng Thiện Siêu đã từng phái những đệ tử của ngài lên truyền đạo trên đó.

Những Phật tử yêu nước đã gọi Phật là Phật Tổ Hồng Bàng Thị cũng chỉ vì mối liên hệ khắng-khít giữa đạo Phật và Nước nhà. Đạo Phật yếu thì tổ quốc cũng lâm nguy, và Tổ quốc nghiêng ngửa thì đạo Phật cũng ngửa nghiêng theo. Bài học lịch sử gần gũi nhất là thời nhà Nguyễn, Nho giáo thịnh hành rồi kỳ thị Phật Giáo, thêm vào đó là âm mưu diệt Phật giáo của các giáo sĩ Tây phương, (nhất là Giám Mục Bá Đa Lộc, cố vấn đặc biệt và là cánh tay phải của vua Gia-Long) nên Việt Nam đã bị Tây Phương xâm chiếm và bị đô hộ gần cả trăm năm dưới bóng thập ác và lá cờ Tam-tài.

Tại Ấn Độ, thời vua A-dục, Phật Giáo được thịnh hành thì quốc gia Ấn Độ cũng trải qua một triều đại huy hoàng chưa từng có trong lịch sử Aán. Nhưng các triều đại tiếp theo, Phật Giáo suy vi vì không được các triều vua quan tâm nên sau đó, Hồi Giáo đã có thể xâm lăng và thẳng tay phá chùa giết tăng chúng, đẩy Ấn-Độ vào trạng huống từ bất ổn đến nghèo đói từ đó cho đến nay.

Tại Trung-Hoa thời nhà Đường, Phật-Giáo rất thịnh hành và cũng mang theo sự thịnh hành của đất nước. Nhưng về sau bị Nho giáo lấn át rồi bị Tây-Phương xâu xé.

Ba biến cố lịch sử kể trên đã xác nhận một quy luật: Phật giáo và Dân tộc thì không thể phân ly. Giáo Hội Phật-Giáo và Nhà nước Việt Nam nên rút tỉa bài học vừa vinh quang vừa tủi nhục của ba biến cố ấy.

4. Tánh, Tướng, Chấp, Danh:

Trước năm 1975, Phật Giáo tại miền Nam đã bị lũng đoạn phân hóa thành hai tổ chức là Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Đó là điều đau lòng cho Phật Tử. Phật Tử chúng ta được chư tôn đức dạy phép Lục Hòa thì chính một vài vị lại không sống với lời dạy đó. Nước nhà hòa bình thống nhất, ai cũng cứ tưởng rằng vết thương đau nhức ấy chắc sẽ lành và không bao giờ còn tiếp diễn nữa. Nhưng niềm hy vọng ấy dần dà bay theo gió núi mây ngàn.

Từ năm 1992, Phật Giáo Việt Nam lại có hai danh xưng là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Đâu là những trở ngại do những danh xưng đó có thể gây ra? Chúng tôi sẽ không đào sâu vì quý vị có lẽ cũng đã biết rồi, mà chỉ xin kể hai chuyện đau lòng để quý vị suy ngẫm:

– Năm 1993, tôi đi xe đò từ Đà Nẵng ra Huế, bác tài xế trên xe là một Phật tử và vì biết tôi cũng là một người đồng đạo từ xa về nên bác tâm sự rằng: “Mấy năm trước, địa phương Đà Nẳng chúng tôi tổ chức Phật Đản rất vui. Chỉ cần một phiên họp, quí thầy cắt đặt đạo hữu chúng tôi mỗi người lo một việc thế là xong. Năm nay đã 3 đêm họp liên tiếp rồi nhưng chưa có kết quả. Vì trong buổi họp có hai ý kiến khác biệt nhau. Một số thì đề nghị làm dưới danh xưng của giáo hội có chữ thống nhất, số khác thì bác bỏ. Chỉ vì mấy chữ “thống nhất” và “không thống nhất” mà không khí buổi họp trở nên rất căng thẳng và Đà Nẵêng năm nay sợ e sẽ không có lễ Phật Đản…”

– Mấy năm sau đó, tôi đến thăm một ngôi chùa tại vùng cao nguyên. Tuy là ngày Chủ nhật nhưng tôi chẳng thấy bóng dáng những em Gia Đình Phật Tử đến sinh hoạt như trước năm 1975. Sau đó, tôi bèn hỏi một số cựu huynh trưởng thì được mấy vị đó trả lời là “Chúng tôi đợi lúc nào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phục họat rồi chúng tôi mới sinh hoạt trở lại”. Tôi than thở, liệu 50 hoặc 70 năm nữa Giáo Hội Thống Nhất mới tái sinh hoạt thì sao, mấy vị đó yên lặng không trả lời.

Người Phật tử được dạy phải bỏ tánh, bỏ tướng, bỏ chấp, bỏ danh. Nhưng nay chỉ vì có hay không hai chữ “Thống Nhất” mà một số sinh hoạt Phật Sự bị ngưng trệ.

Danh xưng hầu như không có ảnh hưởng trong những sinh hoạt của Phật Giáo trong mấy năm qua tại hải ngoại. Thật vậy, từ hơn hai mươi năm qua, người Phật Tử Việt-nam nước ngoài tha hồ truyền đạo và hành đạo với bất cứ danh xưng nào, thành lập bất cứ giáo hội nào mà mình muốn. Nhưng bình tâm nhìn lại thành quả thì có lẽ phải nhận rằng phần lớn tâm sức và tiền tài đều hoặc dồn vào việc thi đua làm chùa, hoặc tiến hành những hoạt động chống đối mà phần lớn là phe ta chống phá phe mình, hoặc trúng kế xui Nguyên dục Bị chỉ làm lợi cho các thế lực đã và sẽ thù nghịch với cả Phật Giáo lẫn Tổ Quốc Việt Nam.

Nhiều nơi trong nước mà tôi có dịp biết qua, chỉ vì bị “trói” bởi hai chữ “Thống Nhất” mà một số nhân sự Phật Giáo nằm chờ thời chứ không chịu làm việc. Số khác thì chủ yếu tập trung vào các đô thị, còn vùng quê và nhiều nơi nghèo đói thì khoán trắng cho Công giáo. Riêng tại Cao nguyên thì hoàn toàn bỏ ngỏ cho Tin Lành, mà hậu quả hiện nay như thế nào thì mọi người đã biết. Chúng ta có thể tóm lược sự tai hại nầy bằng 4 câu thơ chữ Nho của ngài Qui-Thiện như sau:

Do lai duật bạng cửu tương trì,

Để sự tang thương vị liễu tri.

Bán chẩm hoàng lương kinh mộng hậu,

Tiền trần hội thủ sự giai phi.

(Có nghĩa: Nghêu cò kém trí, thợ săn thậm mừng).

5. Thi Đua Làm Chùa:

Tại các nước Tây Phương, việc quy định vị trí và công tác xây cất nhà thờ đều căn cứ trên nhu cầu tôn giáo và tỷ lệ phân bố số lượng tín hữu của từng địa phương. Một vùng phải có bao nhiêu tín đồ thì mới được phép dựng một ngôi nhà thờ. Tại Việt Nam, nguyên tắc nầy hầu như không được cả nhà nước lẫn các Giáo Hôi áp dụng. Vì vậy mà có nhiều vùng nhà thờ đồ sộ mọc lên quá loạn trước sự nghèo đói của dân chúng. Riêng đối với Phật Giáo, một số ít Tăng Ni trẻ cũng bắt chước tôn giáo khác trong việc lạm phát xây chùa ở những nơi đã có nhiều chùa rồi. Tình trạng phân bố bất hợp lý nầy không những làm cho chính sách hoằng dương Phật Pháp thiếu hiệu năng, mà còn bất chấp cả lời dạy từ bi của Đức Phật là mang đại sự nhân duyên đến cho tất cả chúng sinh.

Thêm vào đó, làm nhà thờ và làm chùa đôi lúc rất bừa bãi, không xin phép, không theo một nguyên tắc kỷ thuật và mỹ thuật tối thiểu nào cả nên bị chính quyền bắt phải tự tháo gở hoặc bị tháo gở. Nếu sự việc nầy xẩy ra thì họ lại hô hoán là “không có tự do tôn giáo” và “vi phạm nhân quyền” ! Tại chính các nước Tây Phương như Hoa Kỳ, việc làm chùa, làm nhà thờ hoặc xây cất mà không có giấy phép và không đủ tiêu chuẩn an toàn cũng sẽ bị đình chỉ, thậm chí còn phá đi và chủ xây cất phải chịu trả tiền phạt. Nhưng không thấy ai hô hoán là thiếu tự do tôn giáo và thiếu nhân quyền bao giờ. Do đó, thay vì thi đua làm chùa ở một vài nơi tại Việt-nam và nhiều nơi khác ở hải-ngoại mà xem ra có nhiều vùng không cần thiết, chúng ta nên thi đua tu học và đóng góp vào các công trình văn hoá và công tác từ thiện xã hội v.v.

Để đối phó với tình trạng hết lạm phát Tăng Ni ở vài đô thị lớn lại đến nạn lạm phát chùa ở một số vùng, Giáo Hội nên điều hướng việc trùng tu và xây dựng hệ thống chùa vào những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nguyên, vùng quê hẻo lánh và đặc biệt là nên trùng tu các chùa làng; những di tích văn hóa bị bỏ quên, Giáo Hội nên ban hành các nguyên tắc hướng dẫn và qui-định tối thiểu để tránh sự phí phạm tịnh tài của Phật tử đóng góp và tránh nạn tăng ly chúng tăng tàn.

6. Đưa Phật Sự Vào Xa Lộ Công Nghệ Thông Tin:

Trên cả hai lãnh vực điều hành Giáo Hội và tiếp cận/xử lý thông tin của nhân loại, các phương tiện hiện nay mà Giáo Hội đang sử dụng thì không phù hợp nữa, thậm chí không tương dụng với các đối tác của Giáo hội vốn là Phật Tử và các định chế tôn giáo trên thế giới. Thật ra, sản phẩm của công nghệ thông tin đã phổ quát và đơn giản đến độ không hiểu vẫn dùng được (như khách sử dụng máy bay mà không cần biết máy bay đã được thiết kế và gia công như thế nào).

Thiết lập một hệ thống mạng lưới tin học cho Giáo Hội không phải là chuyện khó, lại cũng chẳng phải là chuyện cần vốn đầu tư lớn, mà hiệu quả sẽ tăng lên cả ngàn lần và ứng dụng của nó thì vô cùng. Từ tích lũy tài liệu đến phân bố kinh sách, từ điều hành nhân sự đến phổ biến thông tin, từ kiểm tra tài chánh đến xử lý công tác. Hai điều lợi nhất của hệ thống nầy là làm chủ thời gian thật, và khống chế không gian theo ý muốn: Một vị Trụ trì ở Cao Bằng có thể biết ngay tức khắc có bao nhiêu phái đoàn tham dự một Đại hội Phật giáo tại Paris, một Ủy viên trung ương của Giáo Hội ở Hà Nội có thể biết được và xử lý kịp thời một nhu cầu tài chánh của một ngôi chùa tại Sóc Trăng, một nhà nghiên cứu Phật Học của một viện đại học Mỹ có thể đọc được thơ của Vua Trần Nhân Tôn, …

Từng bước đầu tư có hệ thống vào hệ thống công nghệ thông tin của Giáo Hội là tăng tốc phát triển một cách an toàn và hiện đại. Và quan trọng hơn, là không bị thời đại và nhân loại bỏ lại đàng sau.

7.Chương Trình Giáo Dục Tăng Ni Tại Các Trường Cơ Bản Và Cao Cấp:

Như chúng ta đã biết, đạo Phật không phải là những giáo điều cứng nhắc và xa vời với thực tế. Đạo Phật không nói chuyện trên trời mà nói chuyện con người. Mục tiêu chính của độc thần giáo là phụng sự Chúa, còn đạo Phật thì phụng sự chúng sanh. Giáo lý của Phật là cái gì có thể nắm bắt và thực chứng. Do đó, chương trình giáo dục Tăng Ni trong các trường cơ bản và cao cấp Phật-Học phải được hoạch định để giá trị bằng cấp của các trường Phật Giáo phải được chính thức thừa nhận, nếu không cao hơn thì cũng có giá trị tương đương với các trường khác hầu giúp cho Tăng Ni sinh không cần phải theo đuổi một lúc 2 chương trình là chương trình cao đẳng của trường Phật Học và chương trình của một đại học ngoại điển khác ở bên ngoài.

Muốn giỏi thì sinh viên nên được hướng dẫn và khuyến khích chọn những môn học mà mình thực sự có năng khiếu, chứ không nên một lúc ôm đồm học nhiều môn thì sẽ không học được gì cả.

Để có thể đạt được mục đích nâng cấp giá trị văn bằng của các trường Phật Giáo, uỷ viên giáo dục của Giáo-Hội nên có một chương trình giáo-dục tốt, tổ chức và tạo điều kiện cho ban giảng huấn tham gia các chương-trình tu nghiệp và hội thảo về giáo-dục, trong đó quy tụ nhiều chuyên viên và các nhà giáo dục có tiếng trong nước và nước ngoài để tạo cơ hội cho ban giảng huấn trao đổi và học hỏi thêm kinh nghiệm giảng dạy.

8. Học Hàm Thụ:

Mấy năm gần đây H. T. Thích Trí Quảng và báo Giác Ngộ có tổ chức chương trình học hàm thụ, đó là một trong những điểm son cần được tán thán công đức. Giáo-Pháp của Phật là một món hàng vô giá, nhiều Phật tử không đủ phương tiện và điều kiện để đến trường Phật Học thì chương trình hàm thụ là một đáp ứng cần thiết. Những người hiểu và thực hành lời dạy của Phật sẽ trở thành những công dân tốt góp phần dựng nước và giử nước. Thời Lý Trần, vịêc dựng nước và giữ nước đều dựa trên căn bản học đạo và hành đạo từ vua quan đến dân chúng, vì thế mà quân Nguyên Mông bị đuổi đi như đuổi vịt. Đó là một trong những nét vàng son cần được duy trì và phổ triển. Các lớp học hàm thụ không những chỉ được tổ chức tại các thành thị mà nên mở rộng khắp các tỉnh, thành và làng mạc để mỗi người Phật Tử luôn luôn vẫn là những con người có đạo lực cao trong việc hộ quốc an dân cho mọi thời đại.

9. Hiện Đại Hóa Danh Từ Phật Học:

Phật là gương sáng trong việc thích ứng phương thức quãng diễn chánh pháp. Ngôn từ và cách thế thuyết pháp của Đức Phật đổi thay tùy theo hoàn cảnh và căn cơ người thọ nhận. Chúng ta đã bỏ chữ Hán sang chữ Nôm, rồi bỏ chữ Nôm sang mẫu tự La-Tinh. Ngoài ra, một điều đáng lo cho những người Việt lưu vong, và nhất là con em người Việt lưu vong, là chúng ta đang bỏ tiếng Việt để dùng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga… Phật Giáo Việt Nam – ở hải ngoại cũng như trong nước – phải đối phó với hiện tượng đa ngôn ngữ ấy như thế nào? Những kinh văn nặng nề Hán Việt như chú Vãng-sanh, Tiêu Tai Cát Tường Thần chú, chú Đại Bi và ngay cả kinh Nhật-Tụng cũng thiếu sự thống nhất. Có rất nhiều cuốn kinh tụng hằng ngày được lưu hành, mỗi chùa dùng một bản khác nhau, đã tạo rất nhiều trở ngại cho việc đọc tụng của tín đồ.

Ngoài ra nhà Phật chủ trương như thế nào và Phật-Tử phải có thái độ như thế nào về quản lý kinh tế thị trường và tự do mậu dịch, về môi sinh, về nền văn hóa thụ hưởng chết bỏ, về những hậu quả của văn minh dot.com đối với tâm linh, về thực phẩm cải biến, về gene, về cloning, về phá thai, về trợ tử. Dĩ nhiên, người Phật-Tử tin tưởng mình thuộc vào một tôn giáo vượt lên trên khoa-học và đạo pháp vi diệu miên viễn sẵn có những câu trả lời thích đáng cho từng câu hỏi đó, bởi lẽ thời nào đi nữa thì thế giới cũng không thể vận hành ra ngoài vòng Sinh-Trụ-Dị-Diệt, cũng như con người không thể thoát khỏi con đường cong một chiều Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Nhưng ngôn từ của trăm năm trước, của mười năm trước và bây giờ đã khác nhau. Cho nên, không trả lời – hay không nghĩ đến cách trả lời – cho những câu hỏi đó thì văn học Phật Giáo không khéo sẽ trở thành văn chương không phải của Nguyễn Du, Phạm Thiên Thư, Trịnh Công Sơn, mà là văn chương của Nhị Độ Mai, Cung Oán Ngâm Khúc, hay của Nguyễn đình Chiểu chỉ gần gũi với những chuyên viên Hán-Nôm mà không gần gũi với đại chúng.

10. Trung Tâm Văn Hóa Có Tầm cỡ

Thư khố trung ương và viện bảo tàng Phật Giáo – Dưới danh xưng nào thì ngày 30.4.1975 cũng là cơ may cho Phật Giáo thống nhất thật sự. Mọi ý thức phân rẽ cục bộ sẽ bị hồn thiêng sông núi và đạo lực của truyền thống Phật Giáo Việt Nam hóa giải.

Nhiều ngàn năm qua Phật Giáo Việt-Nam đã xây dựng được những ngôi chùa nguy nga đồ sộ, nhưng kiểu đồ sộ xưa tuy có giá trị lịch sử và văn hóa cao nhưng lại thiếu tiện dụng cho các hoạt động hôm nay. Nếu có một cuộc đại hội Phật-Giáo toàn quốc hay đại hội Phật-Giáo thế giới với số lượng khoảng một ngàn người ngay cả chỉ có 500 người, chúng ta cũng thấy trở ngại về phòng họp, phòng ăn, phòng vệ sinh, về tổ chức, về kiểm soát, về điều hành. Do đó, thay vì thi đua làm các ngôi chùa nhỏ, mà nhiều nơi lại không cần thiết, Giáo-Hội nên nghiên cứu chương trình xây cất một cơ sở Phật-Giáo có tầm cở của Thế-kỷ 21 trên một khoảng đất rộng tối thiểu vài chục mẫu.

Trong đó gồm một thư khố Phật-học, một viện bảo tàng Phật giáo, một phòng họp hiện đại, phòng ngồi thiền có thể chứa đựng vài ngàn người cùng một lúc, phòng ẩm thực, công viên, thiền cảnh… Chia ra khu tĩnh, khu động. Ngay cả trong công trình nầy cũng nên nghiên cứu xây cất một khách sạn hay lưu xá vài trăm phòng để làm nguồn lợi tức cho việc hoằng dương Phật Pháp thay vì nhất nhất mọi việc đều kêu gọi vào sự đóng góp của tín đồ. Mỗi Phật Tử hay mỗi gia đình Phật Giáo trong và ngoài nước có thể được mời vào ban sáng lập bằng sự cúng dường một khoản tiền nào đó cho việc xây cất cơ sở nầy. Phải chăng đây là thời gian đúng lúc, đúng thời để đại hội thảo luận thêm vấn đề này?

Kính thưa quý vị, thời vua A-Dục tại Aán-Độ, thời nhà Đường tại Trung-Hoa, thời Lý-Trần tại Việt-Nam, hộ trì chánh pháp là công việc của các vua quan và đại thần với sự đồng thuận của mọi giai tầng xã hội, nhờ thế mà dân giàu nước mạnh, xã hội thái bình. Những bài học lịch sử đó phải chăng cần được tất cả người dân Việt ý thức và chiêm nghiệm để phụng sự tổ quốc tốt đẹp hơn, và lúc sơn hà nguy biến thì có thể đuổi kẻ xâm lăng như đuổi vịt.

Chúng ta đang ở trong những ngày cuối cùng của năm 2002. Chỉ còn mấy tuần nữa là đến năm 2003. Một số ý kiến thô thiển của chúng tôi hôm nay xin được trình lên chư Tôn-Túc, quí đại biểu, quí vị khách quí và chư Phật tư,û trong truyền thống “phục vụ Dân Tộc trong ánh sáng của Đạo Pháp và phục vụ Đạo Pháp trong hoàn cảnh cụ thể của Dân Tộc.

Ai rồi cũng phải ra đi, không thể ở mãi trên thế gian nầy. Vậy thì xin gởi lại những gì đẹp cho nhân thế. Vâng chúng ta nên cố gắng.

Xin cám ơn và trân trọng kính chào liệt quí vị.

Cư sĩ Hồng Quang

29-11-2002
http://tongiaovadantoc.com/c1038/20110317164933225/10-van-de-cap-thiet-cua-phat-giao-dan-toc.htm

Post Navigation